Trong bài trước 1 chúng tôi đã có dịp nói về dã sử tức là nguồn sử liệu tư
do tư nhân viết khác với nguồn sử liệu công do quốc sử quán ngày xưa hay
nhân viên nhà nước gọi là sử quan viết, và thấy được vai trò của nó trong
việc bổ túc những thiếu sót, khiếm khuyết của chính sử. Trong quá trình
biên khảo loạt bài này, chúng tôi lại có cơ hội được đọc một số tài liệu phản
ảnh ý kiến của một số nhà sử học về vấn đề sử liệu trong đó có nói tới dã
sử và thẩm định giá trị của nó thì thiết tưởng đó cũng là dịp tốt cho phép
chúng tôi khai triển thêm.
Thật sự, dã sử là một vấn đề khá phức tạp và vai trò cùng giá trị của nó có
khi lại được đánh giá một cách hết sức tùy tiện mà nhịp độ của thủy triều
lên xuống trong việc thẩm định lại chính là lòng thương ghét của nhà viết sử
chiếu theo nhu cầu viết lách của họ và cảm tính thời thượng trong xã hội.
Nền sử học chính thống hình thành do các nguồn sử phẩm của các triều
đình quân chủ nước ta thông qua hoạt động của quốc sử quán, vốn có sự
đóng góp tích cực của nguồn sử liệu dã sử trong đó có chuyện thật xen lẫn
chuyện hoang tưởng. 2 Khi sử dụng dã sử, người ta cần áp dụng phương
pháp sử để phân tích, cẩn án, khảo chứng (evidential research) các tư liệu
đưa ra dùng để “gạn đục khơi trong”, hầu lọc lấy phần tinh hoa của sự thật,
được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Danh xưng của nguồn tư liệu dã sử cũng có
nhiều cách gọi tùy theo đặc tính và công dụng của nó.
Ở Trung Hoa, loại dã sử cũng có những khác biệt với chính sử mà trong
một tác phẩm biên khảo rất công phu về ngành thư tịch học Trung Hoa,
cuốn Chinese History, A Manual, (Trung Quốc Lịch Sử Thủ Sách),
Endymion Wilkinson đã có đề cập đến như sau.
1. Các bộ môn cùng loại với dã sử trong nền sử học Trung quốc
Tư sử (sishi)
Theo tác giả này, có rất nhiều công trình biên soạn lịch sử do tư nhân đảm
trách đã phụ trợ đắc lực cho ngành viết sử do nhà nước chủ trì. Theo ông,
các tác phẩm như Tả Truyện (Zuozhuan) hoặc Sử Ký (Shiji) là những cuốn
sách sử rất nổi tiếng mặc dù khởi công từ sáng kiến của chính quyền
nhưng đều cũng đã được tin tưởng giao phó cho các tư nhân biên soạn. 3
Trong các sử phẩm ấy, các học giả cũng tự do đưa ra các điều biện luận
thông tuệ, nghiên cứu các tài liệu nguyên bản và các tài liệu bút ký. Tả
Truyện hay có tên gọi khác là Tả Thị Xuân Thu ra đời vào khoảng cuối thế
kỷ thứ IV trước Công nguyên do tác giả là Tả Khâu Minh. Đây là bộ sử
Xuân thu viết theo thể loại biên niên. Tả Truyện là sách vừa chú giải kinh
Xuân thu của đức Khổng, vừa chép sử Trung Hoa thời Xuân Thu, và chứa
đựng nhiều chi tiết hơn bộ kinh Xuân thu 4. Đầu đời Hán, có hai nhà chú
giải kinh Xuân Thu là Công dương Cao và Cốc lương Xích. Đối với Sử Ký 5
của Tư Mã Thiên, hầu hết mọi người đều thừa nhận tầm vóc vĩ đại của nó,
nhất là tinh thần tự do sáng tác của tác giả thật là khoáng đạt. Tư Mã Thiên
tên chữ là Tử Trường, người đất Hạ dương, quận Tả Phùng Dực, con của
Tư Mã Đàm nối đời chuyên nghiệp viết sử. Để chuẩn bị kiến thức cho công
tác biên khảo sử học sau này, Tư Mã Đàm đã khuyên con đi du lịch khắp
nơi để mở rộng kiến thức. Nhữ Thành viết về các chuyến đi (du khảo hay
điền dã) khá liên tục của Tư Mã Thiên như sau: “Tư Mã Thiên trước tiên đi
về nam đến Trường Giang, vượt sông Hoài, sông Tứ, thăm mộ mẹ Hàn
Tín, đoạn lên núi Cối Kê xem nơi vua Hạ Vũ triệu tập chư hầu, vào hang Vũ
Động tìm di tích vua Vũ. Ở Cối Kê ông đã nghe những chuyện kể về vua
Việt Câu Tiễn. Ông lên Cô Tô tìm di tích Ngũ Tử Tư, đi thuyền trên Thái Hồ
sưu tầm truyền thuyết về Tây Thi, Phạm Lãi. Sau đó, ông đi ngược lên
Trường Sa, đến bến Mịch La khóc Khuất Nguyên, đến sông Tương trèo lên
núi Cửu Nghi nhìn dấu vết mộ vua Thuấn và khảo sát những tục cũ từ thời
Hoàng Đế. Ông lên miền bắc vượt sông Vấn, sông Tứ đến nước Tề, nước
Lỗ, bồi hồi nhìn lăng miếu của Khổng Tử, say sưa nghe nhân dân kể
chuyện Trần Thiệp, đến đất Tiết thăm hỏi di tích của Mạnh Thường Quân,
lên Bành Thành quê hương Lưu Bang để tìm hiểu rõ thời niên thiếu của
những con người đã dựng nên nhà Hán. Ông sang nước Sở thăm đất
phong của Xuân Thân Quân, đến nước Ngụy hỏi chuyện Tín Lăng Quân rồi
trở về Tràng An. Sau chuyến đi ấy kéo dài ba năm ông còn đi những
chuyến khác cũng để tìm tài liệu.” 6 Năm đầu Thái sơ (104 tr. CN) Tư Mã
Thiên khởi viết bộ Sử Ký . Năm 98 tr. CN, vì bênh vực cho người bạn là Lý
Lăng trong vụ đầu hàng Hung Nô, Tư Mã Thiên bị tống giam vào ngục và
chịu nhục hình bằng cách bị thiến bộ phận sinh dục. Nhiều lần ý nghĩ tự tử
đã đến với ông nhưng ông quyết vượt lên để sống mà viết sách, hoàn
thành cho được lời di huấn của cha. Trương Đại Khả đã nói về tâm sự u
uất của Tư Mã Thiên như sau: “Chịu họa Lý Lăng khiến cho lập trường của
Tư mã Thiên có sự thay đổi lớn.Ông đã giải thoát khỏi sự buồn giận cá
nhân, căm hờn biên soạn. Sau khi ra khỏi ngục, đảm nhiệm chức Trung thư
lệnh 7, tuy tuân mệnh nhậm chức, nhưng lòng như tro lạnh. Ông đã trút sự
căm tức và bất bình của mình vào trong bộ Sử ký, trở thành “một trường
phái riêng” 8. Kết quả làm việc của ông là một công trình sử học lừng danh
cổ kim do tinh thần bền chí, nhẫn nhục và thiên tài của ông ra đời với hơn
53 vạn chữ, gồm 130 thiên, mở đầu cho thể kỷ truyện khai sáng một thời
đại mới trong sự phát triển của nền sử học Trung Hoa.
Ban Cố (32-92 sau CN), tác giả Tiền Hán Thư, đã phê bình về tác phẩm
của Tư Mã Thiên như sau: “Thánh nhân (chỉ Tư Mã Thiên – N.D.) e cũng có
chỗ sai, nói về Đạo lớn lại nhắc đến Hoàng Lão (tức Hoàng đế và Lão tử,
chỉ Đạo gia vào đời Hán – N.D.) trước rồi sau đó mới đến Lục kinh, viết lời
tựa về du hiệp thì chê ẩn sĩ mà tiến dẫn gian hùng, kể về kinh doanh buôn
bán thì sùng kính kẻ thế lực mà dè bỉu kẻ nghèo hèn, đó là cái tệ của ông.”
(Hán thư, “Tư mã Thiên truyện”). 9
Nhà sử học Trương Đại Khả đã nhận định về lời phê phán của Ban Cố và
phân tích quan điểm sử học của Tư Mã Thiên bằng những lời lẽ chắc nịch
như sau: “Ban Cố phê bình cái “tệ” của Tư mã Thiên lại hoàn toàn là cái
“sáng suốt” (minh) rực rỡ đẹp mắt trong tư tưởng của Tư mã Thiên. Tư mã
Thiên “nói về Đạo lớn mà lại nhắc đến Hoàng Lão trước rồi sau đó mới đến
Lục kinh” chính là khẳng định sự thái bình trong cách trị nước của Văn
Cảnh 10 mà phủ định sự suy bại được tạo thành do những ham muốn của
Hán Vũ Đế; kể về kinh doanh buôn bán lại viết truyện cho thương nhân là
khẳng định thương nhân đã thúc đẩy phát triển sản xuất, có cống hiến đối
với sự phồn vinh của kinh tế xã hội; khen ngợi hiệp sĩ là khẳng định đạo
đức của loại người này có thể hy sinh thân mình, cứu người nguy khốn.
Trên thực tế, qua việc ca ngợi Hoàng Lão, thương nhân, hiệp sĩ, Tư mã
Thiên đã bày tỏ sự ngưỡng vọng của ông đối với chính trị cởi mở, khẳng
định ý thức cầu lợi của nhân dân và phản đối thế lực cường bạo đối với
nhân dân. Chính những tư tưởng này đã thể hiện thước đo khen chê nhân
vật và sự kiện lịch sử của Sử ký, không chịu sự hạn chế của tư tưởng
chính thống giai cấp thống trị, mà là lập luận từ lợi ích của nhân dân bị áp
bức trên một mức độ nhất định, đây chắc chắn là tư tưởng tiến bộ nhất của
thời đại lúc bấy giờ”. 11
Phải nói rằng những nhận định của nhà sử học họ Trương được phát biểu
một cách ngay thẳng, khá tự do trong tình hình chính trị của Trung quốc
mấy năm gần đây vốn không khác gì tình hình Trung quốc cách nay gần hai
ngàn năm, vô hình trung càng làm nổi bật cái nhìn viễn kiến của sử gia Tư
Mã Thiên, thí dụ đối với vai trò của thương nhân (trong bài Hóa thực liệt
truyện) hay chế độ chính trị đầy áp bức của giới cầm quyền đối với nhân
dân trong nước (Trung Hoa hay Việt Nam cũng giống nhau vậy thôi), mặc
dù tác giả này cũng đã cố gắng tránh né không trả lời đích thực vào những
điểm Ban Cố phê phán về Tư Mã Thiên như “chê ẩn sĩ mà tiến dẫn gian
hùng, sùng kính kẻ thế lực mà dè bỉu kẻ nghèo hèn” ! Trương Đại Khả nhận
xét thêm rằng: “Tư mã Thiên không phải là “ca sĩ của nhân dân”, ông tuyên
dương đại nhất thống, phục vụ cho sự củng cố phong kiến thống trị, cho
nên Sử ký được coi là chính sử.” 12
Thật ra, với chính sách bãi truất bách gia, độc tôn nho thuật, Hán Vũ-Đế
(140-88 tr. CN) đã mở đường cho các hạng nho sĩ, trí thức Trung quốc đi
vào chính quyền qua sách vở của thánh hiền (Nho học, khoa cử). Các sáng
tác của giới nho sĩ nếu có đề cao chính quyền đương thời cũng là chuyện
tất nhiên, bởi vì uống nước phải nhớ nguồn ...
Bút ký (biji)
Cũng theo Endymion Wilkinson, đây cũng là một loại tư sử nhưng mang
một hình thức khác mà công dụng là cũng để góp phần bổ túc cho những
thiếu sót của chính sử. Danh từ bút ký (informal jottings) có thể hiểu như
đoản bút khác với lối dùng của thể văn bút ký ta dùng hiện nay.13
Biệt sử (bieshi)
Loại này cũng thay đổi theo thời gian và được dùng để gọi những tư liệu
không thuộc ngành chính sử và đàng khác nó cũng không phải loại sử liệu
được viết theo thể biên niên hay thể kỷ truyện. Tác giả E. Wilkinson cho
rằng biệt sử là một thể loại để chỉ những sử phẩm tương đối nghiêm túc
nằm giữa loại chính sử và dã sử.
Bại sử (baishi)
Theo Thiều Chửu trong Hán Việt Tự Điển, chữ bại này viết một bên chữ
hòa (lúa) một bên chữ ti (thấp) có hai nghĩa : 1.- Một thứ cỏ giống lúa hơi
đắng, có thể nấu cháo ăn được. 2.- Nhỏ mọn, như bại thuyết - truyện tiểu
thuyết; bại quan - chức quan bé. Hiểu theo ý nghĩa thứ hai thì bại sử là loại
sử chuyên viết về những chuyện vụn vặt, tản mạn, bên lề của một sự việc,
một biến cố, một nhân vật nào đó. Với tác giả E. Wilkinson, bại sử là thuật
ngữ thỉnh thoảng được dùng trong các cuốn danh mục về sách và như vậy
thuật ngữ này cũng nằm ngoài chính sử.
Ngoài ra, E. Wilkinson còn cho biết các thuật ngữ như biệt sử, tạp sử, bại
sử hay tư sử cũng có khi được kể chung như là dã sử. Dã sử vốn là ngành
rất thịnh hành trong thời Nam Bắc Triều (220-589), Tống (960-1279), Minh
(1368-1644). 14 Sự phong phú trong các thuật ngữ Trung Hoa dành cho
loại dã sử cùng các loại có phong cách viết lách tương tự đã được các tài
liệu sách vở nước này trưng dẫn đầy dẫy trong các tạp chí, sách nghiên
cứu, và các quyển từ điển giá trị như Khang Hy tự điển, Từ Nguyên, Từ Hải
v.v... định nghĩa và phân tích tường tận.
2. Các loại tư liệu trợ lực cho chính sử Việt Nam
Ngành dã sử ở nước ta cũng không đi ra ngoài khung khổ của ảnh hưởng
Trung Hoa về phương pháp biên soạn. Nội dung của bộ môn dã sử cũng có
những mặt ưu điểm và khuyết điểm; điều quan trọng là người ta phải biết
cách sử dụng để rút ra được những mách bảo hữu ích vốn có trong tư liệu.
Tuy nhiên nếu đem ra so sánh với các thuật ngữ của Trung Hoa ở trên chắc
hẳn loại dã sử của nền sử học của nước ta cũng không kém phần phức
tạp, rắc rối. Giáo sư Dương Quảng Hàm đã có những nhận thức xác đáng
về loại dã sử như sau: “Xưa nay, người nước ta chỉ biết trọng và đọc
chánh-sử mà có ý khinh thường dã-sử. Thực ra, dã-sử cũng quan trọng
bằng chánh-sử, vì nhiều khi có thể nhờ đấy mà sửa lại được những điều
sai lầm hoặc thiên-lệch của những bộ sử do sử-thần có khi vì sự tây-vị hoặc
thế lực áp-bách mà chép sai đi. Một lẽ nữa là vì chánh-sử thường chỉ chú
trọng về việc nhà vua và việc triều-đình, nhiều khi chép cả những việc
không quan-trọng lắm; trái lại, thường bỏ khuyết hoặc chép rất sơ-lược
những việc có liên-lạc đến cách sinh-hoạt của dân chúng, tình-hình xã-hội,
kinh-tế trong nước, cùng phong tục, tín-ngưỡng của người dân. Vậy muốn
bồi bổ những khuyết-điểm ấy, nhiều khi phải tra-cứu ở các dã-sử mới
thấy.”15
Ở Trung Hoa cũng như ở Việt Nam trước kia trong thời quân chủ, ngành
viết sử thường nằm trong tay các bậc khoa bảng, trí thức vốn đại diện cho
một tầng lớp ý thức hệ cầm quyền tức là Nho học, cho nên người ta vốn có
thói quen tôn trọng những cái gì của chính quyền hoặc xuất phát do chính
quyền. Có lẽ ý thức tôn trọng chính sử không chỉ riêng dân Việt Nam ta mới
có nhưng cũng chính là lề thói khá phổ biến trong nhiều nước trên thế giới
do việc viết sử trước đây ngay cả nghề viết sử được coi là chuyên biệt của
những nhà văn thuộc giai cấp thống trị hay có khi là một nghề “truyền tử lưu
tôn” như trường hợp Tư Mã Thiên chẳng hạn. Tính cách độc quyền trong
việc chép sử ở Tây phương thời xưa cũng được tiết lộ nhờ Suétone 16 “có
để lại cho chúng ta một bản văn của Cornelius Nepos (khoảng 100- 25
trước t.l.), trong đó ông này ngạc nhiên vì một người nô lệ mới được giải
phóng đã dám cả gan viết sử.” 17 Những lời của giáo sư Dương Quảng
Hàm trích dẫn ở trên kia vốn là quan điểm của một người cầm bút cách đây
hơn sáu mươi năm, chứng tỏ mặc dù tuy không phải là chuyên gia về
ngành sử học nhưng ông lại có thái độ rất chín chắn khi nhận xét về vai trò
của các loại chính sử và dã sử. Sách của ông đã từng được nhiều thế hệ
sinh viên, học sinh sử dụng trong chương trình giáo dục tại học đường và
cũng đã được rất nhiều thế hệ giáo sư dùng làm sách giáo khoa cho các
bậc trung học. Chính sử không phải luôn luôn là đáng tin cũng như dã sử
không phải luôn luôn là cái đáng ngờ vực, là do tưởng tượng bịa ra. Muốn
sử dụng cả hai loại này, người viết sử cần áp dụng phương pháp sử học
nghĩa là cần phải “cẩn án” tài liệu hay “án khảo chứng tích” 18.
Học giả Trần Trọng Kim khi viết bộ Việt Nam Sử Lược cũng đã nói rõ cách
sử dụng tài liệu khi viết tác phẩm này: “Soạn giả đã cố sức xem-xét và góp-
nhặt những sự ghi-chép ở các sách chữ nho và chữ pháp, hoặc những
chuyện rải rác ở các dã-sử, rồi đem trích bỏ những sự huyền-hoặc đi mà
soạn ra bộ sách này, cốt để người đồng-bang ta biết được chuyện nước