TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
======
NGUYỄN THỊ THÙY TRANG
CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO
CỦA TRUNG QUỐC VỚI PHILIPPINES
(2001 - 2015)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Thế giới
HÀ NỘI - 2018
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
======
NGUYỄN THỊ THÙY TRANG
CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO
CỦA TRUNG QUỐC VỚI PHILIPPINES
(2001 - 2015)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Thế giới
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. NGUYỄN VĂN VINH
HÀ NỘI - 2018
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến các thầy cô
trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện, giúp đỡ em để em có điều
kiện tốt nhất hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn thầy ThS.Nguyễn Văn Vinh người đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành nhiệm vụ học tập và nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn đồng hành, tạo
điều kiện giúp đỡ để khóa luận hoàn thành một cách tốt nhất.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội ngày 7 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Thùy Trang
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng
tôi.Các dẫn chứng và kết quả trong đề tài nghiên cứu đều chính xác, trung
thực. Đề tài nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ một công trình
khoa học nào.
Hà Nội ngày 7 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Thùy Trang
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................ 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................... 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 6
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu ...................................................... 6
6. Đóng góp của khóa luận .................................................................................... 7
7. Bố cục của khóa luận ........................................................................................ 7
Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ TRUNG
QUỐC – PHILIPPINES (2001 – 2015) ................................................................ 8
1.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực .......................................................................... 8
1.1.1. Tình hình quốc tế ........................................................................................ 8
1.1.2. Tình hình khu vực ..................................................................................... 11
1.2. Nhân tố Mỹ nhân tố ASEAN trong quan hệ Trung Quốc - Philippines .......... 15
1.2.1. Nhân tố Mỹ ............................................................................................... 15
1.2.2. Nhân tố ASEAN ........................................................................................ 19
1.3. Quan hệ Trung Quốc - Philippines trước năm 2001 .................................... 23
Tiểu kết chương 1................................................................................................ 27
Chương 2 QUAN HỆ TRUNG QUỐC – PHILIPPINES TỪ 2001 ĐẾN 2015 . 29
2.1. Quan hệ chính trị - ngoại giao ...................................................................... 29
2.2. Trên lĩnh vực quân sự- quốc phòng ............................................................. 30
2.3. Quan hệ kinh tế ............................................................................................ 42
2.3.1. Trao đổi thương mại .................................................................................. 42
2.3.2. Hợp tác đầu tư ........................................................................................... 46
2.4. Một số lĩnh vực hợp tác khác ....................................................................... 50
2.5. Nhận xét về quan hệ Trung Quốc - Philippines (2001 - 2015) .................... 53
2.5.1. Thành tựu, hạn chế trong quan hệ của hai nước ....................................... 53
2.5.1.1. Thành tựu ............................................................................................... 53
2.5.1.2. Hạn chế................................................................................................... 54
2.5.2. Một số tác động của quan hệ Trung Quốc - Philippines ........................... 56
2.5.2.1. Đối với Trung Quốc ............................................................................... 56
2.5.2.2. Đối với Philippines................................................................................. 57
2.5.2.3. Đối với khu vực và quốc tế .................................................................... 60
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 68
PHỤ LỤC
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bước sang thế kỉ XXI với sự phát triển mạnh mẽ của xu thế toàn cầu
hóa đòi hỏi mỗi quốc gia, dân tộc đều phải cómối quan hệ, liên kết chặt chẽ
với nhau để cùng phát triển. Đó là một xu thế tất yếu, không một quốc gia nào
cóthể đi ngược lại với xu thế đó.
Hiện nay, Trung Quốc là nước cónền kinh tế lớn thế giới, đứng thứ hai
sau Mỹ vàngày càng có ảnh hưởng quan trọng trong đời sống chí
nh trị thế
giới và quan hệ quốc tế. Kể từ khi tiến hành cải cách, mở cửa đất nước
(1978), nhất là trong hơn một thập niên đầu thế kỷ XXI, Trung Quốc luôn coi
trọng vàkhông ngừng thúc đẩy quan hệ với các nước trên thế giới, màtrước
hết là các nước trong khu vực Đông Nam Á. Việc Trung Quốc tăng cường
quan hệ với các nước trong khu vực Đông Nam Á lànhằm hướng tới một số
mục tiêu chiến lược như: duy trìổn định để phát triển kinh tế, xây dựng trật tự
thế giới “đa cực”, xóa bỏ thuyết“Mối đe dọa của Trung Quốc”, mở rộng ảnh
hưởng quốc tế, kiềm chế Đài Loan, xây dựng hì
nh ảnh nước lớn.v.v... Đây là
những mục tiêu nằm trong chí
nh sách mở rộng thế lực vàphạm vi ảnh hưởng
ở châu Á của Trung Quốc mà điểm đột phá đầu tiên làkhu vực Đông Nam Á.
Trong khu vực Đông Nam Á, Philippines là đồng minh của Mỹ kể từ
Chiến tranh thế giới thứ hai. Hiện nay, Philippines được xem làmột quốc gia
công nghiệp mới, nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi từ nông nghiệp
sang các ngành dịch vụ vàchế tạo. Cùng với xu thế hội nhập vàtoàn cầu hóa,
Philippines đã và đang tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác với các nước
trong vàngoài khu vực, trong đó có các nước lớn như Trung Quốc, Nhật Bản,
Ấn Độ,... Việc thực hiện đường lối đối ngoại, hợp tác phát triển, chủ động và
tích cực hội nhập quốc tế, vìlợi í
ch quốc gia dân tộc, đã giúp Philippines gặt
hái được nhiều thành tựu trong quan hệ đối ngoại với các nước, các khu vực.
1
Trong toàn bộ chính sách đối ngoại của Philippines hiện nay đối với các
nước, trong đócóTrung Quốc, nổi lên một điểm đó là đường lối, lập trường,
đấu tranh bảo vệ lợi í
ch dân tộc.
Nằm trong khu vực châu Á, là láng giềng của nhau hai nước Trung
Quốc và Philippines đã sớm thiết lập quan hệ song phương. Bước sang thập
niên đầu tiên của thế kỷ XXI cho đến nay, quan hệ giữa hai nước đã không
ngừng phát triển và đạt được nhiều kết quả trên các lĩnh vực: chính trị - ngoại
giao, an ninh - quốc phòng, thương mại, đầu tư và các lĩnh vực hợp tác
khác.... Nếu Trung Quốc là một trong những đối tác thương mại lớn của
Philippines (cùng với Mỹ, Nhật Bản, Singapore...), thìPhilippines lại là thị
trường tiêu thụ hàng hóa vàxuất khẩu nguyên, nhiên liệu chủ yếu sang Trung
Quốc.
Tuy nhiên, quan hệ giữa Trung Quốc - Philippines trong lịch sử vốn đã
có những thăng trầm vàthời điểm hiện nay vẫn đang đứng trước những khó
khăn, thách thức, trong đó nguyên nhân chủ yếu làvề vấn đề tranh chấp lãnh
hải giữa hai nước.
Quan hệ Trung Quốc - Philippines, rõ ràng, sẽ có tác động nhất định
đến bản thân mỗi nước, đối với khu vực vàthế giới. Những nhân tố tác động,
diện mạo quan hệ giữa hai nước trên các lĩnh vực cụ thể như thế nào? Thành
tựu, hạn chế, sự giống nhau và khác nhau của quan hệ Trung Quốc Philippines so với quan hệ Trung Quốc với một số nước Đông Nam Á khác ra
sao...? Đây là những vấn đề cần phải được tiến hành tìm hiểu cặn kẽ.
Xuất phát từ những lý do trên trì
nh bày ở trên, tôi chọn đề tài “Quan
hệ Trung Quốc - Philippines từ năm 2001 đến năm 2015” làm đề tài khóa
luận tốt nghiệp.
2
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quan hệ giữa Trung Quốc và Philippines là một nội dung thu hút sự
quan tâm của nhiều học giả, nhiều nhànghiên cứu trong và ngoài nước.
- Về các tài liệu trong nước:
Đa số các tài liệu màtôi đã cố gắng sưu tầm, tiếp cận được làcác công
trì
nh, bài báo, báo cáo khoa học, tin tức... được công bố, đăng tải trên các tạp
chíchuyên ngành, TTXVN.v.v...
Đề cập trực tiếp về quan hệ của hai nước gồm có một số bài tiêu biểu
sau đây: “Tranh chấp Trung Quốc - Philippines liên quan đến dải đá ngầm
Vành Khăn năm 1995 - 1999” của tác giả Đỗ Thanh Hải, đăng trên Tạp chí
nghiên cứu Quốc tế, số 3, 2009; “Quan hệ Trung Quốc - Philippines”,
TTXVN, 7/2009; “Trung Quốc - Philippines cam kết thúc đẩy quan hệ song
phương theo hướng ổn định vàcùng cólợi”, TTXVN, 12/2011;“Nguy cơ rạn
nứt quan hệ Philippines - Trung Quốc”, TTXVN, 5/2014.
Đề cập đến chính sách đối ngoại của mỗi nước cũng như một số vấn đề
trong đó có liên quan đến quan hệ của hai nước gồm có: cuốn sách “Biển
đông trong chiến lược Trung Quốc”, Học viện Quan hệ quốc tế, xuất bản năm
1993; cuốn: “Tranh chấp Biển Đông trong chính sách đối ngoại Philippines
từ sau Chiến tranh lạnh đến nay” của tác giả Nguyễn Mạnh Dũng, Học viện
ngoại giao, xuất bản tháng 7/2010; cuốn: “Đông Nam Á trong chính sách đối
ngoại Trung Quốc đầu thế kỉ XXI” của Mẫu Huyền Sâm, Học viện Quan hệ
quốc tế, xuất bản tháng 7/2006. Các bài viết: “Tranh chấp bãi cạn
Scarborogh và cách thức đấu tranh đòi chủ quyền của Philippines ở Biển
Đông” của tác giả Lê Thị Thanh Hương, Tạp chí Đông Nam Á, 5/2013;
“Chính trị nội bộ Philippines với tranh chấp Trường Sa” của tác giả Trần
Thanh Tùng, Nghiên cứu quốc tế, số 3, 2009; “Bàn về chiến lược cường quốc
3
biển của Trung Quốc sau Đại hội XVIII”, của tác giả Nguyễn Hùng Sơn và
Đặng Cẩm Tú, Tạp chíNghiên cứu quốc tế, số 4, 12/2014.v.v...
Nhì
n chung, các tài liệu nêu trên tùy theo góc độ, nội dung hoặc làtính
chất tiếp cận khác nhau đã phần nào làm sáng rõmột số nội dung trong quan
hệ song phương Trung Quốc - Philippines, nhất làvề quan hệ chính trị - ngoại
giao.
- Về các tài liệu nước ngoài:
Do hạn chế về trình độ ngoại ngữnên tôi chưa tiếp cận được nhiều tài liệu nước
ngoài viết về mối quan hệ Trung Quốc - Philippines. Hiện chúng tôi mới chỉ tiếp cận
được tác phẩm của Carlyle A. Thayer, “South China Sea: Philippines Takes Case to
UN - 1,2,4,5,6”, Thayer Consultancy Background Brief, January 23, 2013; “ASEAN China and china - The Philippines Jrade Relations, Deve lopment and Prospects,
2007;“China’s Relations with ASEAN: Partners in the 21st Century?”, Pacica
Review, Volume 13, Number 1, February 2001; The Prospects of the ASEAN–
China Free Trade Area (ACFTA): A Qualitative Overview, Journal of the Asia
Pacific Economy Vol. 12, No. 4, 485–503, November 2007; Philippines – China
Relations: The Case of the South China Sea (Spratly Islands) Claims, của
Mark Anthony M. Velasco, De La Salle University-Manila, Philippines, đăng
trên Tạp chí Asia Pacific Journal of Multidisciplinary Research, Volume 2,
No. 6 , December 2014; Philippines-China Relations, 2001–2008:
Dovetailing National Interests của Charles Joseph DE GUZMAN Faculty,
Philippine Science High School (Main) đăng trong ASIAN STUDIES:
Journal of Critical Perspectives on Asia; Volume 50:1 (2014).
Như vậy, các tài liệu tiêu biểu nêu trên đã tập trung nghiên cứu một
hoặc một số vấn đề trong quan hệ của hai nước.Có những lĩnh vực được các
tác giả đi sâu phân tích, tìm hiểu, nhưng cũng có những lĩnh vực lại mới chỉ
đề cập qua.Đây là những tài liệu tham khảo hết sức quýgiágiúp tôi tiến hành
4
nghiên cứu vấn đề nêu ra. Trên cơ sở những tài liệu này,tôi cố gắng thực hiện
đề tài nghiên cứu về quan hệ giữa Trung Quốc vàPhilippines ở tất cả các lĩnh
vực một cách có hệ thống, toàn diện, góp phần bù đắp những khoảng trống
trong nghiên cứu quan hệ của hai nước.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở đi sâu tìm hiểu, nghiên
cứu quan hệ giữa Trung Quốc với Philippines ở tất cả các lĩnh vực để rút ra
một số nhận xét về mối quan hệ này, qua đó có thêm những tham khảo đối
với Việt Nam trong quan hệ với các nước.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích đề ra, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu
sau đây:
- Phân tích những nhân tố chủ yếu tác động đến quan hệ Trung Quốc Philippines giai đoạn 2001 - 2015.
- Phục dựng lại thực trạng quan hệ giữa Trung Quốc với Philippines
trên các lĩnh vực chí
nh trị - ngoại giao, an ninh - quốc phòng; thương mại, đầu
tư và các lĩnh vực hợp tác khác; quan hệ Trung Quốc - Philippines trong
ASEAN; về vấn đề tranh chấp lãnh hải.v.v...
- Đưa ra một số nhận xét về quan hệ Trung Quốc - Philippines: thành
tựu, hạn chế; tác động của mối quan hệ này đối với bản thân mỗi nước vàkhu
vực, thế giới; so sánh quan hệ Trung Quốc - Philippines với quan hệ giữa
Trung Quốc vàmột số nước khác.
5
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Nghiên cứu mối quan hệ giữa hai
nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vàCộng hòa Philippines giai đoạn từ
2001 đến 2015.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian, nghiên cứu quan hệ Trung Quốc - Philippines trong
khoảng thời gian từ năm 2001 (khi bà Arroyo lên làm Tổng thống
Philippines) đến năm 2015. Tuy nhiên, để làm rõnhững nhân tố tác động đến
quan hệ Trung Quốc - Philippines, chúng tôi có đề cập đến quan hệ giữa hai
nước trước năm 2001.
- Về nội dung, nghiên cứu những nội dung hợp tác chủ yếu trong quan
hệ của hai nước Trung Quốc vàPhilippines. Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến
quan hệ của hai nước thông qua khuôn khổ ASEAN vàmột số vấn đề cóliên
quan đến mối quan hệ này.
Ngoài đối tượng vàphạm vi nêu trên, những vấn đề khác không thuộc
đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài.
5. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tài liệu
Để hoàn thành khóa luận này,tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu sau đây:
- Các văn kiện của Đảng Cộng sản Trung Quốc, các chính sách cải cách
của Trung Quốc qua từng thời kì, các văn bản kíkết giữa Trung Quốc và
Philippines nói riêng, Trung Quốc với ASEAN nói chung.
- Tài liệu của các trung tâm nghiên cứu trong và ngoài nước về lĩnh vực
chí
nh trị, đối ngoại, kinh tế, quân sự…của Trung Quốc vàPhilippines.
- Các công trì
nh khoa học đã xuất bản, luận văn, các công trình nghiên
cứu, báo cáo trong các hội thảo khoa học liên quan đến nội dung khóa luận.
6
- Các bài báo đăng trên các tạp chí, trong đó chủ yếu là Nghiên cứu
Đông Nam Á, Nghiên cứu Trung Quốc, Nghiên cứu Đông Bắc Á, Tạp chí
Quan hệ quốc tế, các nguồn tin của TTXVN.v.v...
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận Mác - Lênin và
các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành, chủ yếu sử dụng phương pháp
phân tích, phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgic. .
6. Đóng góp của khóa luận
Với khóa luận này, tôi cố gắng để cóthể đạt được một số đóng góp sau:
- Làcông trình nghiên cứu một cách cóhệ thống và khá đầy đủ các lĩnh
vực trong quan hệ giữa Trung Quốc vàPhilippines từ năm 2001 đến nay.
- Bước đầu cónhững nhận xét, đánh giá về quan hệ của hai nước Trung
Quốc và Philippines, trên cơ sở đó nêu lên một số gợi mở đối với quan hệ
song phương giữa các nước, trong đó có Việt Nam.
- Làtài liệu tham khảo cógiátrị phục vụ học tập, nghiên cứu về quan
hệ Trung Quốc vàPhilippines cho sinh viên chuyên ngành lịch sử thế giới,
quan hệ quốc tế vànhững người quan tâm.
7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa
luậnđược trình bày trong 3 chương:
Chương 1. Những nhân tố tác động đến quan hệ Trung Quốc Philippines (2001 - 2015).
Chương 2. Quan hệ Trung Quốc - Philippines trên một số lĩnh vực từ
2001 đến 2015.
7
Chƣơng 1
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
QUAN HỆ TRUNG QUỐC – PHILIPPINES (2001 – 2015)
1.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực
1.1.1. Tình hình quốc tế
Những năm cuối thế kỷ XX và hơn một thập niên đầu của thế kỷ XXI,
tì
nh hì
nh quốc tế đã có nhiều thay đổi và tác động không nhỏ đến quan hệ
song phương và đa phương. Cơ cấu địa chính trị vàsự phân bố quyền lực toàn
cầu có sự biến đổi, tương quan lực lượng nghiêng về phía có lợi cho chủ
nghĩa tư bản. Sự sụp đổ của trật tự thế giới hai cực giữa hai siêu cường XôMỹ đã đưa thế giới bước vào thời kì quá độ để hì
nh thành một trật thự thế giới
mới. Với sự vươn lên phát triển vượt trội về kinh tế, quân sự, ngoại giao, Mỹ
cố gắng để chi phối thế giới bằng một trật tự “đơn cực”. Còn các nước khác
như Anh, Pháp, Nhật, Nga, Trung Quốc…, thì lại muốn thiết lập một trật tự
thế giới “đa cực”.
Trên thực tế, thế giới hiện nay đang tồn tại cục diện “nhất siêu đa
cường”. Cục diện này đang được hì
nh thành ngày càng rõnét vàchuyển biến
theo xu hướng thu hẹp khoảng cách về tiềm lực giữa các nước lớn do sự xuất
hiện, phát triển vàcạnh tranh của các chủ thể mới trong quan hệ quốc tế. Mỹ
vẫn là siêu cường mạnh nhất, song sự vượt trỗi của Mỹ so với các nước lớn
ngày càng có xu hướng giảm dần. Hiện nay, Trung Quốc trở thành nền kinh tế
lớn thứ hai thế giới, dự trữ ngoại tệ đứng đầu thế giới và ngân sách quốc
phòng chỉ đứng sau Mỹ. Các nền kinh tế mới nổi gồm: Braxin, Nga, Ấn Độ
vàNam Phi giành được thế cạnh tranh với ba trung tâm truyền thống làMỹ,
EU vàNhật Bản. Quan hệ giữa các nước lớn chuyển biến căn bản theo hướng
hòa dịu vàcùng nhau xây dựng các khuôn khổ, cơ chế mới để cùng hợp tác
xử lýnhững khác biệt, mâu thuẫn.
8
Những năm gần đây, xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa tiếp tục tác động
mạnh mẽ tới mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế, khu vực vàtừng quốc gia.
Toàn cầu hóa làm gia tăng sự lệ thuộc lẫn nhau về kinh tế, chí
nh trị, văn hóa...
giữa các nước, thúc đẩy sự giao lưu trao đổi vàsự gắn kết giữa các dân tộc.
Toàn cầu hóa trở thành một xu thế khách quan lôi cuốn các nước trên thế giới
tham gia. Tuy nhiên, xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tập
đoàn tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa cómặt
tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa hợp tác vừa cạnh tranh gay gắt. Toàn cầu
hóa không chỉ tạo ra những biến đổi mạnh mẽ về kinh tế, mà còn thúc đẩy
mối quan hệ liên quốc gia gia tăng cả bề rộng lẫn chiều sâu.
Tự do hóa kinh tế vàcải cách thị trường trên toàn thế giới diễn ra phổ
biến. Các nền kinh tế dựa vào nhau, xâm nhập lẫn nhau, khiến cho các nước
ngày càng tùy thuộc lẫn nhau. Toàn cầu hóa tạo điều kiện giao lưu văn hóa tri
thức quốc tế, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, toàn cầu hóa thúc đẩy sự phát
triển kinh tế. Mặt khác, toàn cầu hóa cũng làm tăng thêm mâu thuẫn giữa các
quốc gia dân tộc, giữa tăng trưởng kinh tế với bất công xãhội, tăng khoảng
cách phát triển giữa các quốc gia vàtrong từng quốc gia, giữa các lực lượng
lợi dụng toàn cầu hóa để mở rộng sự bóc lột về kinh tế, áp đặt về chí
nh trị…
Do đó, toàn cầu hóa không chỉ làkinh tế màcòn làmột quá trình đấu tranh
kinh tế - xãhội, kinh tế - văn hóa, tư tưởng rất gay gắt vừa làthời cơ, vừa là
thách thức đối với các quốc gia dân tộc trên toàn thế giới.
Sự vận động của thế giới trong hơn một thập niên đầu của thế kỷ XXI
cho thấy một đặc điểm, đó là vai trò các nước lớn vàquan hệ giữa các nước
lớn trở thành nhân tố quan trọng tác động đến sự phát triển của thế giới. Các
nước lớn cótrì
nh độ phát triển cao về kinh tế, khoa học - kỹ thuật, công nghệ,
sức mạnh về quân sự như Mỹ, Nga, Anh, Pháp, Đức, Nhật, Trung Quốc, Ấn
Độ... tỏ rõtham vọng “lãnh đạo thế giới”. Quan hệ giữa các nước lớn diễn ra
9
với nhiều cấp độ khác nhau: đồng minh, đối tác chiến lược, đối tác xây dựng,
đối thủ trực tiếp… Đồng thời, các mức độ quan hệ này cũng luôn thay đổi,
chuyển hóa phức tạp khó lường, nóchi phối quan hệ quốc tế hiện nay.
Cũng hơn một thập niên đầu thế kỷ XXI, thế giới bước vào cuộc khủng
hoảng kinh tế trầm trọng nhất trong nhiều thập kỷ qua. Cuộc khủng khoảng
gây ra đổ vỡ tài chính, suy thoái kinh tế, suy giảm tốc độ tăng trưởng ở nhiều
quốc gia trên thế giới. Để đối phóvới khủng hoảng, chí
nh phủ các nước thực
hiện nhiều chính sách như tăng cường vai trò điều tiết của nhà nước, chú
trọng phát triển bền vững, hạn chế phân hóa giàu nghèo… Cuộc khủng hoảng
đã làm biến đổi cục diện kinh tế thế giới, trung tâm kinh tế thế giới chuyển
dịch từ phương Tây sang các khu vực khác, nhất là sang khu vực phương
Đông. Trong đó, Trung Quốc nổi lên như một quyền lực kinh tế mới, cùng
đóng vai trò trong việc đưa nền kinh tế thế giới vượt qua khủng hoảng. Hoạt
động liên kết kinh tế tiếp tục diễn ra sôi động vàrộng khắp với vai tròdẫn dắt
của các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản… Nổi lên ở đây là
Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định đối tác thương
mại và đầu tư xuyên Đại Tây Dương (TTIP).v.v...
Trong sự phát triển của thế giới ngày nay, nhiều mặt tích cực đã đưa thế
giới phát triển tiến bộ, nâng cao trình độ khoa học - kỹ thuật, góp phần thúc
đẩy hòa bì
nh, dân chủ. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều vấn đề mang
tí
nh toàn cầu rất phức tạp, khó lường màkhông một quốc gia riêng lẻ nào có
thể giải quyết được. Nócần sự chia sẻ, hợp tác cùng giải quyết giữa các quốc
gia, khu vực. Môi trường an ninh, chí
nh trị toàn cầu diễn biến phức tạp. Làn
sóng cách mạng đường phố diễn ra ở khu vực Bắc Phi, Trung Đông gây ra
tì
nh trạng bất ổn về chí
nh trị vànội chiến kéo dài ở các khu vực này. Những
vấn đề toàn cầu hiện nay đang tiếp tục đe dọa đến sự sống của nhân loại như:
ô nhiễm môi trường, bùng nổ dân số, dịch bệnh hiểm nghèo, khủng bố quốc
10
tế, xung đột tôn giáo, sắc tộc, các vấn đề an ninh phi truyền thống... Những
vấn đề mang tí
nh chất nghiêm trọng vàphức tạp đòi hỏi các nước phải phối
hợp, hợp tác (cả song phương lẫn đa phương) một cách có hiệu quả không
phân biệt thể chế chí
nh trị, trình độ phát triển hay văn hóa.
Trong những năm tới, tình hì
nh thế giới vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp,
khó đoán định. Tương quan trên thế giới tiếp tục cónhững chuyển biến mạnh
mẽ. Các nước lớn sẽ tiếp tục triển khai và điều chỉnh chiến lược, sức mạnh và
vị thế quốc tế của Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ…gia tăng sẽ tạo điều
kiện cho những nước này có tiếng nói lớn hơn trong việc tái định hì
nh các
thiết chế cũng như “luật chơi” quốc tế. Cạnh tranh chiến lược, xung đột lợi
ích giữa các nước lớn, đặc biệt làMỹ vàTrung Quốc ở châu Á - Thái Bình
Dương sẽ trở nên gay gắt hơn. Tuy nhiên, khó có khả năng bùng phát xung
đột quân sự Mỹ - Trung do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân Mỹ
vẫn phải tập trung vào cuộc chiến chống khủng bố vàchủ nghĩa Hồi giáo cực
đoan ở Trung Đông, Nam Á, trong khi Trung Quốc phải dồn sức lực để xử lý
các vấn đề đối nội và phát triển đất nước.
Tình hì
nh quốc tế nêu trên đã và đang có những tác động nhất định đến
quan hệ song phương giữa các nước, trong đó có quan hệ Trung Quốc Philippines.
1.1.2. Tình hình khu vực
Trong sự phát triển của thế giới từ những năm đầu thế kỷ XXI đến nay,
khu vực châu Á, nhất là Đông Nam Á, đóng vị trí địa - kinh tế, địa - chính trị
quan trọng của thế giới. Nơi đây đã và đang trở thành khu vực vừa hợp tác,
vừa cạnh tranh của nhiều nước, nhất là các nước lớn.
- Về kinh tế:
Hợp tác khu vực lớn nhất hiện nay làDiễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương (APEC), có dân số chiếm khoản gần 50% dân số thế giới,
11
đóng góp gần 50% thương mại và60% GDP thế giới. Chí
nh khu vực này đã
ảnh hưởng đến sự hì
nh thành một cấu trúc kinh tế thế giới mới cân bằng hơn,
trở thành trục xoay trong quan hệ của các nước Mỹ, Tây Âu và các nước lớn
khác hiện nay.
Xu hướng liên kết kinh tế, an ninh - chính trị trong khu vực diễn ra ngày
càng năng động, đa dạng hơn với động lực quan trọng nhất là nhu cầu gia
tăng không ngừng về thúc đẩy hợp tác mọi mặt giữa các nước trong khu vực.
Các nước Đông Nam Á đã hợp tác với nhau trong tổ chức ASEAN về kinh tế,
văn hóa, khoa học - kỹ thuật. Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC); Khu vực
mậu dịch tự do ASEAN (APTA) được hình thành. Các nước Đông Nam Á là
những thành viên của diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
(APEC). Sự hợp tác trong nhóm nước ngày càng gia tăng ASEAN có xu
hướng đẩy mạnh liên kết sâu rộng vàtoàn diện để tăng sức mạnh như một
cộng đồng. Một loạt chương trình đã thông qua nhằm định hướng tương lai
hợp tác của ASEAN như tầm nhì
n ASEAN 2020, thành lập Cộng đồng
ASEAN (12/2015) với 3 trụ cột chí
nh: an ninh - chí
nh trị, kinh tế và văn hóa xãhội. Ngoài việc tăng cường hợp tác liên kết nội bộ trong khu vực, ASEAN
còn mở rộng hợp tác ra bên ngoài theo các mô hình khác nhau như: ASEAN +
1, ASEAN + 3, các khu vực mậu dịch tự do giữa ASEAN với Trung Quốc,
Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia, Ấn Độ…. Các nước ASEAN đã thiết lập
quan hệ đối tác với Mỹ, Nga, các nước Đông Bắc Á, Diễn đàn hợp tác Á - Âu
(ASEM). Phần lớn các nước lớn trên thế giới, các tổ chức khu vực đều muốn
mở rộng hợp tác với các nước ASEAN. Bởi vì, đây là một thị trường cótiềm
năng nguồn nhân lực dồi dào, năng động, giàu tài nguyên, là nơi để các nước
đầu tư chuyển giao công nghệ. Đầu tư nước ngoài vào khu vực này tăng
nhanh nhất thế giới, năm 2000 là 13,7 tỷ USD đến năm 2004 là 25,1 tỷ USD,
hiện nay con số này còn tăng rất nhiều lần…
12
- Về an ninh - chí
nh trị:
Các nước Đông Nam Á đã thành lập Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF),
kíkết xây dựng Đông Nam Á là khu vực không có vũ khí hạt nhân, cố gắng
duy trìmột môi trường chính trị hòa bì
nh, ổn định. Bước sang đầu thế kỷ
XXI, tình hì
nh nội trị tại nhiều nước Đông Nam Á mặc dù không xảy ra
những xáo động lớn nhưng đấu tranh giành quyền lực giữa các phe phái diễn
ra gay gắt, phức tạp. Các nguyên nhân chủ yếu là do các nước này đang trong
quátrình dân chủ hóa, nhiều quốc gia xuất hiện tì
nh trạng chí
nh trị rối ren,
liên tiếp thay đổi người đứng đầu, liên tục rơi vào khủng hoảng. Khu vực
Đông Nam Á cónhiều quốc gia theo đạo Hồi, đông nhất làIndonesia làm cho
hoạt động khủng bố ly khai của một số phần tử Hồi giáo cực đoan tiến hành
đã gây ra cho khu vực sự bất ổn định. Khủng bố đã trở thành mối đe dọa đối
với an ninh vàphát triển kinh tế trong khu vực, nhất là lĩnh vực đầu tư và du
lịch. Một số phần tử theo khuynh hướng Hồi giáo cực đoan đang trỗi dậy tại
Indonesia, Philippines, Thái Lan, Myanmar. Nó đã gây ra một số vụ khủng bố
nghiêm trọng trong khu vực tại Bali năm 2002 và 2005, tại miền Nam Thái
Lan năm 2005. Bên cạnh đó, ở các nước trong khu vực còn diễn ra một số
tranh chấp, xung đột vũ trang do sắc tộc vàtôn giáo ngày càng bị chí
nh trị
hóa, vàquốc tế hoávới sự tác động của các thế lực bên ngoài, đặc biệt tại
Philippines, Thái Lan vàMyanmar. Ngoài ra, khu vực này vẫn tồn tại một số
bất đồng vàtranh chấp biên giới, chủ quyền lãnh thổ nhưng không bùng nổ
thành xung đột như giữa Thái Lan vàCampuchia. Tranh chấp về mặt lịch sử
giữa các nước trong khu vực với Trung Quốc về chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải,
đặc quyền kinh tế…, tạo ra sự tranh chấp về sự ảnh hưởng của Trung Quốc,
Nhật Bản đến khu vực Đông Nam Á. Trong những năm gần đây đã diễn ra
vấn đề tranh chấp về Biển Đông và nó đã thu hút được sự chú ý của cả khu
vực châu Á - Thái Bình Dương và các nước lớn trên thế giới.
13
Mỹ triển khai chiến lược “tái cân bằng châu Á - Thái Bình Dương”, tăng
cường hợp tác với các nước đồng minh, chủ động linh hoạt trong quan hệ với
các đối tác mới nổi ở khu vực để kiềm chế, cân bằng với Trung Quốc. Mỹ tiếp
tục duy trìsự hiện diện vàảnh hưởng ở khu vực, nỗ lực để hình thành một
“vành đai” chiến lược nhằm ngăn ngừa Trung Quốc. Song, có thể thấy vai
trò, ảnh hưởng, khả năng chi phối tình hì
nh của Trung Quốc cũng ngày càng
gia tăng. Trung Quốc chútrọng mở rộng không gian chiến lược, mở rộng ảnh
hưởng để tìm cách từng bước áp đặt vai trò lãnh đạo khu vực, đối phóvới sự
can dự của Mỹ và đồng minh.
Trong thời gian tới, ảnh hưởng của Mỹ vàTrung Quốc ở khu vực đã và
sẽ tiếp tục mang hình thái “cài răng lược” thay vìcó“chiến tuyến”, ranh giới
rõ ràng như thời Chiến tranh lạnh. Nga sẽ ngày càng lớn mạnh về kinh tế,
từng bước cân bằng quan hệ với Mỹ, EU vàquan tâm nhiều hơn đến khu vực
châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á. Nhật Bản từng
bước vươn lên về chí
nh trị để ngang bằng với sức mạnh kinh tế vàsẽ can dự
ngày càng nhiều hơn, trực tiếp hơn vào các vấn đề quốc tế khu vực.
Châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục là khu vực địa - chiến lược quan
trọng của thế giới cả về chí
nh trị, kinh tế, an ninh - quốc phòng. Các nước lớn
quan tâm nhiều hơn đến khu vực này vàtiếp tục chuyển trọng tâm chiến lược
sang khu vực làm cho châu Á - Thái Bình Dương ngày càng tập trung nhiều
lợi ích, mâu thuẫn giữa các nước lớn, nhất làgiữa Mỹ vàTrung Quốc vàgiữa
các nước lớn với các nước trong khu vực. Sự tranh chấp chủ quyền về biển,
đảo; sự tranh giành lợi í
ch giữa các nước lớn vàchính sách chạy đua vũ trang
cóthể gây bùng nổ xung đột ở Biển Đông, Bán đảo Triều Tiên vàeo biển Đài
Loan. Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản….ba nước lớn này sẽ tiếp tục gia tăng ảnh
hưởng vàtranh giành lợi ích tại khu vực Đông Nam Á. Đặc biệt, Trung Quốc
sẽ đẩy mạnh thực hiện chiến lược biển, quyết liệt hơn trong thực hiện ý đồ,
14
tham vọng khống chế kiểm soát Biển Đông, cạnh tranh quyết liệt với Mỹ về
lợi ích chiến lược ở Đông Nam Á làm cho tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông
tiếp tục diễn biến phức tạp.
Quan hệ Trung Quốc - Philippines giai đoạn 2001 - 2015 nằm trong bối
cảnh chung của tì
nh hì
nh quốc tế vàkhu vực có nhiều biến động, thay đổi.
Mối quan hệ song phương này dù là ở phương diện nào cũng sẽ chịu ảnh
hưởng, chi phối của tì
nh hì
nh nói trên.
1.2. Nhân tố Mỹ nhân tố ASEAN trong quan hệ Trung Quốc - Philippines
1.2.1. Nhân tố Mỹ
Làkhu vực cóvị tríchiến lược quan trọng, Đông Nam Á là khu vực chịu
ảnh hưởng của một số nước trong đó có Mỹ. Mục tiêu bao trùm của Mỹ đối
với khu vực là: Duy trìảnh hưởng vàvị trí lãnh đạo của mình; ngăn chặn bất
kì cường quốc hoặc liên minh nào nổi lên thách thức vị tríảnh hưởng vàlợi
ích của Mỹ; ủng hộ các đồng minh quân sự trong khu vực; bảo đảm tự do an
toàn tuyến đường hàng hải qua khu vực này.v.v...
Trong Chiến tranh lạnh, Mỹ coi Đông Nam Á như một gọng kìm trong
chiến lược châu Á - Thái Bình Dương để kiềm chế ảnh hưởng của Liên Xô,
ngăn chặn sự mở rộng của chủ nghĩa xã hội. Mỹ đã thực hiện chí
nh sách bảo
hộ quân sự, an ninh, lôi kéo về chí
nh trị vàviện trợ về kinh tế đối với một số
nước Đông Nam Á, trong đó có ở Philippines.
Từ đầu thế kỉ XXI, nhất làsau sự kiện 11/9/2001, Mỹ bắt đầu thực hiện
“Chiến lược toàn cầu mới” nhằm ngăn chặn sự “trỗi dậy” của Trung Quốc,
sự chuyển mình của Ấn Độ, sự gia tăng tâm lý chống Mỹ của thế giới Hồi
giáo vàtầm quan trọng ngày tăng của các tuyến đường hàng hải đối với an
ninh năng lượng quốc tế. Mỹ ngày càng quan tâm hơn và từng bước quay trở
lại khu vực Đông Nam Á, quay trở lại các đồng minh truyền thống, mà
philippines là nước không thể bỏ qua.
15
Về chí
nh trị, Mỹ giương chiêu bài “dân chủ, tự do, nhân quyền” gây áp
lực đối với ASEAN thành lập Ủy ban nhân quyền ASEAN; bao vây cấm vận
Myanmar vàủng hộ “phái dân chủ” đòi chính quyền Myanmar cải cách dân
chủ, gây sức ép với Việt Nam về nhân quyền vàtôn giáo. Mỹ can thiệp vào
tì
nh hình nội bộ một số nước Đông Nam Á như can thiệp vào các cuộc bầu cử
ở Philippines vàIndonesia nhằm xây dựng các chí
nh phủ thân Mỹ…
Về an ninh quốc phòng, Mỹ khôi phục và tăng cường hợp tác an ninh
quân sự với các nước Đông Nam Á: củng cố quan hệ với các nước đồng minh
cũ thông qua hàng loạt các thỏa thuận quân sự mới như ký với Thái Lan thỏa
thuận thiết lập căn cứ hải quân mới gần Satahip vàUtapao vàlập trung tâm
chống khủng bố (năm 2003); ký với Singapore “Thỏa thuận khung về hợp tác
đối tác chiến lược trong phòng thủ và an ninh” (năm 2003). Ngoài ra, Mỹ còn
cải thiện vàmở rộng hợp tác an ninh quốc phòng với những nước khác như
Indonesia, Malaysia. Mỹ gia tăng can dự vàkiểm soát trên biển, trong đó có
Eo biển Malacca và khu vực Biển Đông thông qua “Sáng kiến an ninh
Contenno” (CSI), “Sáng kiến an ninh hàng hải khu vực” (RMSSI), “Hiệp
ước trợ giúp hậu cần”.v.v...
Về kinh tế, Mỹ chủ trương thúc đẩy khu vực Đông Nam Á, mở cửa thị
trường, cải thiện môi trường cho hàng hóa và đầu tư của Mỹ. Do vậy, Mỹ ký
“Tuyên bố chung về tăng cường quan hệ đối tác ASEAN - Mỹ” (năm 2005),
thúc đẩy các sáng kiến mới như “Sáng kiến Doanh nghiệp ASEAN” (2002) và
“Chương trình hợp tác ASEAN” (năm 2004), ký Hiệp định thương mại tự do
với Singapore (năm 2003)… Thương mại song phương Mỹ - ASEAN đã tăng
lên 140 tỷ USD năm 2004, so với 130 tỷ USD năm 2003[22; tr.53]. Hiện nay,
ASEAN vàMỹ đang là đối tác thương mại lớn thứ tư của nhau với kim ngạch
thương mại hai chiều đạt trên 186 tỷ USD. Mỹ là nước đầu tư lớn thứ ba ở
ASEAN, với tổng số vốn đầu tư đạt 8,5 tỷ USD năm 2010[47]. Các nước
16
ASEAN vàMỹ nhấn mạnh trong thời gian tới sẽ tăng cường hợp tác và đầu tư
nguồn lực để triển khai hiệu quả các dự án vàhoạt động trong thời gian tới.
Đối với Philippines, đã từ lâu làthuộc địa, là đồng minh truyền thống
thân cận của Mỹ, là nơi Mỹ đã xây dựng và đặt các căn cứ quân sự để triển
khai các chiến lược của mình ở châu Á - Thái Bình Dương. Ngay sau khi bà
Arroyo trở thành Tổng thống thứ 14 của Philippines, Washington nhanh
chóng công nhận Chính phủ Arroyo vàtuyên bố hợp tác chặt chẽ với chí
nh
quyền mới. Tuyên bố của Đại sứ quán Mỹ ở Manila nhấn mạnh: “Mỹ rất vui
mừng rằng cuộc khủng hoảng tổng thống tại Philippines đã được giải quyết,
màkhông cóbạo lực vàphùhợp với trình tự hiến pháp vàdân chủ… Chúng
tôi có mối quan hệ hợp tác cực kìchặt chẽ với tân Tổng thống Arroyo trong
quá khứ và mong muốn hợp tác với bà để tăng cường hơn nữa mối quan hệ
Mỹ - Philippines” [43].
Về chí
nh trị, Mỹ can thiệp vào tì
nh hì
nh chí
nh trị nội bộ, can thiệp vào
các cuộc bầu cử ở Philippines nhằm xây dựng các chí
nh phủ thân Mỹ, tìm
cách lôi kéo Philippines khỏi ảnh hưởng của các nước lớn khác, đặc biệt là
Trung Quốc…
Về an ninh quốc phòng, Mỹ tìm mọi cách để quay trở lại với các đồng
minh cũ đặc biệt làPhilipines thông qua các thỏa thuận quân sự mới, trao cho
Philippines vàThái Lan quy chế “Đồng minh quan trọng ngoài NATO”, ký
với Philippines “Hiệp định cùng nhau chi viện hậu cần”(năm 2002). Tăng
cường sự hiện diện quân sự của Mỹ tại các căn cứ quân sự ở Philippines
thông qua các cuộc tập trận chung kéo dài. Căn cứ không quân Clark và căn
cứ hải quân Xubic ở Philippines đã từng là căn cứ không quân, hải quân lớn
nhất của Mỹ ở nước ngoài. Mỹ công nhận tầm quan trọng của Manila trong
chiến lược của nước này đối với khu vực, bao gồm cả cuộc chiến chống
khủng bố. Mỹ tiếp tục mở rộng viện trợ quân sự và đầu tư cho Philippines.
17
Năm 2006, cả hai bên tuyên bố việc thiết lập một hiệp định an ninh mới, bao
quát lĩnh vực hợp tác nhằm đối phó với sự nổi loạn, cướp biển thảm họa tự
nhiên, bệnh dịch vàcác mối đe dọa phi quân sự khác. Tháng 9/2007, chí
nh
quyền Bush vàArroyo ký thỏa thuận về chương trình phát triển vàhòa bì
nh
tại Mindanao với tổng chi phílà190 triệu USD cho giai đoạn 5 năm. Mỹ còn
gia tăng sự kiểm soát trên biển đối với Philippines, ủng hộ Philippines trong
tranh chấp biển với Trung Quốc về bãi cạn Scarborough,…
Về kinh tế, Mỹ vàPhilippines đã có quan hệ thương mại bền chặt từ hơn
một nửa thế kỷ nay. Hai nước cũng đã tham gia ký Hiệp định khung về
thương mại và đầu tư (TIFA) vào tháng 11/1989 và một số các thỏa thuận
khác về thủ tục hành chí
nh hải quân vàrào cảng thương mại, biên bản ghi nhớ
về hợp tác chống vận chuyển trái phép hàng dệt may vàvải vóc…Philippines
làmột trong bốn nước tham gia chương trình Đối tác cho phát triển (PFG).
Chí
nh phủ Mỹ tập trung ưu tiên Kế hoạch phát triển Philippines nhằm duy trì
tăng trưởng kinh tế tổng thể và hồi phục.Mỹ đã giúp Philipines trong việc
phát triển kinh tế, đầu tư của Mỹ vào Philippines không ngừng tăng lên, giúp
nhân dân Philippines khắc phục hậu quả của các cơn bão. Philippines là điểm
đến đầu tư nước ngoài hấp dẫn với các công ty Mỹ, bởi chi phí thương mại
thấp, giáthành sinh hoạt thực phẩm, điện, nước, nhàcửa… thấp hơn 50% so
với ở Mỹ. Hiện tại, Mỹ là nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất của
Philippines. Chỉ tính riêng năm 2012, FDI của Mỹ vào Philippines tăng đáng
kể, lên đến 497,61 triệu USD. Mỹ là đối tác thương mại lớn thứ hai của
Philippines, sau Nhật Bản.
Trong thời gian gần đây, Philippines bắt đầu có lập trường độc lập và
quyết đoán hơn vì lợi ích và chủ quyền quốc gia trong quan hệ với Mỹ.
Philippines đã bắt đầu phản đối những gìhọ cảm nhận như là sự can thiệp của
Washington trong các vấn đề nội bộ của đất nước, cũng như sự hiện diện của
18
quân đội Mỹ với các cuộc diễn tập trong một thời gian dài. Ông Benigno
Aquino III, Tổng thống Philippines đắc cử hôm 10/5/2010 đã kêu gọi sửa đổi
Hiệp định lực lượng Thăm viếng (VFA), cho phép và định nghĩa các cuộc tập
trận quân sự giữa liên quân Hoa Kì- Philippines. Cựu Tổng thống Joseph
Estradam, người đứng thứ hai trong cuộc bầu cử, cũng đã kêu gọi sửa đổi hiệp
định này. Đây đồng thời phản ánh thực tế sự thất vọng của người dân
Philippines về quan hệ với Mỹ. Mặc dù, đã có thời kì quan hệ Mỹ Philippines phát triển rực rỡ trên nhiều lĩnh vực nhưng trong giai đoạn gần
đây, dưới sự ảnh hưởng của Trung Quốc quan hệ này đang từng bước có sự
thay đổi làm cho quan hệ Philippines cũng theo chiều hướng xấu đi, nghiêng
dần cán cân về phí
a Trung Quốc. Mặc dù động thái phản đối Mỹ của chí
nh
phủ và người dân Philippines mới chỉ được thể hiện qua lời nói, nhưng dù sao
quan hệ đồng minh giữa Washington và Manila cũng không còn “mặn mà”
như xưa[7; tr.71].
Như vậy, chí
nh những thay đổi trong chí
nh sách của Mỹ đối với
Philippines trong thời gian gần đây đã tạo ra một rào cản lớn đối với quan hệ
giữa Trung Quốc với Phillippies. Trong khi Trung Quốc muốn tăng cường độc
chiếm Biển Đông thì sự hiện diện của Mỹ làmột thách thức không nhỏ đối với
các nhà lãnh đạo Bắc Kinh. Mặt khác, trong thời gian gần đây những phản đối
của người dân vàChí
nh phủ Philippines đối với Mỹ đã tạo ra cho Trung Quốc
có cơ hội để tăng cường hợp tác toàn diện với Philippines trên nhiều lĩnh vực
để thực hiện tham vọng của mình đối với các nước ở khu vực châu Á - Thái
Bình Dương.
1.2.2. Nhân tố ASEAN
ASEAN làmột tổ chức khu vực đang phát triển năng động và được sự
quan tâm của nhiều nước lớn. ASEAN đã mở rộng quan hệ hợp tác song
phương với Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu, Trung Quốc, Ấn Độ….Chính sự hợp tác
19