ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Phan Lạc Dũng
NGHIÊN CỨU CÁC ĐẶC TÍNH SINH HỌC VÀ TIỀM NĂNG ỨNG
DỤNG CỦA CHỦNG VI KHUẨN BACILLUS
AMYLOLIQUEFACIENS
SUBSP. PLANTARUM SP 1901 PHÂN LẬP TẠI RỪNG QUỐC GIA
HOÀNG LIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội Năm 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Phan Lạc Dũng
NGHIÊN CỨU CÁC ĐẶC TÍNH SINH HỌC VÀ TIỀM NĂNG ỨNG
DỤNG CỦA CHỦNG VI KHUẨN BACILLUS
AMYLOLIQUEFACIENS
SUBSP. PLANTARUM SP 1901 PHÂN LẬP TẠI RỪNG QUỐC GIA
HOÀNG LIÊN
Chuyên ngành: Vi sinh vật học
Mã số: 60 42 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRỊNH THÀNH TRUNG
Hà Nội Năm 2013
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Trịnh Thành Trung,
người đã dẫn dắt, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
cao học này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ, anh chị đang làm việc tại Viện Vi
sinh vật và Công nghệ Sinh học Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong
quá trình hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Vi sinh vật học
nói riêng và Khoa Sinh học nói chung đã dạy dỗ tôi trong quá trình học tập.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên,
giúp đỡ, hỗ trợ để tôi có thể hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Học viên
Phan Lạc Dũng
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Khả năng sinh trưởng của chủng SP 1901 ở các nhiệt độ khác
nhau.
33
Bảng 3.2. Khả năng đồng hoá các loại
đường………………………………….
34
Bảng 3.3. Khả năng lên men các loại
đường…………………………………...
35
Bảng 3.4. Khả năng sinh enzyme ngoại bào theo phương pháp sử dụng kit
API ZYM………………………………….……………………………………
37
Bảng 3.5. Tỷ lệ giữa hoạt độ xylanase (U/ml) và nồng độ protein (mg/ml)
của chủng SP 1901………………………………….
………………………………
40
Bảng 3.6. Hoạt độ của xylanase sau các bước tinh
sạch………………………
46
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Cấu trúc hóa học của xylan và các vị trí tấn công của hệ thống
enzyme xylanolytic………………………………….…………………………
8
Hình 1.2. Cấu trúc hóa học của amylose và amylopectin…………………….
11
Hình 1.3. Phản ứng thủy phân liên kết peptide của chuỗi
polypeptide………
Hình
2.1.
13
Đồ
thị
đường
chuẩn
theo
thang
BSA……………………………….
21
Hình 2.2. Đồ thị đường chuẩn theo thang xylose……………………………..
22
Hình 2.3. Đồ thị đường chuẩn theo thang glucose…………………………….
23
Hình 2.4.
24
Đồ thị đường chuẩn theo thang L
tyrosine…………………………
Hình 3.1. Cây phát sinh chủng loại của 37 chủng vi khuẩn Bacillus phân
lập tại rừng Quốc gia Hoàng Liên và 9 loài thuộc nhóm vi khuẩn B. subtilis
dựa trên phân tích trình tự 16S rDNA………………………………….
…………..
28
Hình 3.2. Cây phát sinh chủng loại của các loài vi khuẩn thuộc nhóm B.
subtilis………………………………….……………………………………..
30
Hình 3.3. Hình thái khuẩn lạc chủng SP 1901 (a), hình thái tế bào khi
nhuộm gram (b) và soi nổi (c) ………………………………….
…………………….
31
Hình 3.4. pH sinh trưởng tối ưu (a). Khả năng chịu muối NaCl (b). Khả
năng chịu dịch dạ dày (c). Khả năng chịu muối mật (d)
……………………………
31
Hình 3.5. Khả năng sinh chất kích thích sinh trưởng IAA của chủng SP
1901 sau 24, 48 và 72 giờ………………………………….
………………………
32
Hình 3.6. Khả năng sinh IAA làm cho dung dịch chuyển từ màu vàng sang
đỏ (a). Ảnh hưởng của chủng SP 1901 lên khả năng sinh trưởng của cây
ngô sau 10 ngày trồng (b) ………………………………….
…………………………
32
Hình 3.7. Vòng phân giải cơ chất của các enzyme ngoại bào. Amylase (a).
Cellulase (b). Phytase (c). Protease (d). Xylanase (e) ………………………
36
Hình 3.8. Phản ứng thử nghiệm khả năng sinh enzyme trên thanh thử API
ZYM………………………………….………………………………………
37
Hình 3.9. Khả năng sinh kháng sinh của chủng SP 1901 theo phương pháp
khuếch tán trên thạch. Đĩa thạch cấy sẵn vi khuẩn E. coli (a). Vi khuẩn
Shigella sp. (b). Vi khuẩn S. aureus (c) ………………………………………
38
Hình 3.10. Khả năng sinh trưởng trên các môi trường khác nhau (a, b) và
hoạt độ xylanase ngoại bào (c, d) của chủng SP 1901 khi nuôi cấy trên 10
loại môi trường ở các giờ khác nhau………………………………….
……………….
39
Hình 3.11. Hoạt độ xylanase (U/ml) và nồng độ protein (mg/ml) khi nuôi 39
cấy trên môi trường có bổ sung CMC và glucose và môi trường NA dịch thể
tại
các
giờ
khác
nhau………………………………….
…………………………
Hình 3.12. Hoạt tính amylase và protease của chủng SP 1901 trên môi
trường có bổ sung CMC và glucose và môi trường NA dịch
thể……………………
40
Hình 3.13. Hoạt độ xylanase và nồng độ protein ở các phân đoạn trong sắc
ký trao đổi ion gel CM Sepharose………………………………….
……………
41
Hình 3.14. Hoạt độ amylase và nồng độ protein ở các phân đoạn trong sắc
ký trao đổi ion gel DEAE Sepharose………………………………….
…………
42
Hình 3.15. Hoạt độ protease và nồng độ protein ở các phân đoạn trong sắc
ký trao đổi ion gel CM Sepharose………………………………….
……………
42
Hình 3.16. Hoạt độ xylanase ở các phân đoạn trong sắc ký lọc gel…………
43
Hình 3.17. Hoạt độ amylase ở các phân đoạn trong sắc ký lọc gel…………
44
Hình 3.18. Hoạt độ protease ở các phân đoạn trong sắc ký lọc gel…………
44
Hình 3.19. Điện di SDSPAGE 2 mẫu xyl 29 và xyl 36……………………
45
Hình 3.20. Nhiệt độ hoạt động tối ưu của xyl 29, xyl 36, amylase và
protease
từ
chủng
SP
1901……………………………………………………………
46
Hình 3.21. Khả năng bền nhiệt của xyl 29, xyl 36, amylase và protease từ
chủng SP 1901………………………………………………………………
47
Hình 3.22. pH hoạt động tối ưu của xyl 29, xyl 36, amylase và protease từ
chủng SP 1901………………………………………………………………
48
Hình 3.23. Khả năng bền axít của xyl 29, xyl 36, amylase và protease từ
chủng SP 1901………………………………………………………………
49
Hình 3.24. Khả năng bền ion kim loại và hóa chất của xyl 29, xyl 36,
amylase
và
protease
từ
1901…………………………………………………
chủng
SP
50
Hình 3.25. Bản chạy sắc ký lớp mỏng để phân tích sản phẩm thủy phân từ
cơ
chất
xylan
bởi
xylanase
của
1901……………………………………
CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
BSA
Bovine serum albumin
CMC
Carboxymethyl cellulose
DNA
Deoxyribonucleic axít
DNS
Dinitrosalicylic
IAA
Indole3acetic axít
PAGE
Polyacrylamide gel electrophoresis
PCR
Polymerase chain reaction
RNA
Ribonucleic axít
SDS
Sodium dodecyl sulfate
chủng
SP
52
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, việc ứng dụng vi sinh vật vào trong đời sống và sản xuất đã trở
nên rất phổ biến. Con người đã và đang khai thác triệt để nguồn tài nguyên vi
sinh vật trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong y học, nhờ có vi sinh vật mà con
người đã tổng hợp thành công nhiều loại chế phẩm như vacxin, kháng sinh,
hormone, vitamin giúp phòng ngừa và điều trị nhiều loại bệnh cho con người.
Trong nông nghiệp, nhiều chế phẩm sinh học có nguồn gốc từ vi sinh vật đã
được sản xuất để diệt trừ sâu bệnh hại cây và làm phân bón vi sinh. Trong công
nghiệp thực phẩm, con người đã ứng dụng vi sinh vật để sản xuất ra các loại
protein, enzyme, chế phẩm probiotic và các loại thực phẩm lên men truyền thống.
Ngoài ra, vi sinh vật còn được ứng dụng vào trong xử lý rác thải hữu cơ và nước
thải trong sản xuất công nghiệp. Với khả năng chuyển hóa mạnh mẽ và sinh sản
nhanh chóng, vi sinh vật đóng một vai trò to lớn trong hệ sinh thái tự nhiên và
trong các hoạt động cải thiện chất lượng cuộc sống của con người.
Bacillus là một trong những vi sinh vật đầu tiên được phát hiện và mô tả
trong giai đoạn đầu của tiến trình phát triển ngành vi sinh vật học ở cuối thế kỷ
19. Đây là một chi lớn với gần 200 loài vi khuẩn hiếu khí, hình que và có khả
năng sinh nội bào tử. Chúng phân bố rộng rãi trong các hệ sinh thái tự nhiên, từ
trên cạn đến dưới nước, từ nước ngọt đến nước mặn và từ ven bờ đến đáy các
Đại Dương. Ngoài các loài vi khuẩn gây bệnh cho con người như B. anthracis và
B. cereus, nhiều loài vi khuẩn thuộc chi Bacillus đặc biệt là nhóm B. subtilis có
tính ứng dụng cao trong nhiều lĩnh vực như y dược học, nông nghiệp, công
nghiệp thực phẩm và xử lý môi trường. Do đó, các loài thuộc chi Bacillus đã và
đang ngày càng trở thành những vi sinh vật quan trọng hàng đầu về mặt ứng
dụng.
Nhằm góp phần tìm hiểu thêm kiến thức về chi Bacillus nói chung và ứng
dụng của các loài thuộc nhóm B. subtilis nói riêng, chúng tôi tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu các đặc tính sinh học và tiềm năng ứng dụng của chủng
vi khuẩn Bacillus amyloliquefaciens subsp. plantarum SP 1901 phân lập tại
rừng Quốc gia Hoàng Liên” với 4 mục tiêu chính sau:
(i)
Tuyển chọn các chủng vi khuẩn thuộc nhóm B. subtilis phân lập tại rừng
Quốc gia Hoàng Liên.
9
(ii)
Sử dụng kỹ thuật phân tích trình tự đa gen để phân loại chính xác các
chủng vi khuẩn nghiên cứu đến cấp độ loài và dưới loài.
(iii)
Tìm hiểu các đặc tính sinh học quý của chủng vi khuẩn được lựa chọn.
(iv)
Tách chiết, tinh sạch và đánh giá sơ bộ đặc tính các enzyme ngoại của
chủng vi khuẩn nghiên cứu.
10
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.
VI KHUẨN BACILLUS AMYLOLIQUEFACIENS
1.1.1. Tổng quan về Bacillus amyloliquefaciens
Bacillus amyloliquefaciens là một loài vi khuẩn thuộc nhóm Bacillus
subtilis [45]. B. subtilis được Christion Erenberg phát hiện lần đầu tiên vào năm
1835, tên của loài vi khuẩn này lúc bấy giờ là “Vibrio subtilis”. Năm 1872, nhà
sinh học người Đức Ferdinand Cohn đã đặt tên cho loài vi khuẩn này là Bacillus
subtilis. Trong thế chiến thứ hai, tổ chức y học Nazi (Đức) đã dùng B. subtilis để
phòng bệnh lị cho các binh lính chiến đấu ở Bắc Phi. Từ đó đến nay, B. subtilis
đã được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi trên Thế giới. Thuật ngữ “Subtilis
therapy” (điều trị bằng subtilis) ra đời từ đó và B. subtilis ngày càng được sử
dụng rộng rãi để phòng ngừa và điều trị các loại bệnh về rối loạn đường tiêu
hóa, các chứng viêm ruột, viêm đại tràng và tiêu chảy. Hiện nay, B. subtilis đã
được chứng minh có tiềm năng to lớn trong nhiều lĩnh như chăn nuôi, công
nghiệp, xử lý môi trường [8].
Vi khuẩn B. subtilis có mặt ở hầu hết các loại môi trường tự nhiên. Phần
lớn cư trú trong đất, rơm rạ và cỏ khô nên được gọi là “trực khuẩn cỏ khô”.
Ngoài ra, chúng còn có mặt trong các nguyên liệu sản xuất như bột mì (trong bột
mì B. subtilis chiếm 7579% vi khuẩn tạo bào tử), bột gạo và trong các thực
phẩm như mắm, tương và chao [12].
B. subtilis có vai trò to lớn trong việc giữ ổn định hệ vi sinh vật đường
ruột bằng cơ chế cạnh tranh sinh tồn và khả năng gây ức chế các vi khuẩn gây
bệnh khác do tác dụng của những sản phẩm ngoại bào của nó . Công trình nghiên
cứu của Work và cộng sự năm 1959 đã cho thấy B. subtilis có hệ thống enzyme
tương đối hoàn chỉnh, có khả năng thủy phân carbohydrate và protein. Ngoài ra,
B. subtilis còn có khả năng tổng hợp một số chất kháng sinh như bacitracin,
11
bacilysin, bacillomicin, bacillopectin, mycobacillin, subtilin và prolimicin. Những
chất này có tác dụng ức chế sinh trưởng hoặc tiêu diệt một số vi sinh vật khác.
Chúng tác dụng lên cả vi khuẩn gram âm, gram dương và nấm gây bệnh [9].
Nhóm B. subtilis gồm ít nhất 9 loài vi khuẩn là B. amyloliquefaciens, B.
atrophaeus, B. axarquiensis, B. malacitensis, B. mojavensis, B. sonorensis, B.
tequilensis, B. vallismortis và B. velezensis. Kết quả phân tích trình tự đoạn gen
16S rRNA cho thấy mức độ tương đồng giữa chúng rất cao (> 99%). Bên cạnh
đó, phương pháp phân loại truyền thống dựa trên hình dạng khuẩn lạc, hình thái
tế bào và bào tử cũng như các đặc điểm sinh hóa không có khả năng phân tách
các loài này. Vì vậy, 9 loài vi khuẩn trên thường được gọi theo một thuật ngữ
chung là nhóm vi khuẩn B. subtilis [45].
Gần đây, bên cạnh việc phân tích trình tự gen 16S rRNA các nhà khoa học
đã sử dụng phương pháp phân tích trình tự đa gen trong việc phân loại vi khuẩn
đến cấp độ loài và dưới loài [25]. Đặc biệt trong nhóm B. subtilis, bằng phương
pháp phân tích trình tự đa gen và xây dựng cây phát sinh chủng loại, nhiều loài
trong nhóm này đã được phân tách thành các loài phụ như B. subtilis được phân
thành B. subtilis subsp. subtilis, B. subtilis subsp. spizizenii và B. subtilis subsp.
inaquosorum; B. amyloliquefaciens được phân thành B. amyloliquefaciens subsp.
amyloliquefaciens và B. amyloliquefaciens subsp. plantarum [42].
Phân loại các loài trong nhóm B. subtilis nói chung và B. amyloliquefaciens
nói riêng đòi hỏi phải có sự tổ hợp của nhiều phương pháp phân loại hiện đại.
Hiện nay ở Việt Nam hầu như chưa có bất cứ một nghiên cứu nào công bố chính
xác một loài vi khuẩn phân lập trong hệ sinh thái tự nhiên đến cấp độ dưới loài
dựa trên việc phân tích trình tự đa gen.
1.1.2. Lịch sử phát hiện
B. amyloliquefaciens được Fukomoto phát hiện vào năm 1943 nhờ khả
năng sinh αamylase và protease. Tại thời điểm đó, loài vi khuẩn này chưa được
xếp loại trong bảng Danh pháp Vi khuẩn. Cho đến năm 1975, theo điều 24a và
28a trong Bộ luật Quốc tế về Danh pháp Vi khuẩn thì cái tên B.
amyloliquefaciens mới được công bố [43].
Thời gian đầu, loài vi khuẩn này được xem là dòng khác của B. subtilis hay
loài phụ B. subtilis subsp. amyoliquefaciens. B. amyloliquefaciens mang rất nhiều
12
đặc điểm tương đồng với các loài B. subtilis, B. licheniformis và B. pumilus. Bằng
các phương pháp phân loại thông thường rất khó để phân biệt giữa chúng. Đến
năm 1987, B. amyloliquefaciens mới được tách ra thành một loài riêng dựa vào kết
quả lai DNA lần lượt là 23, 15 và 5% so với các loài B. subtilis, B. licheniformis
và B. pumilus [43].
Từ đó đến nay, nhiều chủng B. amyloliquefaciens phân lập từ các hệ sinh
thái khác nhau ở các vùng địa lý khác nhau đã được công bố. Năm 2010, Borriss và
cộng sự đã chứng minh sự khác biệt về chỉ số lai DNA, chỉ số so sánh hệ gen
bằng kỹ thuật microarray, tính tương đồng của toàn bộ hệ genome và phổ các
chất hoạt tính lipopeptide và polypeptide giữa một nhóm B. amyloliquefaciens
DSM7 không có khả năng và một nhóm B. amyloliquefaciens FZB42 có khả năng
sống nội cộng sinh rễ cây thực vật. Dựa vào kết quả thu được, Borriss đã đề
xuất tách B. amyloliquefaciens thành 2 nhóm loài phụ là B. amyloliquefaciens
subsp. plantarum (có khả năng sống nội cộng sinh rễ cây thực vật) và B.
amyloliquefaciens subsp. amyloliquefaciens (không có khả năng sống nội cộng
sinh rễ cây thực vật) [23].
1.1.3. Phân loại
Theo phân loại của Bergey (1974) [24], B. amyloliquefaciens thuộc:
Giới:
Bacteria
Ngành :
Firmicutes
Lớp:
Bacilli
Bộ:
Bacillales
Họ:
Bacillaceae
Chi:
Bacillus
Nhóm:
Bacillus subtilis
Loài:
Bacillus amyloliquefaciens
1.1.4. Đặc điểm sinh học và phân bố trong tự nhiên
B. amyloliquefaciens thường có mặt trong các mẫu đất tự nhiên. Đây là
loài vi khuẩn hiếu khí, hình que, Gram dương, sinh nội bào tử, có khả năng di
13
động và kích thước tế bào 3,04,0 × 0,71,5 µm. Đặc biệt, có một số chủng vi
khuẩn B. amyloliquefaciens có khả năng sống nội cộng sinh rễ cây thực vật [23].
1.2.
ỨNG DỤNG CỦA BACILLUS AMYLOLIQUEFACIENS
1.2.1. Sản xuất enzyme công nghiệp
Loài vi khuẩn này được biết đến từ rất sớm nhờ khả năng sản sinh các
loại enzyme ngoại bào đa dạng. Từ những năm 1943, B. amyloliquefaciens đã
được sử dụng để sản xuất 2 loại enzyme công nghiệp là αamylase và protease
[43]. Enzyme từ B. amyloliquefaciens như amylase, xylanase, cellulase, protease và
lipase có nhiều đặc tính quý như khả năng hoạt động tốt trong dải pH rộng và
khả năng bền nhiệt. Do đó, enzyme từ B. amyloliquefaciens đã được ứng dụng
nhiều trong công nghiệp chế biến thực phẩm, công nghiệp dệt may, công nghiệp
giấy và công nghiệp sản xuất chất tẩy rửa [21].
Bên cạnh đó, nhóm B. amyloliquefaciens sống nội cộng sinh rễ cây thực
vật có khả năng sinh phytase đã được công bố và gen mã hóa phytase của chúng
đã được biểu hiện thành công trên chủng B. subtilis MU331 [31]. Phytase là
enzyme phân giải phytate khó tan trong các loại rau, củ và quả thành myoinositol
và các dạng phosphate hòa tan dễ hấp thụ trong hệ tiêu hóa động vật. Vì vậy,
phytase đã được bổ sung vào thức ăn chăn nuôi nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
thức ăn cho nhóm động vật dạ dầy đơn và làm giảm nguy cơ ô nhiễm môi
trường do hàm lượng phosphate dư thừa thải ra môi trường nước [29].
1.2.2. Sản xuất chất kháng sinh
Các loài thuộc nhóm B. subtilis đã được biết đến nhờ khả năng sinh các
chất kháng sinh kháng vi khuẩn và nấm gây bệnh hoặc sản sinh các sản phẩm
trao đổi bậc hai khác như chất kháng virus, chất kháng ung thư và chất ức chế
miễn dịch [47]. Chất kháng sinh từ Bacillus có bản chất là các peptide được tổng
hợp qua ribosome (còn gọi là bacteriocin hoặc lantibiotics). Lantibiotics có phổ
kháng khuẩn hẹp và thường ứng dụng trong bảo quản thực phẩm. Nhiều chất
kháng sinh có bản chất peptide tổng hợp không qua ribosome cũng đã được công
bố từ loài B. amyloliquefaciens như bacylicin, lipopeptide (surfactin, fengycin,
iturin và bacillomycin) và polyketide (difficidin, bacillaene và macrolactin) [18]
[38]. Bacylicin là chất dipeptide được tạo nên từ Lanaline và một amino axít
hiếm Lanticapsin. Bacylicin có khả năng ức chế vi khuẩn Erwinia amylovora gây
14
bệnh cháy lá trên táo và lê. Surfactin hoạt động như chất tẩy rửa trên màng tế
bào. Chất này có tính kháng khuẩn, kháng virus và kháng viêm. Iturin, fengycin và
bacillomycin là các lipopeptide vòng có tính kháng nấm gây bệnh cây. Nghiên cứu
gần đây cho thấy, một số chất peptide giống iturin từ B. amyloliquefaciens có khả
năng diệt Paenibacillus larvae gây bệnh trên ong mật [22]. Difficin là chất kháng
sinh phổ rộng, chất này ức chế quá trình tổng hợp protein và có khả năng ức chế
Erwinia amylovora. Bacillaene cũng là một chất ức chế tổng hợp protein ở tế bào
prokaryotes. Macrolactin là một chất kháng khuẩn Gram dương.
1.2.3. Sản xuất phân bón vi sinh
Một số chủng B. amyloliquefaciens sống nội cộng sinh trên rễ cây thực vật
có khả năng sinh chất kích thích sinh trưởng Indole3acetic axít (IAA). Chất này
sẽ tác động tích cực đến những quá trình sinh lý của thực vật như quang hướng
động, địa hướng động, ưu thế chồi ngọn và sự tượng rễ. Yao và cộng sự (2012)
đã thử nghiệm bổ sung chế phẩm chứa vi khuẩn B. amyloliquefaciens FZB24 lên
cây bông. Kết quả cho thấy, sản lượng bông thu hoạch được tăng 30% so với đối
chứng bổ sung đạm NPK [56]. Trong nghiên cứu Idris và cộng sự (2007), tác giả
đã thử khả năng sinh chất kích thích sinh trưởng indole3acetic axít của chủng
vi khuẩn B. amyloliquefaciens FZB42 lên bèo tấm. Kết quả cho thấy, trọng lượng
tươi của bèo tấm khi thu hoạch có sự gia tăng đáng kể so với đối chứng. Loài vi
khuẩn B. amyloliquefaciens đã được chứng minh có tiềm năng ứng dụng trong
sản xuất phân bón vi sinh nhờ khả năng sinh các chất kháng nấm và chất kích
thích sinh trưởng thực vật [31].
1.2.4. Sản xuất chế phẩm probiotics
B. amyloliquefaciens là những vi sinh vật an toàn (Generally recognized as
safe; GRAS) và có thể dùng như probiotics để bổ sung vào thức ăn hoăc n
̣ ươć
uông nh
́
ằm cân băng hê vi sinh đ
̀
̣
ường ruôt, qua đo ngăn ng
̣
́
ừa va phong chông cac
̀ ̀
́
́
bênh tiêu chay th
̣
̉
ương găp. Ngoai ra, vi sinh v
̀
̣
̀
ật trong probiotics con tăng c
̀
ường
kha năng chuy
̉
ển hóa lactose, điêu hoa hê thông miên dich va tăng c
̀ ̀ ̣
́
̃ ̣
̀
ường sức khoẻ
con ngươi [48] [49]. Nhi
̀
ều bằng chứng cho thấy B. amyloliquefaciens đã được sử
dụng trong chế phẩm probiotics [53].
1.3.
15
MỘT SỐ ENZYME CÔNG NGHIỆP QUAN TRỌNG
1.3.1. Xylanase
1.3.1.1. Cấu trúc xylan
Xylan là thành phần chính của hemicellulose và là polysaccharide phổ biến
thứ hai trong tự nhiên chỉ sau cellulose. Chúng được tìm thấy trong thành tế bào
thực vật [50].
Xylan là một polysaccharide không đồng nhất, bao gồm các gốc Dxylose
liên kết với nhau bằng liên kết β1,4xylanosidic giữa đường xylopyranose với
acetyl, arabinosyl và glucuronisyl [39].
Hình 1.1. Cấu trúc hóa học của xylan và các vị trí tấn công của hệ thống enzyme
xylanolytic [34].
Thực vật trên cạn có xylan là chuỗi Dxylosyl được nối với nhau bằng liên
kết β1,4, trong khi tảo biển tổng hợp xylan với một cấu trúc hóa học khác gồm
các monomer Dxylose nối với nhau bằng liên kết β1,3. Thông thường, xylan
chiếm khoảng 1530% trọng lượng khô của cây hạt kín và khoảng 715% của
cây hạt trần. Đặc biệt trong cây lá rộng, xylan chiếm tới 35% tổng trọng lượng
khô của chúng [35].
Do xylan có cấu trúc không đồng nhất, để thủy phân cấu trúc này cần phải
có hệ thống enzyme xylanolytic. Tất cả các enzyme trong hệ thống này tác động
tương hỗ với nhau để phân giải xylan thành các phân tử đường [34].
1.3.1.2. Nguồn sản sinh xylanase
16
Xylanase được sinh tổng hợp bởi nấm, vi khuẩn, xạ khuẩn và động vật
nguyên sinh. Trong các loài vi sinh vật có khả năng sinh tổng hợp xylanase, nấm,
vi khuẩn và xạ khuẩn là các nhóm quan trọng nhất [57].
Các loại xylanase được sinh ra bởi vi khuẩn và nấm sợi ưa kiềm có khả
năng chịu nhiệt tốt hơn và do đó chúng được ứng dụng rộng rãi và cho hiệu quả
cao hơn trong công nghiệp [39].
1.3.1.3. Đặc tính hoạt động của xylanase
Axít glutamic là axít amin quyết định sự hoạt động của xylanase [10]. Sự
thủy phân xylan đòi hỏi sự hỗ trợ hoạt động của các thành phần trong hệ thống
enzyme xylanolytic (hình 1.1.).
Vai trò của các enzyme chính trong hệ thống enzyme xylanolytic cụ thể
như sau:
β 1,4endoxylanase và
ferulic axít esterase
Enzyme β1,4endoxylanase và ferulic axít esterase là hai enzyme có vai trò
chủ đạo trong quá trình thủy phân mạch chính của xylan. Trong đó, β 1,4endo
xylanase tấn công vào liên kết xylosidic của mạch chính còn ferulic axít esterase
tấn công các liên kết xylosyl còn lại và giải phóng ra các xylooligosaccharide. Hai
enzyme này là thành phần chính của hệ enzyme xylanolytic do các vi sinh vật sinh
ra, chẳng hạn như các loài thuộc Trichoderma, Aspergillus, Schizophyllum,
Bacillus, Clostridium và Streptomyces [55].
Ferulic axít esterase là enzyme ngoại bào exoglycosidase thủy phân các
oligosaccharide ngắn và xylobiose thành đường xylose [57]. Trong số các cơ chất,
xylobiose thường là cơ chất tốt nhất [ 39]. Hầu hết các ferulic axít esterase được
nghiên cứu cho đến nay đều bị ức chế ngược bởi xylose, một sản phẩm thủy
phân của chúng.
α LArabinofuranosidase
αLArabinofuranosidase có khả năng thủy phân cả hai liên kết 1,3 và 1,5
αLarabinofuranosyl trong arabinoxylan giải phóng arabinose. Khi giải phóng
17
arabinose, mạch chính xylan không bị thủy phân và không tạo ra
xylooligosaccharide [55].
α DGlucuronidase
αDGlucuronidase phân giải liên kết α1,2 giữa axít glucuronic và gốc
xylose trong phân tử glucuronoxylan. Tính đặc hiệu của αglucuronidase là khác
nhau phụ thuộc vào nguồn gốc của enzyme [39].
Acetyl xylan esterase
Acetyl xylan esterase là enzyme có thể cắt đứt liên kết giữa các nhóm
acetyl với 2 hoặc 3 vị trí của gốc xylose và góp phần đóng vai trò thủy phân xylan
trong tự nhiên [34]. Enzyme này thường được sinh ra từ một số loài vi khuẩn và
nấm.
1.3.1.4. Ứng dụng của enzyme xylanase
Xylanase được ứng dụng trong sản xuất nước hoa quả và làm trong rượu.
Hơn nữa, xylanase còn có thể hoạt động trong điều kiện nhiệt độ cao (khoảng
6070oC) nên có thể ngăn chặn được sự nhiễm vi sinh vật khi chế biến nước hoa
quả ở nhiệt độ cao [27].
Xylanase còn được ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm như trong
công nghệ sản xuất bánh nướng, hỗ trợ quá trình đường hóa lignocellulose (một
polysaccharide khó phân hủy trong thành tế bào thực vật). Xylanase còn được sử
dụng để loại lignin khỏi bột giấy.
Trong công nghiệp sản xuất giấy và vải sợi, xylanase tham gia vào quá
trình tách xylan và lignin để thu cellulose một cách nhanh chóng và dễ dàng.
Xylanase giúp tẩy màu và làm mềm sợi lanh và sợi gai [11].
Xylan là chất xơ khó phân hủy trong thực vật và là chất khó tiêu trong
thức ăn chăn nuôi. Vì thế việc bổ sung xylanase vào khẩu phần ăn của gia súc và
gia cầm sẽ giúp chúng dễ tiêu hóa và dễ hấp thụ thức ăn, đồng thời góp phần
làm giảm ô nhiễm môi trường.
1.3.2. α amylase
1.3.2.1. Cấu tạo tinh bột và glycogen
18
Cơ chất tác dụng của amylase và tinh bột và glycogen. Tinh bột là nhóm
carbohydrate ở thực vật. Chúng có chủ yếu ở trong các loại củ và hạt như khoai
lang, khoai tây, sắn, củ mì và các loại hạt ngũ cốc. Tinh bột từ mọi nguồn khác
nhau đều có cấu tạo từ 2030% amylose và 7080% amylopectin.
Amylose được cấu tạo từ 2001.000 phân tử Dglucose nối với nhau bởi
liên kết α1,4glucoside tạo thành một mạch dài không phân nhánh. Amylopectin
được cấu tạo từ 6006.000 phân tử Dglucose nối với nhau bởi liên kết α1,4
glucoside và α1,6glucoside tạo thành mạch có nhiều nhánh.
Hình 1.2. Cấu trúc hóa học của amylose và amylopectin [14].
19
Glycogen được ví như tinh bột của động vật. Glycogen có cấu tạo giống
với tinh bột nhưng mức độ phân nhánh mạnh hơn. Cấu tạo của chúng gồm các
phân tử glucose nối với nhau bằng liên kết α1,4glucoside. Ở các vị trí phân
nhánh glucose nối với nhau băng liên kết α1,4glucoside. Glycogen có ở động
vật và người, chúng tập trung chủ yếu ở gan.
1.3.2.2. Nguồn sản sinh αamylase
Amylase là hệ enzyme rất phổ biến ở nhiều sinh vật. Vi khuẩn và nấm
sợi là những nhóm sinh amylase chính. Amylase của vi khuẩn có ưu điểm chịu
nhiệt tốt hơn của nấm sợi, chúng có thể hoạt động ở nhiệt độ 8595oC [34].
Các enzyme này thuộc nhóm enzyme thủy phân. Có 6 loại amylase được
xếp vào 2 nhóm: endoamylase và exoamylase. Endoamylase gồm αamylase và
nhóm enzyme khử nhánh. Exoamylasse gồm có βamylase và glucoamylase.
1.3.2.3. Đặc tính hoạt động của αamylase
Đây là một enzyme kim loại, nếu không có sự hiện diện của ion canxi
trong phân tử enzyme thì chúng sẽ không hoạt động được. αamylase có khả năng
phân cắt các liên kết α1,4glucoside nằm ở phía bên trong phân tử cơ chất một
cách ngẫu nhiên không theo một trật tự nào cả. αamylase không chỉ thủy phân
hồ tinh bột mà chúng còn có khả năng thủy phân cả hạt tinh bột nguyên thủy.
Quá trình thủy phân tinh bột bở αamylase là quá trình xảy ra qua nhiều
giai đoạn: dextrin hóa đường hóa phân cắt polyglucose tạo polyglucose
collagen sản phẩm thủy phân gồm maltotetrose, maltotriose và maltose.
Ở giai đoạn đầu (giai đoạn dextrin hóa): chỉ một số phân tử cơ chất bị
thủy phân tạo thành một lượng lớn dextrin phân tử thấp (αdextrin), độ nhớt của
hồ tinh bột giảm nhanh (các amylose và amylopectin đều bị dịch hóa nhanh).
Sang giai đoạn 2 (giai đoạn đường hóa): các dextrin phân tử thấp tạo thành
bị thủy phân tiếp tục tạo ra các tetratrimaltose không cho màu với iodine. Các
chất này bị thủy phân rất chậm bởi αamylase cho tới disaccharide và
monosaccharide. Dưới tác dụng của αamylase, amylose bị phân giải khá nhanh
thành oligosaccharide gồm 67 gốc glucose.
20
Sau đó các polyglucose này bị phân cắt tiếp tục tạo nên các mạch
polyglucose collagen cứ ngắn dần và bị phân giải chậm đến maltotetrose,
maltotriose và maltose.
Sau phản ứng, sản phẩm thủy phân của amylose chứa 13% glucose và 87%
maltose. Tác dụng của αamylase lên amylopectin cũng xảy ra tương tự nhưng vì
không phân cắt được liên kết α1,6glycoside ở chỗ mạch nhánh trong phân tử
amylopectin nên dù có chịu tác dụng lâu thì sản phẩm cuối cùng ngoài các đường
nói trên còn có dextrin phân tử thấp và isomaltose [1].
1.3.2.4. Ứng dụng của αamylase
Với khả năng thủy phân tinh bột nên αamylase đã được con người sử
dụng từ rất sớm. Trong công nghiệp thực phẩm, người ta thường bổ sung α
amylase vào bột chế biến trong quá trình sản xuất bánh kẹo. Hoạt động của α
amylase sẽ làm tăng lượng đường khử, lượng đường khử này sẽ tham gia vào các
phản ứng oxy hóa khử. Kết quả của quá trình đó sẽ tạo cho bánh kẹo có mùi vị
và màu hấp dẫn [2].
Cả αamylase và βamylase đều được sử dụng trong sản xuất bánh mì.
Các loại enzyme này tham gia thủy phân tinh bột thành đường, nhờ đó nấm men
Saccharomyces cerevisiae sẽ dễ dàng chuyển hóa chúng thành cồn và CO2, làm
tăng thể tích, tạo ra màu sắc và mùi vị tốt cho bánh [2].
Trong sản xuất bia, các nhà sản xuất thường sử dụng αamylase có trong
mầm đại mạch để thủy phân tinh bột có sẵn trong đó. Cồn công nghiệp được
sản xuất bằng phương pháp lên men. Cồn được lên men từ nguyên liệu chứa
đường hoặc từ nguyên liệu chứa carbohydrate. Trong đó, αamylase đóng vai trò
chuyển hóa tinh bột để tạo thành dextrin [15].
1.3.3. Protease
Protease là nhóm các enzyme có khả năng phân giải các liên kết peptide
trong phân tử protein tạo thành các đơn vị nhỏ như các đoạn peptide hay các phân
tử amino axít [5].
21
Hình 1.3. Phản ứng thủy phân liên kết peptide của chuỗi polypeptide [34].
1.3.3.1. Nguồn sản sinh protease
Protease được sản xuất chủ yếu từ 3 nguồn chính là động vật, thực vật và
vi sinh vật. Trong đó, nguồn enzyme từ vi sinh vật là phong phú nhất và là nguồn
nguyên liệu thích hợp nhất để sản xuất enzyme ở quy mô công nghiệp [16]. Ngày
nay, hướng sản xuất enzyme từ vi sinh vật đang dần thay thế enzyme từ động
vật và thực vật bởi: tốc độ sinh sản của vi sinh vật nhanh, enzyme được tách
chiết từ vi sinh vật có hoạt tính cao và vi sinh vật là giới sinh vật phù hợp cho
sản xuất theo quy mô công nghiệp. Các đối tượng vi sinh vật thường được dùng
để tách chiết protease là nấm mốc, vi khuẩn và xạ khuẩn.
1.3.3.2. Phân loại protease
Protease được xếp vào nhóm enzyme thủy phân. Tuy nhiên, do sự đa dạng
về đặc tính hoạt động và cấu trúc nên protease còn được phân loại theo nhiều
cách khác nhau dựa vào pH hoạt động tối ưu hay vị trí hoạt động trong tế bào
[51].
Dựa vào pH hoạt động tối ưu : protease được phân thành protease axít,
protease trung tính và protease kiềm tương ứng với pH tối ưu < 7, = 7 và >7.
Dựa vào vị trí phân bố trong tế bào : protease bao gồm protease nội bào và
ngoại bào (enzyme được tiết ra bên ngoài tế bào). Trong giới hạn luận văn này
chúng tôi tập trung nghiên cứu các protease ngoại bào.
Theo vị trí xúc tác : protease được chia thành hai nhóm: exopeptidase và
endopeptidase. Exopeptidase là những enzyme có khả năng phân cắt từ hai đầu
tận cùng của chuỗi polypeptide. Endopeptidase là những enzyme có khả năng
phân cắt liên kết peptid nằm phía trong phân tử protein [44].
1.3.3.3. Ứng dụng của protease
22
Trong công nghiệp chế biến thủy sản, đồ hộp và đồ đông lạnh, protease
được dùng làm mềm thịt nhờ khả năng thủy phân một phần protein có trong thịt.
Hoàn toàn có thể sử dụng enzyme này trong sản xuất bột đạm thủy phân [3].
Trong công nghệ chế biến sữa, protease tham gia vào quá trình thủy phân
protein trong sữa tạo thành các sản phẩm như pepton, axít amin. Protease có mặt
tự nhiên trong sữa và chúng không bị phân hủy hoàn toàn khi thanh trùng ở nhiệt
độ 7678oC. Trương Thị Hòa và cộng sự (1994) đã thử nghiệm sử dụng protease
được tách chiết từ Aspergillus oryzae để thủy phân protein trong hạt ngũ cốc, tạo
điều kiện xử lý bia tốt hơn [7].
Trong công nghiệp thuộc da, trước khi bị xử lý da thường bị cứng do có
nhiều collagen. Protease được sử dụng làm mềm da nhờ khả năng thủy phân
collagen. Quá trình đó đã loại bỏ khỏi da các chất nhớt và làm cho da có độ mềm
dẻo nhất định.
Ngoài ra, protease còn được phối hợp với amylase tạo thành hỗn hợp
enzyme được bổ sung vào thức ăn gia súc làm tăng kha năng tiêu hóa cao, có ý
̉
nghĩa lớn trong chăn nuôi gia súc và gia cầm.
CHƯƠNG 2: NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. THIẾT BỊ VÀ MÁY MÓC ĐÃ SỬ DỤNG
23
Các thiết bị và máy móc của bảo tàng giống chuẩn vi sinh vật, Viện Vi
Sinh Vật và Công Nghệ Sinh Học, Đại Học Quốc Gia Hà Nội.
Máy đọc trình tự ADN 3100 Avant Genetic Analyzer (Applied
Biosystem, Mỹ).
Máy khuếch đại gen Gene Amp PCR System 9700 (Eppendorf,
Mỹ).
Máy ly tâm lạnh Centrifuge C30P (Satorius Group, Đức).
Máy đo quang phổ UV 1600(Thermo, Mỹ).
Máy lắc ổn nhiệt (B.Braun, Mỹ).
Kính hiển vi (Olympus, Nhật).
Máy ly tâm 6K15 (Sigma, Đức).
Máy ly tâm Centrifuge 5417R (Eppendorf, Đức).
Bộ chạy điện di đứng cho protein (Biorad, Mỹ).
Máy lọc tiếp tuyến 17525001 (Sartorius Stedim, Mỹ).
2.2.
NGUYÊN LIỆU
2.2.1. Chủng vi sinh vật
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng bộ vi sinh vật được phân lập tại
rừng Quốc gia Hoàng Liên và các ruộng canh tác nông nghiệp lân cận [13].
2.2.2. Môi trường
Môi trường hoạt hóa : Môi trường NA (g/l): pepton5; cao thịt3; thạch16.
Môi trường nuôi giống khởi động : Môi trường NA dịch thể (như môi
trường NA nhưng không có thạch).
Môi trường nuôi cấy : Môi trường khoáng (g/l): CaCl20,5; NH4NO35; KCl
0,5; MgSO4.7H2O0,25; FeSO4.7H2O0,01; MnSO4.H2O0,01; KH2PO41 [33]
có bổ sung một trong số các nguồn carbon: Dglucose, tinh bột tan, casein,
CMC, xylan, chitin, tributyrin và pectin.
24
2.3.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1. Nuôi cấy giống khởi động
Để nuôi cấy khởi động chủng giống, các chủng vi khuẩn được nuôi cấy
qua đêm trên môi trường NA dịch thể ở nhiệt độ 37oC trong 24 giờ.
2.3.2. Phân tích trình tự đa gen
2.3.2.1. Tách chiết DNA của vi khuẩn
Phương pháp tách chiết DNA của vi khuẩn được thực hiện theo Sakiyama
và cộng sự (2009) [46]. Vi khuẩn đuợc nuôi trên môi trường dịch thể với thời
gian thích hợp. Sau đó hút 1,5 ml dịch vào ống eppendorf và ly tâm ở 15.000 v/p
trong 15 phút để lấy sinh khối tế bào. Hòa sinh khối tế bào trong 100 µl TAE.
Thêm 0,4 mg lysozyme rồi trộn đều, ủ ở 37oC trong 1 giờ.
Thêm 100 µl SDS 10% (w/v), trộn đều 23 phút, ủ ở 37oC trong 30 phút.
Thêm một thể tích tương đương phenol : chloroform : isoamyl alcohol, trộn đều.
Ly tâm 15.000 v/p trong 15 phút. Chuyển lớp dịch phía trên sang ống eppendorf
khác.
Bổ sung 8 µl RNAse 3 mg/ml, trộn đều, ủ ở 37oC trong 30 phút. Thêm 12
µl proteinase K (5 mg/ml), trộn đều, ủ ở 56oC trong 15 phút. Tiếp tục thêm 1/10
thể tích natri acetate 3M và 1 ml ethanol 100% rồi trộn đều. Đặt hỗn hợp trong đá
30 phút.
Ly tâm hỗn hợp 15.000 v/p trong 15 phút. Hút bỏ lớp dịch trên, rửa phần
tủa bằng ethanol 70%. Làm khô phần tủa bằng máy cô quay chân không. Hoà tan
tủa trong 50100 l nước MQ hoặc đệm TAE.
2.3.2.2. Phản ứng khuếch đại DNA
Thành phần phản ứng khuếch đại DNA bao gồm 10 µl đệm PCR 10x, 10
µl dNTP 2 mM, 2 µl mồi xuôi, 2 µl mồi ngược, 2 µl tag polymerase, 12 µl DNA
khuôn và bổ sung H2O đến thể tích tổng là 25 µl.
Trình tự cặp mồi đã sử dụng (xem phụ lục B).
Chu trình nhiệt của của phản ứng này bao gồm 30 chu kỳ, mỗi chu kỳ
gồm 3 bước: (i) gây biến tính DNA bằng cách đun hỗn hợp ở 95oC trong 30 giây,
(ii) sau đó gắn mồi bằng cách hạ nhiệt độ xuống 56oC trong 15 giây, (iii) tiếp
25