Kinh dịch
Kho tàng văn hoá phi vật thể phương Đông vốn nổi tiếng lịch sử với tư tưởng triết học, nhân
sinh quan, đạo đức xã hội, trong đó Kinh Dịch trở thành bộ sách tủ của nhiều thế hệ nho
học vì nó vô cùng thần bí, càng nghiên cứu càng thấy mênh mông.
Là một trong ba bộ sách cổ nhất của Trung Hoa sau Kinh Thi và Kinh Thư. Nó có thể ra đời
vào cuối đời Ân khoảng 1000 năm trước Công nguyên, (là loại sách mà Tần Thuỷ Hoàng
không đốt bỏ). Cuốn sách tập trung công sức nhiều học giả, đạo gia như Văn Vương, Chu
Công, Khổng Tử, Phí Trực, Vương Bật, Trịnh Huyền, Thiệu Khang Tiết, Chu Hy bổ sung thêm
2000 năm nữa theo từng giai đoạn lịch sử. Tác phẩm đầu tiên nói về Kinh Dịch là cuốn Chu
lễ đời nhà Chu chép rằng có ba loại bói do quan Thái bốc giữ là Liên sơn dịch, Quy tàng dịch
và Chu dịch, dần dà hai loại đã mất đi chỉ còn Chu dịch. Chữ Dịch có thể hiểu: biến đổi, giao
dịch và biến dịch (theo quy luật nhất định). Lúc đầu Chu dịch chỉ là những phán đoán về
thời thế, vận mạng nhưng sau đó người ta thêm những giải thích có tính hệ thống và Chu
Dịch trở thành cuốn cẩm nang lý luận triết học. Ngoài phần kinh gốc, đời nhà Hán người ta
gói gộp cả phần bổ sung vào thành Kinh Dịch. Dịch khó hiểu vì nó vốn là một bộ điển tịch
tối thượng cổ, ngôn ngữ cực kỳ hoang sơ, người đời sau không thể hình dung ra được và mỗi
câu mỗi quẻ của Kinh Dịch đòi hỏi con người ta phải nghiền ngẫm suy luận, phát triển óc tư
duy sáng tạo.
Nhiều nhà nghiên cứu kỳ văn cổ học hiện đại đã so sánh sự hình thành vũ trụ từ vụ nổ
BigBang với bản chất Kinh Dịch dựa trên thuyết âm dương. Sự tạo thành âm dương trong
bầu Thái cực hỗn độn (Thái cực có nghĩa lớn hơn hết, trước hết là khí Tiên thiên bất diệt và
nguồn gốc của sự sống), sau tách thành Lưỡng nghi là dương vạch liền - và âm vạch đứt -
- . Đặt các vạch này chồng lên nhau sẽ được Tứ tượng: Thái dương, Thiếu dương, Thái âm,
Thiếu âm. Tiếp theo, ta lấy âm và dương chồng lên Tứ tượng và sẽ thành Bát quái là Càn
(trời, ba vạch dương), Ly (hoả, dương dương âm), Khôn (đất, âm âm âm), Khảm (nước, âm
dương âm), Đoài (hồ, âm âm dương), Chấn (sấm, âm âm dương), Tốn (gió, dương dương
âm) và Cấn (núi, dương âm âm). Nếu lại lấy bát quái đặt chồng lên nhau lần lượt 8 x 8
thành 64 quẻ (mỗi quẻ là kết hợp của sáu vạch âm dương và mỗi vạch có thể biến đổi một
lần như vậy sẽ thành 384 biến quẻ) gồm 30 quẻ Kinh Thượng: Càn, Khôn, Truân, Mông,
Nhu, Tụng, Sư, Tỷ, Tiểu súc, Lý, Thái, Bĩ, Đồng nhân, Đại hữu, Khiêm Dự, Tuỳ, Cổ, Lâm,
Quan, Phệ hạp, Bí, Bác, Phu, Vô vọng, Đại súc Lôi di, Đại quá, Khảm, Ly. 34 quẻ Kinh Hạ:
Hàm, Hằng, Độn, Đại tráng, Tấn, Minh di, Gia nhân, Khuể, Kiển, Giải, Tổn, Ích, Quải, Cấu,
Tuy, Thăng, Khốn, Tỉnh, Cách, Đỉnh, Chấn, Cấn, Tiệm, Quy muội, Phong, Lữ, Tốn, Đoài,
Hoán, Tiết, Trung phu, Tiểu quá, Ký tế, Vị tế. Sau đó đến phần Thập dực (thực chất là 10
truyện chú giải của những học giả xưa đối với bản gốc của Kinh Dịch): Thoán truyện, Tương
truyện, Hệ từ truyện, Văn ngôn truyện, Thuyết quái truyện, Tự quái và Tạp quái truyện.
Người Trung Hoa từ cổ chí kim chỉ sử dụng 64 tượng hình này để diễn giảng tất cả các quan
niệm của họ về vũ trụ nhân sinh, thiên văn, xã hội. Từ công việc cụ thể như ăn uống, tu
thân, nhóm bạn, tìm thầy, giữ gìn gia đình, tề gia, dạy trẻ đến giáo dục quần chúng, trị
quốc an dân, hình pháp, dụng binh, đoàn kết, dùng hiền tài, làm cách mạng và cuối cùng là
xem thời vận, thiên văn để tránh dữ đón lành, cùng chung sống với tự nhiên.
Khi mới ra đời, Chu Dịch dùng để bói, nhưng sau khi người ta đem tư tưởng Khổng, Lão
thêm vào thì Kinh Dịch trở thành một pho triết học tổng kết đạo đức của Trung Hoa. Kinh
Dịch còn hàm chứa cái Đạo của bầu trời, mặt đất và con người trong một quan hệ tác động
biện chứng theo quy luật vô hạn của dịch: sinh ra - biến hoá - suy yếu - mất đi. Tóm lại,
Kinh Dịch chỉ ra bản chất của vạn vật lý luận của nó có thể coi như một cánh cửa. Cửa đóng
là ở trạng thái âm (tiêu cực), cửa mở là chuyển sang trạng thái dương (tích cực). Cứ thế
cánh cửa mở ra đóng lại nhiều lần là biến đổi (chuyển hóa trạng thái lẫn nhau của âm
dương). Thời gian đóng mở liên tục mãi như vậy là Thông biến. Sự tồn tại không thành vật
khi cửa mở gọi là Tượng, sự hiện hữu thành vật khi cửa đóng gọi là Khí. Nhu cầu làm ra cửa
để đóng mở gọi là Quy phạm và tác dụng của nó làm cho muôn người ra vào theo phản xạ
không cần ý thức gọi là Thần. Người đời chưa thể hiểu hết Kinh Dịch nên vẫn gọi nó la Vạn
năng thiên thư.
Các học giả Tây phương đều cho rằng: Ấn Độ có Yoga làm thay đổi phương thức và quan
niệm về thể dục với sức khỏe còn Kinh Dịch của Trung Quốc làm thay đổi quan niệm triết
học và cách tư duy về thế giới. Sách được dịch nhiều sang tiếng Pháp, tiếng Anh. Phát minh
xuất sắc đầu tiên từ Kinh Dịch thuộc về Leibniz - triết gia kiêm toán học gia của Đức, người
nghĩ ra phép nhị phân số học năm 1679 dựa vào hai vạch âm dương trong Kinh Dịch. Nhà
tâm lý học Thụy Sĩ, Jung, đã dùng Kinh Dịch để tìm hiểu cội nguồn tâm lý tư tưởng của con
người tại một thời điểm nhất định. Trong quân sự Nga và Mỹ đang ráo riết nghiên cứu công
năng đặc dị của con người qua liên lạc bằng tâm thức cảm ứng. Trong thiên văn, Dịch là cơ
sở để nghiên cứu chu kỳ vận động của mặt trăng các hành tinh cùng sự thay đổi của khí
hậu. Trên thương trường, người Nhật Bản và Hàn Quốc dang ứng dụng luật biến dịch để
giành quyền kiểm soát thị phần... Gần đây, cơn sốt đọc Kinh Dịch lan rộng khắp Trung
Quốc, rất nhiều hội Dịch học ở các tỉnh, thành phố lớn mời những học giả tiếng tăm, nghiên
cứu Dịch lâu năm đến giảng dạy và trao đổi kinh nghiệm rồi in thành hàng ngàn đầu sách,
trong đó hàng trăm cuốn chỉ dẫn ứng dụng y học cổ truyền, phòng bệnh bằng phương pháp
duy trì bảo vệ sự cân bằng âm dương trong cơ thể con người hoặc trong cách luyện khí
công, điều chỉnh kinh mạch.
Kinh Dịch từ lâu đã được dịch sang tiếng Việt qua các bản dịch của các bậc trí giả, nhà
nghiên cứu đại thụ như Nguyễn Mạnh Bảo, Nguyễn Duy Tịnh, Ngô Tất Tố, Phan Bội Châu,
Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy Cần và của một số nhà triết học khác nhưng cũng chưa ai tự
nhận mình là một nhà Dịch học bởi Kinh Dịch vẫn còn là một đám mây mù ngũ sắc dày đặc
biến ảo bao la, hơn nữa, tuy sách thì nhiều, nhưng hầu hết đều bàn về cách hiểu Dịch hơn
là vận dụng vào thực tiễn! Tại thời điểm bài viết này, Hà Nội cũng có một số lớp học Dịch do
vài ba nhân vật nghiên cứu tài tử giảng dạy với phương châm học thuộc lòng để chọn hướng
đất, đặt mộ, xem ngày buôn bán tốt. Nghe đồn phong trào này rôm rả đến nỗi nhất định
Hội Dịch học nghiệp dư Hà Nội sẽ ra đời đúng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long. Không hiểu
tin này có đáng mừng không?