Tải bản đầy đủ (.docx) (80 trang)

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THỰC HÀNH về QUY TRÌNH TIÊM AN TOÀN của điều DƯỠNG và các yếu tố LIÊN QUAN tại BỆNH VIỆN THANH NHÀN năm 2017

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (399.87 KB, 80 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BỘ Y TẾ

NGUYỄN THỊ THANH THỦY

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC,
THỰC HÀNH VỀ QUY TRÌNH TIÊM AN TOÀN
CỦAĐIỀU DƯỠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
TẠI BỆNH VIỆN THANH NHÀN NĂM 2017

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BỘ Y TẾ

NGUYỄN THỊ THANH THỦY

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC,
THỰC HÀNH VỀ QUY TRÌNH TIÊM AN TOÀN
CỦAĐIỀU DƯỠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
TẠI BỆNH VIỆN THANH NHÀN NĂM 2017
Chuyên ngành : Quản lý bệnh viên
Mã số
: 60720701



ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

Người hướng dẫn khoa học:
TS. Nguyễn Thị Hoài Thu

HÀ NỘI - 2017


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BKT

: Bơm kim tiêm

BV

: Bệnh viện

BVĐK

: Bệnh viện đa khoa

CTSN

: Chất thải sắc nhọn

ĐD

: Điều dưỡng


ĐDV

: Điều dưỡng viên

ĐTNC

: Đối tượng nghiên cứu

KBCB

: Khám bệnh, chữa bệnh

KSNK

: Kiểm soát nhiễm khuẩn

NCV

: Nghiên cứu viên

NVYT

: Nhân viên y tế

SK

: Sát khuẩn

TAT


: Tiêm an toàn

VST

: Vệ sinh tay

WHO

: Tổ chức Y tế Thế giới

KHHGĐ

: Kế hoạch hóa gia đình

TTTT

: Thu thập thông tin


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ...................................................................................................1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU...............................................................3
1.1. Các định nghĩa và khái niệm sử dụng trong nghiên cứu........................3
1.1.1. Định nghĩa tiêm an toàn..................................................................3
1.1.2. Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu........................................3
1.2. Quan điểm và chính sách về Tiêm an toàn.............................................7
1.2.1. Trên thế giới....................................................................................7
1.2.2. Tại Việt Nam...................................................................................9
1.3. Thực trạng thực hiện Tiêm an toàn......................................................10

1.3.1. Thực trạng sử dụng thuốc tiêm và hiện tượng lạm dụng tiêm......10
1.3.2. Thực trạng cung cấp trang thiết bị, phương tiện phục vụ tiêm.....11
1.3.3. Thực trạng tiêm an toàn................................................................13
1.3.4. Nguy cơ và gánh nặng của tiêm không an toàn............................15
1.4. Tổng quan về nghiên cứu Tiêm an toàn...............................................20
1.4.1. Các nghiên cứu về kiến thức và thực hành Tiêm an toàn.............20
1.5. Các nghiên cứu về yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành Tiêm an toàn24
1.5.1. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức Tiêm an toàn....................24
1.5.2. Một số yếu tố liên quan đến thực hành Tiêm an toàn...................25
1.5.3. Một số thông tin về bệnh viện Thanh Nhàn..................................27
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.................................................29
2.1. Đối tượng nghiên cứu...........................................................................29
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu........................................................29
2.3. Địa điểm...............................................................................................29
2.4. Thiết kế nghiên cứu..............................................................................30
2.5. Phương pháp thu thập số liệu...............................................................30
2.5.1. Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện bộ công cụ nghiên cứu.......30
2.5.2. Tổ chức thực hiện thu thập số liệu................................................30
2.6. Điều tra viên.........................................................................................32


2.6.1. Số lượng và tiêu chuẩn lựa chọn:..................................................32
2.6.2. Tập huấn điều tra viên về nội dung quan sát thực hành tiêm........32
2.7. Các biến số nghiên cứu và chỉ số nghiên cứu......................................33
2.8. Tiêu chuẩn đánh giá.............................................................................37
2.8.1. Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức Tiêm an toàn của điều dưỡng viên......37
2.8.2. Tiêu chuẩn đánh giá thực hành tiêm an toàn.................................37
2.9. Phương pháp phân tích số liệu.............................................................38
2.10. Đạo đức nghiên cứu...........................................................................38
2.11. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số..........39

Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..........................................41
3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu...........................................41
3.2. Kiến thức về TAT của ĐD....................................................................42
3.2.1. Kiến thức chung về TAT...............................................................42
3.2.2. Kiến thức về chuẩn bị người bệnh, ĐDV......................................43
3.2.3. Kiến thức về chuẩn bị dụng cụ và thuốc tiêm..............................44
3.2.4. Kiến thức về thực hành TAT.........................................................45
3.3. Một số các yếu tố liên quan đến thực hành TAT..................................46
3.3.1. Yếu tố cá nhân và thực hành TAT.................................................46
3.3.2. Yếu tố kiến thức và thực hành TAT...............................................46
3.3.3. Yếu tố điều kiện làm việc tác động lên thực hành TAT................47
Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN.................................................................48
4.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu...........................................48
4.2. Kiến thức chung về Tiêm an toàn của điều dưỡng viên......................48
4.3. Kiến thức về thực hành Tiêm an toàn..................................................48
4.4. Một số các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành Tiêm an toàn
của điều dưỡng viên............................................................................48
DỰ KIẾN KẾT LUẬN...................................................................................49
DỰ KIẾN KIẾN NGHỊ...................................................................................50
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu...................................41
Bảng 3.2. Kiến thức chung về TAT..............................................................42
Bảng 3.3. Kiến thức chuẩn bị người bệnh và ĐDV.....................................43
Bảng 3.4. Kiến thức về dụng cụ và thuốc tiêm............................................44
Bảng 3.5. Kiến thức thực hành kỹ thuật đưa thuốc vào NB.........................45
Bảng 3.6. Mối liên quan giữa yếu tố cá nhân và thực hành TAT.................46

Bảng 3.7. Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành TAT.........................46
Bảng 3.8. Mối liên quan giữa điều kiện làm việc và thực hành TAT...........47


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiêm là một trong các biện pháp để đưa thuốc chất dinh
dưỡng vào cơ thể nhằm mục đích chẩn đoán điều trị và phòng
bệnh. Trong điều trị, tiêm có vai trò rất quan trọng đặc biệt
trong trường hợp người bệnh cấp cứu người bệnh nặng. Trong
lĩnh vực phòng bệnh tiêm chủng đã tác động mạnh vào việc
giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong đối với 6 bệnh truyền nhiễm
có thể phòng bằng vắc xin ở trẻ em [1].
Trên thế giới, hàng năm có khoảng 16 tỷ mũi tiêm được
thực hiện và có tới 50% mũi tiêm tại các nước đang phát triển
không đạt đủ tiêu chí mũi Tiêm an toàn (TAT). Năm 2000,
tiêm không an toàn là nguyên nhân dẫn đến 21 triệu người
nhiễm bệnh viêm gan B, 2 triệu người nhiễm viêm gan C và
260 nghìn người nhiễm HIV [2].
Tại Việt Nam, một số tai biến trong tiêm xảy ra tại các cơ
sở y tế đã gây hậu quả không nhỏ làm ảnh hưởng đến tính
mạng, sức khỏe của NB, nhân viên y tế (NVYT) và cộng đồng
làm ảnh hưởng đến chất lượng khám bệnh, chữa bệnh
(KBCB) và uy tín của ngành. Theo nghiên cứu của thạc sĩ
Phạm Đức Mục về vấn đề rủi ro gây ra tai biến do tiêm không
an toàn chiếm 29,2%. Theo kết quả nghiên cứu về thực hiện
kỹ thuật tiêm tại các bệnh viện thuộc khu vực thành phố Hà
nội: tỉ lệ điều dưỡng viên (ĐDV) không rửa tay trước khi tiêm
là 55,6%, dùng panh không đảm bảo vô khuẩn là 36%, không

sát khuẩn ống thuốc trước khi lấy thuốc là 34%, dùng tay để


2
tháo lắp kim tiêm (KT) là 20,4% [14]. Nhiều nghiên cứu đã
chỉ ra 2 rằng kiến thức và thực hành TAT của ĐDV tại các BV
còn nhiều hạn chế. Vì vậy, trước thực trạng đó, Bộ Y tế đã ban
hành Hướng dẫn Tiêm an toàn tại Quyết định số 3671/QĐBYT ngày 27 tháng 9 năm 2012 nhằm cung cấp những kiến
thức và kỹ năng trong thực hành TAT để triển khai áp dụng
thống nhất trong tất cả các cơ sở KBCB, cơ sở đào tạo cán bộ
y tế và các cá nhân liên quan. Ngày 18 tháng 11 năm 2016 Bộ
Y tế đã ban hành Quyết đinh 6858/QĐ – BYT về bộ tiêu chí
đánh giá chất lượng bệnh viện phiên bản 2.0 gồm 83 tiêu chí.
Trong đó chỉ số Tiêm an toàn là một trong mười một chỉ số
chăm sóc của công tác điều dưỡng.
Tại bệnh viện Thanh Nhàn, năm 2010 đã tiến hành
nghiên cứu thực trạng mũi tiêm an toàn của ĐDV tuy nhiên tỷ
lệ nghiên cứu cho thấy các mũi tiêm an toàn chưa cao do
nhiều yếu tố tác động vào việc đảm bảo thực hiện các mũi
tiêm an toàn của ĐDV. Hiện nay, Bệnh viện Thanh Nhàn đang
trong thời gian sửa chữa nâng cấp hạ tầng do đó mặt bằng các
khoa điều trị bị thu hẹp lại rất nhiều, số lượng bệnh nhân luôn
trong tình trạng quá tải, thời gian làm việc chuyên môn của
điều dưỡng bị thu hẹp do tăng số lượng công việc thủ tục hành
chính và áp dụng phần mềm máy tính vào công tác quản lý và
điều trị bệnh nhân nội trú… Những vấn đề này đã trực tiếp ảnh
hưởng tới thời gian công tác chuyên môn của điều dưỡng và
gây ra những hạn chế trong thực hành Tiêm an toàn. Mặt khác
Tiêm an toàn là một chỉ số quan trọng trong công tác đánh giá
chất lượng của bệnh viện hàng năm. Vì vậy nhóm nghiên cứu



3
chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu lại với quy trình tiêm
tĩnh mạch và tìm hiểu các yếu tố liên quan đến việc thưc hiện
các mũi tiêm an toàn đối với ĐDV trong khối lâm sàng của
bệnh viện Thanh Nhàn với mục tiêu như sau:
1. Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành tiêm an toàn của các ĐDV
trong khối lâm sàng bệnh viện Thanh Nhàn năm 2017.
2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức và
thực hành Tiêm an toàn của điều dưỡng viên trong
khối lâm sàng bệnh viện Thanh Nhàn năm 2017.

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Các định nghĩa và khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
1.1.1. Định nghĩa tiêm an toàn
Tiêm an toàn là quy trình tiêm không gây nguy hại cho
người nhận mũi tiêm, không gây phơi nhiễm cho người thực
hiện mũi tiêm và không tạo chất thải nguy hại cho người khác
và cộng đồng [1].
1.1.2. Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
1.1.2.1. Chất sát khuẩn
Các chất chống vi khuẩn (ngăn ngừa nhiễm khuẩn với
mô sống hoặc da). Chất này khác với chất kháng sinh sử dụng
để tiêu diệt hoặc kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn một cách
đặc hiệu và khác với chất khử khuẩn dụng cụ. Một số loại chất
sát khuẩn (SK) là chất diệt khuẩn thực sự, có khả năng tiêu



4
diệt vi khuẩn trong khi một số loại chất SK khác chi có tính
năng kìm hãm, ngăn ngừa và ức chế sự phát triển của chúng
[1].
1.1.2.2. Dung dịch sát khuẩn tay có chứa cồn
Dịch pha chế có chứa cồn dưới dạng chất lỏng, gel hoặc
kem bọt dùng để xoa/chà tay nhằm tiêu diệt hoặc làm giảm sự
phát triển của vi sinh vật. Các loại dung dịch này có thể chứa
một hoặc nhiều loại cồn pha theo công thức được công nhận
của các hãng dược phẩm [1].
1.1.2.3. Dự phòng sau phơi nhiễm
Biện pháp ngăn ngừa lây truyền các tác nhân gây bệnh
đường máu sau phơi nhiễm.
1.1.2.4. Kỹ thuật vô khuẩn
Là các kỹ thuật không làm phát sinh sự lan truyền của vi
khuẩn trong quá trình thực hiện như: vệ sinh tay (VST), mang
trang phục phòng hộ cá nhân, sử dụng chất khử khuẩn da,
cách mở các bao gói vô khuẩn, cách sử dụng dụng cụ vô
khuẩn.
1.1.2.5. Mũi tiêm an toàn trong nghiên cứu
Mũi tiêm an toàn trong nghiên cứu là mũi tiêm đạt đủ 17
tiêu chuẩn thực hành trong bảng kiểm đánh giá thực hành TAT
tại quyển Hướng dẫn TAT trong các cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh ban hành kèm theo quyết định số 3671/QĐ-BYT ngày
27 tháng 9 năm 2012 của Bộ Y tế. Cụ thể :
1. Bơm kim tiêm vô khuẩn
2. Có sử dụng xe tiêm khi đi tiêm


5

3. Có sử dụng khay tiêm khi đi tiêm
4. Có hộp đựng vật sắc nhọn ở gần nơi tiêm
5. Rửa tay, sát khuẩn tay nhanh trước khi chuẩn bị thuốc
6. Rửa tay, sát khuẩn tay nhanh trước khi đưa kim tiêm
qua da
7. Mang găng khi tiêm tĩnh mạch, truyền dịch, truyền
máu
8. Kim lấy thuốc đảm bảo vô khuẩn
9. Tiêm thuốc đúng chỉ định
10. Tiêm đúng vị trí
11. Tiêm đúng góc kim so với mặt da
12. Tiêm đúng độ sâu
13. Rút pittông kiểm tra trước khi bơm thuốc
14. Bơm thuốc đảm bảo hai nhanh một chậm
15. Không dùng hai tay đậy nắp kim
16. Cô lập ngay bơm kim tiêm đã nhiễm khuẩn trong hộp
an toàn
17. Hướng dẫn người bệnh những điều cần thiết.
1.1.2.6. Mũi tiêm không an toàn trong nghiên cứu
Mũi tiêm không an toàn trong nghiên cứu là mũi tiêm có
từ một tiêu chí thực hành không đạt trở lên bao gồm những
đặc tính sau: dùng bơm tiêm, kim tiêm (BKT) không vô
khuẩn, tiêm không đúng thuốc theo chỉ định; không thục hiện
đúng các bước của quy trình tiêm; các chất thải, đặc biệt là
chất thải sắc nhọn (CTSN) sau khi tiêm không phân loại và cô
lập ngay theo quy chế quản lý chất thải của Bộ Y tế.


6
1.1.2.7. Người điều dưỡng thực hành Tiêm an toàn đúng trong nghiên cứu

Người điều dưỡng thực hành Tiêm an toàn đúng trong
nghiên cứu là người điều dưỡng có cả 2 mũi tiêm quan sát đạt
mũi tiêm an toàn.
1.1.2.8. Phơi nhiễm nghề nghiệp
Phơi nhiễm nghề nghiệp là sự tiếp xúc trực tiếp với máu,
dịch tiết, chất bài tiết (trừ mồ hôi) có chứa tác nhân gây bệnh
trong khi NB thực hiện nhiệm vụ dẫn đến nguy cơ lây nhiễm
bệnh [1].
1.1.2.9. Phương tiện phòng hộ cá nhân
Phương tiện phòng hộ cá nhân (PPE) bao gồm găng tay,
khẩu trang, áo khoác phòng thí nghiệm, áo choàng, tạp dề, bao
giày, kính bảo hộ, kính có tấm chắn bên, mặt nạ. Mục đích sử
dụng PPE là để bảo vệ NVYT, NB, người nhà NB và NVYT
khỏi bị nguy cơ phơi nhiễm và hạn chế phát tán mầm bệnh ra
môi truờng bên ngoài. Tổchức Y tế Thế giới (WHO) không
khuyến cáo sử dụng khẩu trang, găng tay, kính bảo vệ mắt,
quần áo bảo vệ trong thực hiện tiêm. Các PPE này chỉ sử dụng
trong trường hợp người tiêm có nguy cơ phơi nhiễm với máu,
dịch tiết, chất tiết (trừ mồ hôi) [1].
* Tiêm bắp
Đưa mũi tiêm vào phần thân của cơ bắp với góc kim từ
60°-90° so với mặt da (không ngập hết phần thân kim tiêm),
thường chọn các vị trí sau:
-

Cánh tay: 1/3 trên mặt trước ngoài cánh tay.

-

Vùng đùi: 1/3 giữa mặt trước ngoài đùi.



7
-

Vùng mông: 1/4 trên ngoài mông hoặc 1/3 trên

ngoài của đường nối từ gai chậu trước trên với mỏm xương
cụt [1].
* Tiêm dưới da
Là kỹ thuật tiêm sử dụng bơm kim tiêm để tiêm thuốc
vào mô liên kết dưới da của NB, kim chếch 30°-45° so với
mặt da. Vị trí tiêm thường 1/3 giữa mặt trước ngoài cánh tay
(đường nối từ mỏm vai đến mỏm khuỷu chia làm 3 phần) hay
1/3 giữa mặt trước ngoài đùi (đường nối từ gai chậu trước trên
đến bờ ngoài xương bánh chè) hoặc dưới da bụng (xung
quanh rốn, cách rốn 5 cm) [1].
* Tiêm, truyền tĩnh mạch
Là kỹ thuật dùng kim đưa thuốc, dịch vào tĩnh mạch với
góc tiêm 30° so với mặt da. Khi tiêm chọn tĩnh mạch nổi rõ,
mềm mại, không di động, da vùng tiêm nguyên vẹn [1].
* Tiêm trong da
Mũi tiêm nông giữa lớp thượng bì và hạ bì, đâm kim
chếch với mặt da 10°- 15°, tiêm xong tạo thành một cục sẩn
như da cam trên mặt da. Thường chọn vùng da mỏng, ít va
chạm, trắng, không sẹo, không có lông, vị trí 1/3 trên mặt
trước trong cẳng tay, đường nối từ nếp gấp cổ tay đến nếp gấp
khuỷu tay (thông dụng nhất), 1/3 trên mặt ngoài cánh tay
(đường nối từ mỏm vai đến mỏm khuỷu), bả vai, cơ ngực lớn
[1].

* Thùng đựng chất thải sắc nhọn
Còn gọi là “hộp đựng chất thải sác nhọn (CTSN)”, “hộp


8
kháng thủng” hay “hộp an toàn”. Hộp đựng CTSN được sản
xuất bằng chất liệu cứng, chống thủng, chống rò rỉ được thiết
kế để chứa CTSN một cách an toàn trong quá trình thu gom,
hủy bỏ và tiêu hủy. Thùng này phải được thiết kế và quản lý
theo đúng Quy chế Quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế [5].
* Xử lý các vật sắc nhọn sau khi tiêm
Phân loại chất thải ngay tại nguồn, cô lập ngay vật sắc
nhọn vào hộp kháng thủng đủ tiêu chuẩn, không đậy lại nắp
kim, không uốn cong, bẻ gẫy kim [1].
* Vệ sinh tay
Việc rửa tay bằng nước và xà phòng hoặc các chất SK.
Khuyến cáo áp dụng khi thực hiện kỹ thuật vô khuẩn [6].
1.2. Quan điểm và chính sách về Tiêm an toàn
1.2.1. Trên thế giới
Trên thế giới, tiêm được ứng dụng trong điều trị từ
những năm 1920 và thịnh hành từ chiến tranh thế giới II sau
khi Penicilline được phát minh và đưa vào sử dụng rộng rãi.
WHO ước tính hằng năm tại các nước đang phát triển có
khoảng 16 tỷ mũi tiêm, trong đó 95% mũi tiêm với mục đích
điều trị, 3% mũi tiêm là tiêm chủng, 1% mũi tiêm với mục
đích kế hoạch hóa gia đình, 1% mũi tiêm được sử dụng trong
truyền máu và các sản phẩm của máu [7].
Thực tế đã cho thấy tiêm là một thủ thuật phổ biến có vai
trò rất quan trọng trong các lĩnh vực phòng bệnh và chữa
bệnh. Tuy nhiên tiêm cũng gây ra hậu quả nghiêm trọng cho



9
cả người nhận mũi tiêm, người thực hiện tiêm và cộng đồng
nếu như không có những giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện
mũi tiêm an toàn [1].
Theo nghiên cứu “Gánh nặng toàn cầu của bệnh do tiêm
bị ô nhiễm được đưa ra trong các thiết lập chăm sóc sức khỏe”
của Hauri và cộng sự cho thấy trung bình mỗi người nhận 3,4
mũi tiêm, trong đó 39,3% sử dụng bơm tiêm dùng lại.
Trong năm 2000 nhiễm khuẩn do tiêm gây ra ước tính
khoảng 21 triệu ca nhiễm HBV, 2 triệu ca nhiễm HCV và
260.000 ca nhiễm HIV tương ứng chiếm tỷ lệ 32%, 40% và
5%, các bệnh nhiễm trùng mới này cho một gánh nặng
9.177.679 DAILYS giữa năm 2000 đến năm 2030 [8].
Mặc dù những hậu quả do tiêm không an toàn gây ra rất
nghiêm trọng tuy nhiên theo Trung tâm kiểm soát bệnh tật
Hoa Kỳ và WHO, có tới 80% tổn thương do kim tiêm có thể
phòng ngừa được bằng các biện pháp hết sức đơn giản như sử
dụng bằng thiết bị tiêm vô khuẩn và thực hiện đúng quy bình
tiêm. Sự mất an toàn bông tiêm có thể được giảm nhẹ đi rất
nhiều khi ta hiểu rõ tiêm không an toàn, nguyên nhân của các
hiện tượng đó và các biện pháp kiểm soát chúng. Nhận thức
được tầm quan trọng của kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) và
an toàn bông tiêm, những khó khăn của các nước thành viên
và bách nhiệm của mình trước sự an toàn bông chăm sóc y tế,
WHO đã thành lập Mạng lưới TAT Toàn cầu (SIGN) vào năm
1999. Mục đích của SIGN là giảm tần số tiêm và thực hiện
TAT, cải thiện chính sách, quy trình kỹ thuật tiêm, thay đổi



10
hành vi của người sử dụng và người cung cấp dịch vụ tiêm.
Có 5 nội dung chính trong chính sách TAT: áp dụng hợp lý các
biện pháp điều bị tiêm; ngăn ngừa việc sử dụng lại bơm tiêm
và kim tiêm; hủy bơm tiêm và kim tiêm đã qua sử dụng ngay
tại nơi sử dụng; phân tách chất thải ngay tại nơi phát sinh chất
thải; xử lý an toàn và tiêu hủy dụng cụ tiêm đã qua sử dụng.
Các tổ chức bên cũng đã xây dựng Chiến lược toàn cầu vì mũi
TAT bao gồm: (1) Thay đổi hành vi của cán bộ y tế, NB và
cộng đồng; (2) Đảm bảo có sẵn vật tư, bằng thiết bị; (3) Quản
lý chất thải an toàn và thích hợp. Các biện pháp KSNK do
tiêm không an toàn được chia thành 5 nhóm chính: (1) Loại
bỏ nguy cơ; (2) Biện pháp kỹ thuật; (3) Biện pháp kiểm soát
hành chính; (4) Biện pháp kiểm soát tập quán làm việc; (5)
Dụng cụ bảo hộ cá nhân [9].
Từ đó đến nay, SIGN đã xây dựng và ban hành chiến
lược an toàn trong tiêm trên toàn thế giới và nhiều tài liệu
hướng dẫn liên quan đến tiêm. Với chính sách của SIGN đã
tạo ra một sự thay đổi lớn trong nhận thức, hành vi của NB và
cộng đồng, đặc biệt với chiến dịch hỗ trợ về truyền thông, kỹ
thuật và thiết bị cho các nước chậm phát triển đã dần nâng cao
tỷ lệ TAT và góp phần giảm thiểu các nguy cơ và gánh nặng
của tiêm không an toàn tại mỗi quốc gia và trên toàn thế giới.
1.2.2.Tại Việt Nam
Thực hiện khuyến cáo và được sự hỗ trợ kỹ thuật của
WHO, năm 2010, Bộ trưởng Bộ Y tế Việt Nam ra Quyết định
số 2642/QĐ-BYT ngày 21 tháng 7 năm 2011 thành lập Ban



11
soạn thảo các tài liệu hướng dẫn KSNK, trong đó có Hướng
dẫn TAT. Ban soạn thảo tài liệu gồm các thành viên có kinh
nghiệm lâm sàng, giảng dạy và quản lý liên quan đến tiêm
như ĐDV, bác sĩ, dược sĩ, chuyên gia KSNK, chuyên gia quản
lý khám, chữa bệnh và đại diện Hội Điều dưỡng Việt Nam.
Tài liệu được biên soạn trên cơ sở tham khảo chương trình, tài
liệu đào tạo TAT do Cục Quản lý khám, chữa bệnh phối hợp
với Hội Điều dưỡng Việt Nam xây dựng và áp dụng thí điểm
tại 15 BV trong toàn quốc trong hai năm 2009-2010; tham
khảo các kết quả khảo sát thực trạng TAT của Hội Điều dưỡng
Việt Nam các năm 2005, 2008, 2009; tham khảo kết quả rà
soát các tài liệu về tiêm, vệ sinh tay, quản lý chất thải y tế và
KSNK Việt Nam và các tổ chức WHO, CDC, UNDP, tài liệu
hướng dẫn TAT của một số Bộ Y tế các nước, các trường đào
tạo điều dưỡng, y khoa, các tạp chí an toàn cho NB và KSNK
của khu vực và của toàn thế giới [1].
Ngày 27 tháng 9 năm 2012 Bộ Y tế đã ban hành Hướng
dẫn TAT tại Quyết định số 3671/QĐ-BYT với nhiều nội dung
cập nhật so với quy trình tiêm hiện đang được thực hiện và
yêu cầu: (1) Các cơ sở KBCB sử dụng tài liệu này để tập
huấn, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc cung ứng phương
tiện tiêm, thuốc tiêm và thực hành TAT tại đơn vị mình: (2)
Các cơ sở đào tạo điều dưỡng, các trường đại học, cao đẳng
và trung học y tế sử dụng tài liệu này để cập nhật chương
trình, tài liệu đào tạo; (3) Các cá nhân liên quan đến thực hành
tiêm, cung ứng phương tiện và thuốc tiêm, các nhân viên thu
gom chất thải y tế sử dụng tài liệu này trong thực hành, kiểm



12
tra, giám sát nội dung tiêm, truyền tĩnh mạch ngoại vi [1].
Ngày 02 tháng 8 năm 2013, Cục Quản lý khám, chữa
bệnh, Bộ Y tế cũng đã có Công văn số 671/KCB-ĐDV yêu
cầu các đơn vị trực thuộc trong toàn quốc tổ chức, thực hiện
nghiêm túc Hướng dẫn TAT. Sở Y tế Hà Nội là cơ quan
chuyên môn thuộc UBND thành phố Hà Nội, chịu sự chỉ đạo,
hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của
Bộ Y tế. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Y tế, Sở Y tế Hà Nội đã có
Công văn số 2369 ngày 19 tháng 8 năm 2013 yêu cầu các BV
trực thuộc triển khai thực hiện Hướng dẫn TAT.
1.3. Thực trạng thực hiện Tiêm an toàn
1.3.1. Thực trạng sử dụng thuốc tiêm và hiện tượng lạm dụng tiêm
Tiêm, truyền đang trở thành một thủ thuật xâm lấn phổ
biến, với số lượng mũi tiêm lớn trong chẩn đoán, phòng bệnh
và chữa bệnh. Kết quả nghiên cứu của Yan Y và cộng sự được
tiến hành tại Trung Quốc nhằm đánh giá về TAT của người
dân ở huyện Kinh Châu, Hồ Bắc cho thấy trong số 595 đối
tượng nghiên cứu có 192 người đã được tiêm ít nhất 1 lần
trong 3 tháng chiếm 32,3%, trung bình 0,93 mũi tiêm/người
[10]. Hauri và cộng sự năm 2004 cũng cho thấy tỷ lệ tiêm
hàng năm cho mỗi người dao động từ 1,7 đến 11,3 [8]. Tại
Việt Nam, năm 2005, nghiên cứu của Đào Thành và cộng sự
được tiến hành với mục tiêu đánh giá toàn diện trên phạm vi
toàn quốc về kết quả sau 5 năm thực hiện cuộc vận động TAT
toàn quốc. Qua quan sát ngẫu nhiên 776 mũi tiêm cho thấy: tỷ
lệ mũi tiêm trung bình của NB là 2,2 mũi tiêm/người/ngày
[11]. Nghiên cứu của Trần Thị Minh Phượng tại BV đa khoa



13
Hà Đông năm 2012 cho thấy tỷ lệ NB nội trú có tiêm chiếm
64%, trung bình mỗi NB nhận tới 3,1 mũi tiêm/ngày [12].
Thực tế cho thấy, việc lạm dụng tiêm truyền đang trở
thành một vấn đề báo động tại một số nước đang phát triển.
Lạm dụng tiêm gây nên những thiệt hại lớn về mặt kinh tế và
làm tăng nguy cơ không an toàn trong quá trình thực hiện
tiêm. Tại Indonesia và Tanzania, trên 70% những mũi tiêm
được cho là không cần thiết hoặc có thể thay thế bằng thuốc
uống, cái được cho là an toàn và rẻ tiền hơn rất nhiều [2]. Theo
nghiên cứu của Hauri và cộng sự năm 2004 cũng đưa ra kết
luận lạm dụng tiêm và thực hành không an toàn đưa đến một
gánh nặng đáng kể về tử vong và khuyết tật trên toàn thế giới
[8]. Nghiên cứu tại Jingzhou, Trung Quốc về thực hành tiêm tại
các cơ sở y tế cho thấy có tới 52% đơn thuốc của NB ngoại trú
có chỉ định tiêm, trong đó 57% số mũi tiêm là không cần thiết
[10]. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Đào Thành năm 2010 về
thực trạng TAT trước và sau can thiệp tại 13 BV đại diện cho 3
vùng Bắc, Trung, Nam kết quả cho thấy trên 85% nhân viên y
tế cho rằng có tình trạng lạm dụng thuốc tiêm trong đó hơn một
nửa số người cho rằng đó là tình trạng phổ biến và quan điểm
này không thay đổi ở đánh giá trước và sau [13].
Nguyên nhân dẫn đến lạm dụng tiêm bắt nguồn từ cả
phía người được tiêm, người tiêm và cộng đồng. Do thiếu
thông tin về những nguy hại do tiêm truyền; có niềm tin mơ
hồ về tác dụng hiệu quả dùng thuốc theo đường tiêm so với
uống; một số NB thích được tiêm hơn, đề nghị hoặc yêu cầu
bác sỹ cho thuốc tiêm, truyền trong khi có thể dùng thuốc
uống thay thế. Bên cạnh đó bác sỹ cũng kê đơn lạm dụng



14
thuốc tiêm để làm hài lòng NB và thêm nữa, lợi nhuận, tiền
công thu được từ thuốc tiêm cũng cao hơn thuốc uống.
1.3.2.Thực trạng cung cấp trang thiết bị, phương tiện phục vụ tiêm
Nhiều quốc gia chưa thực sự quan tâm đầu tư trang thiết
bị phục vụ công tác tiêm an toàn nhằm bảo đảm an toàn cho
nhân viên y tế và cộng đồng. Irina Mikheeva - Viện nghiên
cứu dịch tễ học quốc gia liên bang Nga và cộng sự đã tiến
hành nghiên cứu về quản lý chất thải y tế trên 65.415 cơ sở y
tế ở 50 vùng lãnh thổ khác nhau của liên bang Nga năm 2005
cho thấy: 61,5% cơ sở y tế sử dụng chai nhựa để chứa bơm
kim tiêm. Chỉ có 1,4% cơ sở y tế sử dụng máy cắt kim; 14%
cơ sở y tế tái sử dụng các vật dụng thải bỏ.
Thiếu phương tiện, dụng cụ tiêm hoặc phương tiện, dụng
cụ tiêm không phù hợp. Thiếu BKT hoặc BKT không phù hợp
về mặt kích cỡ, chủng loại hay không bảo đảm chất lượng cho
việc tái sử dụng. Một số cơ sở y tế dùng chung BKT cho
những loại thuốc khác nhau, cho những NB khác nhau, dùng
một kim lấy thuốc để pha thuốc và rút thuốc nhiều lần. Theo
báo cáo của WHO, dựa trên kết quả nghiên cứu về hiện trạng
tiêm tại 19 nước đại diện cho 5 vùng trên thế giới, có 40%
mũi tiêm được thực hiện bằng BKT dùng lại mà không được
tiệt khuẩn [2].
Nghiên cứu tại 80 cơ sở y tế ở Philippin năm 2007 (theo
bộ công cụ đánh giá tiêm an toàn của WHO) cho thấy: tỷ lệ sử
dụng lại bơm kim tiêm xấp xỉ 16%, khoảng 49% các cơ sở y
tế chưa có hệ thống xử lý rác thải, chỉ có 17% số cơ sở y tế có
thùng chứa vật sắc nhọn đảm bảo tiêu chuẩn. Tại Gujarat,



15
Indian, 77% số người cung cấp mũi tiêm có những mũi tiêm
được thực hành một cách không an toàn bao gồm luộc bơm
kim tiêm để dùng lại, đậy lại nắp kim tiêm bằng hai tay và tiếp
xúc trực tiếp với dịch cơ thể.
Tại Việt Nam, thiếu các phương tiện vệ sinh tay: Không
đủ bồn rửa tay tại các buồng bệnh, buồng thủ thuật, không
cung cấp đủ nước, xà phòng, khăn lau tay sạch hoặc dung dịch
SK tay nhanh có chứa cồn làm ảnh hưởng đến quy trình TAT
của ĐDV. Giải pháp trang bị đủ các phương tiện vệ sinh tay
như lắp đặt đủ các bồn rửa tay ở buồng bệnh, buồng thủ thuật;
cung cấp đủ nước, xà phòng, khăn lau tay sạch cho mỗi lần
rửa tay hoặc dung dịch SK tay nhanh có chứa cồn treo hoặc
đặt sẵn trên các xe tiêm đã được đề cập đến trong Hướng dẫn
TAT trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ban hành kèm
theo quyết định số 3671/QĐ-BYT ngày 27 tháng 9 năm 2012
của Bộ Y tế [1];
Thiếu các phương tiện thu gom chất thải y tế sau tiêm
theo đúng quy định tại Quyết định 43/2007/QĐ-BYT ngày
30/11/2007 của Bộ Y tế ban hành Quy chế Quản lý chất thải y
tế. Rất nhiều các cơ sở KBCB hiện nay sử dụng hộp đựng
CTSN sau tiêm không đạt yêu cầu, không đủ hộp, hộp không
có tính kháng thấm, kháng thủng, không phù hợp về kích cỡ,
hoặc sử dụng không đúng như đựng quá đầy, để hộp không
đúng vị trí gây tai biến cho người thực hành tiêm và người thu
gom chất thải sau tiêm. Nghiên cứu đánh giá kiến thức về TAT
và tần suất rủi ro do vật sắc nhọn đối với điều dưỡng, hộ sinh
tại 8 tỉnh đại diện, 6 tháng đầu năm 2005 của Phạm Đức Mục
và cộng sự đã cho thấy có 63,1% và 62,6% số người được hỏi



16
cho rằng thiếu dụng cụ xử lý chất thải và thiếu hộp đựng
CTSN chuẩn là nguyên nhân dẫn đến mũi tiêm không an toàn
[14]. Để thực hiện tốt nội dung này trong tiêm truyền, Bộ Y tế
đã khuyến cáo các cơ sở KBCB phải bảo đảm phương tiện
đựng CTSN phù hợp với phương pháp tiêu hủy cuối cùng.
Hộp đựng CTSN phải bảo đảm các tiêu chuẩn: thành và đáy
cứng không bị xuyên thủng; có khả năng chống thấm; kích
thước phù hợp; có nắp đóng mở dễ dàng; Miệng hộp đủ lớn để
cho vật sắc nhọn vào mà không cần dùng lực đẩy; có dòng
chữ “CHỈ ĐỰNG CHẤT THẢI SẮC NHỌN” và có vạch báo
hiệu ở mức 3/4 hộp và có dòng chữ “KHÔNG ĐƯỢC ĐỰNG
QUÁ VẠCH NÀY”; màu vàng; có quai hoặc kèm hệ thống cố
định; khi di chuyển vật sắc nhọn bên trong không bị đổ ra
ngoài [1].
1.3.3. Thực trạng tiêm an toàn
Thực hành TAT chưa tốt đặc biệt là tại các nước đang
phát triển đang là một vấn đề được rất nhiều tổ chức, cá nhân
quan tâm. Theo WHO có tới 50% các mũi tiêm ở các nước
đang phát triển chưa bảo đảm an toàn, WHO cảnh báo tiêm
không an toàn đã trở thành thông lệ ở các nước đang phát triển
[2]. Đã có rất nhiều thao tác thực hành tiêm chưa đúng được
ghi nhận qua các nghiên cứu của các nước: chỉ có 12,5% rửa
tay bằng xà phòng và nước trước khi thực hành tiêm [7]; 23%
trả lời vẫn đậy nắp kim thường xuyên và 32,8% trả lời thỉnh
thoảng vẫn đậy lại nắp kim sau tiêm [1].
Tại Việt Nam, việc thực hiện tiêm truyền cho NB trong
các cơ sở KBCB chủ yếu do ĐDV thực hiện. Từ năm 2001

đến nay, được sự quan tâm của Bộ Y tế, Hội Điều dưỡng Việt


17
Nam đã phát động phong trào TAT trong toàn quốc, đồng thời
tiến hành những khảo sát về thực trạng TAT vào những thời
điểm khác nhau (2002; 2005; 2008). Kết quả những khảo sát
cho thấy: 55% nhân viên y tế còn chưa cập nhật thông tin về
TAT liên quan đến KSNK; phần lớn nhân viên y tế chưa tuân
thủ quy trình kỹ thuật và các thao tác KSNK trong thực hành
tiêm (vệ sinh tay, mang găng, sử dụng panh, phân loại và thu
gom vật sắc nhọn sau tiêm, dùng tay để đậy nắp kim sau
tiêm...), chưa báo cáo và theo dõi rủi ro do vật sắc nhọn
(87,7%) [13].
Hiện tại, thực hành tiêm của ĐDV tại các BV rất khác
nhau và một số thực hành chưa phù hợp. Thiếu kiến thức về
phân loại chất thải sau tiêm: sau khi tiêm xong, dùng tay để
tháo BKT bằng tay; bẻ cong kim tiêm; đậy nắp kim tiêm;
không rửa tay sau khi tiêm; không lường trước được những
phản ứng bất ngờ của NB đặc biệt là đối với những bệnh nhi,
NB có những rối loạn về tâm thần hay những NB bất hợp tác
[13]. Thực hành TAT không đúng được phản ánh qua rất nhiều
nghiên cứu tại các thời điểm và các vùng miền khác nhau:
50,1% ĐDV sát khuẩn da nơi tiêm không đúng quy định [15];
37,7% không rửa tay, sát khuẩn tay nhanh trước khi chuẩn bị
dụng cụ tiêm [16], 51% không sát khuẩn tay trước khi tiêm
[17]; 38,3% dùng hai tay đậy lại nắp kim tiêm [16]. Hiện tại,
Việt Nam chưa có nghiên cứu nào đánh giá hậu quả toàn diện
do tiêm không an toàn gây ra tuy nhiên vẫn có một số tai biến
xảy ra tại các cơ sở KBCB mà hậu quả của tiêm không an

toàn là rất lớn.


18
Thu gom BKT đã sử dụng để tái sử dụng hoặc bán ra thị
trường bên ngoài theo những cách không an toàn. Những sai
phạm này là hết sức trầm trọng bởi chúng có thể gây hại cho
cộng đồng dân cư rộng lớn. Thải bỏ BKT bừa bãi ra môi
trường. Tiêu hủy không đúng cách như thiêu đốt gây ô nhiễm
không khí, tạo ra những chất sau tiêu hủy chưa thực sự an
toàn hoặc chôn lấp không đạt tiêu chuẩn độ sâu gây hại cho
những người khác [13].
Tình trạng quá tải NB, quá tải công việc đang là những
rào cản lớn đối với việc thực hiện TAT. Tình trạng thiếu nhân
lực, bố trí công việc không hợp lý khiến ĐDV phải thực hiện
quá nhiều công việc dưới nhiều áp lực và việc tuân thủ TAT
không được thực thi một cách toàn diện [13].
Công tác quản lý chưa hiệu quả: thiếu kiểm tra giám sát,
thiếu chế tài thưởng phạt, chưa tạo phong trào thi đua, tạo môi
trường điều kiện thuận lợi cho TAT [13].
Năm 2012, Bộ Y tế Việt Nam đã ban hành Hướng dẫn
TAT với nhiều nội dung cập nhật so với quy trình tiêm hiện
đang được thực hiện và yêu cầu triển khai thực hiện tại tất cả
các BV trong toàn quốc nhằm bảo đảm thực hiện mũi tiêm an
toàn cho người nhận mũi tiêm, người tiêm và cộng đồng. Đến
nay nhiều BV đã cập nhật quy trình tiêm theo Hướng dẫn TAT
để ĐDV thực hiện tại BV song chưa có nghiên cứu nào đánh
giá việc thực hiện TAT tại các BV theo Hướng dẫn này.
1.3.4. Nguy cơ và gánh nặng của tiêm không an toàn
1.3.4.1.Nguy cơ của tiêm không an toàn



19
Tiêm không an toàn có thể gây lây nhiễm nhiều loại tác
nhân gây bệnh khác nhau như vi rút, vi khuẩn, nấm và ký sinh
trùng. Tiêm không an toàn cũng có thể gây các biến chứng
khác như áp-xe và phản ứng nhiễm độc. Việc sử dụng lại bơm
tiêm hoặc kim tiêm còn phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới
khiến cho NB phơi nhiễm với các tác nhân gây bệnh một cách
trực tiếp (qua dụng cụ nhiễm bẩn) hoặc gián tiếp (qua lọ thuốc
nhiễm bẩn) [9].
Đối với nhân viên Y tế, nếu mũi tiêm không an toàn có
thể dẫn đến những hậu quả khó lường mà chủ yếu là các bệnh
lây qua đường máu như viêm gan B; HIV... Một mắt xích
quan trọng của quá trình lây bệnh từ người bệnh sang nhân
viên y tế qua đường máu là các tai nạn do vật sắc nhọn. Theo
WHO, đối tượng bị tai nạn nghề nghiệp do kim đâm vào tay
chiếm tỷ lệ cao nhất là điều dưỡng (44 -72%); tiếp theo là bác
sỹ (28%); kỹ thuật viên xét nghiệm là 15%; hộ lý là 3 - 16%
và nhân viên hành chính chiếm khoảng 1 - 6% [9],[8].
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thúy Quỳnh năm
2009, cho thấy: điều dưỡng có tần suất phơi nhiễm cao nhất
(79,6/1000 người/4tháng, trong đó tổn thương xuyên da là
66,7/1000 người/4tháng); đứng thứ 2 là nhóm bác sĩ
(26,9/1000 người/4tháng, trong đó tổn thương xuyên da
22,2/1000 người/4 tháng). NVYT thường xuyên thực hiện các
công việc tiêm, truyền có tần suất phơi nhiễm cao nhất và
100% các trường hợp là tổn thương xuyên da (43,3/1000
người/4tháng) [18].



×