ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Vũ Thị Thu Trang
NGHIÊN CỨU BIẾN TÍNH THAN HOẠT TÍNH BẰNG MnO2 VÀ TiO2
LÀM VẬT LIỆU XỬ LÝ ASEN VÀ AMONI TRONG NƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội 2015
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo
PGS.TS. Trần Hồng Côn đã giao đề tài và nhiệt tình giúp đỡ, cho tôi những kiến
thức quí báu trong quá trình nghiên cứu.
Cảm ơn các thầy cô PTN Hóa Môi trường Khoa Hóa học – Trường Đại
học Khoa học Tự nhiên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình làm thực
nghiệm.
Chân thành cảm ơn các bạn học viên, sinh viên làm việc trong phòng thí
nghiệm Hóa môi trường đã giúp đỡ tôi trong quá trình tìm tài liệu và hoàn thiện
luận văn.
Để hoàn thành bản luận văn này, ngoài sự nỗ lực tìm tòi, nghiên cứu của
bản thân, sự giúp đỡ của những người xung quanh, đặc biệt là những người
thầy, đồng nghiệp trường THPT Xuân Mai đã đóng góp một phần không nhỏ
trong nghiên cứu này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên cao học
Vũ Thị Thu Trang
2
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, tình hình ô nhiễm nguồn nước nói chung và nguồn nước sinh
hoạt nói riêng bởi các cation kim loại nặng là vấn đề toàn xã hội quan tâm khi
nhu cầu về chất lượng cuộc sống ngày càng cao.
Trên thực tế, tại nhiều địa phương, người dân đang phải sử dụng các
nguồn nước ô nhiễm, đặc biệt là ô nhiễm các kim loại nặng như asen, chì, thủy
ngân, hay ô nhiễm amoni. Sử dụng các nguồn nước ô nhiễm này ảnh hưởng trực
tiếp đến sức khỏe của người dân, gây nên các bệnh nguy hiểm đặc biệt là ung
thư.
Than hoạt tính từ lâu đã được sử dụng để làm sạch nước. Tuy nhiên, ứng
dụng của nó trong xử lý nước mới chỉ dừng lại ở việc loại bỏ các hợp chất hữu
cơ và một số các thành phần không phân cực có hàm lượng nhỏ trong nước.
Với mục đích khai thác tiềm năng ứng dụng của than hoạt tính trong việc
xử lý nước sinh hoạt, đặc biệt một lĩnh vực còn rất mới đó là loại bỏ các cation
và anion trong nước; chúng tôi đã chọn và thực hiện đề tài “Nghiên cứu biến
tính than hoạt tính bằng MnO2 và TiO2 làm vật liệu xử lý asen và amoni trong
nước”.
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
ASEN
Giới thiệu chung về Asen
Asen hay còn gọi là thạch tín, có số hiệu nguyên tử 33, khối lượng nguyên
tử của nó bằng 74,92, được Albertus Magnus (Đức) viết vào năm 1250. Asen là
một nguyên tố rất phổ biến và xếp thứ 20 trong tự nhiên, chiếm khoảng
0,00005% trong vỏ trái đất, xếp thứ 14 trong nước biển và thứ 12 trong cơ thể
người. Asen là một á kim gây ngộ độc khét tiếng và có nhiều dạng thù hình: màu
vàng (phân tử phi kim) và một vài dạng màu đen và xám (á kim) chỉ là số ít mà
người ta có thể nhìn thấy. Asen hay tồn tại dưới dạng các hợp chất asenua và
asenat, nhưng ba dạng có tính kim loại của asen với cấu trúc tinh thể khác nhau
cũng được tìm thấy trong tự nhiên (các khoáng vật asen sensu stricto và hiếm hơn
là asenolamprit cùng parasenolamprit)
Trạng thái oxi hóa phổ biến nhất của asen là 3 (asenua: thông thường
trong các hợp chất liên kim loại tương tự như hợp kim), +3 (asenat (III) hay asenit
và phần lớn các hợp chất asen hữu cơ), +5 (asenat (V): phần lớn các hợp chất vô
cơ chứa ôxy của asen ổn định). Asen cũng dễ tự liên kết với chính nó, chẳng hạn
tạo thành các cặp AsAs trong sulfua đỏ hùng hoàng ( αAs4S4) và các ion As43
vuông trong khoáng coban asenua có tên skutterudit. Ở trạng thái ôxi hóa +3, tính
chất hóa học lập thể của asen chịu ảnh hưởng bởi sự có mặt của cặp electron
không liên kết [6,8].
Vì tính chất hóa học của asen rất giống với nguyên tố đứng trên nó
là phốtpho, nó tạo thành các ôxít kết tinh, không màu, không mùi
như As2O3 và As2O5, những chất hút ẩm và dễ dàng hòa tan trong nước để tạo
thành các dung dịch có tính axít. Axít asenic (V), tương tự như axít phốtphoric, là
một axít yếu. Tương tự như phốt pho, asen tạo thành hiđrua dạng khí và không
ổn định, đó là arsin (AsH3). Sự tương tự lớn đến mức asen sẽ thay thế phần nào
cho phốtpho trong các phản ứng hóa sinh học và vì thế nó gây ra ngộ độc. Tuy
nhiên, ở các liều thấp hơn mức gây ngộ độc thì các hợp chất asen hòa tan lại
đóng vai trò của các chất kích thích và đã từng phổ biến với các liều nhỏ như là
các loại thuốc chữa bệnh cho con người vào giữa thế kỷ 18.
H2AsO3 ít phân ly là dạng tồn tại chủ yếu trong nước ngầm của asen. Hợp
chất H3AsO3 được hình thành chủ yếu trong môi trường khử yếu. Các hợp chất
4
của asen với Na có tính hòa tan rất cao. Những muối của asen với Ca, Mg và các
hợp chất asen hữu cơ trong môi trường pH gần trung tính, nghèo Ca thì độ hòa
tan kém hơn các hợp chất hữu cơ, đặc biệt asen axít fluvic thì rất bền vững có
xu thế tăng theo độ pH và tỷ lệ Asenaxít fluvic. Các hợp chất của As(III) dễ bị
oxi hóa thành các hợp chất của As(V).
Asen có thể kết hợp với một số nguyên tố tạo thành các hợp chất asen vô
cơ như các khoáng vật, đá thiên thạch, Reagal (AsS), Orpiment (As 2S3),
Arsenolite (As2O3), Arsenopyrit (FeAs2, FeAsS, AsSb), vv . . . Hợp chất của Asen
với cacbon và hydro gọi là hợp chất asen hữu cơ. Thường thì các dạng hợp chất
hữu cơ của asen ít độc hại hơn so với các hợp chất asen vô cơ.
Ảnh hưởng của asen đến sức khỏe con người
Asen là chất rất độc hại, có thể gây 19 loại bệnh khác nhau, trong đó có
các bệnh nan y như ung thư da, phổi. IARC công nhận asen nguyên tố và các hợp
chất của asen như là các chất gây ung thư nhóm 1, còn EU liệt kê triôxít asen,
pentôxít asen và các muối asenat như là các chất gây ung thư loại 1.Mức độ gây
độc của asen tùy thuộc vào dạng asen hữu cơ hay asen vô cơ và trạng thái oxi hóa
của chúng. Nhìn chung asen vô cơ độc hơn asen hữu cơ và asenit As(III) độc hơn
so với asenat As(V).
Asen có thể qua đường thực phẩm, nước uống xâm nhập vào cơ thể
người, “chất phổ biến nhất là asenat [HAsO 42; As(V)] và asenit [H3AsO3;
As(III)]”.…, tích luỹ dần và gây ra quá trình nhiễm độc từ từ. Tuỳ thuộc vào mức
độ nhiễm độc, sức đề kháng của cơ thể người và vấn đề dinh dưỡng, các triệu
chứng bệnh lý nhiễm độc asen có thể xuất hiện sau khi nhiễm từ 5 đến 20 năm.
Lúc đầu bệnh lý biểu hiện dưới dạng các chấm đen trên da rồi sau đó có thể gây
ra ung thu da, gan và thận. Ngay cả khi con người uống nước có hàm lượng asen
thấp ( cỡ 0,1mg/L) trong thời gian dài cũng có thể gây ra bệnh thần kinh. Hiện
nay chưa có biện pháp hữu hiệu chữa bệnh nhiễm độc asen.
Asen Vô Cơ
Asen vô cơ tác
động
lên
các enzim hoạt động đảm bảo cho quá trình hô hấp, nên có thể phá huỷ các mô
trong hệ hô hấp, trong gan và thận. Các nghiên cứu đã chỉ ra cơ chế gây độc
chính của asen là do sự liên kết của nó với các nhóm sunfuahydryl SH, làm mất
chức năng hoạt động của các enzim.
5
SH
Enzym
SH
+
AsO3-3
As - O- +
Enzym
SH
2 OH-
SH
Asen(V) cchcỏcenzimsinhnnglngchotbonhcỏcenzimsinh
raATPlmchutrỡnhxitricbkỡmhóm.
OPO32H
C
OPO32-
+PO43ư
H
OH
C
C
C
O
ATP
OH
O
O
H
PO32-
OPO32H
C
OH
C
Phân huỷ thành sản
phẩm đầu
O
O
AsO33-
AsenHuC
Cỏchpchtasen(V)(RưAsO3H2)ớt nhhngnhottớnhcaenzim
nhngtrongnhngiukinthớchhpchỳngcúthkh v dngasen(III)c
hn.
Cỏchpchtasen(III)baogmasenovasenoso.Cỏchpchtasenob
oxihoỏddngngayckhicúvtoxi,tớnhhotngcachỳngccholdo
s chuynhoỏthnhcỏcdnxutasenotng ng.Cỏcdnxutnycúth
cchiathnhcỏchpchtthmtlnvcỏchpchtthhailntheophn
ngcachỳngvinhúmsunfuahydryl.Nhnghpchtth mtln,vớd Rư
As=O,phnngvienzimchanhúmưSH.
SR'
RưAs
O
+
2R'SH
RưAs
SR'
Mtsenzimchahainhúmthiolcúthphnngvihpchtasenth
mtln,bngcỏchútoracutrỳcvũng5cnh.Phn ngnythunnghch
vi ithiol. Axit liponic, cn thit cho giai on u trong s oxi hoỏ ca
piruvate,bcchbngcỏchnybiliuzit(sdnglmkhớc).
6
S
protein
S
SH
AsCH
CHCl + BAL
S
+ ClCH
protein
SH
CH2
CHAsH2
S
CH
CH2OH
Tình trạng ô nhiễm Asen
Việc cung cấp nước sạch cho sinh hoạt đã là một vấn đề lớn mà cả thế
giới hiện nay quan tâm. Sử dụng nước ngầm được coi như là một giải pháp hữu
hiệu cho việc cung cấp nước sạch khi nguồn nước bề mặt như sông; suối; ao;
hồ ngày càng bị ô nhiễm nặng bởi nước thải từ các nhà máy; xí nghiệp, nước
thải sinh hoạt. Nước ngầm ít chịu ảnh hưởng do con người gây ra. Chất lượng
nước ngầm thường tốt hơn nước bề mặt. Trong nước ngầm, không có hạt keo
hay cặn lơ lửng, các chỉ tiêu trong nước ngầm cũng tốt hơn. Tuy nhiên, việc
nhiễm độc kim loại nặng, asen là một vấn đề đáng lo ngại mà chúng ta phải đối
mặt khi khai thác nguồn nước ngầm.
Nguồn asen, kim loại nặng có trong
nước ngầm chủ yếu do sự hòa tan các hợp chất có chứa asen, kim loại nặng có
trong đất, đá do quá trình phong hóa, hoạt động núi lửa và một phần do quá trình
sản xuất công nông nghiệp xảy ra.
Ô nhiễm Asen trên thế giới
Sử dụng nguồn nước sinh hoạt có nồng độ asen cao là nguyên nhân khiến
hang chục triệu người trên thế giới bị bệnh rụng móng chân, sừng hóa da, ung
thư da. Nhiều nước đã phát hiện hàm lượng asen rất cao trong nguồn nước sinh
hoạt như Canada, Alaska, Chile, Trung Quốc, Thái Lan, Bangladesh … Sự có mặt
của asen ở các vùng khác nhau trên thế giới được tổng hợp trong hình 1.1.
7
Hình1.: Bản đồ phân bố khu vực ô nhiễm asen trên thế giới [3,7]
Năm 1953, Trung Quốc phát hiện trường hợp bệnh nhân nhiễm độc asen
đầu tiên. Đến năm 1993 mới có 1546 nạn nhân của căn bệnh Asenicosis ( bệnh
nhiễm độc asen) nhưng cho đến thời điểm này đã phát hiện 13500 bệnh nhân
trong số 558000 người được kiểm tra ở 462 làng thuộc 47 vùng bị liệt vào khu
vực nhiễm asen cao. Số liệu thống kê cho thấy 88% nhiễm qua thực phẩm, 5%
từ không khí và 7% từ nước uống. Hàm lượng asen tối đa thu được trong nước
uống là 4,43 mg/l gấp tới 443 lần giá trị Asen cho phép của tổ chức y tế thế giới
WHO (10μg/l).
Ở Archentina cũng có tới 20000 bệnh nhân nhiễm độc Asen. Ngay cả các
nước phát triển mạnh như Mỹ, Nhật Bản cũng đang phải đối phó với thực trạng
ô nhiễm Asen. Ở Mỹ, theo những nghiên cứu mới nhất cho thấy trên 3 triệu
người dân Mỹ có nguy cơ nhiễm độc Asen, mức độ nhiễm asen trong nước uống
dao động từ 0,045 – 0,092 mg/l. Còn ở Nhật Bản, những nạn nhân đầu tiên có
triệu chứng nhiễm asen đã được phát hiện từ năm 1971, cho đến năm 1995 đã có
217 nạn nhân chết vì asen.
Asen trong nước ngầm có nguồn gốc tự nhiên, do các điều kiện thiếu ôxy
của lớp đất gần bề mặt nên nó được giải phóng ra từ trầm tích vào nước ngầm.
8
Khi các tổ chức phi chính phủ (NGO) phương Tây hỗ trợ chương trình làm các
giếng nước lớn để lấy nước uống vào cuối thế kỷ 20, nước ngầm bắt đầu được
sử dụng. Chương trình này được đề ra nhằm ngăn ngừa việc uống nước từ nước
bề mặt bị nhiễm khuẩn, nhưng lại không chú trọng tới kiểm định asen trong
nước ngầm. Nhiều quốc gia và khu vực khác ở Đông Nam Á, như Việt Nam,
Campuchia, Tây Tạng, Trung Quốc, được coi là có các điều kiện địa chất tương
tự giúp cho quá trình tạo nước ngầm giàu asen.
Tình hình ô nhiễm asen tại Việt Nam
Hiện tượng nước dưới đất bị nhiễm độc asen đã được báo động, không
chỉ ở các quốc gia như Băngladesh, ấn Độ, Trung Quốc... mà ở Việt Nam cũng đã
bắt đầu xuất hiện ngày càng nhiều. Do cấu tạo tự nhiên của địa chất, nhiều vùng
của nước ta nước ngầm bị nhiễm asen. Điển hình như khu vực Quỳnh Lôi, Hai
Bà Trưng, Hà Nội đã có nhiều gia đình phải chịu những hậu quả và di chứng
nặng nề do nhiễm độc asen, nhiều trường hợp đã tử vong. Với tình trạng khoan
giếng bừa bãi như hiện nay (do nước máy khan hiếm), đa số lại không có thiết bị
xử lý triệt để (thường chỉ dùng các biện pháp thô sơ như để lắng, lọc lấy nước
trong...), lại thiếu sự hướng dẫn và kiểm soát của các cơ quan chức năng thì chất
lượng sức khỏe của người dân sẽ giảm sút là điều không thể tránh khỏi.
Năm 1997, mẫu nước ngầm đã được các nhà địa hoá và địa chất thuỷ văn
phân tích và kết quả cho thấy có 29% số mẫu nước lấy từ tầng Holocen có hàm
lượng asen vượt giới hạn cho phép và có 6% số mẫu nước lấy từ tầng Pleistocen
có hàm lượng asen vượt quá tiêu chuẩn cho phép (Theo TCVN, hàm lượng asen
cho phép là 0,05mg/l).
Ở Việt Nam, nước dưới đất bị nhiễm độc bởi asen chủ yếu được phát
hiện ở đồng bằng Bắc bộ và đồng bằng Nam bộ.
Trong 6 tháng đầu năm 1999, Văn phòng đại diện UNICEF tại Hà Nội và
Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn trung ương đã tiến
hành xét nghiệm mẫu nước của 351 trong số tổng số 519 giếng khoan ở Quỳnh
Lôi (Hai Bà Trưng Hà Nội) và kết quả là có 25% số mẫu có hàm lượng asen
vượt tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam và nếu theo tiêu chuẩn của Tổ chức y tế
thế giới (WHO là 0,01 mg/L) thì có tới 68% vượt tiêu chuẩn cho phép. Trong thời
gian này, UNICEF phối hợp với Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường
nông thôn đã tiến hành kiểm tra asen trong nước của 1227 giếng khoan nông tại 6
9
tỉnh Phú Thọ, Thanh Hóa, Quảng Ninh, Hà Tây(cũ), Hải Phòng và Thái Bình. Tại
tỉnh Thanh Hóa chỉ có 11 giếng khoan trong 201 lỗ khoan có asen lớn hơn 0,05
mg/l, cao nhất đạt 0,1mg/L (4 giếng khoan). Tại tỉnh Quảng Ninh tất cả 175 mẫu
phân tích đều có hàm lượng asen nhỏ hơn 0,05 mg/L, chất lượng nước ở đây
nhìn chung là tốt. Tại tỉnh Hà Tây (cũ) chỉ có 01 kết quả phân tích asen trong
nước lỗ khoan nông có hàm lượng asen lớn hơn 0,05 mg/L. Tại thành phố Hải
Phòng chỉ có 1 trong 49 mẫu nước lỗ khoan phân tích có hàm lượng asen vượt
tiêu chuẩn cho phép Việt Nam 3 lần. Tại tỉnh Thái Bình, kết quả tất cả 195 mẫu
phân tích đều có hàm lượng asen nhỏ hơn 0,05 mg/L. Việt Trì Lâm Thao có 12%
số mẫu vượt giới hạn trên. Ở các vùng khác đều thấp hoặc nếu vượt thì không
quá 5% (như ở Hải Phòng). Hàm lượng asen trong nước xét theo tính phổ biến thì
về mùa khô cao hơn mùa mưa.
Ở đồng bằng Nam bộ, một số kết quả phân tích của Liên đoàn địa chất
thủy văn địa chất công trình miền Nam gần đây cho thấy chưa phát hiện ra vùng
nào có hàm lượng asen vượt quá tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam.
Một số công nghệ xử lý asen
Theo các nhà chuyên môn, hiện nay có khá nhiều công nghệ khử asen trong
nước dưới đất. Công nghệ phù hợp cần được chọn dựa theo các nghiên cứu cụ
thể các điều kiện như loại nguồn nước, đặc điểm thành phần hóa học của
chúng; điều kiện địa chất thủy văn, khí tượng. Nguyên tắc để chọn công nghệ là
phải đạt được các tiêu chí: Chất lượng nước sau xử lý phải đạt yêu cầu sử
dụng; công nghệ đơn giản; giá thành thấp; không sử dụng hoặc yêu cầu điện
năng tối thiểu; có khả năng áp dụng cho các loại nguồn nước khác nhau, với
công suất cấp nước qui mô phục vụ khác nhau; sử dụng được các nguyên vật
liệu nhân công địa phương; được cộng đồng chấp nhận.
Công nghệ kết tủa, lắng, lọc
Quá trình kết tủa và lọc, hoặc sử dụng muối kim loại hoặc làm mềm
nước bằng vôi liên quan đến phần lớn các phương pháp xử lý asen. Phương pháp
xử lý này rất có hiệu quả khi loại bỏ các chất rắn lơ lửng và hoà tan ngoài asen
như độ đục, sắt, mangan, phốt phát và florua. Nó còn có hiệu quả trong việc làm
giảm mùi, mầu và giảm nguy cơ hình thành các chất ô nhiễm thứ cấp.
Muối nhôm và muối sắt clorua hoặc sunphat là các muối kim loại thường
được sử dụng. Ở quy mô phòng thí nghiệm và ở các điều kiện tối ưu, hiệu quả
10
xử lý asen bằng muối nhôm hoặc muối sắt lên tới 99% và nồng độ asen còn lại
dưới 1mg/L. Còn đối với các hệ xử lý thực tiễn ngoài hiện trường thì hiệu quả
xử lý thấp hơn khoảng từ 50 đến 90%.
Trong quá trình keo tụ và lắng/lọc, asen được loại bỏ thông qua ba cơ chế
chính:
Kết tủa: Sự hình thành của các hợp chất ít tan như Al(AsO4) hoặc
Fe(AsO4)
Cộng kết: Kết hợp các dạng asen tan vào các pha hydroxit kim loại
Hấp phụ: Sự liên kết tĩnh điện họăc các lực vật lý khác của asen
tan với bề mặt của các hạt hydroxit kim loại.
Cả ba cơ chế này có thể sử dụng độc lập đối với quá trình loại bỏ chất ô
nhiễm.
Oxi hoá/khử
As(III) thường được oxi hoá lên trạng thái As(V) trước khi xử lý vì hầu
hết các công nghệ xử lý asen chỉ có hiệu quả cao đối với việc loại bỏ asen ở
dạng As(V). Khí clo, khí ozon, kali pemanganat, hydro peoxit, tác nhân Fenton’s
(H2O2/Fe2+)... là các tác nhân hoá học thường được sử dụng để oxi hoá asenit
thành asenat. Một số chất rắn như mangan oxit cũng được sử dụng để oxi hoá
asen.
Ngoài ra, sử dụng trực tiếp các bức xạ từ mặt trời với sự có mặt của các
chất xúc tác như sunfua, Fe3+, xitrat... cũng là một phương pháp để oxi hoá asenit
thành asenat. Nếu chỉ sử dụng quá trình oxi hoá thì không thể loại bỏ asen ra khỏi
dung dịch. Vì thế, quá trình này thường phải kết hợp với các quá trình kết tủa,
hấp thụ hoặc trao đổi ion.
Công nghệ hấp phụ và trao đổi ion.
Phương pháp hấp phụ là sử dụng các vật liệu có diện tích bề mặt lớn, có
ái lực lớn với các dạng asen hoà tan để loại bỏ asen ra khỏi nước. Người ta đã
phát hiện ra khả năng hấp phụ asen của nhôm oxit đã hoạt hoá (Al2O3), các vật
liệu có chứa oxit, hyđroxit sắt, các loại quặng sắt tự nhiên: limonit, laterit...
Phương pháp trao đổi ion có thể được xem là một dạng đặc biệt của
phương pháp hấp phụ. Trong quá trình trao đổi ion, vị trí của các ion bị hấp phụ
trên bề mặt chất rắn bị thay thế bởi các ion hoà tan trong dung dịch. Trong việc
11
xử lý nước để loại bỏ các chất hoà tan không mong muốn ra khỏi nước, nhựa
trao đổi ion được sử dụng rộng rãi. Các loại nhựa này có một bộ khung polyme
liên kết ngang, được gọi là nền. Thông thường, nền này được tạo thành do
polystyren liên kết ngang với đivinylbenzen. Các nhóm chức tích điện liên kết với
nền thông qua các liên kết cộng hoá trị. Phương pháp này rất hiệu quả trong việc
loại bỏ asen. Tuy nhiên, nếu trong dung dịch, nồng độ các ion cạnh tranh với asen
(như sunfat, florua, nitrat...) lớn, hiệu suất của quá trình sẽ bị giảm.
Các phương pháp vật lý
Các phương pháp như: thẩm thấu ngược, màng lọc nano, điện thẩm tách
có khả năng loại bỏ tất cả các dạng asen cùng muối khoáng hòa tan ra khỏi
nước.
Trong quá trình này, nước được chảy qua một màng lọc đặc biệt mà ở đó,
các chất gây ô nhiễm được giữ lại nhờ các tương tác vật lý. Để xứ lý nước bằng
phương pháp lọc màng, trước hết người ta phải loại bỏ các chất rắn lơ lửng và
đưa asen về dạng As(V).
AMONI
Giới thiệu chung về Amoni
Amoni bao gồm có 2 dạng: không ion hoá (NH3) và ion hoá (NH4). Nguồn
gốc của Amoni trong môi trường nước là từ các quá trình chuyển hóa, nông
nghiệp, công nghiệp và từ sự khử trùng nước bằng cloramin. Lượng Amoni tự
nhiên ở trong nước bề mặt và nước ngầm thường thấp hơn 0,2mg/lít. Các nguồn
nước hiếm khí có thể có nồng độ Amoni lên đến 3mg/lít.
Có nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến sự gia tăng hàm lượng Amoni trong
nước mặt như việc chăn nuôi gia súc quy mô lớn, sự nhiễm bẩn Amoni từ các
đoạn nối ống bằng vữa xi măng. Amoni trong nước là một chất ô nhiễm do chất
thải động vật, nước cống và khả năng nhiễm khuẩn. Khi hàm lượng Amoni
trong nước ăn uống cao hơn tiêu chuẩn cho phép chứng tỏ nguồn nước đã bị ô
nhiễm bởi chất thải động vật, nước cống và có khả năng xuất hiện các loại vi
khuẩn, kể cả vi khuẩn gây bệnh.
Lượng Amoni trong môi trường so với sự tổng hợp bên trong cơ thể là
không đáng kể. Tác hại của nó chỉ xuất hiện khi tiếp xúc với liều lượng khoảng
trên 200mg/kg thể trọng.
12
Với những lý do trên đây, Amoni được xếp vào nhóm các chỉ tiêu cảm
quan (được đánh dấu bằng chữ a trong bảng tiêu chuẩn theo quyết định
1329/2002/BYTQĐ của Bộ Y tế). Khi Amoni trong nước ăn uống vượt quá tiêu
chuẩn cho phép thì chưa ảnh hưởng lắm tới sức khoẻ nhưng đó là dấu hiệu cho
thấy nguồn nước bị ô nhiễm bởi chất thải có nguồn gốc động vật và có thể chứa
các vi khuẩn gây bệnh.
Ảnh hưởng của Amoni đối với sức khỏe con người
Amoni thật ra không gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người.
Tuy nhiên, trong qua trinh khai thac, l
́ ̀
́ ưu trữ va x
̀ ử ly… Amoni có th
́
ể bị chuyển
hóa thành nitrit (NO2) va nitrat (NO
̀
̀ ưng chât co tinh đôc hai t
̃
́ ́ ́
̣
̣ ới con ngươì
3 ) la nh
vi no co thê chuyên hoa thanh Nitrosamin co kha năng gây ung th
̀ ́ ́ ̉
̉
́ ̀
́ ̉
ư cho con người.
Chinh vi vây qui đinh nông đô nitrit cho phep trong n
́
̀ ̣
̣
̀
̣
́
ươc sinh hoat la kha th
́
̣ ̀ ́ ấp.
Như vây
̣ ở trong nươc ngâm amoni không thê chuyên hoa đ
́
̀
̉
̉
́ ược do thiêu
́
oxi, khi khai thac lên vi sinh vât trong n
́
̣
ươc nh
́ ờ oxi trong không khi chuyên amoni
́
̉
thanh nitrit (NO
̀
̀
́
̣
ưc ăn. Khi ăn uông n
́
́ ước co ch
́ ưá
2 ) va nitrat (NO
3 ) tich tu trong th
nitrit thi c
̀ ơ thê se hâp thu nitrit vao mau va chât nay se tranh oxi cua hông câu lam
̉ ̃ ́
̀
́ ̀ ́ ̀ ̃
̉
̀
̀ ̀
hemoglobin mât kha năng lây oxi, dân đên trinh trang thiêu mau, xanh da. Vi vây,
́
̉
́
̃ ́ ̀
̣
́
́
̀ ̣
nitrit đăc biêt nguy hiêm đôi v
̣
̣
̉
́ ơi tre m
́ ̉ ơi sinh d
́
ươi sau thang tu
́ ́
́
ổi, no co thê lam
́ ́ ̉ ̀
châm s
̣ ự phat triên, gây bênh
́
̉
̣ ở đường hô hâp. Đôi v
́
́ ới ngươi l
̀ ơn, nitrit k
́
ết hợp
vơi cac axit amin trong th
́ ́
ực phâm lam thanh môt h
̉
̀
̀
̣ ợp chât nitrosami. Nitrosamin
́
co ́ thể gây tôn th
̉
ương di truyên
̀ tê ́ bao,
̀ nguyên nhân gây ung thư. Nhưng
̃ thí
nghiêm cho nitrit vao trong th
̣
̀
ưc ăn, th
́
ức uông cua chuôt, tho…v
́
̉
̣
̉ ới ham l
̀ ượng
vượt ngương cho phep thi thây sau môt th
̃
́
̀ ́
̣ ời gian những khôi u sinh ra trong gan,
́
phôi, vom hong cua chung [3].
̉
̀
̣
̉
́
Các hợp chất nitơ trong nước có thể gây nên một số bệnh nguy hiểm cho
người sử dụng nước. Nitrat tạo ra chứng thiếu vitamin và có thể kết hợp với các
amin để tạo nên những nitrosamin là nguyên nhân gây ung thư ở người cao tuổi.
Trẻ sơ sinh đặc biệt nhạy cảm với nitrat lọt vào sữa mẹ, hoặc qua nước dùng để
pha sữa. Sau khi lọt vào cơ thể, nitrat được chuyển hóa nhanh thành nitrit nhờ vi
khuẩn đường ruột. Ion nitrit còn nguy hiểm hơn nitrat đối với sức khỏe con
người. Khi tác dụng với các amin hay alkyl cacbonat trong cơ thể người chúng có
thể tạo thành các hợp chất chứa nitơ gây ung thư.
Tình trạngô nhiễm Amoni ở Việt Nam
13
Nguôn gôc ô nhiêm amoni trong n
̀ ́
̃
ươc ngâm
́
̀ ở Viêt Nam
̣
Co nhiêu nguyên nhân dân đên trinh trang nhiêm bân amoni va cac chât h
́
̀
̃ ́ ̀
̣
̃
̉
̀ ́
́ ữu
cơ trong nươc ngâm nh
́
̀
ưng môt trong nh
̣
ưng nguyên nhân chinh la do viêc s
̃
́
̀
̣ ử dung
̣
qua m
́ ưc l
́ ượng phân bon h
́ ưu c
̃ ơ, thuôc tr
́ ừ sâu, hoa chât, th
́ ́ ực vât đa gây anh
̣
̃
̉
hưởng nghiêm trong đên nguôn n
̣
́
̀ ươc, hoăc do qua trinh phân huy cac h
́
̣
́ ̀
̉ ́ ợp chât́
hưu c
̃ ơ va cac chât trên cang lam đây nhanh qua trinh nhiêm amoni trong n
̀ ́
́
̀
̀
̉
́ ̀
̃
ươć
ngâm. Ngoai ra m
̀
̀
ưc đô ô nhiêm con phu thuôc vao loai hinh canh tac cua t
́ ̣
̃
̀
̣
̣
̀
̣ ̀
́ ̉ ưng khu
̀
vực.
Do câu tao đia chât va lich s
́ ̣
̣
́ ̀ ̣
ử hinh thanh đia tâng
̀
̀
̣
̀ : Kêt qua cua nh
́
̉ ̉
ưng
̃
hoat đông đia chât (xói mòn, xâm th
̣
̣
̣
́
ưc…) đa hinh thanh lên tâng ch
̃ ̀
̀
̀
ứa nước cuôị
sỏi Đê T
̣ ư. Đây la nguôn n
́
̀
̀ ươc chinh đ
́
́ ược khai thac cung câp n
́
́ ước sinh hoat cho
̣
cac hoat đông sông cua con ng
́
̣
̣
́
̉
ươi. Tâng Đê T
̀
̀
̣ ứ bao gôm nhiêu loai kiên tao v
̀
̀
̣
́ ̣ ới
cac loai trâm tich khac nhau vê nguôn gôc. Nh
́
̣
̀ ́
́
̀
̀ ́
ưng nhin chung cac tâng nay đêu co
̀
́ ̀
̀ ̀ ́
chưa cac hat than bun, đât co lân cac h
́ ́ ̣
̀
́ ́ ̃ ́ ợp chât h
́ ữu cơ. Kha năng di chuyên chât
̉
̉
́
bân vao tâng n
̉
̀ ̀ ươc co liên quan chăt che đên thanh phân hat. Hat cang khô tinh l
́ ́
̣
̃ ́
̀
̀ ̣
̣ ̀
́ ưu
thông cang l
̀ ơn, kha năng hâp thu nho, cac chât bân di chuyên dê dang, hat min thi
́
̉
́
̣
̉ ́
́ ̉
̉
̃ ̀
̣
̣
̀
ngược lai. Do quá trình khai thác n
̣
ước ngày càng mở rộng đã kéo theo giải phóng
các hợp chất của N được phát sinh ngay trong lớp đất bùn chứa nhiều chất hữu
cơ bị phân hủy, điều này dẫn đến hàm lượng N trong nước ngầm tăng lên
Do sự tôn tai cua nguôn ô nhiêm năm
̀ ̣
̉
̀
̃
̀ ở phia trên măt đât
́
̣
́: Trong nhiêù
năm qua cung v
̀ ơi s
́ ự phat triên cua đ
́
̉
̉ ời sông xa hôi, s
́
̃ ̣ ự phat triên cua công nghêp
́
̉
̉
̣
va nông nghiêp chung ta đa thai vao môi tr
̀
̣
́
̃ ̉ ̀
ường môt l
̣ ượng lơn chât thai, ma trong
́
́ ̉
̀
đo ca n
́ ̉ ươc thai san xuât va n
́
̉ ̉
́ ̀ ước thai sinh hoat đêu co ham l
̉
̣ ̀ ́ ̀ ượng chât h
́ ữu cơ gây
ô nhiêm sinh hoc cao.Trinh trang khoan khai thac n
̃
̣
̀
̣
́ ươc môt canh tuy tiên cua t
́
̣
́
̀ ̣
̉ ư
nhân hiên nay rât phô biên. Giêng đ
̣
́
̉
́
́
ược khoan co đô sâu t
́ ̣
ừ 25 m đên 30 m la
́
̀
nguôn gôc tao ra cac c
̀ ́ ̣
́ ửa sô thuy văn đ
̉
̉
ưa chât nhiêm bân xuông n
́
̃
̉
́ ước ngâm. Ngoai
̀
̀
ra viêc khai thac n
̣
́ ươc ngâm v
́
̀ ới khôi l
́ ượng lớn ma l
̀ ượng nươc m
́ ơi không kip bô
́
̣
̉
xung va đa tao ra cac ph
̀ ̃ ̣
́ ễu ha thâp m
̣ ́ ực nươc, đêu nay cung góp phân lam cho chât
́
̀ ̀ ̃
̀ ̀
́
bân xâm nhâp nhanh h
̉
̣
ơn. Đê bu đăp l
̉ ̀ ́ ượng nươc ngâm bi khai thac, qua trinh xâm
́
̀ ̣
́
́ ̀
thực tự nhiên được đây manh, n
̉
̣
ươc ngâm đ
́
̀ ược bô xung băng viêc thâm t
̉
̀
̣
́ ừ nguôn
̀
nươc măt xuông. Đây chinh la nghiên nhân cua s
́
̣
́
́
̀
̉ ự gia tăng nông đô cac chât ô
̀
̣ ́
́
nhiêm trong n
̃
ươc ngâm b
́
̀ ởi cac chât co nguôn gôc nhân tao. Do viêc phong thai
́
́ ́
̀
́
̣
̣
́
̉
môt l
̣ ượng lơn cac chât thai, n
́ ́
́ ̉ ươc thai co ch
́
̉
́ ưa nhiêu h
́
̀ ợp chât Nit
́
ơ hoa tan trong
̀
14
nươc đa dân đên s
́ ̃ ̃ ́ ự gia tăng nông đô cac chât Nit
̀
̣ ́
́
ơ trong nươc bê măt, vi du san
́ ̀ ̣
́ ̣ ̉
phâm cua qua trinh Urê hoa, amoni va muôi amon t
̉
̉
́ ̀
́
̀
́
ừ phân bon, t
́ ừ qua trinh thôi
́ ̀
́
rữa va t
̀ ừ dây chuyên sinh hoc cung nh
̀
̣
̃
ư từ nươc thai sinh hoat va n
́
̉
̣
̀ ươc thai công
́
̉
nghiêp…Cac chât nay theo n
̣
́
́ ̀
ươc măt thâm xuyên t
́
̣
́
ừ trên xuông hoăc thâm qua
́
̣
́
sươn cac con sông, xâm nhâp vao n
̀ ́
̣
̀ ươc ngâm dân t
́
̀
̃ ới trinh trang tăng nông đô
̀
̣
̀
̣
amoni trong nươc ngâm.
́
̀
Do chiêu day đ
̀
̀ ới thông khí: Khi chiêu day đ
̀ ̀ ới thông khi (hay chiêu day
́
̀ ̀
đường thâm) cang nho kha năng xâm nhâp cac chât bân vao tâng ch
́
̀
̉
̉
̣
́
́ ̉
̀ ̀
ứa nước cang
̀
nhiêu. Nh
̀
ưng riêng đôi v
́ ới hợp chât nitrat va nitrit thi chiêu day đ
́
̀
̀
̀ ̀ ới thông khi l
́ ớn,
qua trinh nitrat hoa diên ra thuân l
́ ̀
́ ̃
̣ ợi, con chiêu day đ
̀
̀ ̀ ới thông khi nho qua trinh
́
̉
́ ̀
nitrat hoa yêu h
́ ́ ơn. Đôi v
́ ới thực tê trong điêu kiên đ
́
̀
̣ ới thông khi cang day khi đo
́ ̀
̀
́
ham l
̀ ượng oxi xâm nhâp t
̣ ừ khi quyên va cac nguôn khac trên măt đât vao đ
́
̉
̀ ́
̀
́
̣
́ ̀ ới
thông khi se l
́ ̃ ơn, thuc đây cac điêu kiên thuân l
́
́ ̉
́
̀
̣
̣ ợi cho sự phat triên cua vi khuân
́
̉
̉
̉
hiêu khi. Khi đo qua trinh nitrat hoa xay ra va lam tăng ham l
́
́
́ ́ ̀
́ ̉
̀ ̀
̀ ượng NO2 va NO
̀ 3.
Do đô dôc thuy l
̣ ́
̉ ực lớn: Nhưng n
̃ ơi co c
́ ương đô dong chay manh lam tăng
̀
̣ ̀
̉
̣
̀
kha năng xâm nhâp cua cac chât ô nhiêm vao n
̉
̣
̉
́
́
̃
̀ ươc ngâm. Nh
́
̀
ững khu vực năm
̀
dươi đô dôc cao th
́ ̣ ́
ương co ham l
̀
́ ̀ ượng ô nhiêm năng h
̃
̣
ơn những vung co đô dôc
̀
́ ̣ ́
thâp. Điêu nay phu h
́
̀ ̀
̀ ợp vơi qui luât vân đông t
́
̣ ̣
̣
ự nhiên cua vât chât.[5]
̉
̣
́
Hiện trạng ô nhiễm amoniở Việt Nam
Theo đanh gia cua nhiêu bao cao va hôi thao khoa hoc thi trinh trang ô nhiêm
́
́ ̉
̀ ́ ́ ̀ ̣
̉
̣
̀ ̀
̣
̃
amoni trong nươc ngâm đa đ
́
̀
̃ ược phat hiên tai nhiêu vung trong ca n
́
̣
̣
̀
̀
̉ ươc. Chăng
́
̉
han nh
̣
ư tai thanh phô Hô Chi Minh: Theo chi cuc bao vê môi tr
̣
̀
́ ̀ ́
̣
̉
̣
ường thanh phô Hô
̀
́ ̀
Chi Minh (TP Hô Chi Minh), kêt qua quan trăc n
́
̀ ́
́
̉
́ ước ngâm tâng nông gân đây cho
̀ ̀
̀
thây l
́ ượng nươc ngâm
́
̀ ở khu vực ngoai thanh đang diên biên ngay cang xâu đi. Cu
̣
̀
̃
́
̀ ̀
́
̣
thê n
̉ ươc ngâm
́
̀ ở trạm Đông Thach (huyên Hoc Môn) bi ô nhiêm amoni (68,73
̣
̣
́
̣
̃
mg/l cao gâp 1,9 lân so v
́
̀
ới năm 2005) va co ham l
̀ ́ ̀ ượng nhôm cao, đô măn tăng va
̣ ̣
̀
mưc đô ô mhiêm chât h
́ ̣
̃
́ ưu c
̃ ơ cung tăng nhanh trong nh
̃
ưng năm gân đây; nông đô
̃
̀
̀
̣
săt trong n
́
ươc ngâm cua môt sô khu v
́
̀
̉
̣ ́
ực khac nh
́ ư Linh Trung, Trương Tho (Thu
̀
̣
̉
Đức), Tân Taọ (Binh
̀ Chanh)…cung
́
̃ khá cao (11,76 đên
́ 27,83 mg/l) vượt tiêu
chuân cho phep gân 50 lân [5].
̉
́ ̀
̀
Ngoai ra con co môt sô khu v
̀
̀ ́ ̣
́
ực khac cung bi ô nhiêm amoni trong n
́ ̃
̣
̃
ươć
ngầm nhưng khu vực bi ô nhiêm amoni trong n
̣
̃
ươc ngâm năng nê nhât trong c
́
̀
̣
̀ ́
ả
nước la khu v
̀
ực đông băng Băc Bô. Theo kêt qua khao sat cua trung tâm nghiên
̀
̀
́
̣
́
̉
̉
́ ̉
15
cưu thuôc trung tâm khoa hoc t
́
̣
̣ ự nhiên va công nghê quôc gia va tr
̀
̣
́
̀ ương Đai Hoc
̀
̣
̣
MoĐia Chât thi phân l
̉ ̣
́ ̀ ̀ ớn nước ngâm khu v
̀
ực đông băng Băc Bô gôm cac tinh
̀
̀
́
̣ ̀
́ ̉
như: Ha Tây, Ha Nam, Nam Đinh, Ninh Binh, Hai D
̀
̀
̣
̀
̉ ương, Hưng Yên, Thai Binh
́ ̀
va phia nam Ha Nôi đêu bi nhiêm bân amoni rât năng. Xac suât cac nguôn n
̀ ́
̀ ̣
̀ ̣
̃
̉
́ ̣
́
́ ́
̀ ước
ngâm nhiêm amoni co nông đô cao h
̀
̃
́ ̀
̣
ơn tiêu chuân n
̉ ước sinh hoat (3 mg/l) khoang
̣
̉
7080%. Trong nhiêu nguôn n
̀
̀ ươc ngâm con ch
́
̀
̀ ưa nhiêu h
́
̀ ợp chât h
́ ữu cơ, đô oxi
̣
hoa co nguôn đat 3040 mg O
́ ́
̀ ̣
́ ̉
̀
̀ ớn cac nguôn n
́
̀ ước ngâm
̀
2/l. Co thê cho răng phân l
đang sử dung không đat tiêu chuân vê amoni va cac h
̣
̣
̉
̀
̀ ́ ợp chât h
́ ữu cơ [5].
Theo kêt qua khao sat cua cac nha khoa hoc Viên Đia ly thuôc Viên Khoa
́
̉
̉
́ ̉
́
̀
̣
̣
̣
́
̣
̣
Hoc va Công Nghê Viêt Nam thi hâu nh
̣
̀
̣
̣
̀ ̀ ư cac mâu n
́
̃ ước từ cac huyên cua tinh Ha
́
̣
̉ ̉
̀
Nam đêu co ty lê nhiêm amoni
̀ ́ ̉ ̣
̃
ở mưc đang bao đông. Chăng h
́ ́
́ ̣
̉
ạn như tai Ly Nhân
̣
́
co mâu n
́ ̃ ươc v
́ ơi ham l
́ ̀ ượng lên tới 111,8 mg/l gâp 74 lân so v
́
̀
ới tiêu chuân Bô Y
̉
̣
Tê (TC BYT), con
́
̀ ở Duy Tiên la 93,8 mg/l gâp 63 lân…Trong khi đo, cac kêt qua
̀
́
̀
́ ́ ́
̉
khao sat cua tr
̉
́ ̉ ương Đai Hoc MoĐia Chât Ha Nôi cung cho biêt chât l
̀
̣
̣
̉ ̣
́ ̀ ̣
̃
́
́ ượng nươć
ngâm
̀ ở tâng mach nông va mach sâu tai cac đia ph
̀
̣
̀ ̣
̣ ́ ̣
ương nay cung co ham l
̀ ̃
́ ̀ ượng
Nitơ trung binh > 20 mg/l v
̀
ượt mưc tiêu chuân Viêt Nam cho phep rât nhiêu lân.
́
̉
̣
́ ́
̀ ̀
+
(Tiêu chuân n
̉ ươc vê sinh ăn uông 1329/BYT2002 đôi v
́ ̣
́
́ ới nông đô NH
̀
̣
́
4 tôi đa cho
phep la 1,5 mg/l)[3].
́ ̀
Một số công nghệ xử lý Amoni
Phương pháp kiềm hóa và làm thoáng
Amoni ở trong nươc tôn tai d
́ ̀ ̣ ưới dang cân băng:
̣
̀
NH4+ NH3 (khi hoa tan)
+ H+ ; pka = 9,5
́ ̀
Như vây,
̣ ở PH gân 7 chi co môt l
̀
̉ ́ ̣ ượng rât nho khi NH
́
̉
́ 3 so vơi ion amoni.
́
+
Nêu ta nâng PH t
́
ới 9,5 ty lê [NH
̉ ̣
̀ ̀
̀
̀
3]/[ NH4 ] = 1, va cang tăng PH cân băng cang
chuyên vê phia tao thanh NH
̉
̀ ́ ̣
̀
́ ́ ́ ̣
́ ̃
̣ ̣
́ ̣
̉
3. Khi đo nêu ap dung cac ky thuât suc khi hoăc thôi
khi thi NH
́ ̀ 3 se bay h
̃
ơi theo đinh luât Henry, lam chuyên cân băng vê phia phai:
̣
̣
̀
̉
̀
̀ ́
̉
NH4+ + OH NH3 + H2O
Trong thực tê PH phai nâng lên xâp xi 11, l
́
̉
́ ̉
ượng khi cân đê đuôi NH
́ ̀ ̉
̉
́
3 ở mưc
1600 m3 không khi/ m
́ 3 nươc va qua trinh phu thuôc vao nhiêt đô cua môi tr
́ ̀ ́ ̀
̣
̣
̀
̣
̣ ̉
ường.
+
Phương phap nay ap dung đ
́ ̀ ́ ̣
ược cho nươc thai, kho co thê đ
́
̉
́ ́ ̉ ưa được nông đô NH
̀
̣
4
xuông d
́ ưới 1,5mg/l nên rât hiêm khi đ
́ ́
ược ap dung đê x
́ ̣
̉ ử ly n
́ ước câp.
́
Phương phap Ozon hoa v
́
́ ơi xuc tac Bromua(Br
́ ́ ́
)[5]
16
Đê khăc phuc nh
̉
́
̣
ược điêm cua ph
̉
̉
ương phap Clo hoa điêm đôt biên ng
́
́ ̉
̣
́ ười ta
co thê thay thê môt sô tac nhân oxi hoa khac la ozon v
́ ̉
́ ̣ ́ ́
́ ́ ̀
ơi s
́ ự co măt cua Br
́ ̣
̉
. Vê c
̀ ơ
ban x
̉ ử ly NH
́ 4+ băng O
̀
i sự co măt cua Br
́ ̣
̉
cung diên ra theo c
̃
̃
ơ chê giông nh
́ ́
ư
3 vớ
phương phap x
́ ử ly dung Clo. D
́ ̀
ươi tac dung cua O
́ ́ ̣
̉ 3, Br bi oxi hoa thanh BrO
̣
́ ̀
theo
phan
̉ ưng sau đây:
́
Br + O3 + H+ = HBrO + O2
Phan
̉ ưng oxi hoa NH
́
́ 4+ được thực hiên b
̣ ởi ion BrO giông nh
́
ư cua ion ClO
̉
NH3 + HBrO = NH2Br + H2O
NH2Br + HBrO = NHBr2 + H2O
NH2Br + NHBr2 = N2 + 3Br + H+
Đây chinh la điêm t
́
̀ ̉ ương đông cua hai ph
̀
̉
ương phap Clo hoa va Ozon hoa
́
́ ̀
́
xuc tac Br
́ ́ .
1.3. Than hoạt tính
Than hoạt tính là chất hấp phụ quí và linh hoạt, được sử dụng rộng rãi cho
nhiều mục đích như loại bỏ màu, mùi, vị không mong muốn và các tạp chất hữu
cơ, vô cơ trong nước thải công nghiệp và sinh hoạt, thu hồi dung môi, làm sạch
không khí, trong kiểm soát ô nhiễm không khí từ khí thải công nghiệp và khí thải
động cơ, trong làm sạch nhiều hóa chất, dược phẩm, sản phẩm thực phẩm và
nhiều ứng dụng trong pha khí. Chúng được sử dụng ngày càng nhiều trong lĩnh
vực luyện kim để thu hồi vàng, bạc, và các kim loại khác, làm chất mang xúc tác.
Chúng cũng được biết đến trong nhiều ứng dụng trong y học, được sử dụng để
loại bỏ các độc tố và vi khuẩn của một số bệnh nhất định. Cacbon là thành phần
chủ yếu của than hoạt tính với hàm lượng khoảng 85 – 95%.
Bên cạnh đó than hoạt tính còn chứa các nguyên tố khác như hidro, nitơ,
lưu huỳnh và oxi. Các nguyên tử khác loại này được tạo ra từ nguồn nguyên liệu
ban đầu hoặc liên kết với cacbon trong suốt quá trình hoạt hóa và các quá trình
khác. Thành phần các nguyên tố trong than hoạt tính thường là 88% C, 0,5% H,
0,5% N, 1%S, 6 –7% O. Tuy nhiên hàm lượng oxy trong than hoạt tính có thể thay
đổi từ 1 20% phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu ban đầu, cách điều chế. Than
hoạt tính thường có diện tích bề mặt nằm trong khoảng 800 đến 1500m2/g và thể
tích lỗ xốp từ 0,2 đến 0,6cm3/g [19].
Diện tích bề mặt than hoạt tính chủ yếu là do lỗ nhỏ có bán kính nhỏ hơn
2nm. Than hoạt tính chủ yếu được điều chế bằng cách nhiệt phân nguyên liệu
17
thô chứa cacbon ở nhiệt độ nhỏ hơn 10000C. Quá trình điều chế gồm 2 bước:
Than hóa ở nhiệt độ dưới 8000C trong môi trường trơ và sự hoạt hóa sản phẩm
của quá trình than hóa ở nhiệt độ khoảng 950–10000C.
1.3.1. Đặc tính của than hoạt tính
Than hoạt tính với sự sắp xếp ngẫu nhiên của các vi tinh thể và với liên
kết ngang bền giữa chúng, làm cho than hoạt tính có một cấu trúc lỗ xốp khá phát
triển. Chúng có tỷ trọng tương đối thấp (nhỏ hơn 2g/cm 3) và mức độ graphit hóa
thấp. Cấu trúc bề mặt này được tạo ra trong quá trình than hóa và phát triển hơn
trong quá trình hoạt hóa, khi làm sạch nhựa đường và các chất chứa cacbon khác
trong khoảng trống giữa các tinh thể. Quá trình hoạt hóa làm tăng thể tích và làm
rộng đường kính lỗ. Cấu trúc lỗ và sự phân bố cấu trúc lỗ của chúng được quyết
định chủ yếu từ bản chất nguyên liệu ban đầu và phương pháp than hóa.
Than hoạt tính có bề mặt riêng phát triển và thường được đặc trưng bằng
cấu trúc nhiều đường mao dẫn phân tán, tạo nên từ các lỗ với kích thước và hình
dạng khác nhau. Người ta khó có thể đưa ra thông tin chính xác về hình dạng của
lỗ xốp. Có vài phương pháp được sử dụng để xác định hình dạng của lỗ, các
phương pháp này đã xác định than thường có dạng mao dẫn mở cả hai đầu hoặc
có một đầu kín, thông thường có dạng rãnh, dạng chữ V và nhiều dạng khác.
Than hoạt tính có lỗ xốp từ 1 nm đến vài nghìn nm. Dubinin đề xuất một
cách phân loại lỗ xốp đã được IUPAC chấp nhận. Sự phân loại này dựa trên
chiều rộng của chúng, thể hiện khoảng cách giữa các thành của một lỗ xốp hình
rãnh hoặc bán kính của lỗ dạng ống. Các lỗ được chia thành 3 nhóm, lỗ nhỏ, lỗ
trung và lỗ lớn.
Lỗ nhỏ (Micropores) có kích thước cỡ phân tử, bán kính hiệu dụng nhỏ
hơn 2nm. Sự hấp phụ trong các lỗ này xảy ra theo cơ chế lấp đầy thể tích lỗ, và
không xảy ra sự ngưng tụ mao quản. Năng lượng hấp phụ trong các lỗ này lớn
hơn rất nhiều so với lỗ trung hay bề mặt không xốp vì sự nhân đôi của lực hấp
phụ từ các vách đối diện nhau của vi lỗ. Nói chung chúng có thể tích lỗ từ 0,15 –
0,70cm3/g. Diện tích bề mặt riêng của lỗ nhỏ chiếm 95% tổng diện tích bề mặt
của than hoạt tính. Dubinin còn đề xuất thêm rằng cấu trúc vi lỗ có thể chia nhỏ
thành 2 cấu trúc vi lỗ bao gồm các vi lỗ đặc trưng với bán kính hiệu dụng nhỏ
hơn 0,6 – 0,7nm và siêu vi lỗ với bán kính hiệu dụng từ 0,7 đến 1,6nm. Cấu trúc
18
vi lỗ của than hoạt tính được xác định rõ hơn bằng hấp phụ khí, hơi và công
nghệ tia X.
Lỗ trung (Mesopore) hay còn gọi là lỗ vận chuyển có bán kính hiệu dụng
từ 2 đến 50 nm, thể tích của chúng thường từ 0,1 đến 0,2cm 3/g. Diện tích bề mặt
của lỗ này chiếm không quá 5% tổng diện tích bề mặt của than. Tuy nhiên, bằng
phương pháp đặc biệt người ta có thể tạo ra than hoạt tính có lỗ trung lớn hơn,
thể tích của lỗ trung đạt được từ 0,2 – 0,65cm3/g và diện tích bề mặt của chúng
đạt 200m2/g. Các lỗ này đặc trưng bằng sự ngưng tụ mao quản của chất hấp
phụ với sự tạo thành mặt khum của chất lỏng bị hấp phụ.
Lỗ lớn (Macropore) không có nhiều ý nghĩa trong quá trình hấp phụ của
than hoạt tính bởi vì chúng có diện tích bề mặt rất nhỏ và không vượt quá
0,5m2/g. Chúng có bán kính hiệu dụng lớn hơn 50nm và thường trong khoảng
500 2000nm với thể tích lỗ từ 0,2 – 0,4cm3/g. Chúng hoạt động như một kênh
cho chất bị hấp phụ vào trong lỗ nhỏ và lỗ trung. Các lỗ lớn không được lấp đầy
bằng sự ngưng tụ mao quản.
Do đó, cấu trúc lỗ xốp của than hoạt tính có 3 loại bao gồm lỗ nhỏ, lỗ
trung và lỗ lớn. Mỗi nhóm này thể hiện một vai trò nhất định trong quá trình hấp
phụ.Lỗ nhỏ chiếm 1 diện tích bề mặt và thể tích lớn do đó đóng góp lớn vào khả
năng hấp phụ của than hoạt tính, miễn là kích thước phân tử của chất bị hấp phụ
không quá lớn để đi vào lỗ nhỏ. Lỗ nhỏ được lấp đầy ở áp suất hơi tương đối
thấp trước khi bắt đầu ngưng tụ mao quản. Mặt khác, lỗ trung được lấp đầy ở
áp suất hơi tương đối cao với sự xảy ra ngưng tụ mao quản. Lỗ lớn có thể cho
phân tử chất bị hấp phụ di chuyển nhanh tới lỗ nhỏ hơn
Nhóm cacbon – oxi bề mặt là những nhóm quan trọng nhất ảnh hưởng
đến đặc trưng bề mặt như tính ưa nước, độ phân cực, tính acid, và đặc điểm hóa
lý như khả năng xúc tác, dẫn điện và khả năng phản ứng của các vật liệu này[6],
[15], [19]. Thực tế, oxi đã kết hợp thường được biết là yếu tố làm cho than trở
nên hữu ích và hiệu quả trong một số lĩnh vực ứng dụng nhất định. Ví dụ, oxi có
tác động quan trọng đến khả năng hấp phụ nước và các khí, hơi có cực khác, ảnh
hưởng đến sự hấp phụ chất điện phân, lên than sử dụng làm chất lọc trong cao
su và nhựa, lên độ nhớt của graphit cũng như lên tính chất của nó khi là một
thành phần trong phản ứng hạt nhân. Trong trường hợp của sợi cacbon, nhóm bề
mặt quyết định khả năng bám dính của nó vào chất nền là nhựa và sau đó là đặc
19
điểm vật liệu composite. Theo Kipling, các nguyên tử oxy và hydro là những
thành phần cần thiết của than hoạt tính với đặc điểm hấp phụ tốt, và bề mặt
của vật liệu này được nghiên cứu như một bề mặt hydrocacbon biến đổi ở một
sốtính chất bằng nguyên tử oxi.
Than hoạt tính cũng có thể được oxi hóa bằng nhiệt trong không khí, CO 2
hoặc oxi. Bản chất và số lượng nhóm oxi cacbon bề mặt tạo thành từ các sự
oxi hóa khác nhau phụ thuộc vào bản chất bề mặt than và cách tạo ra nó, diện
tích bề mặt của nó, bản chất chất oxi hóa và nhiệt độ quá trình. Phản ứng của
than hoạt tính với oxi ở nhiệt độ dưới 4000C chủ yếu tạo ra sự hấp phụ hóa học
oxi và sự tạo thành hợp chất cacbon – oxi bề mặt, khi ở nhiệt độ trên 400 0C, sự
phân hủy hợp chất bề mặt và khí hóa cacbon là các phản ứng trội hơn hẳn [19].
C + O2→ C(O) (<4000C)
Sự tạo thành hợp chất bề mặt
C + O2→ CO + CO2 (>4000C)
Sự khí hóa
C(O) → CO + CO2 (>4000C)
Sự phân hủy hợp chất bề mặt
Trong trường hợp sự oxi hóa xảy ra trong dung dịch, phản ứng chính là sự
tạo thành hợp chất bề mặt, mặc dù một vài quá trình khí hóa cũng có thể xảy ra
phụ thuộc độ mạnh của chất oxi hóa và sự khắc nghiệt của điều kiện thí
nghiệm. Sự tạo thành hợp chất cacbon – oxi bề mặt sử dụng than khác nhau.
Than hoạt tính và muội than sử dụng nhiều cách oxi hóa trong pha khí và pha
lỏng đã được nghiên cứu nhiều hơn. Đối những than có đặc trưng axit – bazơ,
nhiều nhà khoa học đã bỏ công sức nghiên cứu để góp phần tìm hiểu nguyên
nhân và cơ chế than có bản chất axit hay bazơ. Một vài thuyết, ví dụ thuyết điện
hóa học của Burstein và Frumkin,, thuyết oxit của Shilov và trường của ông,
thuyết pyron của Voll và Boehm đã được đưa ra để giải thích cho đặc trưng axit
– bazơ của than. Các thuyết này và các nghiên cứu liên quan đã được xem xét lại
một cách kỹ lưỡng và được xem xét trong một vài bài báo tổng kết. Bây giờ
người ta đã chấp nhận rằng đặc trưng axit – bazơ của than là kết quả của quá
trình oxi hóa bề mặt, phụ thuộc vào cách tạo thành và nhiệt độ của quá trình oxi
hóa. Dạng nhóm cacbon – oxi bề mặt (axit, bazơ, trung hòa) đã được xác định,
các nhóm axit bề mặt là rất đặc trưng và được tạo thành khi than được xử lý với
oxi ở nhiệt độ trên 4000C hoặc bằng phản ứng với dung dịch oxi hóa ở nhiệt độ
phòng.
20
Các nhóm chức này ít bền nhiệt và phân hủy khi xử lý nhiệt trong chân
không hoặc trong môi trường khí trơ ở nhiệt độ từ 350 0C đến 7500C và giải
phóng CO2. Các nhóm chức axit bề mặt này làm cho bề mặt than ưa nước và
phân cực, các nhóm này là caboxylic, lacton, phenol. Nhóm oxi bazơ trên bề mặt ít
đặc trưng hơn và được tạo ra khi một bề mặt than không còn bất kỳ nhóm oxy
bề mặt nào khi xử lý nhiệt trong chân không hoặc trong môi trường trơ ở nhiệt
độ 10000C sau đó làm nguội ở nhiệt độ phòng, được tiếp xúc với khí oxi. Garten
và Weiss đề xuất cấu trúc dạng pyron cho nhóm chức bazo, nhóm chức này cũng
được biết như cấu trúc chromene. Cấu trúc này có vòng chứa oxy với nhóm hoạt
hóa CH2, CHR. Theo Voll và Boehm, các nguyên tử oxy trong cấu trúc kiểu
pyron được định vị trong hai vòng khác nhau của lớp graphit. Tuy nhiên, cấu trúc
của các nhóm oxi bazơ trên bề mặt cũng đang còn tranh cãi. Các nhóm oxy trung
hòa trên bề mặt được tạo ra do quá trình hấp phụ hóa học không thuận nghịch
oxy ở các tâm không bão hòa dạng etylen có mặt trên bề mặt than. Các hợp chất
bề mặt bị phân hủy thành CO2 khi xử lý nhiệt. Các nhóm trung hòa trên bề mặt
bền hơn so với các nhóm axit và bắt đầu phân hủy trong khoảng nhiệt độ 5000C–
6000C và bị loại bỏ hoàn toàn ở 9500C. Một dạng của bề mặt than hoạt tính đã
được oxi hóa được công bố bởi Tarkovskya ở hình dưới đây.
Hình 1.2. Bề mặt than hoạt tính sau khi oxi hóa
Nhiều nỗ lực của nhiều nhà nghiên cứu để xác định và định lượng các
nhóm oxi cacbon bề mặt sử dụng các phương pháp vật lý, hóa học và hóa lý để
giải hấp lớp oxit, trung hòa với kiềm, chuẩn độ điện thế, phương pháp phổ như
phố IR, Xray. Các nghiên cứu này đã chỉ ra sự tồn tại của vài nhóm chức, quan
21
trọng hơn cả là các nhóm carboxyl, lacton, phenol, quinin và hydroquinon. Tuy
nhiên, các phương pháp này không đưa ra các kết quả có thể so sánh với nhau và
nhiều khi không giải thích được toàn bộ lượng oxi đã kết hợp.
1.3.2. Ảnh hưởng của nhóm bề mặt cacbonoxi lên tính chất hấp phụ
Người ta biết rằng than hoạt tính chứa một lượng đáng kể oxi và hidro
được hấp phụ hóa học, chúng có ở dạng phức bề mặt cacbonoxi. Một vài giả
thuyết về cấu trúc được đưa ra cho những chất phức bề mặt này. Dựa vào các
phương pháp vật lý, hóa học và hóa lý, sự tồn tại của các nhóm chức như
cacbonyl, cacboxyl, lacton, quinon, hydroquinon và phenol đã được đưa ra. Tuy
nhiên, các phương pháp đánh giá khác nhau không cung cấp các kết quả có thể so
sánh được, thậm chí quan trọng hơn là toàn bộ lượng oxi liên kết không được
giải thích. Vì thế, vấn đề này không được làm sáng tỏ một cách phù hợp, cũng
như các cấu trúc, cơ chế khác nhau. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã công bố từ các
phòng thí nghiệm và các nơi khác đã chỉ ra rằng hầu như chắc chắn các nhóm hay
phức bề mặt xác định có thể tạo ra CO 2 và tương tự có sự tồn tại bề mặt phân
biệt có thểtạo ra CO trong quá trình xử lý nhiệt trong chân không hoặc môi
trường trơ [6].
Bất kể là các oxit bề mặt này có bản chất và cấu trúc chính xác thì đều có
một chút nghi vấn rằng oxi hấp phụ hóa học có mặt chủ yếu tại cạnh và góc
phụ, nên những nhóm oxi này ảnh hưởng nhiều tới các đặc trưng bề mặt và tính
chất bề mặt của than hoạt tính.
Tính axit bề mặt của than hoạt tính và muội than là đối tượng ban đầu của
một số lượng lớn các nghiên cứu do tầm quan trọng của nó trong việc xác định
một vài phản ứng phân hủy, phản ứng xúc tác, và các tính chất hấp phụ của
những vật liệu này. Trong trường hợp của muội than, Wiegand đã sử dụng tính
axit bề mặt để phân loại các họ của muội than chúng có tính axit mạnh hoặc có
tính chất kiềm hoặc axit yếu. Tính axit bề mặt của than được đo bởi khả năng
hấp phụ bazơ của nó (hoặc sự trung hòa bazơ), khả năng này được tính bằng
lượng cation kiềm đã trao đổi cho các ion hidro được cung cấp bởi các oxit axit
trên bề mặt than. Tính axit bề mặt là do cấu trúc hóa học của cacbon oxi bề
mặt đã được công nhận như cacboxyl hay lacton. Các cấu trúc hóa học bề mặt
này tạo ra CO2trong quá trình xử lý nhiệt trong chân không hay trong môi trường
trơ ở nhiệt độ 3007500C. Khả năng trung hòa bazơ của than giảm khi hút chân
22
không hoặc loại khí bằng cách tăng nhiệt độ một cách từ từ, và giảm tại bất kỳ
nhiệt độ nào, tương ứng với lượng CO 2 được tạo ra tại nhiệt độ đó. Hơn nữa,
khi nhiệt độ vượt cao quá, khả năng trung hòa bazơ của than giảm, cũng ở nhiệt
độ cao có sự giải phóng CO2 từ bề mặt than. Do đó, tính axit bề mặt của than
phụ thuộc vào sự có mặt của nhóm hóa học bề mặt cacbonoxi.
Cacbon nguyên chất là chất kị nước.Tính kị nước càng giảm thì tính ưa
nước của than càng tăng, do lượng oxi liên kết với cacbon bề mặt tăng. Từ lâu ta
đã biết rằng muội than với hàm lượng oxi cao có thể dễ dàng bị làm ướt bởi
nước. Vì vậy, oxi hóa nhiệt độ thấp muội than thường được sử dụng để làm
tăng đặc điểm ưa nước của chúng. Tương tự, các sợi cacbon hiệu năng cao
thường kị nước được oxi hóa một cách thích hợp để tạo thành nhóm chức bề
mặt cacbon oxi để làm tăng tính ưa nước của chúng, chúng lần lượt cải thiện
sự bám dính với các vật liệu nền trong composite có độ bền cao. Fitzer đã công
bố mối quan hệ trực tiếp giữa số lượng nhóm axit trên bề mặt sợi cacbon được
tạo bởi sự oxi hóa và độ bền của composit trong trường hợp của nhựa phenol
cũng như nhựa epoxi làm vật liệu nền. Ảnh hưởng của nhóm oxi đưa lên bề mặt
sợi cacbon bằng quá trình oxi hóa trong không khí tại 700 0C và các tính chất
composit đã được nghiên cứu. Trong trường hợp than hoạt tính, sự có mặt của
nhóm axit bề mặt làm cho bề mặt than ưa nước và phân cực, theo đó cải tiến tính
chất hấp phụ khí và hơi phân cực.
Sự hấp phụ những hợp chất hữu cơ và vô cơ từ các dung dịch của chúng
cũng cho thấy khả năng hấp phụ của than bị ảnh hưởng bởi việc có mặt của các
nhóm oxi cacbon. Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu sự hấp phụ của một vài
thuốc nhuộm cation và anion trên than chì cũng như các loại muội than khác nhau,
đã thấy rằng sự hấp phụ đó, mặc dù được xác định bởi diện tích mặt của
cacbon, vẫn bị ảnh hưởng mạnh bởi sự hiện diện của các oxit có tính axit trên bề
mặt. Khả năng hấp phụ những chất nhuộm cation tăng cùng với sự tăng số
lượng của nhóm oxi bề mặt trong quá trình oxi hóa than và giảm khi những oxit
bề mặt này bị loại bỏ trong quá trình giải hấp bằng nhiệt trong chân không.
Trong trường hợp của những thuốc nhuộm anion, sự hấp phụ giảm theo mức độ
oxi hóa, độ giảm này tùy thuộc vào sự tăng về số lượng của các nhóm axit bề
mặt. Goyal và những cộng sự cũng đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của các nhóm
oxi cacbon tới khả năng hấp phụ một vài ion kim loại như Cr(III), Cr(VI),
23
Co(II), Cu(II), và Ni(II) trên một vài cacbon hoạt tính có sự khác nhau về diện
tích bề mặt và khác nhau về số nhóm chức oxi cacbon trên bề mặt. Những nhà
khoa học này đã tìm ra rằng sự hấp phụ này không chỉ liên quan đến diện tích bề
mặt, mà còn phụ thuộc vào số lượng của các nhóm oxi và có thể là một vài nhóm
oxit axit khác. Sự hấp phụ cation tăng đối với trường hợp than đã thực hiện quá
trình oxi hóa và giảm trong quá trình loại khí, kết quả này được giải thích là quá
trình oxi hóa tạo thành các nhóm axit bề mặt mà sự ion hóa trong nước có thể tạo
ra ion H+, chuyển trực tiếp vào pha lỏng, để lại bề mặt than có các tâm tích điện,
ở đó sự hấp phụ các cation có thể xảy ra. Khi các tâm tích điện âm được loại trừ
bằng loại khí, thì bề mặt than sẽ giảm xu hướng hấp phụ cation.
Sự hấp phụ của những hợp chất hữu cơ như phenol và p nitrophenol
cũng bị ảnh hưởng bởi những nhóm oxi cacbon này.Mặc dù sự có mặt của
những nhóm oxi axit làm giảm đi sự hấp phụ phenol, nhưng sự có mặt của
những nhóm quinon lại làm tăng cường khả năng hấp phụ.
1.3.3. Biến tính bề mặt than hoạt tính
Đặc điểm quan trọng và thú vị nhất của than hoạt tính là bề mặt có thể
biến tính thích hợp để thay đổi đặc điểm hấp phụ và làm cho than trở nên thích
hợp hơn trong các ứng dụng đặc biệt. Sự biến tính bề mặt than hoạt tính có thể
được thực hiện bằng sự tạo thành các dạng nhóm chức bề mặt khác nhau. Các
nhóm chức này bao gồm các nhóm chức oxi – cacbon được tạo thành khi oxy hóa
bề mặt than với các khí hoặc các dung dịch oxi hóa. Nhóm chức bề mặt cacbon –
hydro tạo thành bằng quá trình xử lý than hoạt tính với khí hydro ở nhiệt độ cao.
Nhóm chức cacbon – lưu huỳnh bằng quá trình xử lý than hoạt tính với lưu
huỳnh nguyên tố, CS2, H2S, SO2. Cacbon – nitơ trong quá trình xử lý than hoạt
tính với amoniac. Cacbon – halogen được tạo thành bằng quá trình xử lý than
hoạt tính với halogen trong pha khí hoặc dung dịch. Vì các nhóm chức này được
liên kết và được giữ ở cạnh và góc của lớp vòng thơm, và bởi vì thành phần các
cạnh và góc này chủ yếu là bề mặt hấp phụ, nên người ta hi vọng khi biến tính
than hoạt tính sẽ thay đổi đặc trưng hấp phụ và tương tác hấp phụ của các than
hoạt tính này. Thêm vào đó, sự biến tính bề mặt than cũng được thực hiện bằng
quá trình khử khí và bằng việc mang kim loại lên bề mặt. Trong phần này chủ
yếu đề cập đến ảnh hưởng của phương pháp biến tính bằng các tác nhân oxi hóa
khác nhau lên đặc điểm chất hấp phụ của than hoạt tính.
24
1.3.3.1 Biến tính bề mặt than hoạt tính bằng tác nhân oxi hóa
Bản thân cacbon nguyên chất là chất kị nước, không phân cực. Tính kị
nước càng giảm thì tính ưa nước của than càng tăng, do lượng oxi liên kết với
cacbon bề mặt tăng. Từ lâu ta đã biết rằng muội than với hàm lượng oxi cao có
thể dễ dàng bị làm ướt bởi nước. Vì vậy, oxi hóa nhiệt độ thấp muội than
thường được sử dụng để làm tăng đặc điểm ưa nước của chúng. Tương tự, các
sợi cacbon hiệu năng cao thường kị nước được oxi hóa một cách thích hợp để
tạo thành nhóm chức bề mặt cacbonoxi để làm tăng tính ưa nước của chúng,
chúng lần lượt cải thiện sự bám dính với các vật liệu nền trong composite có độ
bền cao. Fitzer đã công bố mối quan hệ trực tiếp giữa số lượng nhóm axit trên bề
mặt sợi cacbon được tạo bởi sự oxi hóa và độ bền của composit trong trường
hợp của nhựa phenola cũng như nhựa epoxi làm vật liệu nền. Ảnh hưởng của
nhóm oxi đưa lên bề mặt sợi cacbon bằng quá trình oxi hóa trong không khí tại
7000C và các tính chất composit đã được nghiên cứu. Trong trường hợp than hoạt
tính, sự có mặt của nhóm axit bề mặt làm cho bề mặt than ưa nước và phân cực,
theo đó cải tiến tính chất hấp phụ khí và hơi phân cực.
Moreo và các cộng sự [24] đã tiến hành biến tính một loạt than hoạt tính
với các tác nhân oxi hóa khác nhau như H2O2, (NH4)2S2O8, và HNO3 nhằm tạo ra
các nhóm chức bề mặt cacbon – oxi khác nhau. Những thay đổi về về bề mặt hóa
học của than hoạt tính sau khi bị oxi hóa đã được nghiên cứu bằng các công nghệ
tinh vi như TPD, XPS, FTIR để hiểu biết chính xác hơn về các nhóm bề mặt này.
Kết quả cho thấy rằng khi oxi hóa bằng (NH4)2S2O8 cho số lượng nhóm chức bề
mặt cacbon – oxi là thấp nhất.Tuy nhiên quá trình oxi hóa này lại mang đến nhóm
chức có tính axit mạnh nhất. Điều này có thể được giải thích rằng (NH4)2S2O8 đã
cố định những nhóm cacboxyl gắn với các nhóm khác gần nhau hơn, chẳng hạn
như cacbonyl và hydroxyl, làm tăng tính axit của chúng [20].
Edwin Vasu và các cộng sự [12] đem biến tính một than hoạt tính được
chế biến từ vỏ dừa oxi hóa với các tác nhân oxi hóa khác nhau, cụ thể là,
hydrogen peroxide, amoni persulphate và axit nitric. Cấu trúc bề mặt của than
hoạt tính chưa biến tính và sau khi biến tính được xác định bởi các phương pháp
Boehm, chuẩn độ thế năng phổ, hồng ngoại IR. Các vật liệu được biến tính
được đem đi thử nghiệm khả năng loại bỏ Ni (II), các ion từ dung dịch nước của
25