1
MỤC LỤC
A. Mở đầu..................................................................................................................1
B. Nội dung...............................................................................................................2
I. Khái niệm, ý nghĩa, mục đích của nguyên tắc nhân đạo trong Luật hình sự......2
1. Khái niệm........................................................................................................2
2. Mục đích, ý nghĩa............................................................................................3
II. Nội dung nguyên tắc nhân đạo của Luật Hình sự..............................................3
III. Biểu hiện của nguyên tắc nhân đạo trong Bộ luật Hình sự 2015.....................4
1. Đối với người phạm tội...................................................................................4
2. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội.........................................................5
3. Đối với các tội phạm cụ thể............................................................................6
C. Kết luận.................................................................................................................8
Tài liệu tham khảo.....................................................................................................9
A. Mở đầu
Tinh thần nhân đạo như sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình lịch sử của dân
tộc Việt Nam. Nhân đạo là giá trị có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của
xã hội loài người, chính vì vật Đảng và Nhà nước ta trước sau như một khẳng
2
định sự cần thiết phải thiết lập và thực hiện nhân đạo phù hợp với điều kiện kinh
tế xã hội của đất nước và coi đó là một trong những nguyên tắc quan trọng của
chính sách kinh tế xã hội cũng như công cuộc đổi mới, xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trong Bộ luật
hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), có thể thấy tư tưởng
nhân đạo được phản ánh rõ nét, là tư tưởng bao trùm, xuyên suốt trong quan
điểm, đường lối đấu tranh phòng chống tội phạm. Tư tưởng này cũng được xác
định là kim chỉ nam trong suốt lịch sử lập pháp qua các thời kỳ khác nhau và
trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tư tưởng nhân đạo một lần
nữa được thể hiện rõ nét và sâu sắc, thể hiện được bản chất giai cấp của nhà
nước ta trong từng chế định pháp luật cụ thể. Trong phạm vi bài tiểu luận, tôi xin
được trình bày những vấn đề liên quan đến tính nhân đạo trong Luật Hình sự
cũng như thực tiễn áp dụng nguyên tắc nhân đạo trong Bộ luật Hình sự 2015.
B. Nội dung
I. Khái niệm, ý nghĩa, mục đích của nguyên tắc nhân đạo trong Luật hình
sự
1. Khái niệm
Nguyên tắc nhân đạo là một trong những nguyên tắc cơ bản của hệ thống
pháp luật Việt Nam nói chung, của ngành Luật Hình sự Việt Nam nói riêng.
Nguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự là tư tưởng chủ đạo được ghi nhận
trong luật hình sự, chỉ đạo hoạt động xây dựng và áp dụng luật hình sự mà nội
dung cơ bản của nó là sự khoan hồng của Luật Hình sự đối với người phạm tội.
Mức độ, phạm vi của sự khoan hồng của Luật Hình sự đối với người phạm tội
được quyết định bởi điều kiện xã hội và bị ràng buộc bởi các nguyên tắc khác
của Luật hình sự, mà trước hết là công lý và công bằng xã hội.
3
2. Mục đích, ý nghĩa
Nguyên tắc nhân đạo là một trong những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật
Hình sự. Mục đích của quy định nguyên tắc nhân đạo trong Luật Hình sự là
nhằm bảo đảm những lợi ích tối thiểu, bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về
danh dự, nhân phẩm và tính mạng.
Nguyên tắc nhân đạo là cách thể chế hóa quan điểm chính sách vì con
người của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quan điểm bao dung
coi giáo dục thuyết phục nhân cách trong con người là chủ yếu.
Công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Dù phạm tội thì họ
vẫn là công dân Việt Nam, vẫn là thành viên của xã hội. Vì vậy, khi xem xét
hành vi phạm tội của họ, Nhà nước luôn chú ý đến nhiều khía cạnh như độ tuổi,
tình trạng sức khỏe, tình trạng bản thân khi phạm tội như mang thai, hoàn cảnh
gia đình đang gặp khó khăn đặc biệt để xác định mức hình phạt phù hợp, điều đó
xuất phát từ đạo đức, truyền thống dân tộc Việt Nam và được thấm nhuần trong
nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa của Luật Hình sự Việt Nam.
Nguyên tắc nhân đạo tạo điều kiện cho người phạm tội tự cải tạo, có cơ
hội để sớm hòa nhập vào cộng đồng như: quy định về miễn trách nhiệm hình sự,
miễn hình phạt, án treo và một số hình phạt không tước quyền tự do như hình
phạt cảnh cáo.
II. Nội dung nguyên tắc nhân đạo của Luật Hình sự
Nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự thể hiện ở các nội dung cơ bản sau:
- Luật Hình sự Việt Nam không có những hình phạt tàn nhẫn, vô nhân đạo
hay hạ thấp nhân phẩm của người khác. Trách nhiệm hình sự, hình phạt và các
biện pháp khác được áp dụng đối với người phạm tội chủ yếu nhằm cải tạo, giáo
dục người phạm tội và phòng ngừa chung.
4
- Hình phạt được quy định và áp dụng đối với người phạm tội trong từng
trường hợp phạm tội cụ thể chỉ trong phạm vi cần thiết thấp nhất đủ để đạt được
mục đích của hình phạt.
- Cùng với hình phạt và buộc người phạm tội phải chấp hành hình phạt,
luật hình sự Việt Nam còn có các biện pháp khác có tính chất khoan hồng áp
dụng đối với người phạm tội như miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt,
miễn chấp hành hình phạt
- Đối với người chưa thành niên phạm tội, luật hình sự quy định trách
nhiệm hình sự được giảm nhẹ hơn so với người thành niên phạm tội. Luật Hình
sự cũng có những quy định về trách nhiệm giảm nhẹ đối với người phạm tội là
phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con nhỏ, người già, người có bệnh bị hạn chế
khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
III. Biểu hiện của nguyên tắc nhân đạo trong Bộ luật Hình sự 2015
Nguyên tắc nhân đạo được thể hiện tại Điều 3 của Bộ luật Hình sự năm
2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:
1. Đối với người phạm tội
- Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác
đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm
trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối
cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra;
- Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng hình
phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát,
giáo dục;
- Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tại các cơ
sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ
có đủ điều kiện do Bộ luật này quy định, thì có thể được xét giảm thời hạn chấp
hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện;
5
- Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh
sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì
được xóa án tích.
Lưu ý: Khi quyết định hình phạt, cơ quan xét xử chú ý đặc điểm nhân
thân người phạm tội như phụ nữ có thai, người chưa thành niên, người già yếu,
bệnh tật, người đang trong thời kỳ nuôi con nhỏ, người có hoàn cảnh gia đình
đặc biệt khó khăn.
2. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội
- Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan
có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ
án, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc
khắc phục hậu quả xảy ra.
Như vậy, nguyên tắc nhân đạo là nguyên tắc quan trọng của pháp luật
hình sự nhằm đảm bảo tính nhân văn, bảo vệ những quyền tối thiểu của con
người dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Nguyên tắc này thể hiện bản chất Nhà
nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam. Thể hiện tư tưởng vì con người của định hướng đi lên nhà
nước xã hội chủ nghĩa.
3. Đối với các tội phạm cụ thể
a, 07 trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự:
Theo đó, tại Chương IV BLHS có quy định 07 trường hợp người thực
hiện hành vi phạm tội được loại trừ trách nhiệm hình sự sau đây:
- Sự kiện bất ngờ (Điều 20)
- Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 21)
- Phòng vệ chính đáng (Điều 22)
- Tình thế cấp thiết (Điều 23)
6
- Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội (Điều 24)
- Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
và công nghệ (Điều 25)
Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên (Điều 26).
b, Miễn truy cứu trách nhiệm hình sự với những trường hợp sau:
Theo quy định tại Điều 29, người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm
hình sự trong 3 trường hợp:
- Thứ nhất, khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình
hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
- Thứ hai, khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh
hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa sẽ
không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Thứ ba, người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm
trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài
sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự
nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, có thể được miễn trách
nhiệm hình sự.
c, Người từ 75 tuổi trở lên không bị tử hình:
Theo Điều 40, hình phạt tử hình sẽ không áp dụng với người từ 75 tuổi trở
lên khi gây án hoặc xét xử. Phạm nhân ở độ tuổi này cũng không bị thi hành
án tử hình.
d, Về tha tù trước hạn:
- Theo Điều 66, người đang chấp hành án phạt tù có thể được tha tù
trước thời hạn khi có đủ các điều kiện như: phạm tội lần đầu; có nhiều tiến bộ,
có ý thức cải tạo tốt; có nơi cư trú rõ ràng; đã chấp hành xong hình phạt bổ
7
sung là hình phạt tiền, án phí và các nghĩa vụ bồi thường dân sự; đã chấp hành
được ít nhất là một phần hai mức thời hạn tù đối với hình phạt tù có thời hạn
hoặc ít nhất 15 năm đối với tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn…
- Ngoài ra, trường hợp người phạm tội là thương binh, bệnh binh, thân
nhân gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên,
người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới
36 tháng tuổi đã chấp hành ít nhất một phần ba hình phạt tù có thời hạn hoặc ít
nhất 12 năm đối với tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn cũng được
áp dụng chính sách khoan hồng này.
- Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đã chấp hành được ít nhất
là một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ, theo đề nghị của cơ quan
thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian
thử thách.
e, Không thi hành án tử hình đối với tội phạm chủ động nộp lại ít nhất ba
phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ:
Theo điểm c khoản 3 Điều 40 thì: Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài
sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư
tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc
phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.
g, Cha, mẹ che giấu con phạm tội được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự:
Khoản 2, Điều 18 quy định nếu người che giấu tội phạm là ông, bà, cha,
mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải
chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, nếu che giấu tội phạm xâm phạm an
ninh quốc gia hoặc các tội đặc biệt nghiêm trọng có thể bị phạt tù tối đa tới 7
năm.
h, Không phạt tử hình với tội phạm cướp tài sản:
8
Theo khoản 4, Điều 168 Bộ Luật hình sự 2015, người phạm tội cướp tài
sản có trị giá 500 triệu đồng trở lên, gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của
một người với tỷ lệ trên 61% hoặc làm chết người… sẽ bị phạt từ 18 đến 20 năm
hoặc tù chung thân.
Trong Bộ luật Hình sự 2009, mức phạt với hành vi này là tử hình.
C. Kết luận
Nói tới truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, không thể không nhắc
đến những tư tưởng, quan điểm đạo đức mang giá trị nhân văn, thể hiện đạo lý
về tình thương con người bao trùm trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã
hội. Trong việc xây dựng nền tảng của hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật
hình sự nói riêng, tư tưởng nhân đạo càng được thể hiện sâu sắc hơn bao giờ hết.
Có thể khẳng định, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thực sự là một
sản phẩm của trí tuệ, của tính nhân văn, trong đó thông điệp của người làm luật
muốn nhấn mạnh bản chất nhà nước, bản chất giai cấp của chế độ ta là luôn luôn
bảo vệ quyền con người, quyền công dân đến mức có thể. Chính vì vậy, các chủ
thể áp dụng pháp luật cần nhận thức đúng đắn vấn đề này để triển khai trong
hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm với phương châm không bỏ lọt tội
phạm, không làm oan người vô tội, đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp
pháp của mọi cá nhân, tổ chức không bị xâm phạm.
Tài liệu tham khảo
Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam – Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội
Bộ luật Hình sự 2015
Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009