Tải bản đầy đủ (.pdf) (110 trang)

Định hướng nghề nghiệp của học sinh khối 12 trường THPT trần hưng đạo, quận thanh xuân, thành phố hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.49 MB, 110 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------

ĐỖ XUÂN HÒA

ĐỊNH HƢỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH KHỐI 12
TRƢỜNG THPT TRẦN HƢNG ĐẠO, QUẬN THANH XUÂN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội – Năm 2019


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------

ĐỖ XUÂN HÒA
ĐỊNH HƢỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH KHỐI 12
TRƢỜNG THPT TRẦN HƢNG ĐẠO, QUẬN THANH XUÂN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Hoa

Hà Nội – 2019



LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Định hƣớng nghề nghiệp của học sinh khối 12 trƣờng THPT
Trần Hƣng Đạo, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội” là công trình nghiên
cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa –Giảng
viên Khoa Xã hội học, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và Phát triển
công tác xã hội (Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội). Các tài liệu sử dụng tham khảo, trích dẫn trong Luận văn đều đảm bảo rõ
nguồn, trung thực. Các kết quả nghiên cứu được công bố trong Luận văn là hoàn
toàn chính xác, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố trong và
ngoài nước.
Tôi xin cam đoan điều này là đúng sự thật. Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách
nhiệm trước pháp luật.

Hà Nội, ngày tháng
Tác giả

Đỗ Xuân Hòa

năm 2019


LỜI CẢM ƠN
Luận văn Xã hội học nghiên cứu về “Định hƣớng nghề nghiệp của học sinh
khối 12 trƣờng THPT Trần Hƣng Đạo, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà
Nội” là nền tảng quan trọng giúp học viên cao học có cơ hội dược thực hành, vận
dụng các lý thuyết ngành được tham gia học ở trường trong nghiên cứu thực tế. Mặc
dù không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, song tôi hy vọng rằng công trình
này sẽ cung cấp các thông tin cơ bản nhất, phản ánh được phần nào những định
hướng nghề nghiệp của học sinh THPT trong giai đoạn hiện nay. Tôi cũng mong

rằng nghiên cứu sẽ đem lại những kết quả hữu ích trong thực tiễn.
Nhân dịp này, tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm Khoa và các
thầy cô của Khoa Xã hội học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, đặc
biệt là giáo viên hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Hoa đã nhiệt tình, tận tâm
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Nhà giáo, thầy Vũ Đình Hà- Hiệu
trưởng và tập thể Hội đồng sư phạm nhà trường, các cán bộ, các em học sinh trường
THPT Trần Hưng Đạo, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và các bạn trong tập thể lớp
Cao học Khóa 2017 – Xã hội học đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu.
Tuy đã có nhiều cố gắng, nỗ lực nhưng do bản thân còn chưa có nhiều kinh
nghiệm, kiến thức còn hạn chế nên luận văn này không tránh khỏi thiếu sót. Tôi rất
mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu của các thầy cô và các bạn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng

năm 2019

Tác giả

Đỗ Xuân Hòa


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................... 6
1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................. 6
2. Tổng quan nghiên cứu ..................................................................................... 7
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn ......................................................................... 14
3.1. Ý nghĩa khoa học ............................................................................................. 14
3.2. Ý nghĩa thực tiễn ............................................................................................. 14

4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................... 14
4.1. Mục tiêu nghiên cứu ........................................................................................ 14
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................................... 14
5. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu .................................................... 15
5.1. Đối tượng nghiên cứu ..................................................................................... 15
5.2. Khách thể nghiên cứu...................................................................................... 15
5.3. Phạm vi nghiên cứu ......................................................................................... 15
6. Câu hỏi nghiên cứu .......................................................................................... 15
7. Giả thuyết nghiên cứu ...................................................................................... 15
8. Phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................................. 16
PHẦN NỘI DUNG CHÍNH................................................................................. 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI ..................................................... 1
1.1. Hệ khái niệm công cụ .................................................................................... 1
1.1.1. Khái niệm định hướng, nghề nghiệp, định hướng nghề nghiệp ................... 1
1.1.2. Khái niệm cha mẹ (phụ huynh), học sinh Trung học phổ thông .................. 2
1.2. Lý thuyết liên quan ....................................................................................... 2
1.2.1. Lý thuyết lựa chọn hợp lý ............................................................................. 2
1.2.2. Lý thuyết xã hội hóa ..................................................................................... 2
1.3. Tổng quan địa bàn ........................................................................................ 2
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG ĐỊNH HƢỚNG NGHỀ NGHIỆP
CỦA HỌC SINH .................................................................................................. 2
2.1. Tiếp cận của học sinh trong vấn đề học tập, hƣớng nghiệp ...................... 2


2.2. Mong muốn của học sinh và mức độ tìm hiểu trƣờng/khối ngành học ... 4
Chƣơng 3: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỊNH HƢỚNG
NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH ..................................................................... 7
3.1. Yếu tố gia đình ............................................................................................... 7
3.2. Yếu tố nhà trƣờng ......................................................................................... 7
3.3. Yếu tố năng lực cá nhân ............................................................................... 8

3.4. Yếu tố xã hội .................................................................................................. 8
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ...................................................................... 9
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 9
PHỤ LỤC


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu

STT

Nguyên nghĩa

1

ĐHQGHN

Đại học Quốc gia Hà Nội

2

Trường ĐHKHXH&NV

Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân Văn, Đại học Quốc Gia
Hà Nội

3

THPT


Trung học Phổ thông

4

UBND

Ủy ban Nhân dân

5

CLB

Câu lạc bộ

6

NXB

Nhà xuất bản

7

CNTT

Công nghệ thông tin


DANH MỤC BẢNG
Số thứ tự bảng


Tên bảng

Bảng 1

Số phiếu hợp lệ trên tổng số học sinh theo lớp và khối

Bảng 2.1

Thời gian tự học các môn học

Bảng 2.2
Bảng 2.3

Dành thời gian cho môn học phân theo giới tính học sinh
Mức độ thảo luận/trò chuyện trên lớp

Bảng 2.4

Tự đánh giá chung về khả năng tiếp thu

Bảng 2.5

Chọn học thêm môn học theo giới tính học sinh

Bảng 2.6

Tự cho điểm mức đánh giá đối với các ý kiến về vấn đề học
tập, hướng nghiệp


Bảng 2.7

Dự định sau khi tốt nghiệp

Bảng 2.8

Mong muốn làm ở tỉnh/thành phố

Bảng 2.9

Mức độ tìm hiểu trường/khối ngành học

Bảng 2.10

Cảm giác khi tự tìm hiểu

Bảng 3.1

Gợi ý khối ngành học của bố mẹ phân theo giới tính học sinh

Bảng 3.2

Cảm nhận về gợi ý khối ngành học của bố mẹ

Bảng 3.3

Tiếp tục lắng nghe ý kiến của bố mẹ

Bảng 3.4


Cảm nhận về gợi ý khối ngành học của bạn bè

Bảng 3.5

Kênh thông tin từ phía nhà trường

Bảng 3.6

Nội dung trao đổi theo kênh nhà trường

Bảng 3.7

Mong muốn làm ở các công ty tư nhân, tổ chức phi chính phủ
theo kết quả học tập
Động lực thúc đẩy chọn trường học và khối ngành học bạn

Bảng 3.8

muốn
Bảng 3.9

Dự định tìm hiểu thông tin khối ngành/trường học qua các
kênh


DANH MỤC BIỂU
Số thứ tự biểu

Tên biểu


Biểu 1

Tỷ lệ Mẫu học sinh theo các khối lớp 12

Biểu 2.1

Dành thời gian cho các môn học

Biểu 2.2

Biểu 2.4

Dành thời gian cho các môn năng khiếu
Nội dung liên quan vấn đề học tập, hướng nghiệp mà các
học sinh thảo luận, trò chuyện
Tham gia học thêm các môn

Biểu 2.5

Mong muốn về khối ngành học của bản thân

Biểu 2.6

Mong muốn về công việc tương lai

Biểu 2.7

Mong muốn làm ở nơi thuộc bộ phận

Biểu 2.8


Đã tìm hiểu về trường học/khối ngành học định đăng ký

Biểu 2.9
Biểu 3.1

Quan tâm các nội dung trong vấn đề học tập, hướng
nghiệp
Khối ngành học mà bố mẹ gợi ý

Biểu 3.2

Gợi ý khối ngành học, ngành học của bạn bè với nhau

Biểu 3.3

Các yếu tố tác động nghề nghiệp ổn định

Biểu 3.4

Các kênh tìm hiểu trường/khối ngành học

Biểu 2.3


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Học sinh là thế hệ tiếp bước lực lượng nòng cốt trong lao động, và phát triển
kinh tế-xã hội. Một đất nước muốn có sự kế thừa truyền thống ông cha, muốn phát
triển trong tương lai thì có sự đóng góp của học sinh. Học sinh có vai trò quan trọng

trong sự phát triển của đất nước và đặc biệt tự khẳng định được vị thế bản thân đối
với khu vực và trên thế giới qua các lĩnh vực khoa học, kĩ thuật, thể thao, văn hóa,
tay nghề,…
Ngoài việc giáo dục của nhà trường, gia đình là nhóm xã hội là cái nôi nuôi
dưỡng, dạy dỗ các em nên người, dần dần định hình tính cách, tư duy tiến dần đến
chinh phục các bậc học cao hơn. Định hướng nghề nghiệp có vai trò quan trọng là
tiền đề để hình thành định hướng, con đường tới vị trí công việc của cá nhân, dần
dần chinh phục lý tưởng sống, lý tưởng cống hiến của cá nhân trong xã hội. Nỗ lực
học tập của học sinh trong cuộc sống là điều quan trọng nhưng định hướng nghề của
học sinh mở sang trang mới trong cuộc đời người công dân trẻ, bước đến bậc cửa
của tầng kiến thức cao hơn so với hệ thống giáo dục quốc dân 12 năm. Sự chuyển
tiếp giữa các tầng kiến thức, giữa THPT và Đại học, Cao đẳng, trường nghề luôn có
những định hướng nền tảng ban đầu của mỗi người học sinh.
Sự điều chỉnh, điều tiết nhân lực và nền kinh tế chủ đạo tập trung vào một số
nhóm ngành nghề tác động đến sự cân nhắc, tính toán cũng như nguyện vọng mong
muốn của học sinh. Học sinh có sự đam mê, yêu thích trong lựa chọn ngành nghề
mình mong muốn đồng thời cũng mang những dấu hiệu, đặc điểm từ sự ảnh hưởng
của chính bối cảnh kinh tế xã hội. Từ đó dẫn đến các lựa chọn, phương hướng,
tương quan giữa học sinh, gia đình và nhà trường trong vấn đề chọn ngành học,
trường học, nghề nghiệp.
Trường THPT Trần Hưng Đạo-Thanh Xuân thuộc phường Thanh Xuân Nam,
quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Đây là một trong các trường công lập lớn của
Hà Nội, đồng thời là trường công lập đầu tiên của quận Thanh Xuân. Từ những
ngày đầu thành lập (1993-1994), nhà trường có 13 lớp của bậc học THPT và 3 lớp 6

1


của bậc THCS đến năm 1998-1999 chỉ đào tạo duy nhất một bậc THPT với số
lượng học sinh đông đảo và bề dày lịch sử phát triển lâu dài. Trong những năm gần

đây, nhà trường đã có 36 phòng học khang trang và các phòng chức năng, được
trang bị các thiết bị hiện đại phục vụ cho nhu cầu học tập và dạy học của thầy trò
trường THPT Trần Hưng Đạo- Thanh Xuân. Học sinh học tại trường hiện nay
không chỉ đến từ các phường trong khu vực Quận Thanh Xuân mà còn ở các
phường thuộc các quận Hoàn Kiếm, Nam Từ Liêm, Cầu Giấy, Đống Đa, Ba Đình…
Trên thực tế, học sinh không chỉ gặp khó khăn trong xác định thế mạnh của
bản thân mà còn ở việc định hướng con đường đi của bản thân. Câu hỏi lựa chọn
nghề nghiệp của học sinh hình thành trên sự hiểu biết mơ hồ, thông qua góp ý của
người thân, bạn bè, tin tức truyền thông, dư luận xã hội,…
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Định hướng nghề nghiệp của
học sinh khối 12 Trường THPT Trần Hưng Đạo, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà
Nội” nhằm mô tả định hướng nghề nghiệp của học sinh đồng thời tìm hiểu, phân
tích những yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT Trần
Hưng Đạo-Thanh Xuân.
2. Tổng quan nghiên cứu
Hiện nay đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về giáo dục và định
hướng học tập, nghề nghiệp cho con cái trong các gia đình từ đô thị đến nông thôn,
có thể kể đến
Tiếp cận về tìm hiểu mong muốn, dự định của các bậc cha mẹ trong định
hướng bậc học và nghề nghiệp của con cái, tìm hiểu các đặc trưng cơ bản của các
bậc cha mẹ, trên cơ sở kết quả nghiên cứu rút ra kết luận và đưa ra giải pháp nhằm
nâng cao nhận thức cho các bậc phụ huynh cũng như bản thân các bạn trẻ trong lựa
chọn nghề nghiệp qua đề tài “Vai trò của cha mẹ trong việc định hướng bậc học,
nghề của con cái trong các gia đình đô thị hiện nay” năm 2001 của tác giả Nguyễn
Thị Phương Dung, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn. Tác giả tiến hành khảo
sát các hộ dân tại Phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo cơ cấu giới
tính nam (53.6%), và nữ giới (46.4%), theo cơ cấu tuổi là các bậc cha mẹ từ 39-68

2



tuổi. Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết các bậc cha mẹ đều định hướng cho con
học đến đại học và muốn con mình vào các ngành nghề trong khu vực kinh tế nhà
nước như sư phạm, kỹ sư hay quản trị kinh doanh. Trong định hướng bậc học và
nghề nghiệp, không có sự khác biệt giữa con trai và con gái [4, tr.35]
Quan điểm của tác giả Nguyễn Minh Ngọc, Đại học Khoa học xã hội và Nhân
văn hướng đến chứng minh giả thuyết nhận thức của học sinh dân tộc nội trú ở Bắc
Giang chưa đầy đủ, chưa sâu sắc về nghề qua đề tài “Nhận thức nghề và lựa chọn
nghề của học sinh THPT dân tộc nội trú tỉnh Bắc Giang” năm 2008 cho thấy các
em học sinh còn rất phân vân, khó khăn khi lựa chọn nghề có nhiều nguyên nhân
khác nhau song một trong những nguyên nân cơ bản là do công tác hướng nghiệp
của trường học chưa được quan tâm đúng mức. Tác giả sử dụng phương pháp phân
tích tài liệu, điều tra viết, phỏng vấn sâu, quan sát và phát ra 300 phiếu bảng hỏi.
Tác giả hướng đến phân tích các khái niệm nghề, nhận thức nghề, chọn nghề, hướng
nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nhận thức nghề và chọn nghề của học
sinh THPT dân tộc nội trú ở Bắc Giang chủ yếu chịu tác động của thị trường (chiếm
13.7%), sự phát triển của nghề (chiếm 19.7%) và đặc điểm tâm lý học sinh (chiếm
6.6%) [17, tr. 75]
Kết quả nghiên cứu từ đề tài “Xu hướng chọn nghề nghiệp của học sinh cuối
cấp trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông tỉnh Bình Dương hiện nay”
của tác giả Huỳnh Văn Sơn đăng trên tạp chí Khoa học Đại học Sư Phạm Thành
phố Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2011, cho thấy có hơn 90% học sinh tiếp tục thi vào
Đại học và Cao đẳng hoặc trung học chuyên nghiệp [20, tr. 128]. Ngoài ra 51,4%
học sinh cho rằng việc hướng nghiệp nên được giáo dục ở giai đoạn cuối cấp THCS
là thiết thực và đáng được quan tâm. Điều này phản ánh xu thế quan điểm vào thời
điểm này “Đại học và cao đẳng như con đường duy nhất vào đời” [20, tr. 130]
Tiếp cận tương tác và tiếp cận đường đời của gia đình cho thấy có sự tương
đồng và bất tương đồng của các nhóm học sinh trong lộ trình học hành, hai con
đường này không phải lúc nào cũng đi đôi và tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh
học tập qua đề tài “Định hướng giáo dục cho con trong các gia đình nông thôn hiện


3


nay (nghiên cứu tại xã Tam Sơn, thị xã T Sơn, tỉnh Bắc Ninh)” của tác giả Nguyễn
Thị Minh Phương tại Học viện Khoa học xã hội năm 2014 cho thấy chính sự biến
cố nào đó bất chợt từ hai lộ trình này đều có tác động đến học tập và cuộc sống của
học sinh. Trẻ học càng giỏi thì nhận được sự tin tưởng của cha mẹ, những đứa trẻ
học k m có thể bị xem là không thể học được và không được cha mẹ ủng hộ. Cha
mẹ lấy hình ảnh lao động của bản thân để chỉ ra sự vất vả nhưng còn hàm nghĩa về
tình thương để con cái học hành [19, tr. 112]
Sự chuyển đổi lao động việc làm ở làng xã có tác động đến định hướng giáo
dục của cha mẹ với con tại xã Tam Sơn, Bắc Ninh thể hiện sự phân tách giữa nam
và nữ trong tham gia lao động nghề mới của làng- nghề mộc. Nam giới làm chủ,
kiểm soát quy trình kỹ thuật sản xuất, và quản lý công việc làm ăn. Nữ giới làm việc
các công đoạn ít đòi hỏi kỹ thuật cao. Xu hướng phi nông nghiệp tập trung ở nam
giới nhiều hơn so với nữ giới. Vì vậy nếu các cô con gái không học lên cao thì có
thể vẫn tiếp tục nghề nông nghiệp như cách “an toàn tối thiểu” của văn hóa cộng
đồng làng xã. Học sinh tin rằng việc đi học là con dường để tiến tới cuộc sống an
nhàn hơn lao động vất vả làm ruộng tại quê hoặc nghề mộc. Và sản xuất nghề mộc
không chỉ là công việc đem lại thu nhập còn là đường hướng lâu dài nếu con trai lớn
lên không có việc làm nào khác [19, tr. 150]
Tác giả Nguyễn Văn Đạt trong “Định hướng giá trị của sinh viên hiện nay
(Nghiên cứu Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Khoa học Tự
nhiên, Hà Nội)” năm 2014 đã đề cập đến các khái niệm liên quan giá trị, định
hướng giá trị, sinh viên và trình bày hướng tiếp cận của tác giả đối với định hướng
giá trị của sinh viên. Tác giả sử dụng lý thuyết hành động xã hội, sự lựa chọn duy lý
của Geogre Homans và xã hội hóa nhằm giải thích hành động định hướng giá trị của
sinh viên trong học tập, cuộc sống, tình yêu, hôn nhân gia đình. Định hướng giá trị
của sinh viên được tác giả thao tác hướng đến mục đích và thái độ của sinh viên

trong các phương diện mà tác giả nghiên cứu. Về phương pháp, tác giả chủ yếu sử
dụng phương pháp phân tích tài liệu và phương pháp bảng hỏi (trong đó phát 400
phiếu bảng hỏi, phân đều 200 phiếu cho trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân

4


văn, và trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Hà Nội). Một phần kết quả nghiên cứu
với phương diện học tập cho thấy 100% sinh viên có xu hướng mong muốn sự
thành đạt, 45% sinh viên cho rằng tự bản thân quyết định lựa chọn nghề, và 62%
sinh viên trả lời mong muốn làm ở trong Nhà nước [6, tr. 43]
Khảo sát số liệu của tác giả Lê Thị Quỳnh Nga qua bài viết “Nhận thức về lựa
chọn nghề nghiệp của học sinh THPT” đăng trên tạp chí Khoa học Giáo dục số 106,
tháng 7 năm 2014 cho biết hiểu biết của học sinh về các ngành không đều, trung
bình mỗi học sinh biết được 8,79 ngành, nghề mà học sinh biết nhiều nhất là giáo
viên, bác sĩ, công an, bộ đội, luật sư, kinh doanh, ca sĩ, diễn viên, và chủ yếu nằm ở
các nghề quen thuộc, không biết nhiều các nghề khác. Số liệu cho thấy hiểu biết của
học sinh tập trung vào các nghề quen thuộc làm nhận thức về nghề bị thu hẹp, học
sinh hiểu rõ nhu cầu xã hội chiếm 18,29%, hiểu về dư luận xã hội chiếm 22,56%, xu
hướng phát triển nghề chiếm 28,05%. Học sinh hiểu rõ yêu cầu của nghề và khả
năng đáp ứng nghề của bản thân (lần lượt là 20,12% và 15,85%) và không chắc
chắn bản thân có đáp ứng được với yêu cầu của nghề hay không. Lý do chọn nghề
là do sự phù hợp của bản thân chiếm 4,9%, xã hội đánh giá cao chiếm 12,8% và thu
nhập cao chiếm 19,5%. Bên cạnh đó số liệu cho biết lời khuyên nghề nghiệp từ phía
giáo viên chiếm 16,5% [16, tr. 14]
Tiếp cận ở khía cạnh ý nghĩa của chọn nghề, tác giả Trương Thị Hoa chứng
minh học sinh nhận thức được và coi trọng nghề vì nghĩa của nghề đối với bản thân
trong tương lai qua “Năng lực chọn nghề của học sinh THPT” đăng trên tạp chí
Khoa học Giáo dục số 107, tháng 8/2014. Số liệu cho thấy học sinh kể tên được một
số trường học quen thuộc và điểm chuẩn trong năm vừa qua nhưng lại không nắm

được thông tin về trường, ưu điểm, yêu cầu, sứ mệnh. Ít em học sinh trả lời được
đầy đủ, học sinh hiểu đơn giản về nghề. Có sự khác biệt trong sự đánh giá của học
sinh khu vực nội đô và ngoại thành, học sinh nội thành thì chủ động và tích cực hơn
so với các học sinh ngoại thành [8, tr. 17]
Kết quả nghiên cứu qua “Hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường
THPT và Trung tâm Giáo dục Thường xuyên-Kỹ thuật tại tỉnh Bình Dương” của tác

5


giả Nguyễn Hữu Châu, Hồ Văn Thông đăng trên tạp chí Khoa học Giáo dục số 112,
tháng 1/2015 đã chỉ ra 67,8% học sinh cho rằng nhà trường có vai trò tích cực vào
hoạt động hướng nghệp, trong khi đó vai trò của phương tiện truyền thông là
31,7%. Công tác giáo dục là do nhà trường thực hiện thông qua các môn học và
mục đích tư vấn hướng đến các lĩnh vực của Đại học và Cao đẳng [2, tr. 20]
Tiếp cận góc nhìn cơ cấu kinh tế thông qua “Định hướng giá trị nghề nghiệp
cho học sinh đáp ứng yêu cầu chuyển dịch kinh tế, lao động” đăng trên tạp chí Khoa
học Giáo dục số 122, tháng 11/2015 của tác giả Đỗ Thị Bích Loan cho biết chính cơ
cấu kinh tế thay đổi tạo ra tác động đến sự thay đổi số lượng và chất lượng lao
động, kinh tế càng phát triển thì càng thu hút được số lượng lao động tăng. Các lĩnh
vực như nông nghiệp giảm tỷ lệ, tăng tỷ lệ về Công nghiệp và Dịch vụ. Hệ tư tưởng
thay đổi quan niệm về nghề nghiệp và giá trị của nghề nông trong mắt người trẻ (số
liệu cho thấy chỉ có 0,5% cha mẹ cho con chọn nghề nông, 4,2% mong muốn con
làm ở thành phố) [12, tr. 10]
Tác giả Nguyễn Đức Trí qua bài viết “Định hướng nghề nghiệp cho học sinh
trường THCS và THPT” đăng trên tạp chí Khoa học Giáo dục số 376, tháng 2 năm
2016 cho biết học sinh trung học đã có nhận thức tương đối rõ về tâm quan trọng
của chọn nghề cho bản thân. Trong khi đó công tác tư vấn của trường học vẫn còn
tương đối mỏng, là rào cản và hạn chế cho học sinh lựa chọn nghề nghiệp [25, tr. 5]
Tiếp cận theo quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của tác giả Lê Thị

Thu Trà với “Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT trên
địa bàn Hà Nội” năm 2016, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam. Về thực trạng công
tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT trên địa bàn Hà
Nội tác giả chỉ ra rằng hướng nghiệp được công nhận là rất quan trọng nhưng công
tác phân luồng học sinh sau trung học chưa được quan tâm đúng mức nên các hoạt
động này trong nhà trường vẫn mang tính hình thức và chưa thiết thực. Hiện nay,
giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT chủ yếu qua các môn khoa học cơ bản;
chương trình giáo dục hướng nghiệp chính khóa; môn công nghệ và lao động sản
xuất; tham quan, sinh hoạt ngoại khóa, tư vấn hướng nghiệp [24, tr. 95]. Đa số giáo

6


viên phụ trách hướng nghiệp là giáo viên chủ nhiệm hay bộ môn của trường. Về
phía phụ huynh, nhận thức của cha mẹ học sinh về việc chọn nghề còn tập trung
hướng đến việc con em đậu đại học. Bên cạnh đó, tâm lý chọn nghề chung của học
sinh chọn nghề theo sự áp đặt của người lớn; chọn nghề theo “nhãn”; dễ kiếm tiền
[24, tr. 97] Những yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn nghề của học sinh là môi
trường giáo dục gia đình, giáo dục của nhà trường, nhu cầu nghề nghiệp,… Thực
trạng kết quả giáo dục hướng nghiệp cho thấy hạn chế cơ bản của hướng nghiệp
hiện nay là hầu hết giáo viên giảng dạy đều là kiêm nhiệm và thời lượng dành cho
hướng nghiệp ít có ảnh hưởng đến kết quả nhận thức và xác định mong muốn của
học sinh [24, tr. 105]
“Các yếu tố ảnh hưởng định hướng giá trị Nghề nghiệp của học sinh THPT
các tỉnh miền núi Phía Bắc” của tác giả Nguyễn Dục Quang, Đỗ Thị Bích Loan,
đăng trên tạp chí Khoa học Giáo dục số 132, tháng 9/2016 phân tích các yếu tố chủ
quan như đặc điểm phương tiện thể chất, sự phát triển trí tuệ, sự tự ý thức, xu hướng
nghề, điều kiện sống và các yếu tố khách quan như bối cảnh kinh tế xã hội, nhu cầu
về nguồn nhân lực của địa phương, giá trị nhân cách, truyền thống gia đình là các
yếu tố tác động đến giá trị nghề nghiệp của học sinh THPT các tỉnh miền núi phía

Bắc [14, tr. 103]
Kết quả nghiên cứu từ “Định hướng nghề của học sinh ở một số trường THPT
trên địa bàn Hà Nội” của tác giả Bùi Thị Thúy Hằng đăng trên tạp chí Khoa học
Giáo dục số 404, tháng 1 năm 2017, khảo sát cho thấy có tới 96,5% học sinh lựa
chọn học tiếp sau THPT, 72,9% học sinh học lên Đại học, 14,9% đi du học (nằm ở
các gia đình khá giả). Các gia đình ở khu vực nội đô như THPT Nhân Chính, THPT
Phan Huy Chú , học sinh có dự định du học cao hơn so với các gia đình ở khu vực
ngoại thành. Bên cạnh đó có 18,1% học sinh chọn khối ngành Sư Phạm, Quân độiCông an (chiếm 17,9%), Kinh doanh chiếm 16,4%, Công nghệ thông tin chiếm
12,3%. Lý giải cho thấy học sinh lựa chọn theo nhu cầu và xu hướng phát triển xã
hội. Có sự khác biệt về tiếp tục học hay không giữa các trường [7, tr. 14]

7


Tác giả Đỗ Thị Bích Loan phân tích cho thấy sự tham gia của phụ nữ và trẻ
em gái bị hạn chế thông qua “Định hướng giá trị nghề nghiệp cho học sinh nữ trong
lĩnh vực Khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán học ở Việt Nam” đăng trên tạp chí
Khoa học Giáo dục số 147, tháng 12 năm 2017 đã mô tả các khái niệm giá trị và giá
trị nghề nghiệp. Thông qua đó, tác giả đã đề cập đến sự rào cản trong nghề nghiệp
trên phạm vi toàn cầu (28% lực lượng làm nghiên cứu khoa học) (Viện thống kê
UNESCO- UIS). Học sinh nữ có xu hướng chọn các ngành sinh học, hóa, dược học,
tức là khoa học đời sống trong khi đó học sinh nam chú ý các môn kĩ thuật và khoa
học môi trường [13, tr. 25]. Bài viết cũng chỉ ra sự khác biệt về giới trong Việt
Nam, phụ nữ thường làm việc một số ngành nghề nhất định và phụ nữ, trẻ em gái ít
tham gia nghiên cứu khoa học. Chính yếu tố tâm lý xã hội đã định hình thái độ của
học sinh đối với các môn học liên quan và sự phân chia lao động theo truyền thông
cũng tác động tới nghề nghiệp của từng giới, cụ thể là nữ giới làm trong quảng cáo
và nam giới đòi hỏi kỹ thuật và tay nghề[13, tr. 26]
Có thể thấy các đề tài của các tác giả đi trước rất đa dạng về mặt tiếp cận và
nội dung theo từng thời gian khác nhau. Về mặt tiếp cận thì là xác định vai trò cha

mẹ trong hướng nghiệp cho con cái, tiếp cận nhận thức của học sinh và các xu
hướng chọn nghề, tiếp cận về giá trị nghề và năng lực của cá nhân học sinh, yếu tố
ảnh hưởng định hướng giá trị, tiếp cận thông qua cơ cấu chuyển dịch kinh tế, lao
động, hay tiếp cận theo quản lý hoạt động giáo dục,… Như vậy các đề tài của các
tác giả trên là nền tảng những kiến thức hữu ích về tài liệu khái niệm, lý thuyết đa
dạng đồng thời đã mô tả các kết quả nghiên cứu về định hướng nghề nghiệp của cả
đối tượng học sinh và sinh viên, cha mẹ, con cái và giáo viên theo các lĩnh vực
nghiên cứu xã hội học và tâm lý học.
Tuy nhiên các cách tiếp cận trên có thể thấy các tác giả đang đặt mối quan hệ
giữa học sinh THPT với một chủ thể xác định như cha mẹ-con cái, nhà trường-học
sinh, học sinh- cơ cấu kinh tế, và năng lực của cá nhân. Đề tài của chúng tôi kế thừa
các kinh nghiệm và nền tảng về khái niệm, lý thuyết cũng như các kết luận đi trước
và chứng minh các dự định, hướng nghiệp của học sinh THPT theo thời gian mới.

8


Sự khác biệt của đề tài chúng tôi hướng đến định hướng nghề nghiệp của học sinh
thông qua những hành vi tìm hiểu xác định ngành học/trường học đăng ký, mong
đợi giá trị việc làm, các hướng nghiệp của gia đình, bạn bè, nhà trường, đồng thời
tìm hiểu, phân tích những yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp của học sinh
THPT thông qua nghiên cứu trường hợp tại THPT Trần Hưng Đạo-Thanh Xuân.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài trình bày và vận dụng kết hợp các phương pháp định tính và phương
pháp định lượng trong nghiên cứu. Các bằng chứng thu thập được từ phương pháp
định lượng trưng cầu ý kiến và các kết quả từ phương pháp định tính bao gồm các
khái niệm và các lý thuyết công cụ, xác định cơ sở lý luận của đề tài. Từ đó vận
dụng các lý thuyết lựa chọn hợp lý, lý thuyết xã hội hóa để tiến hành giải thích hiện
tượng và kiểm chứng lại lý thuyết.

3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài tiến hành cung cấp các bằng chứng thực tiễn thông qua khảo sát định
lượng và phỏng vấn sâu. Qua đó, tạo cơ sở giúp các gia đìn, nhà trường, các đơn vi
tuyển sinh có cách hướng nghiệp cho học sinh.
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng và xác định, phân tích các yếu tố tác động đến định hướng
nghề nghiệp của học sinh khối 12 Trường THPT Trần Hưng Đạo, Quận Thanh
Xuân, Thành phố Hà Nội. Trên cơ sở đó đề xuất khuyến nghị giúp nhà trường và
gia đình trong định hướng nghề nghiệp đối với học sinh.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài.
- Mô tả định hướng nghề nghiệp của học sinh khối 12 Trường THPT Trần Hưng
Đạo, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội
- Phân tích các yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp của học sinh khối 12
Trường THPT Trần Hưng Đạo, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

9


5. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT khối 12 Trường THPT Trần Hưng
Đạo, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội.
5.2. Khách thể nghiên cứu
Học sinh khối 12, phụ huynh và giáo viên trường THPT Trần Hưng Đạo, quận
Thanh Xuân.
5.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Trường THPT Trần Hưng Đạo, Thanh Xuân, phường Thanh
Xuân Nam, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

- Phạm vi thời gian: Tháng 6/2018- Tháng 6/2019.
6. Câu hỏi nghiên cứu
- Định hướng nghề nghiệp của học sinh khối 12 trường THPT Trần Hưng ĐạoThanh Xuân thể hiện như thế nào
- Học sinh đã tìm hiểu thông tin trường học/khối ngành qua các kênh thông tin nào?
- Yếu tố nào tác động đến Định hướng nghề nghiệp của học sinh khối 12 trường
THPT Trần Hưng Đạo-Thanh Xuân?
7. Giả thuyết nghiên cứu
- Học sinh có dự định thi Đại học, cao đẳng và dự định vừa học Đại học, Cao đẳng
vừa tìm việc làm thêm sau khi tốt nghiệp và có xu hướng mong muốn làm ở các
công ty tư nhân, tổ chức Phi chính phủ và kinh doanh buôn bán hơn so với bộ phận
hành chính nhà nước.
- Học sinh đã tìm hiểu thông tin trường học/khối ngành học qua nhiều kênh thông
tin bao gồm kênh gia đình, kênh bạn bè, kênh nhà trường và sự tự chủ động của học
sinh. Tuy nhiên, học sinh có xu hướng tự tìm hiểu thông tin qua phương tiện truyền
thông đại chúng so với trao đổi với gia đình. Cha mẹ có để cho con tự lựa chọn
đăng ký theo ý con muốn nhưng vẫn có cân nhắc, hướng con theo mong muốn của
cha mẹ.

10


- Yếu tố gia đình, nhà trường, năng lực cá nhân và yếu tố xã hội có tác động đến
Định hướng nghề nghiệp của học sinh khối 12 trường THPT Trần Hưng Đạo, Quận
Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong bài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp thu thập thông tin như
phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp phỏng vấn sâu và phương pháp trưng
cầu ý kiến.
8.1. Phƣơng pháp phân tích tài liệu
Chúng tôi tiến hành tổng hợp và phân tích các tài liệu công trình nghiên cứu

trước đó bao gồm luận văn, luận án, các bài viết đăng trên tạp chí khoa học về định
hướng nghề nghiệp của học sinh. Dựa trên những kết quả nghiên cứu đi trước có thể
sử dụng các thông tin làm sáng tỏ các luận điểm cho đề tài. Thông tin thu được
không chỉ mô tả các nội dung về định hướng nghề nghiệp cho học sinh THPT mà
còn giúp người nghiên cứu định hình và xác định được các tiếp cận mới và có thể
tiếp tục khai thác trong đề tài.
8.2. Phƣơng pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp phỏng vấn sâu nhằm bổ sung các thông tin định tính nhằm làm
sáng tỏ cho các dữ liệu định lượng. Đề tài thực hiện phỏng vấn 10 em học sinh, 8
phụ huynh, 1 cán bộ nhà trường.
8.3.Phƣơng pháp chọn Mẫu
Trường THPT Trần Hưng Đạo-Thanh Xuân gồm 2 khối chuyên môn là A và
D; chia theo 3 khối lớp 10,11 và 12, trong đó khối 12 có 10 lớp từ lớp 12A1 đến
12A5 và 12D1 đến 12D5, tổng số học sinh khối 12 là 420 học sinh. Về lớp chọn,
khối 12 gồm lớp 12A1 và 12D1 là lớp chọn.
Tiến hành lấy 2 lớp chọn (1 lớp khối A và 1 lớp khối D) và 2 lớp thường (1
lớp khối A và 1 lớp khối D) theo bảng sau:

11


Bảng 1. Số phiếu hợp lệ trên tổng số học sinh theo lớp và khối
Khối/Lớp
Khối 12

Loại lớp

Lớp A

Lớp D


Tổng

Lớp chọn

12A1: 37/39

12D1: 33/35

70/74

Lớp thường

12A3: 40/40

12D5: 37/45

77/85

77/79

70/80

147/159

Tổng

Biểu 1. Tỷ lệ Mẫu học sinh theo các khối lớp 12

Tỷ lệ (%)

25,2

22,4

25,2

12A1

12A3

12D1

12D5

27,2

8.4.Phƣơng pháp trƣng cầu ý kiến
Trong phạm vi nghiên cứu này chúng tôi tiến hành trưng cầu ý kiến phát ra
160 phiếu và thu về 147 phiếu bảng hỏi hợp lệ cho học sinh trường THPT Trần
Hưng Đạo-Thanh Xuân cho khối 12.
Thời gian trưng cầu ý kiến: Từ 12/01/2019 đến 21/01/2019
Kết quả nghiên cứu được xử lý thông qua phần mềm xử lý số liệu SPSS 18.0

12


PHẦN NỘI DUNG CHÍNH
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Hệ khái niệm công cụ
1.1.1. Khái niệm định hƣớng, nghề nghiệp, định hƣớng nghề nghiệp

1.1.1.1. Khái niệm định hƣớng
Trước khi hành động, con người đặt ra câu hỏi “Hành động để làm gì Hướng
đến cái gì Như vậy, cái nhắm tới là mục đích của hành động, là ý định cần đạt
được, là nguyện vọng mong muốn. Tuy nhiên, để hành động có mục đích, thì ngay
bản thân trong con người phải có những hướng đi, những cân nhắc, suy nghĩ, phù
hợp với hoàn cảnh và điều kiện phương tiện.
Định hướng có thể hiểu là quá trình tương tác của các chủ thể trong quá trình
đi tới những lựa chọn, những quyết định liên quan nhu cầu. Định hướng còn là
những lựa chọn, hướng đi, có thể không phải kết quả, là quá trình thể hiện những
hành động, cách thức của một tiến trình đạt tới kết quả nhất định.
1.1.1.2. Khái niệm nghề nghiệp
Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người dùng sức
mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào những đối tượng cụ
thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụ mục đích, yêu cầu và lợi
ích của con người.
Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con
người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất
hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội [10, tr. 11]
Nghề hay nghiệp, Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 1988, Viện Ngôn ngữ học)
định nghĩa: “Nghề: Công việc chuyên làm theo sự phân công của xã hội” [19, tr.
702].
Như vậy ta có thể hiểu nghề nghiệp là dạng hoạt động lao động đòi hỏi con
người phải có trình độ, chuyên môn, kiến thức, kỹ năng được đào tạo nhằm tạo ra
các sản phẩm thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của đời sống con người. Nghề
nghiệp có thể bao gồm nhiều việc làm khác nhau.

13


1.1.1.3. Khái niệm định hƣớng nghề nghiệp

Giáo trình Chuyên đề Tâm lý học nghề nghiệp của tác giả Phạm Mạnh Hùng,
Sở Giáo dục Đào tạo xuất bản năm 2006 cho biết: Định hướng nghề là “thông tin
cho học sinh biết về đặc điểm hoạt động và yêu cầu phát triển của các ngành nghề
trong xã hội, đặc biệt là các nghề và các nơi đang cần nhiều lao động trẻ tuổi có văn
hóa, về những yêu cầu tâm sinh lý của mỗi nghề, về tình hình phân công, về hệ
thống trường lớp đào tạo nghề của nhà nước, tập thể và tư nhân”. Sau đó thì cho học
sinh tiếp cận “thử sức” một số dạng nghề để kiểm nghiệm sự hứng thú, năng lực của
bản thân, từ đó mới tự giác lựa chọn hướng đi [9, tr. 19]
“Tam giác hướng nghiệp” của tác giả K.K.Platonop cho rằng công tác hướng
nghiệp phải làm cho học sinh hiểu rõ 3 mặt, bao gồm những yêu cầu, đặc điểm của
nghề nghiệp, nhu cầu xã hội đối với ngành nghề (còn gọi là thị trường lao động) và
đặc điểm nhân cách, năng lực của học sinh [9, tr. 22]
Tiếp cận về một số dạng định hướng nghề có thể cụ thể ở một số dạng như
sau:
-

Tiếng tăm nghề nghiệp

-

Tác động trực tiếp hay gián tiếp của bạn bè

-

Định hướng của người thân, gia đình

-

Sự say mê nghề nghiệp


-

Năng lực, động cơ, nguyện vọng cá nhân

-

Các tư duy về nghề, thông tin tính chất lao động

-

Công tác hướng nghiệp của nhà trường, tổ chức, đơn vị lao động

-

Thị trường lao động

-



E.A.Climop đã chỉ có hai hướng cơ bản dẫn đến chọn nghề chưa chính xác, đó
là Thái độ với các tình huống chọn nghề, và sự thiếu thông tin về các tình huống đó.
Với hướng thứ nhất, chọn nghề chưa chính xác liên quan một số nguyên nhân sau:
-

Thành kiến về tiếng tăm nghề nghiệp

-

Chọn nghề do ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của bạn bè


14


-

Sự say mê với vẻ ngoài của nghề nghiệp

-

Áp đặt của gia đình theo định hướng của người thân.

Với hướng thứ hai, một số nguyên nhân cơ bản khiến chọn nghề chưa đúng:
-

Đồng nhất môn học với nghề nghiệp

-

Những hiểu biết lỗi thời về tính chất công việc trong lao động

-

Thiếu hiểu biết về năng lực, động cơ của cá nhân

-

Không đánh giá đầy đủ về thể chất mình đang có [9, tr. 21]

Như vậy, định hướng nghề nghiệp có thể hiểu là những lựa chọn, hướng đi,

quá trình đưa ra lựa chọn các bước đường trong học tập, nhận định về năng lực tiến
tới những kỳ vọng, mong muốn đối với đam mê, sở trường công việc tương lai sau
này và tiếp nhận thông tin hướng nghiệp từ các nhóm xã hội liên quan hay phương
tiện truyền thông đại chúng. Ở nghiên cứu này, chúng tôi giới hạn định hướng nghề
nghiệp biểu hiện thông qua các tiếp cận của học sinh trong vấn đề học tập, hướng
nghiệp; mong muốn của học sinh và các mức độ tìm hiểu trường/khối ngành học và
hướng nghiệp của gia đình, bạn bè, nhà trường mà biểu hiện tương ứng chính là: tác
động của bạn bè; định hướng của người thân, gia đình; năng lực, động cơ, nguyện
vọng của cá nhân; công tác hướng nghiệp của nhà trường. Bên cạnh đó, đề tài mô tả
các quan điểm xoay quanh khía cạnh tư duy về nghề, nhu cầu xã hội và sự hiểu biết
mặt ngoài của nghề nghiệp với chủ thể học sinh cùng với sự hướng nghiệp của các
nhóm xã hội liên quan.
1.1.2. Khái niệm học sinh Trung học phổ thông
Học sinh Trung học phổ thông có thể hiểu là các học sinh theo học chương
trình giáo dục cao hơn tiểu học, trung học cơ sở và thấp hơn cao đẳng hoặc đại học .
Lứa tuổi theo học là từ 15 đến 18 tuổi gồm các khối lớp 10, 11, 12. Học sinh khối
12 là các bạn học sinh theo học chương trình học lớp 12 theo sách ban hành dành
cho khối học và có các dự định sau kì thi tốt nghiệp.
1.2. Các lý thuyết liên quan
1.2.1. Lý thuyết lựa chọn hợp lý

15


Lý thuyết lựa chọn hợp lý là một chủ thuyết lớn với những tên tuổi: George
Homas, Peter Blau, James Coleman. Nếu như Geogre Homas cho rằng: con người
luôn lựa chọn những hành động có xác suất thành công giá của hành động đó với
giá trị mà phần thưởng của hành động là lớn nhất (quá trình tối ưu hóa). Thì Elster
cho rằng: “khi đối diện với một số hành động, mọi người thường làm cái mà họ tin
là có khả năng đạt được kết quả cuối cùng tốt nhất. Hoặc G. Simmel nói đến nguyên

tắc “cùng có lợi”. Thì trong tôn giáo, lý thuyết lựa chọn duy lý có vai trò đặc biệt
quan trọng trong việc giải thích các hiện tượng tôn giáo. Bên cạnh sự giải thích của
chủ thuyết chức năng luận, tương tác biểu trưng với các đại diện tiêu biểu: K.Marx,
E.Durkheim, M.Weber… thì lý thuyết lựa chọn hợp lý đã giúp cho chúng ta có cái
nhìn toàn diện hơn về các hiện tượng.
Thuyết lựa chọn hợp lý dựa trên tiền đề cho rằng, con người hoạch định hành
động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một
cách duy lý, nhằm đạt được một kết quả tối đa với chi phí tối thiểu. Con người đang
sống trong một xã hội khan hiếm, không thể có tất cả hàng hóa, vị trí hay sự giúp đỡ
tinh thần mà con người mong muốn, và hành vi con người bị chi phối bởi các giả
định sau:
+ Cá nhân con người muốn tối đa hóa một cách hợp lý lợi ích của mình và đưa ra
quyết định dựa trên sở thích và sự ưu tiên của mình
+ Cái mà cá nhân có càng nhiều thì càng lúc họ càng ít thích
+ Giá cả của hàng hóa và dịch vụ trên thị trường được tự do quyết định trực tiếp bởi
sở thích và nhu cầu của người mua và người bán
Thuyết lựa chọn hợp lý của James Samuel Coleman:
+ Hành vi có mục đích của cá nhân hướng tới một mục tiêu, mục tiêu đó (có cả
hành động) được định hình bởi các giá trị hay các sở thích.
+ Con người lựa chọn hành động của mình nhằm tối đa hóa các lợi ích hay thỏa
mãn nhu cầu mong muốn của họ. Có hai thành tố lý thuyết: các actor và các tiềm
năng (khả năng mà chủ thể có và kiểm soát được). Điều này được suy ra từ chính
định nghĩa về thuyết hành vi lựa chọn [21, tr. 62- 63]

16


×