1
2
Đánh giá đơn xin vay vốn của
doanh nghiệp vừa và nhỏ
Roy Perryman
Do Thi Kim Hao
www.clubtaichinh.net
Website chia sẻ tài liệu miễn phí
3
Đánh giá đơn xin vay vốn của doanh nghiệp
vừa và nhỏ (DNVVN hay SME) – Các mục tiêu
khoá học
Mục tiêu:
Mục tiêu tổng thể của khoá học là củng cố kiến thức và kỹ năng
của các học viên khi làm việc với một đơn xin vay vốn của một
khách hàng là doanh nghiệp vừa hoặc nhỏ.
Tiếp đó, học viên sẽ hiểu được quá trình đánh giá đơn xin vay vốn
sẽ bao gồm các nguồn thông tin cả khách quan lẫn chủ quan, đồng
thời biết được các nguồn thông tin này cần được đánh giá nghiêm
túc ra sao để đưa đến một quyết định mang tính cân bằng (dung
hoà).
Trọng tâm của việc đánh giá luôn được đặt trên khả năng trả nợ
vay từ nguồn tiền mặt tạo ra và từ kết quả của kế hoạch dự án đầu
tư đang xét đến.
4
Đánh giá đơn xin vay vốn của DNVVN –
Tiếp nhận đơn xin vay
Rủi ro tín dụng bắt đầu với đơn xin sử dụng tiện ích tín dụng. Các đơn
như vây có hai hình thức:
-
Đơn thăm dò
-
Đơn chính thức
Chỉ khi đơn chính thức được trình lên người cho vay mới thực sự
bắt đầu phải cọ xát với rủi ro.
Trong nhiều trường hợp mẫu đơn ban đầu được thiết kế sao cho
nó cung cấp đầy đủ thông tin đối với người cho vay để có thể đưa
ra quyết định xem liệu có tiếp tục xem xét đơn này một cách
nghiêm túc hay không.
5
Đánh giá đơn xin vay vốn của DNVVN –
Tiếp nhận đơn xin vay
•
Đưa câu hỏi (yêu cầu) thăm dò
•
Nghiên cứu xem xét khách hàng và dự án
•
Uy tín khách hàng và hồ sơ theo dõi
•
Bản chất
•
Mục đích
•
Đáp ứng các tiêu chí về tư cách/chính sách tín dụng
•
Phần đóng góp
•
Thế chấp!!!
•
Nộp đơn chính thức
•
Thu thập thông tin
•
Phân tích (thẩm tra – xem xét các bằng chứng)
6
Đánh giá đơn xin vay vốn của DNVVN –
Các nguồn thông tin
Các nguồn:
•
Kế hoạch kinh doanh
•
Các sổ sách ghi chép (hồ sơ) tại ngân hàng
•
Các tổ chức tham chiếu
•
Các cuộc thăm viếng tại chỗ
•
Kiến thức cá nhân
•
Các nguồn bên ngoài
7
Đánh giá đơn xin vay vốn của DNVVN –
Điều mà các số liệu tài chính không nói ra
• Chất lượng quản lý (ban lãnh đạo) của doanh nghiệp
• Nhu cầu trong tương lai đối với sản phẩm/dịch vụ
• Chất lượng của sản phẩm/dịch vụ
• Chất lượng của cơ sở khách hàng của doanh nghiệp, bao gồm tất cả
các khách hàng có nợ xấu hoặc nợ đang có nghi vấn không được thông
báo
• Các kế hoạch trong tương lai đối với doanh nghiệp và liệu tài sản
của doanh nghiệp có đủ để hỗ trợ các kế hoạch đó không
• Liệu doanh nghiệp có phải phụ thuộc vào một loại sản phẩm/dịch vụ
duy nhất hay không
•
Sự chính xác của các đánh giá về giá trị hàng tồn lưu kho, kể cả các
hàng tồn lầu đã lạc hậu/cũ (điều này cũng có thể được áp dụng đối với
việc đánh giá giá trị của các loại tài sản khác)
• Doanh nghiệp cho nợ tiền trong bao lâu? Có thể có những khoản tiền
sẽ không bao giờ được thanh toán và cần phải được coi là “nợ xấu”.
8
Đánh giá đơn xin vay vốn của DNVVN –
Xếp loại (Đánh điểm) rủi ro
Thiết kế hệ thông xếp loại
“Thuật ngữ ‘Hệ thống xếp loại’ bao gồm tất cả các phương pháp, quy trình, kiểm
soát và thu thập số liệu cùng với hệ thống công nghệ thông tin (IT) hỗ trợ cho
việc đánh giá rủi ro tín dụng, xếp loại tín dụng nội bộ và lượng hoá các ước tính
về khả năng không trả nợ và mất mát”.
Mục đích của hệ thống xếp loại là chỉ căn cứ vào rủi ro không thanh toán nợ mà
xếp hạng theo thứ tự tất cả các khách hàng, nghĩa là chất lượng tín dụng của
người vay được tính riêng, trước khi xem xét đến bất kỳ một hình thức giảm nhẹ
nào như thế chấp, bảo lãnh hay hỗ trợ từ một thực thể khác dù chính thức hay
không.
Tác động của các yếu tố giảm nhẹ lên rủi ro tín dụng được tính đến về sau trong
quá trình thẩm định tín dụng, việc xếp hạng theo bản chất cung cấp nhát cắt đầu
tiên trong đánh giá rủi ro cũng như cơ sở để đánh giá sự cần thiết hay yêu cầu
về các yếu tố giảm nhẹ.
9
Đánh giá đơn xin vay vốn của DNVVN –
Xếp loại rủi ro
Quá trình phát triển phương pháp xếp loại
1. Đồng ý về các tiêu chí rủi ro
2. Gán điểm/tỷ trọng cho các tiêu chí
3. Kiểm tra hệ thống trên cả danh mục
4 Thực hiện
7 Xem xét lại
6 Thay đổi
10
Đánh giá đơn xin vay vốn của DNVVN –
Vốn lưu động
ĐỊNH NGHĨA - Các chuyên gia kế toán có thể tranh luận về
định nghĩa này, nhưng các ngân hàng thường sử dụng thuật
ngữ này để chỉ:
HÀNG TỒN LƯU KHO + CÁC KHOẢN PHẢI THU – CÁC
KHOẢN PHẢI TRẢ = VỐN LƯU ĐỘNG HOẶC TÀI SẢN
NGẮN HẠN RÒNG
Điều này có nghĩa là gì? Làm thế nào để biết như vậy là tốt
hay xấu?
11
Đánh giá đơn xin vay vốn của DNVVN –
Vốn lưu động
Điều này có nghĩa là gì?
Vốn lưu động là số tiền cần thiết để tài trợ cho các tài sản lưu động của
một doanh nghiệp và thường tăng lên tỷ lệ thuận với doanh thu.
Hầu hết các doanh nghiệp đều có hàng tồn lưu kho hoặc các khoản
phải thu, thường là cả hai. Hầu hết các doanh nghiệp cũng sử dụng tín
dụng từ các nhà cung cấp. Tuy nhiên rất ít doanh nghiệp có khả năng
sử dụng khoản tín dụng đó ở mức có thể tài trợ đủ cho cả hàng tồn kho
và các khoản phải thu.
TỶ LỆ VỐN LƯU ĐỘNG TRÊN DOANH THU
Đây là lý do vì sao nhiều người cho vay sử dụng tỷ lệ này:-
Các khoản phải thu + Tồn lưu kho – Các khoản phải trả/Doanh thu X 100 =
Tỷ lệ Vốn lưu động trên Doanh thu
12
Đánh giá ĐƠN XIN VAY VỐN CỦA
DNVVN – Thẩm định đánh giá đầu tư vốn
“Đầu tư tài sản cố định/vốn" là chi tiền bây giờ để thu lợi ích
trong tương lai.
Chúng ta có xu hướng coi việc mua sắm máy móc là một loại
giao dịch thường có trong đầu tư, nhưng thực tế là các quyết
định mang tính dài hạn hơn này bao gồm cả những chủ đề
sau đây:
13
Đánh giá đơn xin vay vốn của DNVVN –
Thẩm định đánh giá đầu tư vốn
•
Mua thêm máy móc mới;
•
Mua máy mới để thay thế cho máy cũ hiện có;
•
Mua máy mới để giảm bớt lao động hiện tại;
•
Đi thuê hoặc mua (đặc biệt khi tính toán đến các tác động về thuế);
•
Mở rộng lực lượng lao động;
•
Mở rộng cơ sở nhà xưởng;
•
Giới thiệu một chiến dịch quảng cáo vì lợi ích lâu dài;
•
Giới thiệu một dòng sản phẩm mới;
•
Thay thế dòng sản phẩm/dây chuyền sản xuất.
14
Đánh giá đơn xin vay vốn của DNVVN –
Thẩm định đánh giá đầu tư vốn
Về bản chất các quyết định đầu tư vốn liên quan đến một giai
đoạn dài hơn nên rõ ràng là kỹ thuật được sử dụng phải tính
đến sự thay đổi về mặt giá trị theo thời gian.
Các kỹ thuật đánh giá thẩm định hiện tại dựa trên dòng tiền
mặt dự báo mà không tham chiếu đến các xu hướng lạm
phát (mặc dù cả hai phương pháp đều tính đến sự thay đổi
trong giá trị của tiền theo thời gian không liên quan đến lãi
suất).