HƯỚNG DẪN THỞ CPAP KHÔNG XÂM NHẬP QUA MŨI
CHO TRẺ SƠ SINH
MÔ TẢ PHƯƠNG PHÁP
CPAP không xâm nhập qua mũi (NCPAP) là sử dụng áp lực đường thở dương liên tục cho
các trẻ sơ sinh còn khả năng thở tự nhiên có hiệu quả. Thở CPAP nhằm làm tăng dung tích
cặn chức năng (FRC) cải thiện độ giãn nở của phổi và làm giảm sức cản đường hô hấp
9;30
.
Thở NCPAP cho phép làm tăng tỷ lệ thay đổi thể tích trên một đơn vị áp lực. Điều đó có
nghĩa là Vt sẽ tăng nhiều hơn mỗi khi có thay đổi áp lực. Đồng thời CPAP cũng làm giảm
công hô hấp và ổn định thông khí/phút. Nhờ làm tăng áp lực trung bình đường hô hấp
(MAP) và dung tích cặn chức năng do đó cải thiện thông khí - tưới máu và giảm nhu cầu
oxygen
16;29
. Hơn nữa CPAP cũng góp phần mở rộng đường hô hấp trên nên cũng có tác
dụng ngăn ngừa xẹp phổi và tắc nghẽn đường hô hấp trên
10;15;19;21
CHỈ ĐỊNH
Chỉ định NCPAP thường dựa vào lâm sang, khí máu và Xquang
+ Các biểu hiện của tăng công hô hấp trên lâm sàng như:
4;13;15;16;19;21;31
Thở nhanh trên 30% so với nhịp thở bình thường
- Co kéo trên và dưới ức
- Thở rên
- Phập phồng cánh mũi
- Tím tái
- Kích thích
+ Khí máu động mạch
12;13;14;22
- PaO
2
≤ 50 torr khi thở FiO
2
≤ 60%
- PaCO
2
≥ 50 torr và pH ≥ 7,25
+ Xquang phổi giãn nở kém hoặc mờ nhiều
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
- Viêm tiểu phế quản cấp
- Bệnh nhân cần phải đặt ống nội khí quản hoặc phải thông khí nhân tạo xâm nhập
- Dị dạng đường hô hấp trên mà biết chắc là CPAP không xâm nhập sẽ không hiệu
quả hoặc có thể gây ra các tai biến nguy hiểm (ví dụ như sứt môi hở hàm ếch, lỗ dò
khí thực quản…)
- Ngừng tuần hoàn hoặc rối loạn tim mạch nặng
- Cơn ngừng thở thường xuyên, kéo dài gây giảm bão hoà oxygen hoặc nhịp tim
chậm
- Thoát vị cơ hoành chưa được điều trị vì CPAP không xâm nhập có thể gây giãn dạ
dày gây đè ép thêm vào lồng ngực
- PaCO
2
< 60 torr và pH> 7,25
5;12;34
THIẾT BỊ TIẾP NỐI
Thở CPAP được sử dụng lần đầu tiên cho trẻ đẻ non vào năm 1971. Từ đó tới nay đã có
một vài loại thiết bị tiếp nối vào đường hô hấp trên của bệnh nhân được áp dụng. Tuy
nhiên thiết bị qua mũi vẫn được dùng nhiều nhất vì cho phép theo dõi bệnh nhi tốt hơn. Có
2 cách tiếp nối thiết bị qua mũi đó là ống thông vào một lỗ mũi và vào 2 lỗ mũi
Ống thông vào một lỗ mũi
Ống thông qua một lỗ mũi vào tỵ hầu một lỗ mũi được sử dụng bằng cách cắt 1 đoạn
ống nội khí quản và đặt sâu vào đến tỵ hầu. Loại ống thông 1 lỗ mũi thì dễ cố định hơn
nhưng lại có tai biến sây sướt và loét mũi hoặc vách ngăn nhiều hơn so với loại ống thông
2 lỗ mũi do phải dùng ống thông đủ khít vào mũi để tránh tụt áp lực do hở nên sẽ đè ép
nhiều vào mũi và vách ngăn.
Ống thông 2 lỗ mũi
Các nghiên cứu so sánh ống thông 1 mũi với loại ống thông vào 2 mũi cho thấy loại
ống thông vào một lỗ mũi ít hiệu quả hơn trong điều trị suy hô hấp cho các trẻ sơ sinh đẻ
rất non cả về oxygen hoá lẫn tần số thở và tỷ lệ cai CPAP thành công. Sở dĩ loại ống thông
2 lỗ mũi cho kết quả tốt hơn có thể là do nó có sức kháng thấp hơn và tạo áp lực tốt hơn.
Các ống thông 2 mũi bao gồm các loại sau:
- Argyle prongs
- Hudson prongs
- IFD (infant flow driver)
- INCA prongs
Benchtop nghiên cứu loại ống thông IFD so với Argyle prongs và IFD so với Hudson
prongs thì thấy rằng IFD tạo áp lực tốt hơn 2 loại này. Hiện nay người ta vẫn còn đang tiếp
tục nghiên cứu để so sánh tác dụng của các loại ống thông này với nhau.
Sử dụng cannulae mũi (loại thường dùng để thở oxygen qua mũi). Loại này chỉ cho
phép dòng chảy được tới 2 lít/ phút. Có một số nghiên cứu dùng cannulae này để thở
CPAP cho trẻ đẻ non cũng cho kết quả tương tự như dùng ống thông CPAP qua 2 mũi. Tuy
nhiên một số tác giả lại cho rằng cannulae mũi này không có khả năng tạo ra áp lực vì hở
quanh cannulae nhiều và chỉ sử dụng được dòng khí thấp
Mask mũi
Mặc dù loại này đã được dùng ngay từ những ngày đầu để thở CPAP nhưng do rất
khó cố định và hay làm tắc mũi nên hiện nay ít được sử dụng.
CÁCH ĐẶT NCPAP
- Chọn gọng mũi hoặc mask mũi phù hợp với bệnh nhi để tránh hoại tử tổ chức: cỡ
gọng mũi hoặc mask mũi phù hợp sẽ tránh được hở ở xung quanh. Hở cũng có thể
xẩy ra nếu miệng bệnh nhi luôn mở.
- Có thể dùng đai buộc cằm bệnh nhi lại để chống hở do mở miệng
- Bôi dầu nhờn vào lỗ mũi 3-4 giờ/lần để chống khô niêm mạc mũi gây tổn thương
cho niêm mạc mũi
- Hút mũi, kiểm tra và làm sạch gọng mũi (prongs) 3-4 giờ/1lần để chống tắc gọng
mũi do đờm
- Đặt ống thông dạ dày qua đường miệng và để hở đầu ống thông ra ngoài không khí
(trừ trường hợp phải nút kín sau khi ăn trong 30-40 phút) để làm giảm trướng bụng.
Dùng catheter cỡ 8F để đặt vào dạ dày cho trẻ >1000g và cỡ 6F cho trẻ <1000g. Cứ
3-4 giờ/lần hút kiểm tra xem ống thông dạ dày có bị tắc hoặc gập lại không? Luôn
giữ cho ống thông dạ dày không được tắc.
- Giữ đầu bệnh nhi ở tư thế làm thông đường hô hấp, có thể sử dụng dụng cụ để giữ
cho đầu của trẻ không bị di động và luôn ở tư thế làm thông đường hô hấp
ĐIỀU CHỈNH DÒNG CHẢY
Dòng khí sử dụng trong CPAP rất quan trọng. Nếu dòng không đủ sẽ làm cho áp lực
đường hô hấp thay đổi nhiều và tăng công hô hấp. Dòng này cũng cần bù lại được hiện
tượng thất thoát khí do hở ở mũi và miệng trẻ. Theo kinh nghiệm của một số tác giả, dòng
cần sử dụng là 6 lít/phút hoặc cao hơn một chút. Nếu miệng mở thì áp lực ở họng giảm và
cần dòng cao hơn. Nếu miệng ngậm kín và ống thông vào 2 mũi không hở thì cần dòng
thấp hơn. Dòng này cũng bị ảnh hưởng bởi hệ thống tạo CPAP. Áp lực CPAP tạo ra bằng
cột nước có thuận lợi là có thể nhìn và nghe thấy được dòng khí đi qua bình nước. Nếu
dòng khí quá thấp thì có thể không nhìn thấy bọt khí sủi hoặc sủi quá yếu. Nếu dòng quá
cao thì bọt khí sủi sẽ quá mạnh
TAI BIẾN, BIẾN CHỨNG
Các tai biến, biến chứng liên quan đến dụng cụ, trang thiết bị
- Tắc ống gọng mũi do đờm
- Hệ thống báo động áp lực đường hô hấp không hoạt động
- Kích hoạt hệ thống thở bằng tay (thường có sẵn trong máy thở trẻ nhỏ) bơm vào dạ
dày đặc biệt là khi áp lực đỉnh đặt tương đối cao sẽ làm cho bệnh nhi khó chịu
- Dòng khí không đủ cho nhu cầu hít vào của bệnh nhân sẽ làm cho áp lực cơ sở bị
thay đổi và dao động nhiều nên làm tăng công hô hấp
- Dòng khí quá cao dẫn đến thở ra không hết gây phồng phổi quá mức, tăng công hô
hấp và tăng PEEP không mong muốn
- Thay đổi vị trí bộ phận tiếp nối do các thiết bị cố định mũi thường cồng kềnh, khó
cố định được chắc chắn nên có thể gây kích thích và tụt cannula.
- Đầu hoặc cổ bị xoay nhiều có thể làm chệch ống tiếp nối vào mũi hoặc tắc nghẽn
đường hô hấp trên có thể làm giảm áp lực, dòng chảy khí và giảm hiệu quả CPAP.
- Hít hoặc nuốt phải những bộ phận tách rời của ống tiếp nối
- Sây sướt, loét mũi, hoại tử mũi do đè ép hoặc lệch vẹo vách ngăn mũi
- Kích thích da vùng đầu, cổ do buộc mũ cố định hoặc bộ cố định CPAP vào đầu
không đúng
6;7;24;25 ;28
Tai biến và biến chứng liên quan đến tình trạng bệnh nhân
- Phồng phổi qúa mức có thể dẫn đến hội chứng tràn khí, mất cân xứng thông khí -
khuyếch tán, ứ CO
2
, tăng công hô hấp, tăng sức kháng mạch phổi và giảm lưu
lượng tim
- Dãn dạ dày và chướng bụng có thể dẫn đến hội chứng hít
- Tổn thương niêm mạc mũi do độ ẩm không thích hợp
- Thở miệng trong CPAP qua mũi có thể làm giảm áp lực và nồng độ oxygen vào
phổi. Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu đã chứng tỏ CPAP qua mũi vẫn hiệu quả
kể cả khi mở miệng.
- Suy hô hấp nặng, nhiễm trùng huyết, tràn khí là những yếu tố nguy cơ làm cho
CPAP thất bại
4;6;8;15;17;18;20;26
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ
Lúc đầu mới thở CPAP thì nên đặt áp lực ở mức 4-5 cmH
2
O sau đó có thể tăng dần từ
từ lên tới 10cmH
2
O sao cho:
4;11;13;16;25;31;33
- Chỉ cần FiO
2
ở mức ≤ 0,06 mà duy trì được PaO
2
> 50 torr và hoặc SpO
2
và PaCO
2
ở mức thích hợp và pH ≥ 7,25.
- Giảm công hô hấp biểu hiện bằng nhịp thở giảm từ 30-40%, giảm co rút lồng ngực,
giảm thở rên, giảm phập phồng cánh mũi.
- Cải thiện thể tích phổi hoặc độ sáng của phổi trên phim Xquang
- Cải thiện tình trạng chung của bệnh nhân
- Giảm cơn ngừng thở, nhịp tim trở về bình thường, giảm tím tái.
THEO DÕI
- Kiểm tra hệ thống máy tới bệnh nhân cứ 2-4 giờ/lần ghi lại các thông số của máy
và tình trạng bệnh nhân.
1;27;31
- Làm khí máu định kỳ (động mạch, mao mạch hoặc tĩnh mạch) và/hoặc theo dõi
khí máu qua da, SpO
2
liên tục
- Theo dõi điện tâm đồ tần số thở liên tục
- Theo dõi áp lực đường hô hấp (Paw), PEEP và MAP liên tục
2
- Theo dõi FiO
2
liên tục
- Đánh giá lâm sàng, tiếng thở, các dấu hiệu tăng công hô hấp định kỳ
- Chụp Xquang phổi định kỳ
- Đánh giá vách ngăn mũi định kỳ
KIỂM SOÁT NHIỄM KHUẨN
- Bộ dụng cụ CPAP qua mũi chỉ nên dùng 1 lần cho 1 bệnh nhân
- Giữ vệ sinh lau chùi mặt ngoài máy thở theo quy chế bình thường và sau mỗi bệnh
nhân sử dụng.
- Các thao tác hút và chăm sóc khác cần thực hiện theo nguyên tắc vô trùng nghiêm
ngặt.
1;3;23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. American Association for Respiratory Care. AARC Evidence-Based Clinical
Practice Guideline: Care of the ventilator circuit and its relation to ventilator-
associated pneumonia. Respir Care 2003;48(9):869-879.
2. American Association for Respiratory Care. AARC Clinical Practice Guideline:
Patient-ventilator system checks. Respir Care 1992;37(8):882-890.
3. Bachman TE. Evidence-based medicine: NCPAP in weaning preterm infants from
ventilators. Neonatal Intensive Care 2000;13(1):15-19.
4. Bonta BW, Uauy R, Warshaw JB, Motoyama EK. Determination of optimal
continuous positive airway pressure for the treatment of IRDS by measurement of
esophageal pressure. J Pediatr 1977;91(3):449-454.
5. Chatburn RL. Similiarities and differences in the managment of acute lung injury in
neonates (IRDS) and in adults (ARDS). Respir Care 1988;33(7):539-553.
6. Czervinske M, Durbin CG Jr, Gal TJ. Resistance to gas flow across 14 CPAP
devices for newborns. Respir Care 1986;31(1):18-21.
7. De Paoli AG, Morley C, Davis PG. Nasal CPAP for neonates: what do we know in
2003? Arch Dis Child Fetal Neonatal Ed 2003;88(3):F168-F172.
8. de Bie HM, van Toledo-Eppinga L, Verbeke JI, van Elburg RM. Neonatal
pneumatocele as a complication of nasal continuous positive airway pressure. Arch
Dis Child Fetal Neonatal Ed 2002;86(3):F202-F203.
9. Duncan AW, Oh TE, Hillman DR. PEEP and CPAP. Anaesth Intensive Care
1986;14(3):236-250.
10. Gaon P, Lee S, Hannan S, Ingram D, Milner AD. Assessment of effect of nasal
continuous positive pressure on laryngeal opening using fibre optic laryngoscopy.
Arch Dis Child Fetal Neonatal Ed 1999;80(3):F230-F232.
11. Hegyi T, Hiatt IM. The effect of continuous positive airway pressure on the course
of respiratory distress syndrome: the benefits on early initiation. Crit Care Med
1981;9(1):38-41.
12. Ho JJ, Subramaniam P, Henderson-Smart DJ, Davis PG. Continuous distending
airway pressure for respiratory distress syndrome in preterm infants. Cochrane
Database Syst Rev 2000;(4):CD002271.
13. Jonson B, Ahlström H, Lindroth M, Svenningsen NW. Continuous positive airway
pressure; modes of action in relation to clinical applications. Pediatr Clin North Am
1980;27(3):687-699.
14. Kamper J, Ringsted C. Early treatment of idiopathic respiratory distress syndrome
using binasal continuous positive airway pressure. Acta Paediatr Scand
1990;79:581-586.
15. Kiciman NM, Andreasson B, Bernstein G, Mannino FL, Rich W, Henderson C,
Heldt GP. Thoracoabdominal motion in newborns during ventilation delivered by
endotracheal tube or nasal prongs. Pediatr Pulmonol 1998;25(3):175-181.
16. Landers S, Hansen TN, Corbet AJS, Stevener MJ, Rudoph AD. Optimal constant
positive airway pressure assessed by arterial alveolar difference for CO
2
in hyaline
membrane disease. Pediatr Res 1986;20(9):884-889.
17. Lee SY, Lopez V. Physiological effects of two temperature settings in preterm
infants on nasal continuous airway pressure ventilation. J Clin Nurs
2002;11(6):845-847.
18. Leone RJ Jr, Krasna IH. ‘Spontaneous’ neonatal gastric perforation: is it really
spontaneous? J Pediatr Surg 2000;35(7):1066-1069.
19. Locke R, Greenspan JS, Shaffer TH, Rubenstein SD, Wolfson MR. Effect of nasal
CPAP on thoracoabdominal motion in neonates with respiratory insufficiency.
Pediatr Pulmonol 1991;11(3):259-264.