Tải bản đầy đủ (.docx) (110 trang)

Kế toán bán nhóm hàng ô tô tải tại công ty CP ô tô Việt Hàn Bắc Giang

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.22 MB, 110 trang )

Trường đại học Thương Mại

Khoa Kế toán- Kiểm toán
TÓM LƯỢC

Trong điều kiện cơ chế thị trường hiện nay luôn tồn tại sự cạnh tranh khốc liệt,
các doanh nghiệp thương mại muốn tồn tại, có chỗ đứng vững chắc trên thị trường thì
phải xây dựng riêng cho mình một chương trình bán hàng thông suốt trong từng khâu.
Vì vậy, vai trò của kế toán nói chung và kế toán bán hàng nói riêng có ý nghĩa hết sức
quan trọng, là vấn đề thường xuyên đặt ra cho các doanh nghiệp, đòi hỏi các doanh
nghiệp phải tổ chức kế toán bán hàng một cách khoa học và hợp lý nhằm nâng cao hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp mình, phù hợp với tốc độ phát triển của nền kinh tế
thị trường.
Qua thời gian tìm hiểu công tác kế toán tại công ty cổ phần ô tô Việt Hàn Bắc
Giang trên cơ sở những kiến thức cơ bản đã được học trong nhà trường với đề tài “Kế
toán bán nhóm hàng ô tô tải tại công ty CP ô tô Việt Hàn Bắc Giang”. Trong bài khóa
luận em trình bày những nội dung cơ bản sau:
– Những khái niệm về kế toán nghiệp vụ bán hàng trong các doanh nghiệp
thương mại và phân tích nội dung liên quan đến kế toán bán hàng theo chuẩn mực và
chế độ kế toán hiện hành.
– Khóa luận đi sâu nghiên cứu thực trạng kế toán bán nhóm hàng ô tô tải tại công
ty CP ô tô Việt Hàn Bắc Giang
– Sau khi nghiên cứu thực trạng kế toán bán hàng ô tô tải tại công ty CP ô tô Việt
Hàn Bắc Giang em đã rút ra kết luận thực tế nhưng ưu và nhược điểm trong công tác
hạch toán kế toán bán nhóm hàng ô tô tải trong doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đưa ra các
kiến nghị nhằm hoàn thiện kế toán bán hàng tại công ty CP ô tô Việt Hàn Bắc Giang.
Em hi vọng đề tài của mình góp phần nhỏ bé vào việc hoàn thiện công tác kế toán
bán hàng ô tô tải tại công ty CP ô tô Việt Hàn Bắc Giang.

Sinh viên: Lê Thị Thúy Thanh


1

Lớp K19D


Trường đại học Thương Mại

Khoa Kế toán- Kiểm toán
LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành được bài khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực cố gắng
của bản thân, em còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ các cô giáo, cô giáo cùng các
bạn.
Trước hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể các cô giáo, cô giáo
khoa Kế toán – Kiểm toán trường đại học Thương Mại, đặc biệt là thầy giáo Th.S
Nguyễn Tuấn Duy – người đã tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa
luận này.
Qua đây, em cũng xin gửi lời chân thành cảm ơn của mình tới Ban giám đốc và
các anh chị trong các phòng ban, đặc biệt là phòng kế toán của Công ty cổ phần ô tô
Việt Hàn Bắc Giang đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong thời gian thực tập tại công ty,
cung cấp tài liệu để em có thể hoàn thành bài khóa luận của mình.
Tuy nhiên, do thời gian thực tập và nghiên cứu chưa nhiều cùng với những hạn
chế về kiến thức của bản thân nên bài khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu
sót. Em rất mong nhận được sự đánh giá và góp ý từ thầy cô và các bạn để bài khóa
luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày 3 tháng 12 năm 2018
Sinh viên

Lê Thị Thúy Thanh


Sinh viên: Lê Thị Thúy Thanh

2

Lớp K19D


Trường đại học Thương Mại

Khoa Kế toán- Kiểm toán
MỤC LỤC

TÓM LƯỢC..................................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN............................................................................................................... ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ..........................................................v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT......................................................................................vi
PHẦN MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
1. Tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu.........................................................1
2. Mục tiêu của đề tài nghiên cứu...................................................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài..............................................................2
4. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu.......................................................................3
5. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp......................................................................................5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ BÁN
HÀNG TRONG DNTM...............................................................................................6
1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán nghiệp vụ bán hàng..................................6
1.1.1. Một số định nghĩa và khái niệm cơ bản...............................................................6
1.1.2. Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ của kế toán nghiệp vụ bán hàng trong doanh
nghiệp ........................................................................................................................12
1.2. Một số lý thuyết về kế toán nghiệp vụ bán hàng trong doanh nghiệp theo quy định

của chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành..................................................................14
1.2.1. Sự chi phối của các VAS đến kế toán bán hàng.................................................14
1.2.2. Nội dung kế toán bán hàng................................................................................20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ BÁN NHÓM HÀNG XE Ô
TÔ TẢI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN Ô TÔ VIỆT HÀN BẮC GIANG...................33
2.1. Tổng quan về công ty và ảnh hưởng của nhân tố môi trường tới công tác kế toán
bán nhóm hàng tại công ty cổ phần ô tô Việt Hàn Bắc Giang.......................................33
2.1.1. Tổng quan về công ty cổ phần ô tô Việt Hàn Bắc Giang.....................................33
2.1.2. Chính sách kế toán áp dụng tại đơn vị...............................................................40

Sinh viên: Lê Thị Thúy Thanh

3

Lớp K19D


Trường đại học Thương Mại

Khoa Kế toán- Kiểm toán

2.1.3. Ảnh hưởng của nhân tố môi trường tới công tác kế toán bán nhóm hàng tại công
ty cổ phần ô tô Việt Hàn Bắc Giang.............................................................................42
2.2. Thực trạng kế toán nghiệp vụ bán nhóm hàng ô tô tải tại công ty cổ phần ô tô Việt
Hàn Bắc Giang.............................................................................................................44
2.2.1. Đặc thù về nghiệp vụ bán hàng tại công ty.........................................................44
2.2.2. Thực trạng kế toán bán nhóm hàng ô tô tải tại công ty CP ô tô Việt Hàn Bắc
Giang ........................................................................................................................... 48
2.2.3. Quy trình kế toán bán hàng tại công ty...............................................................51
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KẾT LUẬN VÀ DỀ XUẤT VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN

BÁN NHÓM HÀNG Ô TÔ TẢI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN Ô TÔ VIỆT HÀN
BẮC GIANG............................................................................................................... 55
3.1. Kết luận về kế toán nghiệp vụ bán nhóm hàng ô tô tải tại công ty cổ phần ô tô Việt
Hàn Bắc Giang.............................................................................................................55
3.1.1. Những ưu điểm...................................................................................................55
3.1.2. Những hạn chế còn tồn tại..................................................................................57
3.2. Một số đề xuất về kế toán bán nhóm hàng ô tô tải tại công ty cổ phần ô tô Việt Hàn
Bắc Giang.....................................................................................................................59
3.3. Điều kiện thực hiện................................................................................................61
KẾT LUẬN.................................................................................................................62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Sinh viên: Lê Thị Thúy Thanh

4

Lớp K19D


Trường đại học Thương Mại

Khoa Kế toán- Kiểm toán

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ kế toán doanh thu bán hàng ở doanh nghiệp chịu thế GTGT theo
phương pháp khấu trừ
Sơ đồ 2.1: Quá trình kinh doanh của công ty
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động của Công ty
Sơ đồ 2.3: Tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty CP ô tô Việt Hàn Bắc Giang


Sinh viên: Lê Thị Thúy Thanh

5

Lớp K19D


Trường đại học Thương Mại

Khoa Kế toán- Kiểm toán

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CP

Cổ phần

TK

Tài khoản

TSCĐ

Tài sản cố định

LNST

Lợi nhuận sau thuế


LNKT

Lợi nhuận kế toán

TNDN

Thu nhập doanh nghiệp

VNĐ

Việt Nam Đồng

NSNN
VKD
VLĐ
VCSH
BTC
GTGT

Ngân sách Nhà Nước
Vốn kinh doanh
Vốn lưu động
Vốn chủ sở hữu
Bộ tài chính
Gía trị gia tăng

Sinh viên: Lê Thị Thúy Thanh

6


Lớp K19D


Trường đại học Thương Mại

Khoa Kế toán- Kiểm toán
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu.
Kể từ năm 2007 Việt Nam đã chính thức là thành viên thứ 150 của tổ chức WTO
đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lĩnh vực thương mại. Sự hội nhập và nền
kinh tế thế giới đã mở rộng được mối quan hệ thương mại của Việt Nam với các nước
trong và ngoài khu vực cũng như trên toàn thế giới. Hội nhập kinh tế rất có lợi cho sự
phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam nhưng cũng là một thách thức lớn đối với
các doanh nghiệp trong nước; muốn phát triển mạnh đòi hỏi phải có sức cạnh tranh lớn
mạnh hơn, tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp của mình và hoàn thiện tốt nhất
công tác quản lý kinh doanh của doanh nghiệp mình.
Bán hàng là một khâu rất quan trọng không chỉ đối với bản thân mỗi doanh
nghiệp mà còn rất quan trọng đối với nền kinh tế. Đối với doanh nghiệp bán hàng
chính là điều kiện giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển, thông qua hoạt động bán
hàng doanh nghiệp có được doanh thu từ đó thu hồi được nguồn vốn kinh doanh đã bỏ
ra ban đầu và khi hoạt động tốt có thể thu thêm được phần lợi nhuận lớn giúp gia tăng
tài sản, nguồn vốn. Đối với nền kinh tế việc thực hiện tốt khâu bán hàng giúp việc lưu
thông hàng hóa và nguồn tiền tệ được thực hiện liên tục là một vòng tuần hoàn luôn nối
tiếp nhau; tăng sự ổn định và củng cố giá trị đồng tiền giúp nền kinh tế phát triển và từ
đó nâng cao đời sống của những người lao động và toàn xã hội. Vậy vấn đề được đặt ra
ở đây là làm sao để thực hiện được tốt khâu bán hàng, tìm cách rút ngắn quá trình luân
chuyển hàng hóa từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Một trong những giải pháp đưa ra để giải quyết vấn đề là thực hiện tốt công tác kế
toán bán hàng. Kế toán bán hàng là một phần hành kế toán chủ yếu trong công tác kế

toán của doanh nghiệp, có vai trò quan trọng trong quản lý điều hành và kiểm soát các
hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp. Thông tin từ kế toán bán hàng giúp
doanh nghiệp quản lý tốt hơn tình hình tiêu thụ hàng hóa từ đó giúp nhà quản trị đưa
ra các chiến lược kinh doanh hiệu quả.

Sinh viên: Lê Thị Thúy Thanh

1

Lớp K19D


Trường đại học Thương Mại

Khoa Kế toán- Kiểm toán

Công tác kế toán hàng chịu sự chi phối rất nhiều của các chế độ, thông tư và các
chuẩn mực kế toán đòi hỏi DN phải nắm bắt rõ mà các cơ quan lại thường xuyên thay
đổi đây là một điều rất khó cho các DN. Có những điều khoản quy định trong chuẩn
mực, chế độ nhưng khi áp dụng vào thực tế lại gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp,
hoặc đôi khi có những nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhưng trong chế độ và chuẩn mực
lại không quy định. Trên thực tế, các quyết định thông tư, chuẩn mực đã được đưa vào
áp dụng trên các DN nói chung và Công ty CP ô tô Việt Hàn Bắc Giang nói chung
nhưng vẫn còn nhiều vấn đề bất cập như thời điểm ghi nhận doanh thu và giá vốn, tài
khoản sử dụng,…
Chính vì vậy để có thể hạn chế được những bất cập và hoàn thiện công tác kế
toán bán hàng tại DN nên em quyết định chọn đề tài “Kế toán bán nhóm hàng ô tô tải
tại công ty cổ phần ô tô Việt Hàn Bắc Giang”
2. Mục tiêu của đề tài nghiên cứu
Trên cơ sở tập hợp những vấn đề lý luận về công tác kế toán bán hàng, kết hợp

với kết quả đánh giá thực trạng công tác kế toán bán hàng tại công ty cổ phần ô tô Việt
Hàn Bắc Giang từ đó em xin đề xuất một số kiến nghị để hoàn thiện hơn công tác kế
toán bán hàng tại DN.
Đối với công ty qua việc nghiên cứu công tác bán hàng từ đó so sánh với lý luận
và thực tiễn để thấy được ưu và nhược điểm của công tác bán hàng tại công ty và đề
xuất một số kiến nghị giải pháp hoàn thiện hơn công tác kế toán bán hàng tại doanh
nghiệp sao cho chính xác và kịp thời.
Đối với bản thân sinh viên nghiên cứu giúp sinh viên hiểu rõ thêm và hoàn thiện
kiến thức về kế toán phục vụ tốt cho công việc sau này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu kế toán bán hàng trong doanh nghiệp cả về lý
luận và thực tiễn.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: khảo sát và nghiên cứu tại phòng kế toán của Công ty CP ô tô Việt
Hàn Bắc Giang, tại địa chỉ: Qua cầu Xương Giang- Xã Đồng Sơn- Tp Bắc Giang.
Sinh viên: Lê Thị Thúy Thanh

2

Lớp K19D


Trường đại học Thương Mại

Khoa Kế toán- Kiểm toán

- Thời gian: từ 1/5/2018 đến 30/9/2018
- Phạm vi số liệu: số liệu trong bài khóa luận thuộc quý II và III năm 2018 tại
công ty.
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: nghiên cứu công tác kế toán bán hàng tại công

ty nhưng không nghiên cứu tất cả các nhóm hàng mà chỉ đề cập tới bán nhóm hàng ô tô
tải tại công ty.
4. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu
a. Phương pháp thu thập
Để thu thập dữ liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu và làm cơ sở thực tế kiểm
chứng các vấn đề đã nêu trong khóa luận tốt nghiệp; em đã sử dụng nhiều phương pháp
khác nhau: phương pháp nghiên cứu và quan sát, phương pháp phỏng vấn.

 Phương pháp phỏng vấn:
- Là phương pháp thu thập dữ liệu thông qua việc đối thoại và đặt câu hỏi trực
tiếp cho các cán bộ công nhân viên tham gia vào công các kế toán trong DN về những
nội dung chi tiết về công tác kế toán bán hàng và đặc biệt là bán ô tô tải.
- Mục đích và nội dung thu thập thông tin: nhằm hiểu rõ hơn, cụ thể hơn về tổ
chức bộ máy kế toán, chính sách kế toán áp dụng, thu nhận các thông tin chi tiết về
việc vận dụng hệ thống tài khoản kế toán, sổ kế toán trong công tác kế toán bán hàng
tại công ty.
- Đối tượng: các nhân viên phòng kế toán công ty CP ô tô Việt Hàn Bắc Giang
- Trình tự:
Bước 1: Lập bảng hỏi phỏng vấn. Nội dung câu hỏi sẽ tập trung vào công tác kế
toán bán hàng và thuộc thẩm quyền của người được phỏng vấn. Cụ thể là giám đốc, kế
toán trưởng và kế toán bán hàng.
Bước 2: Hẹn thời gian vào những lúc rảnh dỗi để phỏng vấn, ghi chép lại các câu
trả lời của người được phỏng vấn và tập hợp thông tin vào một bảng để theo dõi, đối
chiếu.
- Kết quả: được nêu chi tiết trong phụ lục 1

Sinh viên: Lê Thị Thúy Thanh

3


Lớp K19D


Trường đại học Thương Mại

Khoa Kế toán- Kiểm toán

 Phương pháp quan sát: là phương pháp thu thập dữ liệu bằng các giác quan và
một số công cụ hỗ trợ để ghi nhận công tác kế toán bán hàng tại công ty CP ô tô Việt
Hàn Bắc Giang và cần sự phối hợp của các đối tượng được quan sát.
- Mục đích: tìm hiểu được quy trình luân chuyển chứng từ nghiệp vụ bán hàng,
cách lên các sổ chi tiết và các sổ tài khoản có liên quan.
- Nội dung: luân chuyển chứng từ phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, hóa đơn giá
trị gia tăng, hóa đơn bán hàng, hóa đơn mua hàng,…
- Trình tự tiến hành: từ cơ cấu phòng tổ chức kế toán tập trung quan sát các vị trí
có liên quan tới công tác kế toán bán hàng. Đồng thời tham gia trực tiếp vào công việc
của phòng kế toán để thu thập các tài liệu cần thiết về chứng từ kế toán, quy trình luân
chuyển chứng từ, quy trình nhập và xử lý số liệu.
- Kết quả: bằng phương pháp quan sát kết quả thu được gồm sơ đồ bộ máy công
ty, sơ đồ bộ công tác trong phòng kế toán, quy trình thu nhận, xử lý, luân chuyển chứng
từ.
b. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
 Phương pháp so sánh
Phương pháp này được thực hiện trong việc nghiên cứu kế toán bán hàng, so
sánh, đối chiếu giữa lý luận với thực tế công tác bán hàng tại Công ty, đối chiếu số liệu
trên các chứng từ gốc với các sổ kế toán liên quan, đối chiếu số liệu ở sổ cái, sổ tổng
hợp với các sổ kế toán chi tiết liên quan.
 Phương pháp tổng hợp dữ liệu
Phương pháp này được sử dụng để tổng hợp các kết quả tìm hiểu được tại Công
ty CP ô tô Việt Hàn Bắc Giang. Từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá để làm rõ nội dung đề

tài “Kế toán bán Nhóm hàng ô tô tải tại Công ty CP ô tô Việt Hàn Bắc Giang”.
 Phương pháp toán học
Qua các số liệu thu thập được trong quá trình thực tập tại Công ty, em sử dụng
phương pháp toán học để tính toán các chỉ tiêu như doanh thu, chi phí, giá vốn, giá trị
hàng tồn kho...nhằm đưa ra nhận xét chính xác nhất về tình hình bán Nhóm hàng ô tô

Sinh viên: Lê Thị Thúy Thanh

4

Lớp K19D


Trường đại học Thương Mại

Khoa Kế toán- Kiểm toán

tải tại Công ty.
5. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Với phạm vi nghiên cứu của đề tài thì ngoài các mục lời cảm ơn, mục lục, danh
mục bản biểu, danh mục sơ đồ hình vẽ, danh mục từ viết tắt, phụ lục, danh mục tài liệu
tham khảo, phần mở đầu thì bài khóa luận của em được chia làm 3 phần lớn:
CHƯƠNG I: Cơ sở lý luận cơ bản về kế toán nghiệp vụ bán hàng trong DNTM
CHƯƠNG II: Thực trạng kế toán nghiệp vụ bán nhóm hàng xe ô tô tải tại công ty
cổ phần ô tô Việt Hàn Bắc Giang
CHƯƠNG III: Một số kết luận và đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán bán
nhóm hàng ô tô tải tại công ty cổ phần ô tô Việt Hàn Bắc Giang

Sinh viên: Lê Thị Thúy Thanh


5

Lớp K19D


Trường đại học Thương Mại

Khoa Kế toán- Kiểm toán

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ BÁN
HÀNG TRONG DNTM
1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán nghiệp vụ bán hàng
1.1.1. Một số định nghĩa và khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Bán hàng
Bán hàng là khâu cuối cùng trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp thương mại, là quá trình người bán chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá cho
người mua để nhận quyền sở hữu về tiền tệ hoặc quyền đòi tiền ở người mua. Đây
cũng là quá trình vận động của vốn kinh doanh từ hình thái hiện vật sang hình thái giá
trị, hình thành nên kết quả sản xuất kinh doanh, giúp doanh nghiệp thu hồi vốn đã bỏ ra
và có thêm phần lợi luận từ hoạt động kinh doanh và tiếp tục thực hiện qua trình kinh
doanh tiếp theo.
Bán hàng có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ đối với bản thân mỗi doanh nghiệp
mà còn đối với nền kinh tế xã hội- nó chính là giai đoạn tái sản xuất- giai đoạn trung
gian của mỗi quá trình. Doanh nghiệp khi thực hiện tốt công tác bán hàng sẽ tạo điều
kiện tốt để thu hồi vốn kinh doanh, bù đắp được chi phí, đồng thời tạo ra nguồn lợi
nhuận tăng thêm và từ đó thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước thông qua việc nộp thuế, lệ
phí và tạo công ăn, việc làm và nâng cao được đời sống người dân lao động.
a. Các phương thức bán hàng
Hiện nay có hai phương thức bán hàng chủ yêu bao gồm: bán buôn, bán lẻ hàng
hóa hay bán hàng đại lý, ký gửi.

 Bán buôn là các loại hoạt động bán hàng hoá cho người mua để bán lại hay sử
dụng cho các kinh doanh. Bán buôn thường bán với khối lượng lớn, giá cả ổn định.
Trong bán buôn thì hàng hóa vẫn nằm trong quá trình lưu thông chưa sang quá trình
tiêu dùng. Do vậy giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa chưa được thực hiện.
Trong bán buôn thường bao gồm hai phương thức:
- Bán buôn qua kho: là hình thức bán hàng mà hàng hóa phải được xuất từ kho
bảo quản của doanh nghiệp. Bán buôn qua kho có thể thực hiện dưới hai hình thức
Sinh viên: Lê Thị Thúy Thanh

6

Lớp K19D


Trường đại học Thương Mại

Khoa Kế toán- Kiểm toán

+ Theo hình thức giao hàng trực tiếp: Theo hình thức này bên mua sẽ cho người
đại diện hoặc người được ủy quyền đến trực tiếp kho của bên bán để nhận hàng . Sau
khi đại diện bên mua nhận đủ hàng, thanh toán tiền hoặc nhận nợ thì khi đó hàng hóa
được coi là đã tiêu thụ.
+ Theo hình thức chuyển hàng: Theo hình thức này thì căn cứ vào đơn đặt hàng,
hợp đồng đã kí kết giữa hai bên, doanh nghiệp bán sẽ dùng phương tiện vận tải của
mình hoặc đi thuê ngoài vận chuyển hàng hóa tới kho của bên mua hoặc địa điểm giao
hàng đã kí kết trong hợp đồng. Chi phí vận chuyển do bên bán hoặc bên mua trả theo
quy định của hợp đồng. Hàng hóa trong quá trình chuyển đi vẫn thuộc sở hữu của bên
bán, chỉ khi bên mua kiểm soát và nhận đủ hàng chấp nhận thanh toán thì số hàng đi
giao được coi là đã tiêu thụ, quyền sở hữu sẽ thuộc về bên mua.
- Bán buôn hàng hóa vận chuyển thẳng: Doanh nghiệp sau khi mua hàng, nhận

hàng mua, sẽ không đưa về nhập kho mà chuyển thẳng cho khách hàng. Được thực
hiện theo hai hình thức:
+ Theo hình thức giao tay ba: doanh nghiệp sau khi nhận hàng từ nhà cung cấp
của mình thì giao bán trực tiếp cho khách hàng tại thời điểm do hai bên thỏa thuận. Sau
khi giao hàng thì đại diện bên mua ký nhận vào chứng từ bán hàng và quyền sở hữu
hàng hóa được chuyển giao cho khách hàng, khi đó hàng hóa xác định là tiêu thụ.
+ Theo hình thức gửi hàng: doanh nghiệp sau khi mua hàng, nhận hàng mua,
dùng phương tiện vận tải của mình hoặc đi thuê ngoài vận chuyển hàng tới giao cho
bên mua ở địa điểm được quy định trước trên hợp đồng. Chi phí vận chuyển do bên
bán hoặc bên mua trả theo quy định của hợp đồng. Hàng hóa chuyển bán vẫn thuộc
quyền sở hữu của doanh nghiệp. Khi nhận được tiền của bên mua thanh toán hoặc giấy
báo của bên mua đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán thì hàng hóa chuyển đi
mới được coi là đã tiêu thụ.
 Bán lẻ hàng hóa là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng, các tổ
chức kinh tế, đơn vị tập thể mua về mang tính chất tiêu dùng nội bộ. Theo phương thức
này hàng hóa ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng, giá trị và giá trị

Sinh viên: Lê Thị Thúy Thanh

7

Lớp K19D


Trường đại học Thương Mại

Khoa Kế toán- Kiểm toán

sử dụng của hàng hóa đã được thực hiện. Bán lẻ thường với số lượng ít và ổn định.
Trong phương thức bán lẻ có các hình thức:

- Bán lẻ thu tiền tập trung: là hình thức bán hàng mà trong đó việc thu tiền ở
người mua và giao hàng cho người mua tách rời nhau. Theo hình thức này mỗi quầy
hàng có một nhân viên làm nhiệm vụ thu tiền của khách hàng và viết hóa đơn, tích kê
giao cho khách hàng để họ nhận hàng tại quầy do mậu dịch viên bán hàng giao. Hết ca
mậu dịch viên căn cứ vào hóa đơn , tích kê giao hàng và lượng hàng tồn để xác định
lượng hàng bán, là cơ sở cho việc lập báo cáo kết quả bán hàng. Nhân viên thu tiền lập
giấy nộp tiền và nộp tiền cho thủ quỹ. Hình thức này tạo điều kiện cho việc quản lý và
phân bổ trách nhiệm từng cá nhân cụ thể, tuy nhiên lại gây cho khách hàng phiền hà về
thời gian nên chủ yếu áp dụng bán các loại hàng có giá trị cao.
- Hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp : theo hình thức này nhân viên bán hàng trực
tiếp thu tiền của khách hàng. Cuối ngày hoặc cuối ca bán thì mậu dịch viên phải kiểm
kê hàng hóa tồn quầy, số lượng hàng hóa bán ra để lập báo cáo bán hàng đồng thời lập
giấy nộp tiền và nộp tiền cho thủ quỹ. Hình thức này phổ biến vì tiết kiệm thời gian
mua hàng cho khách hàng và tiết kiệm lao động.
- Hình thức bán lẻ tự phục vụ: theo hình thức này khách hàng tự chọn những
hàng hóa mà mình cần sau đó mang tới bộ phận thanh toán tiền hàng, nhân viên thu
tiền sẽ thu tiền và lập hóa đơn thanh toán tiền hàng.
 Bán hàng đại lý là phương thức bán hàng trong đó các doanh nghiệp thương
mại giao hàng cho cơ sở nhận đại lý, ký gửi để các cơ sở này trực tiếp bán hàng. Sau
khi bán được hàng cơ sở đại lý thanh toán tiền hàng cho doanh nghiệp và được hưởng
một khoản tiền gọi là hoa hồng đại lý. Số hàng chuyển giao cho các cơ sở đại lý vẫn
thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, đến khi nào cơ sở đại lý thanh toán tiền hàng
hoặc chấp nhận thanh toán thì hàng mới được xác định là tiêu thụ. Khi đó quyền sở hữu
hàng hóa sẽ thuộc về cơ sở đại lý.
Khi phát sinh nghiệp vụ bán hàng đại lý thì hai bên phải tiến hành kí kết hợp
đồng, xác nhận mặt hàng, phương thức giao hàng, phương thức thanh toán tiền hàng,
giá bản, tỷ lệ hoa hồng và trách nhiệm và quyền lợi của từng bên.
Sinh viên: Lê Thị Thúy Thanh

8


Lớp K19D


Trường đại học Thương Mại

Khoa Kế toán- Kiểm toán

- Đối với bên giao đại lý chủ hàng được phép tính doanh thu bán hàng và phải
có trách nhiệm quản lý số hàng theo từng cơ sở từ khi giao hàng tới khi xác định được
tiêu thụ và phải thanh toán tiền hoa hồng cho bên nhận đại lý
- Đối với bên nhận đại lý là người cung cấp dịch vụ đại lý có trách nhiệm và tổ
chức bán số hàng đã nhập. Sau khi bán được hàng phải thanh toán đầy đủ và kịp thời
tiền hàng cho bên giao đại lý và nhận được tiền hoa hồng theo quy định trong hợp đồng
đại lý được kí kết để bù đắp chi phí và tạo ra phần lợi nhuận.
 Phương thức bán hàng trả chậm, trả góp:
- Phương thức bán trả chậm: Theo phương thức này, bên bán sẽ nhận được tiền
hàng sau một khoảng thời gian mà hai bên thoả thuận trước. Do đó hình thành khoản
công nợ phải thu của khách hàng. Nợ phải thu cần được hạch toán chi tiết cho từng đối
tượng phải thu. Việc cho khách hàng nợ hay là thanh toán sau đối với doanh nghiệp chỉ
hạn chế trong một thời gian ngắn mà cho một số ít khách hàng mua bán thường xuyên,
có tín nhiệm, làm ăn lâu dài.
- Hình thức bán hàng trả góp: Là phương thức bán hàng thu tiền nhiều lần.
Người mua sẽ thanh toán lần đầu tại thời điểm mua. Số tiền còn lại người mua chấp
nhận trả dần ở các kỳ tiếp theo. Ngoài số tiền phải trả theo giá mua hàng hoá, người
mua còn phải trả thêm một khoản tiền lãi do trả chậm. Theo hình thức trả góp, về mặt
hạch toán khi giao hàng cho người mua thì lượng hàng chuyển giao được coi là tiêu
thụ. Hình thức này giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ, thu hút được nhiều
khách hàng.
b. Các phương thức và hình thức thanh toán


 Phương thức thanh toán:
- Phương thức thanh toán trực tiếp:
Đặc điểm là khoảng thời gian từ lúc thực hiện hợp đồng tới lúc thanh toán tiền
hàng là rất ngắn, sự vận động cua hàng hóa gắn liền với sự vận động của tiền tệ. Thanh
toán dưới hình thức này chủ yếu trong bán lẻ hàng hóa, số tiền không quá lớn, đảm bảo
khả năng thu hồi vốn nhanh, tránh được rủi ro trong thanh toán cho người bán.

Sinh viên: Lê Thị Thúy Thanh

9

Lớp K19D


Trường đại học Thương Mại

Khoa Kế toán- Kiểm toán

- Phương thức thanh toán trả chậm:
Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ chuyển giao sau một
khoảng thời gian so với quyền sở hữu về hàng hóa, dẫn đến hình thành khoản nợ phải
thu khách hàng. Phương thức này đem lại rủi ro lớn hơn cho người bán nếu không có
sự tín nhiệm lẫn nhau.

 Hình thức thanh toán
- Hình thức thanh toán bằng tiền mặt:
Là hình thức thanh toán thông dụng được sử dụng chủ yếu trong bán lẻ hàng hóa
hoặc thanh toán với những đối tác không có tư cách pháp nhân.Với những giao dịch
lớn đòi hỏi lượng tiền giao dịch nhiều thì thanh toán bằng tiền mặt không phải là sự lựa

chọn tối ưu vì nó mang lại rủi ro cao.
- Thanh toán không dùng tiền mặt: áp dụng hình thưc này sẽ cho phép giảm tải
được lượng tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm thời gian, giảm chi phí liên quan tới
việc in tiền và phát hành tiền, tính an toàn cao. Vì vậy hình thức thanh toán không dùng
tiền mặt đang được sử dụng rất phổ biến và rất đa dạng:
+ Thanh toán bằng séc: là một lệnh trả tiền vô điều kiện do chủ tài khoản phát
hành, yêu cầu ngân hàng trích một số tiền nhất định trả cho người có tên trên tờ séc
một khoản tiền nhất định bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản.
+ Thanh toán qua ủy nhiệm chi: là một lệnh trả tiền vô điều kiện do chủ tài
khoản phát hành, yêu cầu ngân hàng trích một số tiền nhất định trả cho người thụ
hưởng hoặc đáp ứng một giao dịch tài chính khác. Thường được sử dụng khi hai bên
mua và bán có độ tin tưởng cao hoặc bên bán có khả năng khống chế bên mua trong
quá trình cung cấp hàng hóa- dịch vụ, quan hệ mua bán diễn ra thường xuyên liên tục.
+ Thanh toán bằng ủy nhiệm thu: là một lệnh thu tiền chủ tài khoản đơn vị bán
phát hành, yêu cầu ngân hàng thu hộ một số tiền về giá trị hàng hóa đã cung ứng cho
bên mua. Được sử dụng khi độ tin cậy của bên bán đối với bên mua cao.
+ Thanh toán bằng thư tín dụng: là một bản cam kết trả tiền của ngân hàng mở
thư tín dụng đối với người thụ hưởng, nếu người này xuất trình được bộ chứng từ thanh
toán phù hợp với nội dung và yêu cầu của thư tín dụng. Được sử dụng khi hai bên mua
Sinh viên: Lê Thị Thúy Thanh

10

Lớp K19D


Trường đại học Thương Mại

Khoa Kế toán- Kiểm toán


và bán không tín nhiệm nhau, bên bán đòi hỏi bên mua phải có đủ tiền thanh toán phù
hợp với giá trị hàng hóa đã giao hoặc dịch vụ đã cung ứng.
1.1.1.2. Doanh thu
 Doanh thu
Theo chuẩn mực kế toán số 14, doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh
nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh
thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu.
Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu
được hoặc sẽ thu được. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh
tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu
(Ví dụ: Khi người nhận đại lý thu hộ tiền bán hàng cho đơn vị chủ hàng, thì doanh thu
của người nhận đại lý chỉ là tiền hoa hồng được hưởng). Các khoản góp vốn của cổ
đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không là doanh thu.
 Doanh thu bán hàng
Doanh thu bán hàng là tổng giá trị các lợi ích kinh tế DN thu được trong năm,
phát sinh từ các hoạt động tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ của DN, được khách
hàng chấp nhận thanh toán (theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14). Doanh thu thuần
bán hàng là toàn bộ số tiền thu được, hoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ
phát sinh doanh thu sau khi đã trừ đi các khoản làm giảm trừ doanh thu như chiết khấu
thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất
khẩu, thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp.
Doanh thu thuần bán hàng = Doanh thu bán hàng – Chiết khấu thương mại –
Giảm giá hàng bán – Hàng bán bị trả lại – Thuế TTĐB, thuế xuất khẩu, thuế GTGT
theo phương pháp trực tiếp
1.1.1.3. Giá gốc
Giá gốc hàng bán là giá trị thực tế xuất kho của số sản phẩm (hoặc bao gồm cả
chi phí mua hàng phân bổ cho hàng hóa đã bán ra trong kỳ đối với doanh nghiệp
thương mại), hoặc là giá thành thực tế lao vụ, dịch vụ hoàn thành và đã được xác định

Sinh viên: Lê Thị Thúy Thanh


11

Lớp K19D


Trường đại học Thương Mại

Khoa Kế toán- Kiểm toán

là tiêu thụ và các khoản khác được tính vào giá vốn để xác định kết quả kinh doanh
trong kỳ.
1.1.1.4. Các khoản giảm trừ doanh thu
Các khoản giảm trừ doanh thu theo chuẩn mực kế toán số 14 – Doanh thu và thu
nhập khác bao gồm:
- Chiết khấu thương mại: là khoản DN bán giảm giá niêm yết cho khách hàng
mua hàng với khối lượng lớn (theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14)
- Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm
chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu (theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14).
- Giá trị hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ
bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.
1.1.2. Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ của kế toán nghiệp vụ bán hàng trong
doanh nghiệp
1.1.2.1. Yêu cầu quản lý nghiệp vụ bán hàng
Quản lý quá trình bán hàng và doanh thu bán hàng, giá vốn hàng hóa và các
khoản nợ phải thu là một yêu cầu thực tế xuất phát từ mục tiêu của doanh nghiệp. Nếu
doanh nghiệp quản lý tốt khâu bán hàng thì mới đảm bảo được hoàn thành chỉ tiêu kế
hoạch tiêu thụ và đánh giá chính xác hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Thông qua quá trình bán hàng, tài sản của doanh nghiệp chuyển từ hình thái hàng hóa
sang hình thái tiền tệ, vì vậy quản lý nghiệp vụ bán hàng cần phải quản lý cả hai mặt

tiền và hàng. Cụ thể những vấn đề quản lý nghiệp vụ bán hàng cần đặt ra là :
- Quản lý kế hoạch và tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ theo mục tiêu từng
thời kỳ, từng đối tượng khách hàng , từng hoạt động kinh tế.
- Quản lý chất lượng và mẫu mã, quy cách hàng hóa, xây dựng thương hiệu
riêng cho sản phẩm của mình là mục tiêu cho sự phát triển bền vững của mỗi doanh
nghiệp.
- Quản lý Quản lý tình hình thu hồi tiền, thu hồi công nợ và thanh toán công nợ
phải thu khách hàng theo từng phương thức bán, yêu cầu thanh toán đúng hình thức,
đúng hạn, để tránh hiện tượng mất mát, thất thoát, ứ đọng vốn hay khách hàng chiếm
Sinh viên: Lê Thị Thúy Thanh

12

Lớp K19D


Trường đại học Thương Mại

Khoa Kế toán- Kiểm toán

dụng vốn kinh doanh. Doanh nghiệp phải lựa chọn hình thức tiêu thụ sản phẩm đối với
từng đơn vị, từng thị trường, từng khách hàng nhằm thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản
phẩm, thăm dò mở rộng thị trường, mở rộng quan hệ mua bán trong và ngoài nước.
- Quản lý chặt chẽ giá vốn của các hàng hóa tiêu thụ, giám sát chặt chẽ các
khoản chi phí bán hàng, chi phí quản lý, kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của số liệu,
đồng thời phân bổ cho hàng tiêu thụ, đảm bảo cho việc xác định tiêu thụ hàng.
- Quản lý doanh thu bán hàng: Doanh thu là cơ sở quan trọng để xác định chính
xác kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại. Doanh thu phải được
xác định và ghi nhận theo đúng thực tế tiêu thụ hàng hóa (giá bán ghi trên hóa đơn, hợp
đồng bán hàng) và đúng với quy định của chế độ kế toán (điều kiện và thời điểm ghi

nhận doanh thu). Đồng thời phản ánh và theo dõi các khoản giảm giá hàng bán, hàng
bán bị trả lại, chiết khấu thương mại đầy đủ và kịp thời.
1.1.2.2. Nhiệm vụ của kế toán nghiệp vụ bán hàng
Bán hàng là khâu cuối cùng kết thúc chu kỳ hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp thương mại, có vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Để
quản lý tốt nghiệp vụ bán hàng, các nhiệm vụ đặt ra là:
- Ghi chép phản ánh kịp thời đầy đủ và chính xác tình hình bán hàng của doanh
nghiệp cả về giá trị và số lượng hàng bán trên từng mặt hàng, từng địa điểm bán hàng,
từng phương thức bán hàng. Tính toán phản ánh chính xác giá của hàng bán ra bao
gồm doanh thu bán hàng, thuế giá trị gia tăng đầu ra của từng nhóm hàng, từng hóa
đơn khách hàng, từng đơn vị trực thuộc (quầy hàng, cửa hàng, …). Xác định chính xác
giá mua thực tế của lượng hàng đã tiêu thụ đồng thời phân bổ chi phí thu mua cho hàng
tiêu thụ nhằm xác định kết quả bán hàng.
- Kiểm tra, đôn đốc tình hình thu hồi và quản lý tiền hàng, quản lý khách nợ
theo dõi chi tiết theo từng khách hàng, lô hàng số tiền khách nợ, thời hạn và tình hình
thanh toán.
- Trình bày tập hợp đầy đủ, chính xác, kịp thời các khoản chi phí bán hàng, thực
tế phát sinh và kết chuyển (hay phân bổ), cho hàng tiêu thụ làm căn cứ để xác định kết
quả kinh doanh. Cung cấp thông tin cần thiết về tình hình bán hàng, phục vụ cho việc
Sinh viên: Lê Thị Thúy Thanh

13

Lớp K19D


Trường đại học Thương Mại

Khoa Kế toán- Kiểm toán


chỉ đạo và điều hành kinh doanh của doanh nghiệp. Tham mưu cho lãnh đạo về các giải
pháp để thúc đẩy quá trình bán hàng.
1.2. Một số lý thuyết về kế toán nghiệp vụ bán hàng trong doanh nghiệp
theo quy định của chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành
1.2.1. Sự chi phối của các VAS đến kế toán bán hàng
1.2.1.1. Kế toán bán hàng theo Chuẩn mực kế toán số 01 “Chuẩn mực chung”
Chuẩn mực được ban hành và công bố theo quyết định số 165/2002/QĐ-BTC
ngày 31 tháng 12 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính.
Chuẩn mực này phản ánh các nguyên tắc, yêu cầu kế toán cơ bản, các yếu tố của
BCTC. Doanh nghiệp cần tôn trọng quy định sau khi kế toán bán hàng:
 Cơ sở dồn tích: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của Doanh nghiệp liên quan
đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế
toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi
tiền hoặc tương đương tiền. Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ảnh tình
hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Do đó, khi bán
hàng cần phải lưu ý thời điểm ghi nhận doanh thu để đảm bảo phản ánh đúng tình hình
tài chính doanh nghiệp.
Vì việc ghi nhận doanh thu và chi phí có ảnh hưởng quyết định đến báo cáo kết
quả kinh doanh của Doanh nghiệp trong một kỳ, cơ sở kế toán dồn tích được xem là
một nguyên tắc chính yếu đối với việc xác định lợi nhuận của Doanh nghiệp. Lợi
nhuận theo cơ sở dồn tích là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí; từ đó, BCTC
nói chung và BCKQKD nói riêng được lập trên cơ sở dồn tích phản ánh đầy đủ (hay
tuân thủ yêu cầu trung thực) các giao dịch kế toán trong kỳ và từ đó, cho phép tình
trạng tái sản, nguồn vốn của một Doanh nghiệp một cách đầy đủ, hợp lý. Hơn nữa, do
không có sự trùng hợp giữa lượng tiền thu vào và doanh thu trong kỳ và tồn tại chênh
lệch giữa chi phí ghi nhận và lượng tiền chi ra trong một kỳ, kế toán theo cơ sở dồn
tích cho phép theo dõi các giao dịch kéo dài qua các kỳ khác nhau, như nợ phải thu, nợ
phải trả, khấu hao, dự phòng,...

Sinh viên: Lê Thị Thúy Thanh


14

Lớp K19D


Trường đại học Thương Mại

Khoa Kế toán- Kiểm toán

 Nguyên tắc giá gốc: Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc của tài
sản được tính theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá
trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận. Giá gốc của tài sản không
được thay đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể.
Trị giá thực tế hàng mua vào= giá thanh toán cho người bán (trị giá hàng mua
thực tế)+ chi phí phát sinh trong khâu mua – chiết khấu thương mại, giảm giá hàng
bán.
Trị giá mua thực tế của hàng hóa của hàng xuất bán: có thể tùy vào thực tế mà
doanh nghiệp áp dụng theo 3 phương pháp:
- Phương pháp thực tế đích danh:
Giá trị hàng xuất chính là giá mua đầu vào của hàng hóa đó. Đảm bảo tính chính
xác cao. Nhưng khó áp dụng trong thực tế, đòi hỏi doanh nghiệp phải theo dõi chi tiết
hàng hóa theo từng thời điểm mua hàng cho tới khi xuất bán. Chủ yếu áp dụng với các
doanh nghiệp kinh doanh xuất- nhập khẩu.
- Phương pháp bình quân gia quyền
Áp dụng tính giá mua bình quân của hàng hóa mua vào trong kì căn cứ vào số
lượng hàng hóa đầu kì và số lượng mua thêm vào trong kì. Được tính theo công thức:

Giá hàng mua bình quân


=

Trị giá của hàng hóa đầu kì+ trị giá của hàng hóa
mua vào trong kì
Số lượng hàng hóa hiện có đầu kì + số lượng hàng
hóa mua vào trong kì

Trị giá mua bình quân có thể tính chung cho cả kì kinh doanh hoặc tính sau mỗi
lần mua hàng:
Trị giá hàng xuất bán= giá hàng mua bình quân * tổng số lượng hàng bán
- Phương pháp nhập trước xuất trước (FIFO)
Là phương pháp xuất hàng theo thời gian nhập hàng, hàng hóa nào nhập trước thì
xuất trước, xuất hết số nhập trước mới đến số nhập sau theo giá thực tế của từng lô

Sinh viên: Lê Thị Thúy Thanh

15

Lớp K19D


Trường đại học Thương Mại

Khoa Kế toán- Kiểm toán

hàng xuất. Do đó hàng hóa tồn kho cuối kỳ được tính theo đơn giá của những lần nhập
kho cuối cùng.
Trị giá hàng xuất bán= số lượng hàng xuất bán * đơn giá thực tế của hàng nhập
Sử dụng phương pháp này đơn giản hơn trong việc bố trí kho hàng, hàng hóa xuất
đảm bảo chất lượng, nhưng việc tính giá vốn thực tế sẽ khó chính xác.

- Có 3 lý do để giá gốc là một nguyên tắc của kế toán:
+ Để đảm bảo tính khách quan của số liệu kế toán (vì chúng ta có thể kiểm
chứng, so sánh giá ở sổ kế toán với các hóa đơn bán hàng)
+ Xác định được kết quả kinh doanh (từ giá gốc của hàng hóa kế toán tính toán
được giá trị hàng hóa xuất ra là bao nhiêu để có lãi từ đó ta xác định được kết quả kinh
doanh bằng cách lấy giá bán trừ đi giá gốc)
+ Đơn giản hơn trong việc ghi chép, thuận lợi hơn cho công tác quản lý (vì giá
gốc không biến động theo thị trường do đó theo tình hình thị trường ta có thể thay đổi
giá bán ra sao cho doanh nghiệp có lãi lớn nhất và có thể bán được số lượng hàng lớn)
Cơ sở giá gốc có các đặc trưng:
+ Thông qua đo lường giá trị bằng tiền và tôn trọng trao đổi ngang giá
+ Sự hi sinh lợi ích trong hiện tại (chi phí mua tài sản) được xem là chắc chắn và
gắn liền với lợi ích tương lai (khả năng sinh lợi của tài sản)
+ Có đủ minh chứng về việc thực hiện (chứng từ mua) để đảm bảo tính pháp lý
đáng tin cậy và phù hợp của thông tin về tài sản
1.2.1.2. Kế toán bán hàng theo Chuẩn mực kế toán số 02 “Hàng tồn kho”
Chuẩn mực được ban hành và công bố theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC
ngày 31/12/2001 của bộ trưởng Bộ Tài Chính. Chuẩn mực quy định việc tính giá hàng
tồn kho trong kế toán bán hàng được áp dụng một trong các phương pháp sau:
Phương pháp tính giá theo giá đích danh : phương pháp này được áp dụng đối
với doanh nghiệp có ít mặt hàng hoặc mặt hàng ổn định và nhận diện được. Theo
phương pháp này hàng hóa xuất bán thuộc lần mua nào thì lấy đơn giá của lần mua đó
để xác định giá trị của hàng tồn kho.
Phương pháp bình quân gia quyền : theo phương pháp này giá trị của từng loại
hàng tồn kho được tính theo giá trung bình của từng loại hàng tồn kho tương tự đầu kỳ
và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua vào hoặc sản xuất trong kỳ. Giá trị trung

Sinh viên: Lê Thị Thúy Thanh

16


Lớp K19D


Trường đại học Thương Mại

Khoa Kế toán- Kiểm toán

bình được tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lô hàng về, phụ thuộc vào tình
hình của doanh nghiệp.
Phương pháp nhập trước, xuất trước : phương pháp này áp dụng trên giả định là
hàng hóa tồn kho được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước và hàng tồn kho
còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất vào gần thời điểm cuối kỳ. Theo
phương pháp này giá trị của hàng hóa xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho ở
thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập
kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho.
1.2.1.3. Kế toán bán hàng theo Chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu
nhập khác”
Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và
phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác, gồm: các loại doanh thu, thời điểm
ghi nhận doanh thu, phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác làm cơ sở ghi sổ
kế toán và lập báo cáo tài chính. Chuẩn mực này quy định:
 Thời điểm ghi nhận doanh thu:
Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả năm điều
kiện sau:
(1) DN đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản
phẩm hoặc hàng hóa cho người mua.
Những rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải như: hàng hóa bị hư hỏng, kém
phẩm chất, lạc hậu về mẫu mã và thị hiếu... Trường hợp DN vẫn còn chịu phần lớn rủi
ro gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa dưới nhiều hình thức khác nhau như:

+ Doanh nghiệp vẫn còn phải chịu trách nhiệm để đảm bảo cho tài sản được hoạt
động bình thường mà không nằm trong các điều khoản bảo hành thông thường.
+ Việc thanh toán tiền hàng còn chưa chắc chắn vì còn phụ thuộc vào khách hàng.

Sinh viên: Lê Thị Thúy Thanh

17

Lớp K19D


Trường đại học Thương Mại

Khoa Kế toán- Kiểm toán

+ Hàng hóa được giao còn chờ lắp đặt và việc lắp đặt đã được thỏa thuận rõ trong
hợp đồng mà DN chưa hoàn thành.
+ Khi người mua có quyền hủy bỏ việc mua hàng vì một lý do nào đó được
nêu trong hợp đồng mua bán và DN chưa chắc chắn về khả năng hàng bán có bị trả
lại hay không.
- Những lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa là khoản tiền thu được từ
việc bán hàng hóa hoặc lợi ích, thu nhập ước tính từ việc sử dụng hàng hóa.
- Khi DN đã chuyển giao phần lớn những rủi ro và lợi ích kể trên thì mới được
ghi nhận doanh thu bán hàng.
Ví dụ: Đối với doanh nghiệp bán ô tô, khi xuất ô tô đem bán có đầy đủ hóa đơn,
biên bản bàn giao cho khách hàng cũng được xem là đã chuyển giao phần lớn rủi ro,
lợi ích gắn liền với quyền sở hữu. Việc đăng ký sở hữu sau đó của người mua không
phải là phần lớn quyền sở hữu hàng hóa, quyền sở hữu đã được xác định phần lớn khi
bàn giao theo hợp đồng.
(2) DN không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa

hoặc quyền kiểm soát hàng hóa.
Trong hầu hết các trường hợp thì thời điểm chuyển giao quyền sở hữu trùng với
thời điểm chuyển quyền kiểm soát hàng hóa cho người mua. Tuy nhiên, trong một số
trường hợp lại có sự tách rời hai quyền này như: Khi bán hàng trả góp, quyền quản lý
và quyền kiểm soát đã được chuyển giao nhưng quyền sở hữu chưa được chuyển giao,
điều này có nghĩa là phần lớn rủi ro và lợi ích của việc sở hữu hàng hóa gắn liền với
quyền kiểm soát được chuyển giao cho người mua mặc dù quyền sở hữu hợp pháp vẫn
thuộc về người bán. Người mua chỉ thực sự trở thành chủ sở hữu khi đã hoàn thành
xong nghĩa vụ thanh toán.
Ví dụ: Một hợp đồng mua bán giữa hai doanh nghiệp X và Y, X bán hàng cho Y
và hàng hóa được bán trực tiếp tại kho của X. Doanh nghiệp X đã lập biên bản bàn
giao hàng hóa và được Y ký xác nhận nhưng hàng hóa vẫn được gửi tại kho hàng của
doanh nghiệp X. Trong trường hợp này hàng hóa vẫn thuộc quyền quản lý của doanh
nghiệp X nhưng không còn quyền quyết định bán hàng hóa đó cho bên thứ ba.
(3) Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn:
Doanh thu được ghi nhận khi doanh nghiệp xác định được giá trị tương đương
của khoản đã thu hoặc sẽ thu được trong tương lai từ việc bán hàng hóa.
Sinh viên: Lê Thị Thúy Thanh

18

Lớp K19D


Trường đại học Thương Mại

Khoa Kế toán- Kiểm toán

Ví dụ: Có những bằng chứng chắc chắn của việc ghi nhận doanh thu về giá trị
khoản doanh thu, ví dụ như có nghiệm thu khối lượng hoàn thành được khách hàng xác

nhận của doanh thu hoạt động xây dựng; hợp đồng mua bán hàng hóa có giá trị cụ thể,
đã bàn giao hàng hóa…
(4) DN đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng.
Doanh thu chỉ được ghi nhận khi đã tương đối chắc chắn rằng DN nhận được lợi
ích từ các giao dịch. Điều này cũng phù hợp với “nguyên tắc thận trọng” của chuẩn
mực 01: “Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về
khả năng thu được lợi ích kinh tế”.
Ví dụ: Thu từ hoạt động bán hàng của doanh nghiệp, từ các hợp đồng đã kí kết
nhưng không thu bằng tiền mà đổi lại bằng cách nhận hàng hóa, có thể dùng chứng từ
như biên bản bù trừ.
(5) Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
Theo “nguyên tắc phù hợp” của chuẩn mực 01: “Việc ghi nhận doanh thu và chi
phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một
khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương ứng
với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi
phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó”.
Ví dụ: Giá vốn hàng bán của hàng hóa bán ra, chi phí bán hàng…
 Doanh thu được xác định như sau:
- Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được.
- Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa DN với bên
mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã
thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu
thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại.
- Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì doanh
thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được
trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãi suất hiện
hành. Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa
sẽ thu được trong tương lai.
- Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự về
Sinh viên: Lê Thị Thúy Thanh


19

Lớp K19D


×