Nho giáo và kinh tế
Trần Đình Hượu
I
Nho giáo ra đời vào thời Xuân thu, Chiến quốc. Xuân thu (722 - 481), Chiến quốc (481-221)
là thời đại của lừa lọc, bạo lực và chiến tranh. Mấy trăm nước chư hầu thành lập đầu đời Chu
lần lượt bị tiêu diệt để còn lại vài chục vào thời Xuân thu và bảy nước vào thời Chiến quốc.
Bảy nước dùng chiến tranh khốc liệt tranh nhau quyền làm chủ toàn Trung Quốc. Khổng tử
và Mạnh tử, hai vị thánh của Nho giáo là những người rất nhiệt thành cứu đời. Đều làm cho
hai người đó lo lắng là cảnh loạn ly “con giết cha, tôi giết vua, tranh giành nhau, gây chiến
tranh với nhau, làm đủ chuyện bậy bạ”. Hai người để cả cuộc đời chạy vạy khắp các nước,
mong kiếm một ông vua chịu theo Đạo; Nghĩa của mình, thực hành vương đạo để có thái
bình. Nguồn gốc của loạn ly, theo Khổng tử và Mạnh tử là tranh giành, kiện tụng và chiến
tranh, đẻ ra từ chỗ không ai chịu yên phận, yên mệnh, người nghèo muốn giàu, người giàu
muốn giàu thêm, tìm mọi cách giành thêm cho nhiều. Cho nên cách của đời theo họ ý họ là
xác định phân vị, làm cho mọi người biết phận, yên phận, nhường nhịn nhau. Như thế thì xã
hội sẽ hòa mục, trật tự và ổn định. Khổng tử và Mạnh Tử không chỉ mong chấm dứt loạn lạc
trước mắt mà còn mong muốn, tin tưởng có thể lập ra một trật tự hợp lý vĩnh viễn để sau
đó người làm vua có thể “thõng tay mà cai trị”. Tất nhiên muốn đến đó những người có
trách nhiệm – kẻ làm vua và làm quan – phải nỗ lực làm việc chính sự (chủ yếu là giáo
hóa). Khổng tử nói: “Xử kiện (cho công bằng) thì ta cũng như những người khác; khác
chăng là ở năm thì có thể khắc phục sự tàn bạo và hủy bỏ việc giết người”.
Từ ái, khiêm nhường, lấy hòa làm quý là bỏ nguyên tắc tổ chức đời sống xã hội.
Nho giáo ra đời trên cơ sở một tổ chức chính trị- xã hội đặc biệt. Ở Trung Quốc từ đời Ân
(thế kỷ XVII trước CN) đã xuất hiện một vị Đế - từ đời Chu gọi Thiên tử - một vị Vua chung
có quyền phong cấp và tước bỏ các vua chư hầu. Đế (hay Thiên tử) biện chính sự thống trị
tập quyền của mình bằng tư tưởng trở thành nguyên lý lập hiến. “Dưới trời đất đai nào
chẳng là của vua, dân ở trên đất người nào chẳng là tôi tớ của vua”. Chính quyền tập trung
đó dựa vào tôn giáo, vào tình nghĩa họ hàng và người thân tín (cố cựu), dựa vào lễ để duy
trì quyền lực, tạo thành một tổ chức chính trị - xã hội phân biệt nghiêm ngặt theo chế độ
phân phong, đẳng cấp và họ hàng. Đến thời Xuân thu Chiến quốc, qua chiến tranh liên miên
mấy trăm năm, chế độ đó bị tan rã. Nhà Trần chia đất nước thành quận, huyện, xây dựng
nhà nước chuyên chế, quan liêu và quân sự. Nhà Hán tiếp thu đất nước đã địa vực hóa của
nhà Tần, ổn định thể chế dòng họ (hương đảng tộc cư) ở bên dưới cơ sở. Nhà nước Âu - Chu
dựa vào sự gắn bó họ hàng, tình nghĩa người cố cựu, tức là lấy quý tộc làm phên giậu. Từ
đời chiến quốc Mặc gia và Pháp gia đã nêu thật rõ cái sự thật quý tộc không thể đều tài giỏi,
hơn thế, nguy cơ tranh giành ngôi vua lại đến từ phía quý tộc. Nhà Tần tin dùng bộ máy
quan liêu, tiến cử hiền tài ngoài quý tộc, đã thử thách qua công việc thực tế. Nhà Hán thay
thế chế độ tiến cử bằng cách mở khoa thi để chọn người cho bộ máy quan liêu. Chế độ khoa
cử làm cho đội ngũ nho sĩ phát triển thành một đẳng cấp xã hội đông đảo. Nho sĩ coi chức
nghiệp của mình là đi học, thi đỗ và làm quan. Đó là đẳng cấp không dựa vào dòng máu quý
tộc và sở hữu tài sản, quyền lợi rất gắn bó với sự thống nhất đất nước và quyền hành vào
một mình ông vua. Trong quá trình lịch sử lâu dài, dầu quận huyện đã thay cho các nước
chư hầu vua quan, thứ dân đã thay cho quân tử, tiểu nhân, và về sau, các địa phương hoặc
giao cho quan văn cai trị hay các tướng lĩnh nhiều quyền hành quản chế, tức là trung ương
khống chế được các châu quận nhiều hay ít, thì nguyên tắc vương hữu và thần dân hóa toàn
thể vẫn được bảo vệ, làm cơ sở cho một ngôi vua chuyên chế, tập trung mọi quyền hành
trong tay, dẫu có khi trên thực tế điều đó chỉ có danh nghĩa suông. Dùng bộ máy quan liêu,
lựa chọn qua khoa cử và đội quân thường trực, ông vua chuyên chế đã tìm ra phương án tối
ưu để giữ ngai vàng.
Nho giáo ra đời và tồn tại trên cơ sở những điều kiện chính trị -xã hội đó. Cách cứu đời và lý
tưởng chính trị của họ đều là xuất phát từ mạng tiền đề đó, tìm cách hoàn thiện những thiết
chế đó để giữ thái bình. Nho giáo chủ trương thuyết thiên mệnh, coi trời là cha chung. Ngôi
vua thuộc về dòng họ của người có đức, được Trời lựa chọn, giao cho cai quản đất nước và
thần dân, Vua cũng là chung. Do mệnh trời mà có mệnh vua hay mệnh vua cũng là mệnh
trời. Việc vua phong chư hầu hay cử quan lại – sắp xếp tước vị và ban bổng lộc – là thực
hiện chức năng theo thiên mệnh, làm cho mọi người có vị có phận, lập ra trật tự xã hội.
Phận vị là căn cứ để có quan hệ trong đời sống xã hội. Mọi người theo phận, theo vị mà
sống, hưởng thụ về nền kinh tế và ứng xử với người khác. Không được tiếm vị, vượt phận.
Nên khiêm tốn, nhường nhịn, không được tranh giành. Khổng tử nói: “Giàu và sang là điều
ai cũng muốn, không bằng cách hợp đạo mà được thì cũng không nhận; nghèo và hèn là
điều ai cũng ghét, không bằng cách hợp đạo mà hết cũng không bỏ”. Thế là “Gặp giàu sang
thì xử cảnh giàu sang, gặp nghèo hèn thì xử cảnh nghèo hèn”, “không oán trời, không trách
người”.
Thực tế và phương hướng chung nói ở trên chi phối các quan điểm kinh tế của Nho giáo từ
thái độ của từng người đối với của cải, đối với việc kiếm ăn, làm giàu cho đến chính sách
kinh tế, tài chính của nhà nước. Cơ sở là xuất phát điểm cho những quan điểm kinh tế đó là
quyền vương hữu, quyền thần dân hóa toàn thể, là một ông vua có quyền và có trách
nhiệm sắp xếp mọi mặt cho mọi người, không cần quan tâm đến quyền sở hữu và thân
phận làm người của họ, là những người dân – tôi con của vua- trông chờ ở phận vị theo
mệnh vua, mệnh trời, cũng không cần và không được quan tâm đến quyền sở hữu và quyền
làm người của mình.
II
Tín đồ của Khổng Mạnh vốn đặt việc tu dưỡng đạo đức lên trên hết, theo đúng lời dạy “Kẻ
quân tử lo Đạo chứ không lo nghèo đói”, tu dưỡng không chỉ là để cho mình có đạo đức mà
còn nhằm mục đích trị dân, tạo ra xã hội lễ nhượng và bình trị. Biện pháp trị dân là dùng
Đức để treo gương, để thu phục, dùng Lễ Nhạc để giáo hóa, tổ chức. Nhưng Khổng tử cũng
đã coi làm cho dân đủ ăn là một công việc hàng đầu để trị nước. Mạnh tử nói: “Người ta có
hằng sản mới có hằng tâm”, “năm đói kém nhiều người hung bạo”. Cho nên kẻ cai trị nước
phải lo cho dân sống no ấm “trông lên có thể phụng dưỡng cha mẹ, trông xuống có thể nuôi
nấng vợ con”. Có no ấm thì mới dễ theo điều thiện, trật tự mới để bảo vệ, ngôi vua mới dễ
vững vàng.
Phải lo cho dân no ấm nhưng no ấm chưa phải là mối lo hàng đầu.
Khổng tử nói: “Kẻ có nước, có nhà không lo ít mà lo không đều, không lo nghèo mà lo
không yên. Bởi vì đã đều thì không có nghèo, đã hòa mục thì không có ít, đã yên ổn thì
không có nghiêng đổ”. Với quyền vương hầu, vua làm chủ một quốc gia rộng lớn nhưng lại
với một nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu và phân tán. Sản xuất nông nghiệp và thủ công
đều nhằm tự túc, tiến hành ở từng hộ. Chưa có nhu cầu trao đổi hàng hóa rộng rãi ngoài
làng xã. Vua, người có quyền sở hữu không trực tiếp nắm giữ vật sở hữu - ruộng đất và sức
lao động – để quản lý và khai thác kinh doanh như chủ nô và lãnh chúa. Vua giao ruộng đất
cho làng xã, làng xã, quận cấp cho dân, theo hộ mà cày cấy. Vua chỉ thu vật cống nạp: tô
dưới hình thức thuế, với cách đó vua chỉ làm chủ việc phân phối vật cống nạp; tác dụng đến
sản xuất chỉ là gián tiếp ảnh hưởng không nhiều. Việc tập trung quyền sở hữu mọi nguồn lợi
ruộng đất, núi rừng, sông biển, quyền phân phối hoa lợi, quyền ban cấp tước vị vào chỉ một
người đặt vua chuyên chế vào vị trí đầu mối của những mâu thuẫn: mâu thuẫn với dân,
mâu thuẫn với quý tộc (họ hàng, công thần và hào trưởng địa phương), mâu thuẫn giữa nhà
nước và làng xã, tức là giữa trung ương và địa phương, giữa tập trung và phân tán. Có làm
cho các lực lượng mâu thuẫn về quyền lợi đó, hoặc vui lòng hoặc sợ uy mà chịu yên, không
tranh giành thì đất nước mới thái bình, ngôi vua mới yên ổn. Để tránh tranh giành cần ổn
định một tỷ lệ hợp lý giữa các phía. Cách giản tiện nhất là theo một phương án không thay
đổi: nguồn cống nạp ổn định và mức chia ổn định. Mạnh tử chủ trương “Dân theo hạng mà
chia ruộng, quan theo tước mà được cấp lộc”, nói cách khác nhà nước sắp xếp danh vị, và
mọi người theo danh vi mà có quyền, có lợi. Xác định danh vị - chính danh - vì lẽ đó được
Khổng tử coi là việc đầu tiên phải làm khi chấp chính. Cái để chia có thể nhiều hay ít nhưng
chia phải đạt yêu cầu quân bình. Quân bình là đều nhưng không có nghĩa là đồng đều, cào
bằng mà có nghĩa là có tương quan hợp lý. Theo Mạnh tử vua có 10, khanh có 1, quan
khanh có 4, Đại phu có 1… là quân bình. Tất nhiên, xuống phía dưới quãng cách có rút bớt,
nhưng người dân cách xa quan Khanh, Đại phu không phải không nhiều. Sự cách biệt để
biểu hiện trật tự không chỉ là ở sự khác nhau về tước và lộc mà còn cả ở quy chế về chát
liệu, màu sắc, độ dìa ngắn của quần áo, ở quy mô nhà cửa, mồ mả, ở quy định về cách
xưng hô, đi đứng… Một xã hội bất bình đẳng! Bất bình đẳng về tài sản, bất bình đẳng về
thân phận xã hội, trái với lòng mong ước tự nhiên của con người là ai cũng chỉ muốn giàu
sang. Cũng khó mà thuyết phục mọi người cách chia ở trên là quân bình, là hợp lý để ai ai
cũng vui lòng với cái ít, không chê nghèo, sống hòa mục. Cho nên Khổng tử giải thích, sự
bất bình đẳng xã hội bằng Mệnh : “chết sống là có Mệnh, giàu sang là tại Trời”. Con người
phải biết sống theo Lễ; Nghĩa. “Ai cũng muốn giàu sang”, nhưng “thấy lợi thì phải nghĩ đến
nghĩa”, vì “giàu sang mà do bất nghĩa thì đối với ta cũng như mây nổi” Khổng Mạnh đem
nghĩa đối lập với Lợi, cực lực chống Lợi, ngăn chặn tâm lý không chịu sống nghèo hèn, tự lực
làm giàu. Xu hướng đó, theo Mạnh tử, là nguy cơ của xã hội, “Trên dưới tranh nhau cái lợi”,
mọi người giao tiếp với nhau bằng lợi” thì “Nước ít khi không mất”.
“Quân bình thì không có nghèo, hoà mục thì không có ít” như Khổng tử dạy, cũng chỉ là nói
cái nghèo, cái ít tâm lý, Không cảm thấy nghèo, thấy ít mà đâm ra thắc mặc, suy bì, tranh
giành mà thôi. Còn cái nghèo, cái ít thực tức là cái đói rét. thiếu thốn thì vẫn còn. Sách Đại
học bàn đến “Đạo lớn làm ra của cải”, “làm cho của cải luôn luôn đủ”. Đạo đó là “Người làm
nhiều mà người dùng ít, làm gấp gáp mà dùng thong thả". Kẻ làm nhiều, làm gấp gáp là
dân lao động. Còn kè dùng? Không chỉ là kẻ làm ra của cải. Mạnh tử phản đối Hứa Hành và
Nông Gia là những người chủ trương mọi người – kể cả vua quan - phải cấy lấy mà ăn, dệt
lấy mà mặc. Mạnh tử đưa ra thuyết “thông công dịch sự” trao đổi sản phẩm lao động trên cơ
sở phân công lao động xã hội. Theo cách trao đổi đó “người lao tâm được người nuôi, người
lao lực phải nuôi người” là lẽ phải chung”. Người lao tâm có chức trách “lấy của chia cho
thiên hạ” (vua quan) lấy điều thiện dạy cho thiên hạ” (kẻ sỹ), tức là “lo việc cho thiên hạ”
được dùng của người “chỉ phải lo cho trăm mẫu ruộng của mình” (nông dân) là việc đương
nhiên. Nền sản xuất của xã hội là nông nghiệp, tô thuế cũng lấy từ nông nghiệp, cho nên
nông nghiệp được coi là nghề gốc. Khổng Mạnh và các nhà nho đời sau đều kêu gọi chăm lo
cái gốc đó; đòi hòi người cầm quyền quan tâm đến nông nghiệp, đến nông dân; vua coi
trọng lễ cày tịch điền, treo gương cho dân, ra chiều khuyến nông, vỗ về, khuyến khích nông
dân cày cấy: Khổng Mạnh chủ trương điều động lực dịch ngoài thời vụ, thu thuế nhẹ, định
ngạch và được báo trước... đều là nhằm làm cho nông dân có thời giờ và có hứng thú sản
xuất. Nông nghiệp là nghề vất vả, gặp nhiều bắt trắc và lợi xuất không cao. Những người
muốn có nhiều lợi muốn làm giàu đều bỏ nghề nông mà buôn bán. Cho nên Nho giáo coi
buôn bán là nghề của kẻ hèn hạ (tiện trượng phu). Trong tứ dân thương nhân bị xếp vào
hạng bét, và về sau nhiều chính sách ức thương khác được ban hành. Mạnh tử đã bàn về
vấn đề phân công, vấn đề trao đổi, vấn đề giá cả, chính sách thu thuế chợ, thuế đường...tức
là không phải chủ trương một nền sản xuất chỉ tự túc nhưng đường lối kinh tế là trọng nông
ức thương, giữ nôn dân không cho rời bỏ ruộng đất, lãng xã để ổn định việc nộp thuế, đi
phu, đi lính cho nhà vua.
Biện pháp quan trọng nhất để giải quyết cái nghèo vẫn là tiết kiệm. Người làm ruộng sau
khi nộp tô thuế, không còn lại bao nhiêu. Nhà vua thu cống nạp trên toàn quốc không phải
là ít, nhưng cũng không phải luôn luôn đủ. Lỗ Ai Công phàn nàn với Hữu Nhược chi dùng
không đủ muốn tăng thuế lên 2/10. Hữu Nhược nói với vua: “Trăm họ đủ thì ai để cho vua
không đủ, trăm họ không đủ thì ai để cho vua đủ”. Nhà nước theo Nho giáo, vốn quan hệ với
dân theo kiểu cha con: cũng giàu, cũng nghèo, tài sàn không rành mạch. Vua dễ dàng lấy
của con dân sống xa xỉ nghĩa là bóc lột nặng. Khổng tử và Mạnh tử đều chủ trương thuế
suất 1/10. Theo Mạnh tử thì thu quá 1/10 là Kiệt Trụ tàn bạo. Để chi dùng đủ Khổng Mạnh
đều khuyên tiết kiệm. Trừ các khoản phụng dưỡng cha mẹ, tang ma, tế lễ và tiếp đãi tân
khách, các khoản khác đều nên lựa chọn cách ít tốn kém nhất. Tuy vậy Nho giáo vốn trọng
nghi lễ và chuộng sự đúng mức. Người cầm quyền tiết kiệm là có đức, nhưng nếu đến như
Án Anh làm Tướng quốc nước Tề hùng cường mà suốt 30 năm chỉ đi một cỗ xe tàng, mặc
một chiếc áo lông sờn rách thì lại là thiếu thể thống không xứng với địa vị. Để làm cơ sở lý
thuyết cho chủ trương tiết kiệm, Nho giáo thuyết minh quan điểm tri túc, thiếu một chút
cũng là đủ, tiết dục hạn chế sự đời hỏi, coi thường của cải và hạnh phúc vật chất, lê án dục
vọng. “Kẻ sĩ để tâm tới đến Đạo mà lại thẹn ăn xấu, mặc xấy thì không đáng để cùng bàn”.
Không thấy Khổng tử nói cái vui cái sướng của nghèo túng: “ăn cơm rau, uống nước lã, co
tay làm gối mà nằm, cái vui đã có ở trong ấy”. Không phải Nho giáo chủ trương sóng ép xác.
An bần lạc đạo là sống theo Mệnh, theo Nghĩa, theo Lễ: sống đúng với Phận, vị. Có người
hỏi Khổng tử: nghèo mà không oán thán, giàu mà không kiêu căng thì đã được chưa? Khổng
tử nói: chưa bằng nghèo mà vui, giàu mà ham lễ”. “Vui và ham lễ, giàu hay nghèo đều yên
phận, yên mệnh, tôn trọng trật tự được sắp xếp theo danh vị. Mạnh tử còn muốn tiến thêm
một bước quy định tài sản của dân bằng phép Tỉnh điền. Tỉnh điền là hcia ruộng đất thành ô
vuông. Một khoảnh 900 mẫu, vạch theo hình chữ “tỉnh” thành 9 ô vuông đều nhau, mỗi ô
100 mẫu. Tám ô giao cho nông dân cày và tự thu hoạch. Ô ở giữa do tám hộ ấy cày và nộp
cho nhà vua. Mạnh tử tính mỗi hộ có 100 mẫu ruộng và 5 mẫu vườn để cấy lúa, trồng dâu,
nuôi tằm, nuôi 2 lợn nái và 5 gà mẹ thì đủ cung cấp cho một gia đình 9 người. người già có
thể mặc áo lụa, ăn thịt. Không phải lao động nặng các quan theo tước vị cao thấp mà được
nhiều hơn. Thật là tốt đẹp và quân bình. Khi đã chia xong không ai được lấn thêm bờ cõi,
khai hoang thêm diện tích, làm giàu ngoài phận. Những gia đình quan lại, đã được hưởng
lộc, không được làm thêm nghề phụ, tranh lợi với dân. Không chỉ Mạnh tử mà cả các thế hệ
nhà nho đời sau, cho đến tận dưới thời Tự Đức ở ta, vẫn còn tiếc rẻ cái phương án lý tưởng
đó. Phương án của Mạnh tử quả chứa đựng không ít nguyện vọng tốt đẹp nhưng vị á thánh
Nho giáo lại không tính đến chỗ ruộng đất không có địa hình dễ vạch thành ô vuông sau vài
đời các hộ sinh con đẻ cháu thì làm sao giữ được các ô vuông cố định, làm sao giữ được sự
quân bình? Và mọi hộ đều đồng loạt nuôi lợn nái, trồng dâu nuôi tằm thì cũng đẻ ra không ít
vấn đề kinh tế khó giải quyết. Cái được Nho giáo quan tâm hàng đầu là trật tự theo lễ.
Những vấn đề kinh tế không được đặt ra theo góc độ kinh tế mà ở góc độ chính trị - xã hội,
được giải quyết không theo cách kinh tế mà theo cách đạo đức, hành chính. Nếu không làm
được cho mọi người no ấm hơn thì cũng làm cho mọi người vui với cảnh nghèo khổ trong
trật tự phân vị. An bần chứ không trí. phú. Kẻ quân tử lo nghĩ về đạo chứ không lo nghĩ về
cái ăn “chết đói” là chuyện nhỏ, thất tiết (trái lễ) mới là chuyện lớn”.
Với sự thống trị lâu dài, Nho giáo đã ổn định một thể chế chính trị, kinh tế, xã hội và con
người cũng dần dần tìm ra cách sống phù hợp với nó. Không ai vui lòng chịu chết đói. Ai
cũng tìm một cách nào đó trong khuôn khổ những điều kiện mà mình có thể kiếm sống,
sống càng súng sướng càng tốt. Thể chế xã hội theo Nho giáo chỉ mở một con đường độc
đáo để sống sung sướng: kiếm danh bằng cách đi học, thi đậu và làm quan. Danh vị là
phương tiện kiếm sống: có vị thì có lộc. Điều đó thì cũng bình thường như có việc làm thì có
lương và lộc cũng không phải là hậu. Nhưng kẻ có vị - theo Nho giáo là kẻ có đức, có công
giáo hóa, là cha mẹ dân cần có vinh dự, được dân yêu kính, biết ơn. Ngoài vị là danh. Ngoài
lộc là bổng. Bổng là quà tặng, vật biếu- của vi thiềng để tỏ lòng kính trọng và biết ơn- người
làm thầy làm cha mẹ dân. Vớ cách sống lễ nghĩa, vật vi thiềng đó là hợp pháp. Bổng lộc, cái
được ban cấp, biếu xén, bao giờ cũng quý hơn miếng ăn tự kiếm lấy. Người có vị không
những có lợi, có quyền, có uy tín mà còn có tiêng thơm, không những bản thân mình hưởng
mà chia phúc cho cả gia đình, họ hàng, thậm chí cho cả làng xóm. Thực tế đó tạo ra trong
xã hội tâm lý chạy theo danh vị không chuộng thực nghiệp. Có nghề cầm tay, trong thực tế
cũng có thể đảm bảo cho bản thân và gia đình sống ấm no, nhưng không ai coi đó là vinh
dự. Cho nên người làm cha mẹ nào cũng cố gắng cho con đi học. Người đi học nào cũng lo
thi đỗ, có khi đi học, đi thi cho đến 80 tuổi. Học không phải để có tri thức mà để kiếm danh
vị. Việc làm giàu không được coi là chính đáng. Có làm được giàu cũng không được bảo vệ.
Hưởng thụ của cải do mình làm ra, nếu không hợp danh vị, thì cũng phải vụng trộm, giấu
giếm, không đàng hoàng. Đã phú thì phải chuyển thành qúy mới chắc chắn. Có thể kiếm
danh bằng con đường thi đỗ. Nhưng cũng có thể kiếm danh, nhanh chóng và chắc chắn hơn,
bằng mua bán và tìm nơi dựa dẫm. Nho giáo tạo ra một xã hội coi thường lao động, sản
xuất coi thường nghề nghiệp, coi thường kinh doanh. Quả là một xã hội ham học nhưng học
để làm quan. Di hại của nó là ở cách suy nghĩ, tính toán, là từ con đường mòn nó vạch sẵn,
từ tâm lý xã hội mà nó để lại.
III
Ở nước ta khoa cử đã bị bãi bỏ từ năm 1918, thể chế nhà nho cuối dùng cũng đã chết hết;
trong nước không còn ai học theo Nho giáo nữa. Quá trình xây dựng kinh tế xã hội chủ
nghĩa bắt đầu sau sự biến đổi cực lớn là Cách mạng tháng Tám và đến ngày nay đã hơn 30