BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ƯỜ
NG ĐẠ
ẠM KỸ THU
ẬT TP.HCM
TR
TRƯỜ
ƯỜNG
ĐẠII HỌC SƯ PH
PHẠ
THUẬ
ẬN CH
KHOA LÝ LU
LUẬ
CHÍÍNH TR
TRỊỊ
ỂU LU
ẬN MÔN HỌC
TI
TIỂ
LUẬ
ÁP LU
ẬT ĐẠ
NG
PH
PHÁ
LUẬ
ĐẠII CƯƠ
ƯƠNG
ỀN
ĐỀ TÀI: QUY
QUYỀ
ÂN TH
ÂN VỀ HÌNH ẢNH
NH
NHÂ
THÂ
ẬT DÂN SỰ
TRONG LU
LUẬ
ồ Ch
TP.H
TP.Hồ
Chíí Minh
áng 11 năm 2019
Th
Thá
M Ụ C L ỤC
PH
ẦN MỞ ĐẦ
U.....................................................................................................
1
A.PH
PHẦ
ĐẦU
.....................................................................................................1
ẦN NỘI DUNG
................................................................................................ 4
B. PH
PHẦ
DUNG................................................................................................
ươ
ng 1: KH
ÁI QU
ÁT CHUNG VỀ QUY
ỀN HÌNH ẢNH CỦA CÁ NH
ÂN...... 4
Ch
Chươ
ương
KHÁ
QUÁ
QUYỀ
NHÂ
1.1. Kh
Kháái ni
niệệm, đặ
đặcc điểm quy
quyềền nh
nhâân th
thâân............................................................. 4
1.1.1.Khái niệm quyền nhân thân.......................................................................... 4
1.1.2.Đặc điểm của quyền nhân thân..................................................................... 5
1.2. Kh
Kháái ni
niệệm về quy
quyềền hình ảnh của cá nh
nhâân...................................................... 5
nh của ph
1.3. Quy đị
định
phááp lu
luậật về quy
quyềền hình ảnh của cá nh
nhâân................................. 6
ươ
ng 2: TH
ỰC TR
ẠNG ÁP DỤNG QUY ĐỊ
NH VỀ QUY
ỀN HÌNH ẢNH CÁ
Ch
Chươ
ương
THỰ
TRẠ
ĐỊNH
QUYỀ
ÂN CỦA VI
ỆT NAM......................................................................................... 9
NH
NHÂ
VIỆ
ực tr
nh
..........................................................................
9
2.1. Th
Thự
trạạng áp dụng quy đị
định
nh..........................................................................
..........................................................................9
2.2.M
ực tế trong vi
nh về quy
2.2.Mộột số vụ vi
việệc th
thự
việệc vận dụng quy đị
định
quyềền hình ảnh cá
ân vào cu
............................................................................................... 11
nh
nhâ
cuộộc sống
ng...............................................................................................
2.2.1. Vụ việc 1................................................................................................... 11
2.2.2. Vụ việc 2................................................................................................... 12
2.2.3. Vụ việc 3................................................................................................... 14
ẦN KẾT LU
ẬN..............................................................................................
17
C. PH
PHẦ
LUẬ
..............................................................................................17
ÀI LI
ỆU THAM KH
ẢO....................................................................................
19
D.T
D.TÀ
LIỆ
KHẢ
....................................................................................19
1
áp lu
ng – Nh
óm 6A
Ph
Phá
luậật đạ
đạii cươ
ương
Nhó
ẦN MỞ ĐẦ
U
A.PH
A.PHẦ
ĐẦU
1. Tính cấp thi
thiếết của đề tài
Pháp luật dân sự là ngành luật đưa ra các quy định để giải quyết các tranh chấp
trong các mối quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản. Ngày nay, xã hội càng phát triển,
các mối quan hệ dân sự cũng càng phức tạp hơn nên pháp luật dân sự như một công cụ
điều tiết các mối quan hệ ấy thật đúng mực, tránh dẫn đến các hành vi vi phạm quyền
và lợi ích của mỗi cá nhân con người. Bởi lẽ, pháp luật dân sự đưa ra các quyền cơ bản
nhất mà mỗi người công dân được hưởng từ khi được sinh ra và không một ai có
quyền xâm hại hay tước bỏ các quyền ấy. Trong đó có quyền nhân thân – quyền xác
lập sự tồn tại của một người trên đất nước Việt Nam. Là một trong những quyền của
quyền nhân thân, quyền của cá nhân về hình ảnh đóng vai trò vô cùng to lớn và dễ bị
xâm phạm đến khi mà nhu cầu về tinh thần của con người ngày càng nâng cao.
Song trong thực tế, việc áp dụng các quy định của quyền hình ảnh vào đời
sống một cách hiệu quả là vấn đề nan giải hiện nay với các nhà thi hành luật pháp cũng
như mỗi công dân. Thêm vào đó, sự bùng nổ của công nghệ đã làm cho mạng lưới
internet mở rộng, lượt người truy cập và sử dụng mạng xã hội tăng cao đã làm phát
sinh sự khó kiểm soát, quản lý hình ảnh của mình trên mạng xã hội. Bên cạnh đó, khi
hình ảnh mình bị sử dụng vì mục đích không chính đáng trên mạng đã gây ra những
hậu quả khôn lường đến đời sống của người bị sử dụng hình ảnh. Hơn hết, việc ngăn
chặn và truy tìm hung thủ cũng khó khăn hơn bao giờ hết. Có thể nói chưa bao giờ mà
quyền nhân thân về hình ảnh có nguy cơ bị xâm hại đến cao như hiện nay.
Mặc dù, những chế tài đối với những người sử dụng hình ảnh của người khác
được quy định khá cụ thể trong Bộ luật dân sự 2015. Nhưng phải chăng chế tài như
thế chưa đủ mạnh để răn đe hay mọi người chưa nắm rõ được những quy định về
quyền hình ảnh trong luật dân sự nước ta. Hơn cả, sự quản lý về an ninh mạng của
nước ta còn khá lỏng lẻo, tạo cơ hội cho những thành phần phạm tội sử dụng hình ảnh
1
2
áp lu
ng – Nh
óm 6A
Ph
Phá
luậật đạ
đạii cươ
ương
Nhó
người khác một cách tràn lan, không kiểm soát được. Thêm vào đó, pháp luật nước ta
chỉ bảo vệ quyền về hình ảnh khi từ hình ảnh, thước phim đó ta có thể nhận dạng rõ
được người bị xâm hại đến, chứ không phải là mọi trường hợp. Chính vì như thế mà đã
có rất nhiều công dân trở thành nạn nhân, làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của
công dân, xâm hại nghiêm trọng đến quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân được pháp luật bảo vệ.
2. Tình hình nghi
nghiêên cứu đề tài
Quyền nhân thân về hình ảnh là một trong những quyền cơ bản và rất quan
trọng đối với mỗi công dân và nó cũng là quyền dễ dàng bị xâm phạm đến, khi công
dân không có đủ kiến thức pháp luật trong viêc sử dụng hình ảnh của mình cũng như
sử dụng hình ảnh của người khác. Bởi lẽ như thế, việc nghiên cứu đề tài là một trong
những công trình cần quan tâm trong thời điểm hiện nay. Chính vì lí do đó, đã có
nhiều tác giả có nhiều công trình nghiên cứu với các mức độ khác nhau nhằm khai
thác sâu sắc các khía cạnh còn “ khuất” của quyền nhân thân nói chung và quyền của
cá nhân về hình ảnh nói riêng, tiêu biểu phải kể đến là:
“Bàn về quyền của cá nhân đối với hình ảnh theo quy định của pháp luật hiện
hành và kiến nghị” của Ths.Ls Lê Văn Sua – Đoàn luật sư tỉnh Tiền Giang.
“Quyền nhân thân của cá nhân trong BỘ LUẬT DÂN SỰ năm 2005- những bất
cập và hướng hoàn thiện” của TS.Lê Đình Nghị, Bài đăng của Tạp chí Luật học
số 3/2014.
“ Quyền của cá nhân đối với hình ảnh trong pháp luật một số nước phương
Tây – đối chiếu với pháp luật Việt Nam” của tác giả Chu Đức Tuấn.
Luận văn Thạc sĩ: “ Quyền cá nhân đối với hình ảnh trong pháp luật Việt Nam”
của tác giả Trần Thị Thu Hằng – Đai học Quốc gia Hà Nội năm 2014.
Ngoài ra, còn có nhiều tạp chí, bài báo đề cập quyền nhân thân về hình ảnh,
song chỉ trích dẫn các quy định khi có sự việc thực tế xảy ra. Hiện nay, có rất ít bài báo
hay tạp chí khai thác sâu các bất cập trong việc thi hành các quy định vào cuộc sống.
2
3
áp lu
ng – Nh
óm 6A
Ph
Phá
luậật đạ
đạii cươ
ương
Nhó
Bởi lẽ, các bài báo, tạp chí chỉ đề cập đến vấn đề trong khoảng thời gian nhất định và
chỉ xoay quanh một số khía cạnh của cuộc sống, chứ chưa bao quát hết tất cả khía cạnh
hiện nay.
ục ti
3.M
3.Mụ
tiêêu của nghi
nghiêên cứu đề tài
Mục tiêu của nghiên cứu đề tài là nhằm làm sáng tỏ một cách hệ thống các quy
định của Bộ luật dân sự 2015 về quyền nhân thân nói chung và quyền của cá nhân về
hình ảnh nói riêng để thấy được các ưu điểm cũng như các hạn chế của Bộ luật. Từ đó,
đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện các quy định cũng như áp dụng các quy định đó
vào thực tiễn hiệu quả hơn.
4.Ph
ươ
ng ph
áp nghi
4.Phươ
ương
phá
nghiêên cứu
Khi nghiên cứu đề tài, tác giả lấy Lý luận về Nhà nước và Pháp luật của chủ
nghĩa Mác Lênin làm cốt lõi để định hướng một cách đúng đắn nhất cho bài nghiên
cứu. Ngoài ra, tác giả còn vận dụng các quan điểm về Nhà nước, về Đảng, các văn bản
pháp luật, đặc biệt là Bộ luật dân sự 2015 các công trình nghiên cứu của các tác giả
khác nhằm đưa ra các giải pháp hợp lý, cụ thể, phù hợp với thực tiễn.
Bài luận đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp so sánh, đối chiếu giữa các Bộ luật dân sự 1995, 2005 và 2015 để
thấy những điểm tiến bộ cũng như những điểm hạn chế, rồi từ đó đưa ra các
giải pháp nhằm nâng cao việc áp dụng các quy định vào thực tiễn.
Phương pháp tổng hợp, phân tích các vụ việc đã xảy ra trong thực tế để xem xét
việc áp dụng các quy định về quyền hình ảnh vào thực tiễn đã thực sự hiệu quả
chưa.
3
4
áp lu
ng – Nh
óm 6A
Ph
Phá
luậật đạ
đạii cươ
ương
Nhó
B. PH
ẦN NỘI DUNG
PHẦ
ươ
ng 1: KH
ÁI QU
ÁT CHUNG VỀ QUY
ỀN HÌNH ẢNH CỦA CÁ NH
ÂN
Ch
Chươ
ương
KHÁ
QUÁ
QUYỀ
NHÂ
ái ni
1.1. Kh
Khá
niệệm, đặ
đặcc điểm quy
quyềền nh
nhâân th
thâân
1.1.1.Kh
1.1.1.Kháái ni
niệệm quy
quyềền nh
nhâân th
thâân
Trước hết, để hiểu rõ về quyền nhân thân, ta cần hiểu nhân thân là gì?
Nhân thân theo từ điển Tiếng Việt là: “ tổng hợp các đặc điểm về thân thể, cuộc
sống và tính cách của một con người, về mặt thi hành pháp luật.”1
Vậy nhân thân của một người gồm các đặc điểm sau: giới tính, độ tuổi, dân tộc,
nghề nghiệp,….
Mỗi con người khi sinh ra đã có nhân thân riêng, không thể tách rời hay chối bỏ.
Pháp luật nước ta từ khi ra đời luôn hướng đến bảo vệ, tôn trọng và bảo đảm quyền con
người của công dân, trong đó có quyền nhân thân. Trong Bộ luật dân sự năm 1995 – Bộ
luật dân sự đầu tiên của nước ta, tại điều 26 quy định: “ Quyền nhân thân được quy định
trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho
người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; Không ai được lạm dụng quyền
nhân thân của mình xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi
ích hợp pháp của người khác; Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền nhân thân của
người khác.”
Càng về sau này, đất nước ta càng phát triển, các mối quan hệ dân sự cũng dần
thay đổi, người dân cũng ý thức rõ vai trò về quyền nhân thân của chính mình. Chính
bởi lẽ đó, sự ra đời của Bộ luật dân sự 2005 là sự tiếp nối, kế thừa cũng như bổ sung
thêm những quy định mới để phù hợp với thực tiễn.
1. />
4
5
áp lu
ng – Nh
óm 6A
Ph
Phá
luậật đạ
đạii cươ
ương
Nhó
Tại điều 24, Bộ luật dân sự 2005, quyền nhân thân được đề cập đến là: “ quyền
dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác.”
Cho đến ngày nay, quyền nhân thân luôn được nhà nước bảo vệ, tôn trọng và bảo
đảm như một trong các quyền cơ bản của con người. Tại điều 25, Bộ luật dân sự 2015,
quy định: “Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể
chuyển giao cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”
Qua 3 Bộ luật dân sự 1995, 2005 và 2015, cho thấy quyền nhân thân có ý nghĩa
cực kì to lớn với mỗi công dân Việt Nam. Quyền nhân thân đã xác lập sự tồn tại của
mỗi công dân trên đất nước Việt Nam và luôn song hành cùng công dân suốt cuộc đời.
Một khi bạn còn tồn tại, còn sống trên đất nước Việt Nam hay bạn mang quốc tịch Việt
Nam thì bạn đã mang bên mình quyền mà bất kì ai không thể xâm hại hay tước bỏ nó,
đó là quyền nhân thân.
Đặ
1.1.2.
1.1.2.Đặ
Đặcc điểm của quy
quyềền nh
nhâân th
thâân
Từ khái niệm trên, quyền nhân thân mang một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất, quyền nhân thân luôn gắn với một cá nhân xác định, không được phép
chuyển giao cho người khác. Chính vì thế, quyền nhân thân xác lập sự “hiện diện”
của mỗi công dân trên đất nước Việt Nam và sự “hiên diện” ấy luôn được pháp luật
bảo vệ.
Thứ hai, quyền nhân thân không xác định được bằng tiền. Về cơ bản, chủ thể của
quyền nhân thân chỉ được hưởng lợi ích tinh thần mà không được hưởng lợi ích vật
chất. Những lợi ích vật chất mà chủ thể được hưởng là do giá trị tinh thần mang lại.
Thứ ba, quyền nhân thân được xác lập không phải dựa trên các sự kiện pháp lý mà
chúng được xác lập trực tiếp trên cơ sở những quy định của pháp luật .
Thứ tư, quyền nhân thân là một loại quyền tuyệt đối. Các chủ thể có nghĩa vụ tôn
trọng giá trị nhân thân được bảo vệ.
5
6
áp lu
ng – Nh
óm 6A
Ph
Phá
luậật đạ
đạii cươ
ương
Nhó
ái ni
1.2. Kh
Khá
niệệm về quy
quyềền hình ảnh của cá nh
nhâân
Hình ảnh là yếu tố tinh thần gắn liền với bản thân chủ thể, nó có ý nghĩa rất lớn
đối với đời sống tinh thần của họ, mỗi hành vi xâm phạm đến hình ảnh của cá nhân trên
thực tế thường ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống tinh thần của cá nhân đó, vì không chỉ
xâm phạm hình ảnh thôi mà còn xâm phạm tới danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân.
Bởi vậy, việc bảo vệ quyền đối với hình ảnh của cá nhân có ý nghĩa lớn trong việc ngăn
chặn kịp thời hành vi xâm phạm đến hình ảnh cá nhân, giúp khắc phục một phần hậu
quả về vật chất cũng như tinh thần cho chủ thể bị xâm phạm.
Từ trước đến nay, chưa có văn bản nào đưa ra định nghĩa cụ thể hình ảnh là gì?
Nhưng theo từ điển Tiếng Việt, hình ảnh là hình người, vật, cảnh tượng thu được bằng
khí cụ quang học (như máy ảnh), hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong
trí.2 Qua đó, ta có thể hiểu quyền hình ảnh là quyền liên quan đến việc ta sử dụng hình
ảnh của mình trong thương mại hay trong các mối quan hệ dân sự.
Và cũng chưa có văn bản pháp luật nào đưa ra định nghĩa: Quyền của cá cá nhân
về hình ảnh là gì? Song, tại khoản 1, điều 32, Bộ luật dân sự 2015, quyền của cá nhân
về hình ảnh được quy định như sau: “Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc
sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.Việc sử dụng hình ảnh của
người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ
trường hợp các bên có thỏa thuận khác.”
So với Bộ luật dân sự năm 2005, Bộ luật dân sự năm 2015 đã bổ sung một quy
định mới là: Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội
thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà
không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh. Việc sử dụng
hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình
ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
2
/>
6
7
áp lu
ng – Nh
óm 6A
Ph
Phá
luậật đạ
đạii cươ
ương
Nhó
nh của ph
áp lu
1.3. Quy đị
định
phá
luậật về quy
quyềền hình ảnh của cá nh
nhâân
Thứ nhất, quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền nhân thân thuộc về cá nhân.
Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền thuộc về cá nhân, mang tính chất cá
nhân và luôn gắn với một cá nhân xác định. Điều đó có nghĩa là quyền này được ghi
nhận và điều chỉnh trong pháp luật dân sự từ khi họ sinh ra và không thể bị trưng mua
hay chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp khi cá nhân đó chết, quyền nhân thân
này có thể được thực thi bởi những chủ thể khác theo quy định pháp luật. Đây là một
trong những đặc điểm quan trọng để phân biệt với một số quyền nhân thân thuộc về chủ
thể khác không phải là cá nhân.
Trong xã hội, mỗi người có một hình dạng, đặc điểm, hình ảnh riêng. Dù trong
một số trường hợp đặc biệt như đối với các cặp song sinh cùng trứng, hình ảnh của họ
có thể giống nhau, nhưng xét về bản chất, đó hoàn toàn là hai hình ảnh của hai cá nhân
khác nhau và mang những đặc trưng nhất định. Do đó, hình ảnh chỉ gắn liền và thuộc về
một cá nhân xác định.
Thứ hai, quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền cá thể hóa cá nhân trong xã
hội
Với đặc điểm nổi bật là sao chép lại và phản ánh đúng các đối tượng được thể
hiện trong các hình thức nghệ thuật, thông qua việc nhìn vào những hình ảnh đó dù
không ghi rõ tên tuổi, thông tin của người có trong ảnh nhưng người xem vẫn dễ dàng
nhận diện được đối tượng được phản ánh trong ảnh là ai. Do đó, có thể khẳng định, hình
ảnh là một trong các yếu tố có tính chất cá biệt hóa chủ thể và quyền nhân thân đối với
hình ảnh là quyền cá thể hóa cá nhân.
Quyền cá thể hóa cá nhân trong xã hội là quyền nhân thân của cá nhân, trong đó,
ghi nhận những đặc điểm riêng biệt của cá nhân như tên gọi, hình ảnh và các yếu tố lý
lịch để phân biệt cá nhân này với các cá nhân khác. Trong xã hội, mỗi người có một tên
gọi, hình ảnh và yếu tố lý lịch khác nhau như dân tộc, giới tính, quốc tịch, thông tin về
khai sinh, khai tử, do đó, quyền cá biệt hoá chủ thể được xem là các công cụ cá biệt hoá
khác nhau ở mỗi chủ thể, làm cho bản thân nhân thân cá nhân đó không thể bị lặp lại.
7
8
áp lu
ng – Nh
óm 6A
Ph
Phá
luậật đạ
đạii cươ
ương
Nhó
Thông qua đó, chúng ta dễ dàng hình dung và phân biệt được chủ thể này với các chủ
thể khác.
Thứ ba, hành vi xâm phạm quyền nhân thân đối với hình ảnh là hành vi tác động
vào vật phẩm liên quan đến quyền
Vật phẩm liên quan đến quyền nhân thân đối với hình ảnh chính là hình ảnh của
cá nhân đó. Khác với các quyền nhân thân khác, hành vi xâm phạm quyền nhân thân
của cá nhân đối với hình ảnh là hành vi tác động trực tiếp vào vật phẩm liên quan đến
quyền mà không phải tác động vào chủ thể. Hành vi xâm phạm đó có thể là hành vi sử
dụng hình ảnh của cá nhân khi chưa có sự đồng ý của cá nhân đó hoặc hành vi sử dụng
hình ảnh của cá nhân vì mục đích thương mại mà không trả thù lao cho người đó theo
quy định,… Trong trường hợp hành vi xâm phạm có gây ra thiệt hại thì có thể khắc
phục phần nào thiệt hại thông qua việc tác động đến hình ảnh bị xâm phạm đó. Tùy
từng dạng hành vi xâm phạm khác nhau mà chủ thể có quyền bị xâm phạm hoặc người
có hành vi xâm phạm có các cách tác động khác nhau, ví dụ: Tạp chí M có hành vi đăng
ảnh cá nhân của A khi chưa có sự đồng ý của A, gây tổn thất về tinh thần cho A thì để
khắc phục thiệt hại, M phải thu hồi lại cuốn tạp chí đó. Tuy nhiên, nếu hành vi xâm
phạm quyền đối với hình ảnh của A là hành vi nhãn hiệu B sử dụng hình ảnh của A làm
poster quảng cáo khi chưa có sự xin phép, cách tác động nhằm khắc phục thiệt hại là gỡ
bỏ poster quảng cáo đó. Đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận diện và
chứng minh một hành vi được coi là hành vi xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân
đối với hình ảnh cũng như việc khôi phục lại các giá trị nhân thân bị xâm phạm. Khi
nộp đơn yêu cầu cơ quan nhà nước bảo vệ trước những hành vi xâm phạm quyền nhân
thân của mình thì chủ thể quyền phải chỉ ra được hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến
quyền nhân thân đối với hình ảnh của mình.
Thứ tư, phương thức Nhà nước bảo vệ quyền nhân thân đối với hình ảnh là bảo vệ
khi có yêu cầu
Nếu như đối với các quyền như quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức
khoẻ, thân thể, quyền được bảo vệ nhân phẩm, quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các
thành viên trong gia đình, trong trường hợp có hành vi xâm phạm quyền, Nhà nước sẽ
8
9
áp lu
ng – Nh
óm 6A
Ph
Phá
luậật đạ
đạii cươ
ương
Nhó
chủ động can thiệp ngay cả khi không có yêu cầu, thì đối với quyền nhân thân đối với
hình ảnh, Nhà nước chỉ can thiệp khi có yêu cầu của người có quyền bị xâm phạm hoặc
của những người liên quan. Xuất phát từ lý do quyền nhân thân đối với hình ảnh có đặc
điểm mang giá trị tinh thần, không trị giá được bằng tiền nên chủ thể có hình ảnh phải là
người tự xác định và đánh giá xem hành vi tác động của chủ thể khác đối với hình ảnh
của mình có xâm phạm đến quyền hay không. Chủ thể có quyền yêu cầu can thiệp có
thể là cá nhân có quyền bị xâm phạm hoặc cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên… của
người đó trong các trường hợp theo quy định của pháp luật.
Khi có yêu cầu bảo vệ, Nhà nước có thể thông qua cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy,
chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý
khác theo quy định của pháp luật.
Thứ năm, quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền nhân thân không gắn với tài
sản
Hiện nay, liên quan đến việc xác định quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền
nhân thân có gắn với tài sản hay không, có 02 nhóm quan điểm khác nhau như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền nhân thân
không gắn với tài sản. Ngược lại, quan điểm thứ hai cho rằng, quyền nhân thân đối với
hình ảnh là quyền nhân thân gắn với tài sản.
Tác giả nhất trí với nhóm quan điểm thứ nhất. Lý do, một là, hình ảnh của cá
nhân không phải là tài sản, mà thuộc về nhân thân của cá nhân đó. Quyền đối với hình
ảnh thể hiện giá trị tinh thần của chủ thể đối với chính bản thân mình, luôn gắn với
chính bản thân người đó và không dịch chuyển được sang chủ thể khác. Hai là, dựa vào
căn cứ phát sinh quyền nhân thân đối với hình ảnh, đây là quyền được pháp luật công
nhận vô điều kiện đối với mọi cá nhân, công nhận một cách bình đẳng, được bảo vệ như
nhau khi các giá trị đó bị xâm phạm, không phụ thuộc vào bất cứ hoàn cảnh kinh tế, địa
vị xã hội hay mức độ tài sản của người đó. Đối với các quyền nhân thân gắn với tài sản
thì ngược lại, các quyền này chỉ được xác lập cùng với sự hình thành của một tài sản vô
hình nhất định.
9
10
áp lu
ng – Nh
óm 6A
Ph
Phá
luậật đạ
đạii cươ
ương
Nhó
ươ
ng 2: TH
ỰC TR
ẠNG ÁP DỤNG QUY ĐỊ
NH VỀ QUY
ỀN HÌNH ẢNH
Ch
Chươ
ương
THỰ
TRẠ
ĐỊNH
QUYỀ
ÂN CỦA VI
ỆT NAM
CÁ NH
NHÂ
VIỆ
ực tr
ạng áp dụng quy đị
nh
2.1. Th
Thự
trạ
định
Ngày nay, xã hội càng phát triển, cũng đồng nghĩa nguy cơ các quyền nhân thân
của công dân càng dễ bị xâm hại, đặc biệt là quyền nhân thân về hình ảnh. Trong những
năm gần đây, số người bị sử dụng hình ảnh vì mục đích không chính đáng ngày càng tăng,
trong đó phần lớn là những người nổi tiếng. Thật sự không có gì là bất ngờ khi những
nghệ sĩ trở thành đối tượng các nhãn hàng hướng đến để quảng bá cho sản phẩm của
mình. Song việc sử dụng hình ảnh của người nổi tiếng mà không được người đó đồng ý
một cách tràn lan như ngày nay thì thật đáng cảnh báo. Theo thống kê, chỉ 1% nghệ sĩ khi
có lời mời quảng bá sản phẩm là quan tâm tìm hiểu hoạt động của công ty, chất lượng
sản phẩm và phải dùng thử để kiểm chứng chất lượng trước khi nhận lời, vì sợ quảng bá
cho sản phẩm không tốt sẽ ảnh hưởng đến uy tín cá nhân. 99% còn lại chỉ cần thỏa mãn
mức thù lao, nếu hợp lý là nhận ngay mà không quan tâm sản phẩm đó là gì, chất lượng
ra sao.3 Chính vì thế, mà hình ảnh của nghệ sĩ bị lạm dụng nhiều, làm ảnh hưởng đến
danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhiều nghệ sĩ. Nhưng thay vì chọn cách tìm đến pháp
luật để bảo vệ hình ảnh cho mình thì không ít nghệ sĩ chọn cách chỉ đính chính thông tin
cá nhân trên trang mạng của mình. Thêm vào đó, khi các tổ chức, cá nhân vi phạm chỉ
được yêu cầu gỡ bỏ hình ảnh cá nhân của nghệ sĩ, ít khi bị cơ quan chức năng xử lý. Hơn
cả, chính các tổ chức, cá nhân sử dụng trái phép hình ảnh lại không biết việc làm của
mình là sai, họ chỉ thấy việc làm này có lợi và ai cũng làm, thế là họ làm theo.
Bên cạnh đó, chính những người sử dụng mạng xã hội cũng trở thành nạn nhân
của của việc bị lạm dụng hình ảnh. Theo số liệu thống kê, có tới 58 triệu người dùng
mạng xã hội trên thiết bị di động tính đến đầu năm 2019, con số này tăng đến 8 triệu
người dùng so với năm 2018.4 Với một con số người dùng khổng lồ như thế thì việc quản
lý hình ảnh của mình trên mạng xã hội như một thách thức với chúng ta. Mạng xã hội là
nơi ta chia sẻ niềm vui hay là nơi ta trao đổi thông tin với bạn bè. Song nó cũng là nơi
3
/>
4
/>
10
11
áp lu
ng – Nh
óm 6A
Ph
Phá
luậật đạ
đạii cươ
ương
Nhó
hình ảnh của chúng ta bị sử dụng một cách tràn lan, không kiểm soát được. Điều này
đồng nghĩa với việc quyền nhân thân về hình ảnh của chúng ta có nguy cơ bị xâm hại bất
cứ lúc nào.
Từ thực tế như trên, chúng ta đặt ra câu hỏi: Vậy phải làm sao để chúng ta bảo vệ
quyền nhân thân về hình ảnh của mình hay khi ta sử dụng hình ảnh của người khác thì
không vi phạm pháp luật ? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần sự phối hợp chặt chẽ của
các cơ quan chức năng có thẩm quyền và người bị xâm hại. Theo tác giả, khi người bị
xâm hại đứng lên tố cáo thì không chỉ lợi ích của mình được bảo vệ mà còn góp phần
ngăn chặn hữu hiệu các hành vi lạm dụng hình ảnh. Hơn cả, chính cơ quan chức năng cần
nghiêm khắc trong việc áp dụng chế tài với các cá nhân, đơn vị vi phạm để cảnh báo, răn
đe người dân tránh vi phạm.
ột số vụ vi
ực tế trong vi
nh về quy
2.2.M
2.2.Mộ
việệc th
thự
việệc vận dụng quy đị
định
quyềền hình ảnh
ân vào cu
ộc sống
cá nh
nhâ
cuộ
2.2.1. Vụ vi
việệc 1
Tối ngày 24/7/2019, trên trang cá nhân, ca sĩ Trương Thế Vinh đã đăng bài tố
cáo nhãn hàng M đã sử dụng hình ảnh của mình để quảng bá sản phẩm shop mà không có
sự đồng ý của anh. Bài đăng của anh liền gây chú ý đến cộng đồng mạng. Theo bài đăng
của anh, anh có sử dụng một chiếc áo do thương hiệu này thiết kế để quay hình cho một
chương trình truyền hình và sau đó nhãn hàng này lại lấy chính hình ảnh Trương Thế
Vinh xuất hiện trên chương trình nói trên của để giới thiệu sản phẩm. Được biết, chiếc
áo ấy là Trương Thế Vinh được tặng chứ không có sự thỏa thuận nào giữa hai bên. Để
giải quyết vấn đề, Trương Thế Vinh đã có thái độ cứng rắn nhắn tin cho nhãn hàng này
để yêu cầu gỡ bỏ hình ảnh và phải bồi thường tổn thất cho anh về mặt hình ảnh là 25 triệu
đồng.
Về phía nhãn hàng M, chủ shop đã gửi lời xin lỗi đến anh cùng với lời hứa sẽ gỡ
hình ảnh xuống, nhưng nhãn hàng vẫn khẳng định hành vi của mình là không vi phạm
pháp luật, do hình ảnh ấy được lấy công khai từ một trang báo mạng, không phải lấy từ
trang cá nhân của anh. Đồng thời nhãn hàng còn tố Trương Thế Vinh có lối cư xử không
đúng mực khi yêu cầu được nói chuyện với người có trình độ 12/12.
11
12
áp lu
ng – Nh
óm 6A
Ph
Phá
luậật đạ
đạii cươ
ương
Nhó
Trước lời đáp trả của thương hiệu M, ca sĩ Trương Thế Vinh không chấp nhận
lời xin lỗi và anh đã nhờ luật sư vào cuộc để giải quyết vụ việc.5
Nh
Nhậận xét, bình lu
luậận: Căn cứ vào khoản 1, điều 32 Bộ luật dân sự 2015 thì việc
nhãn hàng M sử dụng hình ảnh ca sĩ, diễn viên Trương Thế Vinh dù trước đó được đăng
tải lên bất cứ phương tiện truyền thông nào khác, để đăng tải lên mạng xã hội nhằm mục
đích thương mại nhưng chưa được sự đồng ý là hành vi vi phạm pháp luật. Mặc dù, nhãn
hàng lấy hình ảnh của Trương Thế Vinh khi tham gia chương trình giải trí (biểu diễn
nghệ thuật) trên trang báo mạng, nhưng không phải nhằm mục đích vì lợi ích quốc gia,
dân tộc, lợi ích công cộng hay quảng bá hình ảnh, phục vụ các hoạt động công cộng hay
hoạt động nghệ thuật nói trên mà nhằm phục vụ lợi ích cá nhân, mục đích thương mại thì
vẫn cần có sự đồng ý của Trương Thế Vinh.
Gi
Giảải ph
phááp:
Về vụ việc: Căn cứ vào khoản 3, điều 32 Bộ luật dân sự 2015 thì nam ca sĩ
Trương Thế Vinh có quyền yêu cầu người/tổ chức có hành vi xâm phạm quyền nhân thân
của mình chấm dứt hành vi vi phạm và yêu cầu hoặc khởi kiện yêu cầu cá nhân/tổ chức
có hành vi xâm phạm trả thù lao cho việc sử dụng hình ảnh của cá nhân trong trường hợp
việc sử dụng hình ảnh nhằm mục đích thương mại.
Về xã hội: Mỗi người dân nên kiểm soát, quản lý chặt chẽ hình ảnh của mình khi
sử dụng các trang mạng tương tác mang tính cộng đồng, đồng thời phải tích cực đấu
tranh và tố cáo hành vi vi phạm khi phát hiện cá nhân, tổ chức sử dụng trái phép hình ảnh
vì mục đích kinh doanh hoặc nhằm mục đích chế giễu, xúc phạm danh dự, nhân phẩm
của mình. Hơn hết là người dân cần ý thức đúng đắn về quyền hình ảnh để tự bảo vệ
mình, đồng thời tránh vi phạm pháp luật khi sử dụng hình ảnh người khác.
5
/>
12
13
áp lu
ng – Nh
óm 6A
Ph
Phá
luậật đạ
đạii cươ
ương
Nhó
2.2.2. Vụ vi
việệc 2
Ngày 24/5/2019, Báo Đời sống và Pháp luật có bài đăng nhằm vạch trần việc
Phòng khám đa khoa Việt Hàn (246 Phố Huế, Hai Bà Trưng, Hà Nội) sử dụng trái phép
hình ảnh các bác sĩ của các bệnh viện nổi tiếng để quảng cáo trên website của phòng
khám để thu hút bệnh nhân. Là một trong những bác sĩ bị sử dụng hình ảnh trái phép,
bác sĩ Phạm Ngọc Đức (Khoa Da liễu - Bệnh viện Da liễu Hà Nội) cho biết, ông chưa
bao giờ làm việc tại đây hay có bất kì sự hợp tác nào giữa ông và phòng khám, song
phòng khám lại ngang nhiên sử dụng hình ảnh của ông đăng lên trên
website://viethanhospital.com để kinh doanh. Việc làm này đã mang đến rất nhiều rắc
rối cho cuộc sống và công việc của bác sỹ Đức khi liên tục là các cuộc gọi dò xét của
bệnh nhân và ngay cả của các đồng nghiệp.
Không chỉ bác sĩ Đức là nạn nhân mà còn nhiều bác sĩ khác bị sử dụng hình ảnh
như BS Nguyễn Văn Thanh (BV Quân Y 103); BS Vũ Đức Giao (BV Ung bướu Hà
Nội); các BS Chu Văn Thọ, BS Hà Minh Lợi (BV Tai Mũi Họng Trung ương); các BS
Trần Thị Nga, BS Nguyễn Hồng Điệp, BS Nguyễn Thị Thanh Trì (BV Nhi Trung ương).
Ngoài ra, phòng khám còn “ treo đầu dê, bán thịt chó” khi sử dụng những hình ảnh ảo
để lôi kéo bệnh nhân. Khi bệnh nhân đến thăm khám và yêu cầu được bác sĩ T chẩn
đoán thì chỉ nhận lại là bác sĩ T từng làm việc ở đây nhưng giờ đã nghỉ việc hay bệnh
nhân sẽ được khám với một bác sĩ khác hoàn toàn. Vì thực chất, không tồn tại bác sĩ T
nào cả.
Còn về phía phòng khám, khi được hỏi về website và các bác sĩ được giới thiệu
trên website thì nhân viên cho biết, website đã không còn hoạt động từ lâu và bác sĩ đó
đã không còn làm việc. Song, thực tế, mọi hoạt động đặt lịch thăm khám hay tư vấn vẫn
được diễn ra trên chính website này. 6
6
/> />
13
14
áp lu
ng – Nh
óm 6A
Ph
Phá
luậật đạ
đạii cươ
ương
Nhó
Nh
Nhậận xét, bình lu
luậận: Nếu vụ việc cứ tiếp diễn thì hậu quả để lại hết sức nghiêm
trọng. Bởi lẽ, nếu người bệnh tin vào những lời quảng cáo gian dối kia để đến khám tại
đây và nhận về những y lệnh mới, không hề phù hợp với phác đồ trước đó thì sẽ khiến
việc chuẩn đoán sai bệnh. Bên cạnh đó, hành vi sử dụng hình ảnh của các bác sĩ để
quảng cáo cho phòng khám mà không có sự đồng ý của các bác sĩ đó là hành vi trái
pháp luật, vi phạm quyền của cá nhân về hình ảnh được quy định tại khoản 1, điều 32
Bộ luật dân sự 2015. Hơn cả, sự việc đã xảy ra được một thời gian nhưng phải trong 1
khoảng thời gian dài thì mới phát hiện ra và xử lý, điều đó cho thấy mọi người còn chưa
quan tâm lắm đến quyền lợi hình ảnh của mình. Và các cơ quan chức năng cũng chưa
thật sự chặt chẽ trong việc kiểm soát các vấn để liên quan đến lạm dụng hình ảnh như
vậy.
Gi
Giảải ph
phááp:
Về vụ việc: Bác sĩ Đức hay các bác sĩ khác là người bị sử dụng hình ảnh trái phép,
thậm chí là các bệnh nhân đều có quyền tố cáo việc làm của phòng khám lên cơ quan
chức năng có thẩm quyền để được giải quyết. Bác sĩ Đức và các bác sĩ khác có quyền yêu
cầu phòng khám bồi thường thiệt hại về vật chất/tinh thần cho mình theo khoản 3, điều
32 Bộ luật dân sự 2015.
Về xã hội: Người dân nên nâng cao ý thức trong việc chọn lọc các thông tin trên
mạng, nên kiểm tra mức độ tin cậy của nguồn thông tin mà mình biết hoặc đã được nhiều
người chứng thực là đúng sự thật. Bên cạnh đó, người dân cũng cần tìm hiểu, nắm rõ các
quy định của pháp luật để bảo vệ mình cũng như kịp thời tố giác các hành vi vi phạm
pháp luật với cơ quan chức năng.
2.2.3. Vụ vi
việệc 3
Ngày 31/1/2018, Công ty truyền thông Orion Football Total (OFT) công bố một
bảng báo giá về các khoản tiền phải trả khi sử dụng hình ảnh, thương hiệu của các cầu
14
15
áp lu
ng – Nh
óm 6A
Ph
Phá
luậật đạ
đạii cươ
ương
Nhó
thủ U23 Việt Nam, đặc biệt trong đó có thủ thành Bùi Tiến Dũng. Theo bảng báo giá
này, giá một status trên facebook của Bùi Tiến Dũng là 2.500 USD, một lần livestream
là 5.500 USD. Chưa hết, cát-sê dự sự kiện của chàng thủ thành ở khoảng 10.000 USD
(hơn 220 triệu đồng) cho một lần tham dự. Chụp ảnh check-in là 5.000 USD, tham gia
chụp ảnh 10.000 USD và giá quay quảng cáo lên đến 50.000 USD (hơn 1 tỉ đồng).
Bùi Tiến Dũng trở thành thủ thành số 1 Việt Nam khi anh hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ của mình trong các trận đấu tại giải U23 Châu Á 2018 để đưa Việt Nam bước
lên đài vinh quang với vị trí Á quân tại giải này. Chính vì thế, Bùi Tiến Dũng luôn là cái
tên được hàng triệu người dân Việt Nam ngưỡng mộ, săn đón. Trên trang cá nhân của
mình, anh được hơn 2,6 triệu người theo dõi, ngang ngửa với các ngôi sao giải trí hàng
đầu. Chính vì thế, hình ảnh của Bùi Tiến Dũng luôn tràn ngập trên các trang mạng, báo,
đài. Bên cạnh đó, Bùi Tiến Dũng thời điểm này thuộc quyền quản lý của câu lạc bộ FLC
Thanh Hóa, ngoài ra, anh còn khoác áo của đội tuyển Quốc gia nên cũng thuộc quyền sở
hữu hình ảnh, thương hiệu cùa nhà tài trợ cho đội tuyển. Nên khi công ty OFT công bố
bảng báo giá về Bùi Tiến Dũng như đặt ra hàng loạt sự nghi ngờ về quyền sử dụng hình
ảnh của anh thuộc về OFT. Về phía công ty OFT, họ khẳng định đã kí hợp đồng với Bùi
Tiến Dũng cùng một số cầu thủ U23 khác từ vài tháng trước. Nhưng, chỉ khi U23 thành
công tại mùa giải U23 Châu Á thì họ mới công bố bảng báo giá cho thủ môn Bùi Tiến
Dũng.
Liên quan đến sự việc, Giám đốc điều hành Nguyễn Trọng Hoài (Thanh Hóa) đã
rất bức xúc, theo ông cho biết, CLB Thanh Hóa không có bất cứ liên quan nào đến OFT
và Bùi Tiến Dũng hiện đang nằm trong sự quản lý của CLB nên mọi vấn đề về hình ảnh,
quảng cáo đều phải thông qua CLB. Và ông cũng khẳng định sẽ kiện bất kì cá nhân, tổ
chức nào khi sử dụng trái phép hình ảnh của thủ thành Bùi Tiến Dũng. Mặt khác, ông
Hoài cũng cho hay, CLB đã liên hệ với Bùi Tiến Dũng để nghe giải thích về vụ việc và
anh cũng đã nhận sai do nhận thức chưa đầy đủ và hứa sẽ không tái phạm.
Sau một khoảng thời gian ồn ào về vụ việc trên, ông Nguyễn Trọng Hoài cho biết,
CLB đã hoãn vụ kiện và đã gửi công văn đến các bên liên quan đến vụ việc. Cũng theo
15
16
áp lu
ng – Nh
óm 6A
Ph
Phá
luậật đạ
đạii cươ
ương
Nhó
ông cho biết, Bùi Tiến Dũng còn 4 năm nữa là kết thúc hợp đồng nên CLB cũng mong
muốn tạo cơ hội cho anh có thể khai thác hình ảnh của mình vì mục đích thương mại.
Chính vì thế, nếu bên công ty OFT có cuộc gặp gỡ CLB để thỏa thuận về các điều
khoản giá cả thì CLB sẽ chấp thuận kí kết hợp đồng, chỉ có thế, hợp đồng giữa Bùi Tiến
Dũng và OFT mới được hợp pháp.7
Nh
Nhậận xét, bình lu
luậận: Việc hợp đồng giữa Bùi Tiến Dũng và công ty OFT không
hợp pháp là một phần là do các bên chưa nắm rõ các quy định hiện hành về quyền của
cá nhân về hình ảnh cũng như các quy định khác dẫn đến vi phạm. Thủ môn Bùi Tiến
Dũng đã sai phạm trong việc sử dụng hình ảnh của mình vì mục đích thương mại mà
chưa có sự thông qua của ban quản lý CLB Thanh Hóa, bởi hợp đồng giữa anh và CLB
còn thời hạn 4 năm. Còn bên công ty OFT đã không xem xét kĩ khi kí hợp đồng với Bùi
Tiến Dũng, công ty nên tìm hiểu về việc Bùi Tiến Dũng có trực thuộc đơn vị nào không,
trước khi tiến hành kí kết hợp đồng.
Gi
Giảải ph
phááp:
Về vụ việc: Như ông Nguyễn Trọng Hoài chia sẻ thì công ty OFT cần cử người
đại diện đến CLB thỏa thuận về giá cả để kí kết hợp đồng về việc sử dụng hình ảnh thủ
môn Bùi Tiến Dũng để quảng bá thì hợp đồng giữa công ty OFT và Bùi Tiến Dũng mới
được hợp pháp.
Về xã hội: Qua vụ việc, một lần nữa càng nhấn mạnh hơn về ý thức của người
dân trong việc tìm hiểu các quy định pháp luật hiện hành để có thể tự bảo vệ lợi ích bản
thân mình, tránh các vi phạm pháp luật không đáng xảy ra.
7
/> />
16
17
áp lu
ng – Nh
óm 6A
Ph
Phá
luậật đạ
đạii cươ
ương
Nhó
C. PH
ẦN KẾT LU
ẬN
PHẦ
LUẬ
Quyền nhân thân về hình ảnh là một trong những quyền có vai trò rất lớn với
mỗi công dân Việt Nam. Song, trên thực tế, quyền nhân thân về hình ảnh lại dễ dàng
bị xâm phạm đến. Đây là một hồi chuông cảnh báo cho các cơ quan chức năng có
thẩm quyền chú trọng trong xử lý các hành vi vi phạm nhằm răn đe, giáo dục ý thức
cho người dân. Một bất cập khác là các quy định trong Bộ luật dân sự hiện nay khá
chung chung nên khi cần xử lý hành vi vi phạm phải liên hệ đến nhiều luật khác như
luật quảng cáo…, đồng thời việc áp dụng thực tiễn các quy định cũng gặp rất nhiều
khó khăn khi người dân không hiểu rõ các quy định, thậm chí có người dân còn
không biết có quy định về quyền nhân thân về hình ảnh. Vấn đề đặt ra là Bộ luật dân
sự 2015 đã ra đời từ lâu mà người dân lại chưa nắm bắt được, dẫn đến có ngày càng
nhiều người vi phạm quyền này. Để giải quyết vấn đề này, tác giả xin đề xuất một số
giải pháp sau:
Về phía các cơ quan chức năng:
Nâng cao tuyên truyền, giáo dục pháp luật đến người dân thông qua các kênh
truyền hình, báo, đài pháp luật, trang mạng xã hội dưới sự quản lý của cơ quan có
thẩm quyền hoặc thuộc sự kiểm soát của Bộ Công an.
Kịp thời nắm bắt, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm khi phát hiện có dấu
hiệu vi phạm pháp luật hoặc khi có sự tố cáo của các nhà báo, đài, người dân,
đồng thời phải nghiêm khắc xử lý với các hành vi tái phạm nhiều lần.
Nâng cao kiểm soát, quản lý an ninh mạng để kịp thời phát hiện dấu hiệu vi
phạm.
Về phía người dân:
Ra sức đấu tranh, tố cáo các cá nhân, tổ chức có hành vi sử dụng trái phép
hình ảnh của mình và của người khác nói riêng và các hành vi xâm phạm quyền
nhân thân nói chung.
17
18
áp lu
ng – Nh
óm 6A
Ph
Phá
luậật đạ
đạii cươ
ương
Nhó
Luôn ý thức tìm hiểu các quy định mới được sửa đổi, bổ sung trong Bộ luật
dân sự cũng như trong các văn bản pháp luật khác.
Với vai trò, ý nghĩa to lớn của quyền nhân thân về hình ảnh thì việc áp dụng
vào thực tiễn là rất cần thiết. Khi áp dụng hiệu quả các quy định thì sẽ giảm thiểu số
người vi phạm cũng như số người trở thành nạn nhân. Hơn cả, việc áp dụng vào thực
tiễn thành công còn củng cố lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào Nhà nước, vào
chính sách pháp luật nhà nước ban hành.
Với đề tài nghiên cứu này, tác giả hi vọng đã đóng góp một phần nhỏ nào
việc nghiên cứu và áp dụng các quy định của quyền nhân thân về hình ảnh vào thực
tiễn, đồng thời cũng mong các quy định của quyền này sẽ hoàn thiện, rõ ràng hơn để
người dân dễ dàng nắm bắt được, nhằm thực tế hóa các chủ trương, chính sách của
nhà nước ta. Từ đó, có thể tối đa hóa quyền lợi về hình ảnh của mỗi công dân, đồng
thời cũng hạn chế phần nào các trường hợp vi phạm không đáng xảy ra.
18
19
áp lu
ng – Nh
óm 6A
Ph
Phá
luậật đạ
đạii cươ
ương
Nhó
D. TÀI LI
ỆU THAM KH
ẢO
LIỆ
KHẢ
1. Luận văn Thạc sĩ: “ Quyền cá nhân đối với hình ảnh trong pháp luật Việt
Nam” của tác giả Trần Thị Thu Hằng – Đai học Quốc gia Hà Nội năm 2014.
2. />3. />4. />5. />6. />7. />8. />9. />10. />11. />12. />lPasIbR8dWX60uX6UIO4w
13. />
19