Phòng giáo dục đào tạo huyện vĩnh tờng
Trờng trung học cơ sở yên lập
CHUYấN
MT S GII PHP NNG CAO CHT LNG
HC SINH YU KẫM MễN NG VN LP 6PHN TING VIT
Tỏc gi: Lờ Th Thu Phng
Giỏo viờn -Trng THCS Yờn Lp
Yờn Lp, thỏng 10 nm 2019
1
I. Tác giả chuyên đề: Lê Thị Thu Phương
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường THCS Yên Lập- Vĩnh Tường- Vĩnh Phúc.
II. Tên chuyên đề: Một số giải pháp nâng cao chất lượng học sinh yếu kém
môn ngữ văn lớp 6- Phần Tiếng Việt.
III. Thực trạng chất lượng giáo dục của nhà trường so với toàn huyện, tỉnh
năm học 2018-2019
1. Chất lượng chung của toàn trường.
Năm học 2018-2019 nhà trường có 12 lớp với tổng số 530 học sinh kết
quả xếp hai mặt giáo dục như sau:
+ Kết quả xếp loại Văn hóa: Loại Giỏi: 105/530 HS (đạt 19,81%);loại
Khá: 247/530 HS (đạt 46,61%); loại Trung bình: 178/530 HS (đạt 33,58%);
Yếu: 0/530 HS (bằng 0,00%).
+ Kết quả xếp loại Hạnh kiểm: Xếp loại :Tốt 506/530 HS (đạt 95,47%);
Khá: 24/530 HS (bằng 4,53%), loại Trung bình: 0,00%).
- Kết quả thi vào lớp 10 THPT: Xếp thứ 16 huyện;xếp thứ 41 tỉnh.
2. Tình hình học tập môn Ngữ văn lớp 6 :
- Kết quả khảo sát đầu năm học 2018 – 2019
Môn
Tổng
số hs
Ngữ
văn 6
136
Giỏi
Khá
SL
%
SL
%
5
3,7
35
25,8
Trung
Yếu
Kém
bình
SL %
SL
%
SL
%
65
25
18,3
6
4,4
47,8
Kết quả khảo sát học kỳ I, năm học 2018 – 2019
Môn
Tổng
số hs
Ngữ
văn 6
136
Giỏi
Khá
SL
%
SL
%
10
7,4
40
29,3
Trung
Yếu
Kém
bình
SL %
SL
%
SL
%
73
10
7,4
3
2,2
53,7
* Nguyên nhân vẫn còn tỉ lệ học sinh yếu kém:
+Về phía học sinh
2
Nguyên nhân chủ quan:
Học sinh là người học, là người lĩnh hội những tri thức thì nguyên nhân
học sinh yếu kém có thể kể đến là do :
- Học sinh bị hổng kiến thức từ lớp nhỏ: Đây là một điều không thể phủ
nhận, với chương trình học tập hiện nay, để có thể học tốt, đặc biệt là các môn
như Toán, Văn, Anh… thì để việc học tập có kết quả đòi hỏi trước đó học sinh
phải vốn kiến thức nhất định. Tuy nhiên, hiện nay rất nhiều học sinh đã không
có được những vốn kiến thức cơ bản ngay từ lớp nhỏ, từ đó càng lên các lớp lớn
hơn, học những kiến thức mới có kiên quan đến những kiến thức cũ thì học sinh
đã quên hết cho nên việc tiếp thu kiến thức mới trở thành điều rất khó khăn đối
với các em.
- Học sinh lười học: Qua quá trình giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy rằng
các em học sinh yếu kém là những học sinh cá biệt, vào lớp không chịu chú ý
chuyên tâm vào việc học, về nhà thì không xem bài, không chuẩn bị bài, không
làm bài tập, cứ đến giờ học thì cắp sách đến trường. Còn một bộ phận nhỏ thì
các em không xác định được mục đích của việc học. Các em chỉ đợi đến khi lên
lớp, nghe giáo viên giảng bài rồi ghi vào những nội dung đã học sau đó về nhà
lấy tập ra “học vẹt” mà không hiểu được nội dung đó nói lên điều gì. Chưa có
phương pháp và động cơ học tập đúng đắn.
- Học sinh lười học, lười suy nghĩ, không dành thời gian cho việc học bài
cũ, chuẩn bị bài mới,các em chỉ học đối phó còn trông chờ thầy cô giải giúp.
- Các em vừa từ tiểu học lên cấp 2 chưa quen với phương pháp học tập
mới. Khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh còn hạn chế chưa mạnh dạn phát
biểu thiếu tự tin trong học tập do hiểu chưa sâu, nắm kiến thức chưa chắc; đôi
khi hay mặc cảm không dám hỏi thầy cô hoặc bạn bè.
- Đa số học sinh ỷ lại vào sách tham khảo, sách hướng dẫn, sách giải có
sẵn ngoài thị trường, không chịu đầu tư tìm hiểu.
- Do sức khỏe yếu: Một số em thể trạng yếu, không thích nghi với điều
kiện thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột dễ mắc bệnh dẫn đến phải nghỉ học, đến
khi khỏi bệnh đi học lại thì tiếp thu không kịp bài. Hoặc một số em có bệnh bẩm
sinh, trí tuệ kém thông minh cũng là nguyên nhân dẫn đến yếu kém.
Nguyên nhân khách quan
- Xã hội phát triển, nhiều trò chơi giải trí vô bổ như games, chat qua
mạng, tin nhắn điện thoại đã ảnh hưởng rất lớn đến việc học của các em.
- Điều kiện học tập của học sinh thời nay tốt hơn trước rất nhiều. Ngoài
sách giáo khoa, học sinh còn được trang bị khá nhiều loại sách tham khảo, sách
3
nâng cao… Phải chăng do bị “bội thực” từ các loại sách tham khảo nên nhiều
em không hề biết cách tự học, tự sáng tạo, tự đào sâu kiến thức.
+ Về phía giáo viên
- Tốc độ giảng dạy kiến thức mới và luyện tập còn nhanh khiến cho học
sinh yếu kém không theo kịp.
- Giáo viên sợ không khống chế được thời gian nên còn mang tính hình
thức, áp đặt kiến thức cho học sinh khá giỏi, chưa quan tâm đến học sinh yếu
kém. Dẫn đến việc học tập của học sinh bị thụ động và không phát huy được khả
năng chịu khó trong học tập.
- Một số giáo viên còn thiếu nghệ thuật cảm hoá học sinh yếu kém,
không gây hứng thú cho học sinh thích học môn mình...
+ Về phía phụ huynh: Còn một số phụ huynh HS :
- Thiếu quan tâm đến việc học tập ở nhà của con em. Phó mặc mọi việc
cho nhà trường và thầy cô.
- Gia đình học sinh gặp nhiều khó khăn về kinh tế hoặc đời sống tình cảm
khiến trẻ không chú tâm vào học tập.
- Một số gia đình có khả năng về điều kiện kinh tế nhưng không quan
tâm đến việc học hành của con em hàng ngày, không biết được thời gian
học của các em bắt đầu lúc mấy giờ và kết thúc khi nào, thời khóa biểu
hôm nay có mấy tiết gồm những môn gì? Không đôn đốc, nhắc nhở và tạo
điều kiện học tập cho các em, họ cứ nghĩ học đến đâu hay đến đó, thích học
thì cho học, chán thì cho nghỉ.
- Một số cha mẹ quá nuông chiều con cái, quá tin tưởng vào chúng nên
học sinh lười học xin nghỉ để làm việc riêng (như đi chơi, đi du lịch, giả vờ
ốm,...) cha mẹ cũng đồng ý cho phép nghỉ học, vô tình là đồng phạm góp phần
làm học sinh lười học, mất dần căn bản...và rồi yếu kém.
Trước tình hình như vậy tôi đã xây dựng chuyên đề: “Một số giải pháp
nâng cao chất lượng học sinh yếu kém môn Ngữ văn lớp 6- phần Tiếng Việt”
nhằm áp dụng để giảm tỉ lệ học sinh yếu kém nâng cao chất lượng giáo
dục.
IV. Đối tượng:
- Học sinh yếu kém môn Ngữ văn lớp 6.
- Dự kiến số tiết dạy: 9 tiết.
V. Hệ thống các dạng bài tập đặc trưng của chuyên đề:
Hiện nay một bộ phận học sinh học yếu phần Tiếng Việt do các em còn
yếu về việc nhận diện từ, câu, chưa biết vận dụng từ câu trong khi nói và viết.
Chính vì vậy tôi đưa ra một số dạng bài tập như sau:
Dạng 1: Bài tập nhận diện từ:
4
Dạng 2: Bài tập giải nghĩa từ .
Dạng 3: Bài tập đặt câu, viết đoạn văn có sử dụng từ.
Dạng 4: Bài tập về biện pháp tu từ.
VI. Hệ thống các phương pháp cơ bản đặc trưng để giải các dạng bài tập
trong chuyên đề:
- Phương pháp vấn đáp gợi mở.
- Phương pháp thuyết trình.
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp phân tích,tổng hợp.
VII. Hệ thống các ví dụ, bài tập cụ thể cùng lời giải minh hoạ cho chuyên
đề.
Dạng 1: Bài tập nhận diện từ.
a. Nhận diện từ xét về mặt cấu tạo:
- Đối với dạng bài tập này trước hết giáo viên giúp các em nắm được
về cấu tạo từ :gồm từ đơn và từ phức
+ Từ đơn:là từ chỉ gồm một tiếng.
+ Từ phức: là từ gồm hai hoặc nhiều tiếng. Những từ phức được tạo
ra bằng cách ghép các tiếng có quan hệ với nhau được gọi là từ ghép. Còn
những từ phức có quan hệ láy âm giữa các tiếng được gọi là từ láy.
- Từ lí thuyết giúp các em nhận diện từ thông qua các bài tập.
Bài 1: Hãy xác định từ ghép, từ láy trong các từ sau: Nhà máy, lom
khom, cây cối, long lanh, mênh mông ,thoăn thoắt, đi đứng, mếu máo, thăm
thẳm, nảy nở,hoa hồng, cây cỏ.
Giải
Từ ghép: nhà máy,cây cối,đi đứng,nảy nở,hoa hồng,cây cỏ.
Từ láy: lom khom, long lanh, mênh mông, thoăn thoắt, mếu máo, thăm
thẳm.
Bài 2 : Cho đoạn văn sau : “Mã Lương vẽ ngay một chiếc thuyền buồm
lớn. Vua, hoàng hậu, công chúa, hoàng tử và các quan đại thần kéo nhau xuống
thuyền. Mã Lương đưa thêm vài nét bút, gió thổi nhè nhẹ, mặt biển nổi sóng lăn
tăn, thuyền từ từ ra khơi”
Hãy xác định các từ ghép,từ láy trong đoạn văn?
Giải
Các từ ghép là: thuyền buồm, hoàng hậu, công chúa, hoàng tử,quan
đại thần, nét bút, mặt biển.
Các từ láy là: nhè nhẹ, lăn tăn, từ từ.
Bài 3: Em hãy tìm các từ láy :
a) Tượng hình.
5
b) Tượng thanh.
c) Chỉ tâm trạng.
Gợi ý giải BT:
– Từ láy tượng hình là loại từ láy gợi hình dáng của người, vật, hiện
tượng,…
Ví dụ: ngoằn ngoèo, khấp khểnh,…
– Từ láy tượng thanh là loại từ láy mô phỏng, gợi tả âm thanh trong thực
tế.
Ví dụ: lách cách, rột roạt,…
– Từ láy chỉ tâm trạng là những từ láy chỉ trạng thái của người như trạng
thái vui, buồn, suy nghĩ,…
Ví dụ: bâng khuâng, thẫn thờ,…
Từ những gợi ý này học sinh cố gắng tìm càng nhiều từ láy càng tốt.
b. Nhận diện từ xét về mặt từ loại: Ở dạng bài tập này giáo viên cần ôn lại
cho học sinh:
- Khái niệm của các từ loại: danh từ, động từ, tính từ, số từ, lượng
từ,chỉ từ,…
- Đặc điểm của các từ loại.
- Đặc điểm của các cụm từ loại: Cụm danh từ,cụm động từ, cụm tính
từ.
Sau đó giúp các em vận dụng khái niệm để giải các bài tập.
Một số ví dụ:
Bài 1: Cho đoạn văn sau:
“ Một hôm có hai chàng trai đến cầu hôn. Một người ở vùng núi Tản Viên
có tài lạ: vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi; vẫy tay về phía tây, phía
tây mọc lên từng dãy núi đồi. Người ta gọi chàng là Sơn Tinh. Một người ở miền
biển, tài năng cũng không kém: gọi gió, gió đến; hô mưa, mưa về. Người ta gọi
chàng là Thuỷ Tinh…”
(Sơn Tinh, Thuỷ Tinh)
a, Tìm danh từ trong đoạn văn trên
b, Phân loại các danh từ vừa tìm được.
Gợi ý giải BT:
HS tự xác định các danh từ và phân loại. Trong đoạn văn các danh từ chia
làm hai loại:
– Danh từ đơn vị: dãy.
– Danh từ chỉ sự vật:
+ Danh từ chung: chàng trai, người, vùng, núi, tay, phía đông, cồn bãi,
miền, biển, gió, mưa,…
6
+ Danh từ riêng : Tản Viên, Sơn Tinh, Thuỷ Tinh.
Bài 2: Cho các nhóm từ sau:
– nhớ, buồn, thương, vui
– Huế, Hà Nội, Việt Nam
– tròn, méo
a) Hãy cho biết từ loại của các từ trong nhóm từ trên.
b) Chuyển nhóm từ ấy sang nhóm từ loại khác bằng cách thêm vào một số
từ loại khác ở trước.
Gợi ý giải BT:
a) Xác định từ loại của các từ trong nhóm từ:
– nhớ, buồn, thương, vui: động từ.
– Huế, Hà Nội, Việt Nam: danh từ.
– tròn, méo: tính từ.
b) Chuyển nhóm từ đã cho sang nhóm từ loại khác:
– (nỗi) nhớ, (niềm) thương, (nỗi) buồn, (niềm) vui: danh từ.
– (rất) Huế, (rất) Hà Nội, (rất) Việt Nam: tính từ.
– tròn (mắt nhìn), méo (mặt): động từ.
Bài 3: Cho đoạn văn sau:
“Khi cậu bé vừa khôn lớn thì mẹ chết. Cậu sống lủi thủi trong một túp lều
cũ dựng dưới gốc đa, cả gia tài chỉ có một lưỡi búa của cha để lại. Người ta gọi
cậu là Thạch Sanh. Năm Thạch Sanh bắt đầu biết dùng búa, Ngọc Hoàng sai
thiên thần xuống dạy cho đủ các môn võ nghệ và mọi phép thần thông.”
(Thạch Sanh)
a) Tìm cụm danh từ, cụm động từ và phân tích cấu tạo của các cụm từ.
b) Tìm số từ và cho biết ý nghĩa của số từ.
Gợi ý giải BT:
a) Ví dụ một số cụm danh từ, HS tự tìm và phân tích cấu tạo các cụm
danh từ còn lại.
+ một/ túp lều/ cũ
- một: PT
- túp lều: PTT
- cũ: PS
Ví dụ một số cụm động từ, HS tự tìm và phân tích cấu tạo các cụm động
từ còn lại.
+ vừa/khôn lớn
- vừa: PT
- khôn lớn: PTT
+ sống/ lủi thủi
7
- sống: PT
- lủi thủi: PS
b) Số từ và ý nghĩa của số từ:
một (túp lều), một (lưỡi búa): số từ chỉ số lượng.
Dạng 2: Bài tập giải nghĩa từ .
- Ở dạng bài tập này giáo viên cũng cho học sinh :
- Ôn lại khái niệm về nghĩa của từ.
- Ôn lại về các cách giải nghĩa từ.
Từ lí thuyết giúp các em làm các bài tập có liên quan:
Bài 1: Khi giải thích cầu hôn : xin được lấy làm vợ là đã giải thích từ theo
cách nào ?
A.Dùng từ trái nghĩa với từ cần được giải thích
B.Trình bày khái niệm mà từ biểu thị
C.Dùng từ đồng nghĩa với từ cần được giải thích
D.Miêu tả hành động kết hợp với trình bày khái niệm mà từ biểu thị.
Đáp án B
Bài 2: Giải nghĩa và cách dùng từ của các từ: nho nhẻ, nhỏ nhắn, nhỏ nhen.
Gợi ý:
- Nhỏ nhẻ:( nói năng, ăn uống) thong thả, chậm rãi với ý giữ gìn, từ tốn.
Ví dụ: Nói năng nhỏ nhẻ như cô dâu mới.
- Nhỏ nhắn: thường nói về hình dáng của người - nhỏ và trông cân đối dễ
thương. Ví dụ: Chị ấy có thân hình nhỏ nhắn.
- Nhỏ nhen: thường nói về tính cách của người- tỏ ra hẹp hòi, hay chú ý
đến cả những việc nhỏ nhặt về quyền lợi tronh quan hệ đối xử. Ví dụ: Ông ấy là
con người nhỏ nhen.
Bài 3: Hiện tượng chuyển nghĩa của từ là gì? Thế nào là nghĩa gốc, nghĩa
chuyển? Từ chân trong hai ví dụ sau, từ nào mang nghĩa gốc, từ nào mang nghĩa
chuyển?
- Anh ấy bị thương ở chân. (1)
- Ông ấy có chân trong Hội đồng quản trị. (2)
Gợi ý giải:
- Hiện tượng chuyển nghĩa của từ là hiện tượng biến đổi nghĩa của từ tạo
ra những từ nhiều nghĩa.
- Nghĩa gốc là nghĩ xuất hiện từ dầu làm cơ sở hình thành các nghĩa khác.
- Nghĩa chuyển là nghĩa được hình thành trên cơ sở nghĩa gốc.
8
- Thông thường, trong câu, từ chỉ có một nghĩa nhất định. Tuy nhiên trong
một số trường hợp, từ có thể được hiểu đồng thời theo cả nghĩa gốc lẫn
nghĩachuyển.
1 - Nghĩa đen; nghĩa gốc.
2 - Nghĩa chuyển
Bài 4: Đọc kĩ đoạn văn sau và thực hiện yêu cầu ở dưới:
“ Một hôm có hai chàng trai đến cầu hôn. Một người ở vùng núi Tản Viên
có tài lạ: vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi; vẫy tay về phía tây, phía
tây mọc lên từng dãy núi đồi. Người ta gọi chàng là Son Tinh. Một người ở miền
biển, tài năng cũng không kém: gọi gió, gió đến; hô mưa, mưa về. Người ta gọi
chàng là Thuỷ Tinh…”
(Sơn Tinh, Thuỷ Tinh)
a) Hãy giải nghĩa từ tay và cho biết từ tay trong đoạn văn trên được dùng
với nghĩa nào.
b) Đặt câu có từ tay được dùng với nghĩa chuyển.
Gợi ý
a) Giải nghĩa từ tay: là một bộ phận của cơ thể dùng để cầm nắm. Từ tay
trong đoạn văn được dùng với nghĩa gốc.
b) Đặt câu có từ tay được dùng với nghĩa chuyển.
Ví dụ: Cô ấy có tay nghề rất giỏi.
Bài 5: Đọc kĩ đoạn văn và trả lời các câu hỏi:
“Sơn Tinh không hề nao núng. Thần dùng phép lạ bốc từng quả đồi, dời
từng dãy núi, dựng thành luỹ đất, ngăn chặn dòng nước lũ. Nước sông dâng lên
bao nhiêu, đồi núi cao lên bấy nhiêu. Hai bên đánh nhau ròng rã mấy tháng
trời, cuối cùng Son Tinh vẫn vững vàng mà sức Thuỷ Tinh đã kiệt. Thần Nước
đành rút quân…”
(Sơn Tinh, Thuỷ Tinh)
a) Tìm những động từ chỉ hành động của Sơn Tinh trong đoạn văn.
b) Những động từ ấy giúp em cảm nhận được vẻ đẹp nào của thần núi Tản
Viên?
c) Từ đó viết một câu văn có sử dụng một tính từ chỉ đặc điểm tuyệt đối
miêu tả sức mạnh của Sơn Tinh.
Gợi ý giải:
a. Những động từ chỉ hành động của Sơn Tinh trong đoạn văn: nao núng,
bốc, dời, dựng, ngăn chặn, dâng.
b. Những động từ ấy giúp chúng ta cảm nhận sức mạnh phi thường của vị
thần núi Tản… Đó là tinh thần quyết tâm chống lũ lụt của người Việt cổ.
c. HS cần nắm được đặc điểm của tính từ chỉ đặc điểm tuyệt đối.
9
Ví dụ: Sơn Tinh vị thần núi Tản có sức mạnh vô song.
Dạng 3: Bài tập đặt câu, viết đoạn văn có sử dụng từ.
- Học sinh sẽ viết các câu văn,các đoạn văn với các từ giáo viên yêu cầu.
Ví dụ:
Bài 1: Đặt câu có từ kỉ niệm là danh từ, một câu có từ kỉ niệm là động từ.
Gợi ý:
- Kỉ niệm là danh từ: chỉ những gì người ta còn nhớ về nhau hoặc những
gì người ta nhớ về nhau khi xa nhau.
Câu: Những kỉ niệm thời thơ ấu không bao giờ em quên.
- Kỉ niệm là động từ: chỉ một việc làm (đồng nghĩa với tặng).
Câu: Tớ kỉ niệm bạn chiếc bút máy.
Bài 2 : Viết đoạn văn tả cảnh (từ 5 – 7 câu) có sử dụng từ láy và từ ghép (mỗi
loại 2 từ và chỉ rõ).
Gợi ý: HS trình bày được các ý sau:
– Viết đúng, đủ số câu, từ quy định.
– Lời văn có hình ảnh, cảm xúc.
– Diễn đạt rõ ràng, chỉ rõ từ láy, từ ghép.
Bài 3: Viết đoạn văn (tối đa 15 dòng) tả lại một trò chơi dân gian mà em đã
tham gia hoặc chứng kiến. Sau đó chỉ ra trong đoạn văn vừa viết một cụm danh
từ, một cụm động từ, một cụm tính từ…
Gợi ý:
– Yêu cầu về hình thức:
+ HS viết đúng một đoạn văn (bắt đầu từ chữ cái đầu tiên viết hoa lùi vào
một ô và kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng).
+ Đoạn văn không dài quá 15 dòng.
– Yêu cầu về nội dung: tả lại một trò chơi dân gian đã tham gia hoặc
chứng kiến (thả diều, bịt mắt bắt dê, ô ăn quan…).
HS cần xác định trình tự miêu tả cho hợp lí. Sau đây là một số gợi ý:
+ Giới thiệu thời gian, lí do được tham gia, chứng kiến trò chơi.
+ Tả địa điểm diễn ra trò chơi.
+ Tả quang cảnh chung: thời tiết, cảnh vật xung quanh: ấm áp, cây cối
xanh tươi; không khí chung: đông vui, nhộn nhịp; màu sắc: rực rỡ, tươi tắn; âm
thanh rộn ràng…
+ Tả cụ thể: tả hoạt động, tư thế, động tác, tả gương mặt, hành động, lời
nói của mọi người khi tham gia trò chơi.
– Sau đó, HS chỉ ra trong đoạn văn vừa viết một cụm danh từ, một cụm
động từ, một cụm tính từ…
10
Dạng 4: Bài tập về biện pháp tu từ.
Dạng bài tập này học sinh phải:
Nêu được lại khái niệm về các phép tu từ : nhân hóa, so sánh, ẩn dụ, hoán
dụ.
Nhận biết biện pháp tu từ đó thể hiện qua từ ngữ nào.
Nêu được tác dụng của biện pháp tu từ.
Ví dụ:
Bài 1: Chỉ ra biện pháp tu từ trong đoạn văn sau:
“ Bóng tre trùm lên âu yếm làng, bản, xóm, thôn. Dưới bóng tre của ngàn
xưa, thấp thoáng mái đình mái chùa cổ kính. Dưới bóng tre xanh, ta gìn giữ một
nền văn hoá lâu đời. Dưới bóng tre xanh, đã từ lâu đời, người dân cày Việt Nam
dựng nhà, dựng cửa, vỡ ruộng, khai hoang,…”
Gợi ý:
- Đoạn văn của Thép Mới sử dụng thành công biện pháp tu từ nhân hoá.
- Phép nhân hoá được thể hiện qua hình ảnh: Bóng tre trùm lên âu yếm
làng, bản, xóm, thôn. Phép nhân hoá được tao ra bằng cách dùng từ chỉ hoạt
động của người cho cây tre.
Bài 2: So sánh hai cách diễn đạt sau, cho biết cách diễn đạt nào hay hơn? Vì
sao?
a) Phía đông mặt trời đã lên toả ánh sáng màu hồng xuống mặt sân. Bố
em xách điếu chuẩn bị đi cày còn mẹ em tát nước. Con mèo lười hôm nay dậy
sớm đang lấy hai tay cào lên mặt, cái đầu nghênh nghênh trông thật ngộ. Con
gà mái cục ta… cục tác liên hồi, con gà trống nói luyên thuyên một lúc. Cây na
sau vườn đã có quả, cây tre toả những tán lá xuống mặt ao.
b)
Ông Trời nổi lửa đằng đông
Bà Sân vấn chiếc khăn hồng đẹp thay.
Bố em xách điếu đi cày
Mẹ em tát nước, nắng đầy trong khay.
Cậu Mèo đã dậy từ lâu
Cái tay rửa mặt, cái đầu nghiêng nghiêng.
Mụ Gà cục tác như điên
Làm thằng Gà Trống huyên thiên một hồi.
Cái Na đã tỉnh giấc rồi
Đàn Chuối đứng vỗ tay cười vui sao!
Chị Tre chải tóc bên ao…
(Trần Đăng Khoa)
11
Gợi ý: So sánh hai cách diễn đạt, chúng ta thấy cách diễn đạt ở (b) hay hơn, sinh
động và gợi cảm hơn.
– Cách diễn đạt ở (a): chủ yếu miêu tả đơn thuần nên chỉ có tác dụng tái
hiện cụ thể cảnh buổi sớm.
– Cách diễn đạt ở (b): khi miêu tả có sử dụng phép tu từ nhân hoá bằng
cách gọi vật như gọi người, dùng từ chỉ hoạt động, tính chất của người cho vật
vì thế hay hơn.
Bài 3: Trong câu ca dao :
Nhớ ai bồi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than
a)Từ bồi hổi bồi hồi là từ gì?
b)Giải nghĩa từ bồi hổi bồi hồi?
c)Phân tích cái hay của câu thơ do phép so sánh đem lại.
Gợi ý:
Đây là từ láy chỉ mức độ cao.
b) Giải nghĩa : trạng thái có những cảm xúc, ý nghĩ cứ trở đi trở lại trong
cơ thể con người.
c) Trạng thái mơ hồ, trừu tượng chỉ được bộc lộ bằng cách đưa ra hình
ảnh cụ thể: đứng đống lửa, ngồi đống than để người khác hiểu được cái mình
muốn nói một cách dễ dàng. Hình ảnh so sánh có tính chất phóng đại nên rất gợi
cảm.
Bài 4: Đọc kĩ đoạn văn và trả lời câu hỏi:
“Giời chớm hè. Cây cối um tùm. Cả làng thơm. Cây hoa lan nở trắng
xoá. Hoa giẻ từng chùm mảnh dẻ. Hoa móng rồng bụ bẫm thom như mùi mít
chín ở góc vườn ông Tuyên. Ong vàng, ong vò vẽ, ong mật đánh lộn nhau để
hút mật ở hoa. Chúng đuổi cà bướm. Bướm hiền lành bỏ chỗ lao xao. Từng đàn
rủ nhau lặng lẽ bay đi.
Sớm. Chúng tôi tụ hội ở góc sân. Toàn chuyện trẻ em. Râm ran.”
(Duy Khán)
a. Có mấy kiểu so sánh? Tìm biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong
đoạn văn trên. Nêu tác dụng của biện pháp đó.
b. Viết một đoạn văn (tối đa 15 dòng) tả vẻ đẹp của miền quê, trong đoạn
văn có sử dụng hai biện pháp tu từ đã học.
Gợi ý:
a. Có hai kiểu so sánh:
– So sánh ngang bằng
– So sánh không ngang bằng
12
->Tác giả sử dụng biện pháp tu từ so sánh: hoa móng rồng bụ bẫm thơm
như mùi mít chín ở góc vườn.
–> Tác dụng của biện pháp so sánh: Làm cho câu văn sinh động, tăng sức
gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt. Thể hiện một cách cụ thể vẻ đẹp hiền hoà,
ngọt ngào, thơm ngát của những bông hoa móng rồng trong một khu vườn quê.
b. Yêu cầu về hình thức:
+ HS viết đúng một đoạn văn (bắt đầu từ chữ cái đầu tiên viết hoa lùi vào
một ô và kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng).
+ Đoạn văn không dài quá 15 dòng.
– Yêu cầu về nội dung: tả vẻ đẹp của miền quê, trong đoạn văn có sử
dụng hai biện pháp tu từ đã học. HS cần xác định trình tự miêu tả cho hợp lí.
Sau đây là một số gợi ý:
+ Giới thiệu về miền quê.
+ Tả quang cảnh chung của miền quê: thanh bình, yên ả, tươi đẹp.
+ Tả cụ thể một số hình ảnh của miền quê; luỹ tre, hàng cau, cánh đồng,
dòng kênh,…
Sau đó, HS chỉ ra trong đoạn văn vừa viết hai biện pháp tu từ mà mình đã
tạo ra.
VIII. Kết quả sau khi triển khai chuyên đề:
Trong quá trình giảng dạy, tôi đã áp dụng các phương pháp như đã nêu ở
trên, qua một năm thực nghiệm, tôi thấy có sự chuyển biến rõ rệt ở các học sinh
yếu. Các em đã nắm được những kiến thức tối thiểu của chương trình. Các em
đã mạnh dạn phát biểu ý kiến, tham gia xây dựng bài. Đặc biệt, các em đã bỏ
qua được mặc cảm tự ti, biết trao đổi với thầy cô những chỗ mình chưa hiểu. Sự
tiến bộ của các em biểu hiện cụ thể qua điểm số, qua việc học sinh có ý thức học
bài ở lớp cũng như ở nhà. Vì thế cha mẹ học sinh yên tâm, tin tưởng vào nhà
trường, tích cực ủng hộ việc dạy học của nhà trường. Qua khảo sát bằng việc so
sánh, đối chiếu điểm của học kì I và cuối năm, kết quả đạt được như sau:
+ Kết quả khảo sát học kỳ II, năm học 2018 – 2019
Môn
Tổng
số hs
Giỏi
SL %
Khá
SL %
Trung bình
SL
%
136
26
68
40
Ngữ
văn 6
19,1
50
29,4
Yếu
SL %
2
1,5
Kém
SL %
0
0,0
* Kết luận:
13
Trên đây là một số biện pháp mà tôi đã áp dụng để giúp học sinh của mình
vượt qua được tình trạng yếu kém . Qua quá trình thực hiện tôi đã rút ra cho
mình một số bài học kinh nghiệm như sau:
- Để khắc phục tình trạng học sinh yếu kém ta vừa phải cố gắng nâng cao
hiệu quả giảng dạy ở trên lớp vừa phải tăng cường phụ đạo giúp đỡ riêng các
học sinh yếu kém (ngoài giờ chính khóa) theo các nhóm nhỏ cá biệt. Lý do là vì
trong các lớp đồng loạt, dù giáo viên có cố gắng giảng dạy sát ba loại đối tượng
đến đâu đi nữa thì việc truyền thụ kiến thức và luyện tập cũng cần phải được tiến
hành theo trình độ và nhịp chung của cả lớp, nếu quá chú ý đến đối tượng học
sinh yếu, kém thì các em khá giỏi trung bình sẽ buồn chán, không muốn học,
sinh ra các ý nghĩ và hành động tiêu cực.
- Giáo viên phải là người chịu khó, kiên trì, không nản lòng trước sự chậm
tiến của học sinh, phải biết phát hiện ra sự tiến bộ của các em cho dù là rất nhỏ
để kịp thời động viên khuyến khích làm niềm tin cho các em cầu tiến.
Nói tóm lại, không có phương pháp nào là vạn năng, muốn khắc phục tình
trạng học sinh yếu kém, đồng thời tạo sự hứng thú, hướng niềm say mê và yêu
thích các em đến với bộ môn văn thì giáo viên phải linh hoạt kết hợp nhiều
phương pháp, phải yêu thương và giúp đỡ các em hết lòng, thực sự là người thầy
“Tận tâm, tận lực, tận tụy hết lòng vì học sinh thân yêu”. Trong việc uốn nắn các
em, giáo viên phải luôn giữ thái độ vui vẻ, thoải mái, nhẹ nhàng, không nóng
vội, không dùng lời lẽ nặng nề với các em, xem học sinh là con em của mình,
chia sẻ vui buồn, cùng lắng nghe ý kiến của các em để từ đó có biện pháp giảng
dạy và giáo dục phù hợp với từng đối tượng học sinh. Tôi luôn tâm niệm và ghi
nhớ lời Bác dạy: “ Người thầy giáo không phải dạy những câu, những chữ có
sẵn mà phải dạy bằng cả tâm hồn mình”.
Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân về bồi dưỡng học sinh yếu
kém, tuy nhiên chuyên đề cũng không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế,rất
mong các đồng chí góp ý xây dựng để chuyên đề của tôi được hoàn thiện hơn.
XÁC NHẬN CỦA BGH
Yên Lập, ngày 15 tháng 10 năm 2019
Người viết
Lê Thị Thu Phương
14
15
16