Tải bản đầy đủ (.doc) (60 trang)

Các thời kì TQ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.19 MB, 60 trang )

Thời đồ đá
Có lẽ hơn một triệu năm trước, người Homo erectus đã cư ngụ ở Trung Quốc. Những cuộc khai
quật tại Nguyên Mưu và sau đó tại Lam Điền đã hé lộ những dấu tích cư trú đầu tiên. Có lẽ mẫu
vật nổi tiếng nhất của Homo erectus được tìm thấy tại Trung Quốc là người vượn Bắc Kinh (北
京人) được phát hiện năm 1923. Homo sapiens hay người hiện đại có thể đã tới Trung Quốc từ
khoảng 65.000 trước từ Châu Phi. Bằng chứng sớm nhất về việc trồng cấy kê tại Trung Quốc
được xác định niên đại bằng các bon vào khoảng năm 6000 TCN, và có liên quan tới Văn hóa
Bùi Lý Cương (裴李崗文化) ở huyện Tân Trịnh (新鄭縣), tỉnh Hà Nam (河南省). Cùng với
nông nghiệp, dân cư ngày càng đông đúc, tăng khả năng tích trữ và tái phân phối lương thực và
đủ cung cấp cho những người thợ thủ công cũng như quan lại. Cuối thời kỳ đồ đá mới, vùng
châu thổ sông Hoàng Hà (黃河) bắt đầu trở thành một trung tâm văn hóa, nơi những làng xã
đầu tiên được thành lập; những di tích khảo cổ đáng chú ý nhất của chúng được tìm thấy tại
Bán Pha (半坡), Tây An (西安).
[sửa] Những nguồn gốc đầu tiên của Trung Quốc
Bản đồ vùng lãnh thổ chiếm đóng qua các triều đại khác nhau.
[sửa] Văn minh cổ đại ở Bình nguyên Hoa Bắc
Vào năm 5000 trước Công Nguyên các cộng đồng nông nghiệp đã trải dài khắp trên đa phần
lãnh thổ Trung Quốc hiện nay, và đã có những làng nông nghiệp từ đồng bằng sông Vị chạy về
phía đông, song song với dòng sông Hoàng Hà vĩ đại, bắt nguồn từ dãy núi Côn Lôn (Kunlun)
chảy về hướng vùng hoàng thổ nơi có cánh rừng trụi lá ở đồng bằng phía bắc Trung Quốc. Ở đó
con người có rừng và có nước để trồng kê - khoảng năm 5500 trước Công Nguyên - họ săn
hươu nai và các loài thú khác, câu cá làm thức ăn. Họ thuần hóa chó, lợn và gà. Họ đào đất để
xây những ngôi nhà một phòng, với mái bằng đất sét hay rạ: nhiều ngôi nhà ngầm như vậy tạo
thành một làng. Họ đã có guồng quay tơ và biết đan cũng như dệt sợi. Họ cũng chế tạo đồ gốm
có trang trí.
1
Tình trạng lụt lội của sông Hoàng Hà tồi tệ hơn rất nhiều so với khu vực dọc sông Dương Tử về
hướng nam. Dọc theo sông Dương Tử, qua lòng chảo Hồ Bắc (湖北) và ở đồng bằng ven biển
về hướng vịnh Hàng Châu, việc trồng trọt cũng đã phát triển, nhưng người dân sống gần sông
Hoàng Hà phải chống chịu với thiên nhiên khắc nghiệt hơn để chế ngự lũ lụt và tưới tắm mùa
màng, và có lẽ điều này đã kích thích một nỗ lực tổ chức tốt hơn. Ở bất kỳ mức độ nào, đồng


bằng phía bắc Trung Quốc đã trở thành vùng lớn nhất với số dân cư tập trung đông đảo nhất.
Ở những nơi con người sản xuất ra được nhiều lương thực hơn nhu cầu của họ, các chiến binh
đã được thúc đẩy để không chỉ đi cướp đoạt mà còn để chinh phục. Và các vị vua chinh phục đã
bắt đầu nổi lên ở đồng bằng phía bắc Trung Quốc cũng như tình trạng ở phía tây châu Á. Triều
đại đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc bắt đầu ở đồng bằng phía bắc Trung Quốc đã được miêu
tả là thuộc về nhà Hạ (Xia) – giai đoạn cai trị của họ được tin rằng đã bắt đầu khoảng năm 2200
trước Công Nguyên.
[sửa] Xã hội nguyên thủy
Trong thời gian từ năm 1927 đến năm 1937, tại Chu Khẩu Điếm phía tây nam Bắc Kinh, các
nhà khảo cổ Trung Quốc đã phát hiện được di tích người vượn Trung Quốc, còn gọi là người
vượn Bắc Kinh, với hài cốt đã hóa thạch và các di tích văn hóa còn tồn tại. Người vượn Trung
Quốc là giống người nguyên thủy Trung Quốc sinh sống hàng 50 đến 60 vạn năm trước đây.
Họ có thể chế tạo và sử dụng đồ đá đơn giản như rìu, búa, cũng biết dùng đồ xương của người
xưa. Những nơi có người vượn Bắc Kinh sinh sống đã phát hiện được nhiều xương hóa thạch
cùng các dụng cụ bằng đá, các nồi chảo đã có lửa đốt đun, chứng minh họ đã biết dùng lửa.
Trong 2 năm 1922 và 1923 đã phát hiện được người Hà Sáo ở Nội Mông Cổ, giống người này
gần người hiện đại hơn, cách đây khoảng 20 vạn năm. Trong 2 năm 1933 và 1934 đã phát hiện
được người Sơn Đỉnh Động ở Chu Khẩu Điếm. Giống người này đã dùng nhiều đồ đạc chế tạo
bằng xương, đồ đá ít. Xã hội nguyên thủy thành lập các công xã không có bóc lột, không có
giai cấp, cuộc sống lạc hậu, mông muội.
[sửa] Nhà Hạ
Bài chi tiết: Nhà Hạ
Theo truyền thuyết, trong thời gian Vũ trị vì, Vũ đã phát minh ra lối tát nước vào ruộng, lại bắt
sống được một số người dân tộc Man về làm nô lệ. Vũ bắt đầu xây dựng thành quách để giữ gìn
của riêng và người trong dòng họ. Của cải của Vũ, để lại cho con là Khải thừa hưởng. Khải lên
ngôi, tình thế chưa ổn định, phải lấy đất An Ấp (thuộc tỉnh Sơn Tây ngày nay) để đóng đô.
Những con cháu sau này nối ngôi Khải đều nhiều lần đánh phá lẫn nhau, luôn gây ra các cuộc
chiến tranh chinh phạt nhỏ. Kinh tế xã hội lúc bấy giờ đã phát triển khá tiến bộ. Phương pháp
làm lịch cũng bắt đầu xuất hiện. Từ khi lên ngôi, Khải cho đặt tên triều đại là Hạ. Theo truyền
thuyết, đời Hạ đã có 9 cái vạc đồng do Khải cho đúc. Như vậy, có thể thời kỳ này đã có đồng

và nghề đúc đồng.
Những ghi chép của Tư Mã Thiên về thời gian thành lập Nhà Hạ (夏朝) là từ khoảng 4.000
năm trước, nhưng điều này không thể được chứng thực. Một số nhà khảo cổ học cho rằng nhà
2
Hạ có liên quan tới di vật khai quật được tại Erlitou ở trung tâm tỉnh Hồ Nam, một bức tượng
đồng niên đại từ khoảng năm 2000 TCN. Những dấu hiệu sớm của thời kỳ này được tìm thấy
trên các bình gốm và mai rùa trông tương tự như những đường nét đầu tiên của chữ Trung
Quốc hiện đại, nhưng nhiều học giả vẫn không chấp nhận ý kiến này. Bằng chứng về sự tồn tại
của Nhà Hạ vẫn cần phải được hỗ trợ thêm nữa qua các cuộc khảo cổ. Vì không có những văn
bản ghi chép rõ ràng như các văn bản trên các loại xương hay mai rùa dùng để bói của nhà
Thương hay những ghi chép trên vại đồng của nhà Chu nên thời đại nhà Hạ vẫn còn chưa được
biết đến kỹ lưỡng.
[sửa] Nhà Thương
Bài chi tiết: Nhà Thương
Một chiếc vại bằng đồng cuối thời Thương.
Những bản ghi chép sớm nhất còn lại của Trung Quốc có niên đại từ thời Nhà Thương (商朝)
có lẽ ở thế kỷ 13 TCN, và chúng là những đoạn văn khắc dùng để bói toán trên xương thú hoặc
mai rùa—được gọi là giáp cốt văn (甲骨文). Những hiện vật khảo cổ cho thấy bằng chứng về
sự tồn tại của nhà Thương, 1600 TCN–1046 TCN và nhà Thương được chia làm hai khuynh
hướng. Khuynh hướng thứ nhất, từ đầu thời nhà Thương (1600–1300 TCN) với các bằng chứng
tại Nhị Lý Cương (二里崗), Trịnh Châu (鄭州) và Thương Thành. Khuynh hướng thứ hai từ
cuối thời nhà Thương hay giai đoạn Ân (殷), gồm rất nhiều văn bản giáp cốt. An Dương (安陽)
ở tỉnh Hà Nam hiện nay đã được xác nhận là nơi đóng đô cuối cùng trong tổng số chín kinh đô
của nhà Thương (1300–1046 TCN).
Các nhà sử học Trung Quốc sống ở cuối những giai đoạn này đã làm quen với khái niệm về
những triều đại nối tiếp nhau, nhưng tình hình thực tế chính trị ở giai đoạn đầu trong lịch sử
Trung Quốc thì phức tạp và rắc rối hơn nhiều. Vì thế, như một số nhà sử học Trung Quốc đề
xuất, nhà Hạ và nhà Thương có lẽ chỉ các thực thể tồn tại đồng thời, giống như nhà Chu ở giai
đoạn sớm (triều đại kế tiếp nhà Thương), đã được chứng minh là đã cùng tồn tại đồng thời với
nhà Thương.

[sửa] Nhà Chu
Xem chi tiết: Nhà Chu
3
Bình gốm Tây Chu với các mảnh khảm thủy tinh, thế kỷ thứ 4-3 TCN.
Tới cuối thiên niên kỷ thứ hai trước Công nguyên, nhà Chu (周朝) bắt đầu nổi lên ở châu thổ
sông Hoàng Hà, tiêu diệt nhà Thương. Có lẽ ban đầu nhà Chu đã bắt đầu thời kỳ cai trị của
mình theo một hệ thống nửa phong kiến. Vị vua nhà Chu là Vũ Vương, với sự hỗ trợ của người
em là Chu Công trong vai trò nhiếp chính đã đánh bại nhà Thương tại trận Mục Dã. Lúc ấy vị
vua nhà Chu đã viện dẫn khái niệm Thiên Mệnh để hợp pháp hóa vai trò cai trị của mình, một
khái niệm về sau này sẽ có ảnh hưởng trên mọi triều đại kế tiếp. Ban đầu nhà Chu đóng đô ở
vùng Tây An ngày nay, gần sông Hoàng Hà, nhưng họ đã thực hiện nhiều cuộc chinh phục mở
rộng vào châu thổ sông Dương Tử. Đây là lần đầu tiên trong số nhiều lần di dân từ phía bắc
xuống phía nam trong lịch sử Trung Quốc.
[sửa] Trăm nhà đua tiếng
Xem thêm: Bách gia chư tử
Khổng Tử, người sáng lập Khổng giáo, có ảnh hưởng rất lớn tới hệ tư tưởng của Trung Quốc và
Đông Á.
4
Lão Tử.
Vào những năm cuối thời nhà Chu, từ cuối thời Xuân Thu tới khi Trung Quốc được nhà Tần
thống nhất năm 256 TCN, tư tưởng Trung Quốc bước vào giai đoạn nở rộ nhất của mình. Tất cả
các trường phái tư tưởng lớn của Trung Quốc đều hiện ra ở giai đoạn không thể tin nổi này của
văn hóa Trung Quốc; các nhà sử học Trung Quốc coi giai đoạn nảy nở văn hóa này là “Giai
đoạn trăm nhà đua tiếng” (Bách gia chư tử) (551-233 TCN).
Gương mặt quan trọng nhất trong thời kỳ này chính là Khổng Phu Tử (hay Confucius trong
tiếng Anh), người sống vào khoảng giữa thế kỷ thứ sáu TCN. Ông đã lập ra một triết lý đạo đức
chặt chẽ không sa đà vào những suy luận siêu hình. Mục đích của ông là cải tổ triều đình nhờ
thế có thể chăm sóc dân chúng tốt hơn.
Một nhà triết học khác là Lão Tử, cũng tìm cách cải cách chính quyền, nhưng triết học của ông
ít có tính ứng dụng hơn. Ông được cho là người sáng lập Đạo giáo, một cách tiếp cận tiêu cực

và siêu hình tới Đức với giáo lý căn bản là tuân theo Đạo. Trong khi Khổng giáo chủ trương
tuân theo đạo trời bằng cách phải sống tích cực nhưng có đức thì trái lại Lão giáo khuyên không
can thiệp và không phấn đấu (vô vi). Trong khi có thể trên thực tế không có người thực sự tên
là Lão Tử, người thứ hai lập lên Đạo giáo chính là Trang Tử, chắc chắn có tồn tại. Ông cũng
dạy một triết lý gần giống hoàn toàn. Tuy nhiên, cả hai không tin rằng Đạo có thể giải thích
được bằng lời; vì vậy sách của họ rất mâu thuẫn và thường là không thể hiểu nổi. Trường phái
lớn thứ ba là Mặc Tử, người cũng tìm cách cải cách triều đình để đảm bảo đời sống cho người
dân. Tuy nhiên, ông tin rằng nguyên nhân căn bản của mọi tai họa và khốn cùng của con người
là do yêu người này mà ghét người kia, và vì vậy ông giảng giải thuyết "kiêm ái". Thông
thường, người ta với những người có quan hệ gần gũi ta đối xử với họ khác hơn so với một
người hoàn toàn xa lạ. Mặc Tử tin rằng chúng ta phải đối xử với tất cả mọi người như đối với
người thân nhất của chúng ta vậy. Nếu tất cả chúng ta đều làm như thế, những thứ như chiến
tranh và đói nghèo sẽ biến mất. Cuối cùng, trường phái lớn nữa là Pháp gia. Xuất phát từ một
nhánh của Khổng giáo, Pháp gia tin rằng con người vốn bản tính ác và chỉ vị kỷ. Kiểu triều
đình tốt nhất và đóng góp nhiều nhất cho phúc lợi nhân dân sẽ là một triều đình kiểm soát chặt
chẽ các bản năng của con người. Triều đình này sẽ cai trị bằng những pháp luật cứng rắn và
chặt chẽ; sự trừng phạt sẽ nghiêm khắc và nhanh chóng. Lòng tin vào việc cai trị bằng pháp luật
là lý do tại sao họ được gọi là "Pháp gia". Không trường phái nào trong số trên, vốn đều có mục
tiêu thay đổi triều đình, gây ảnh hưởng tới nhà Chu. Triều đình đầu tiên chấp nhận một trong
5
những lý thuyêt trên là nhà Tần, họ chọn Pháp gia. Kết quả thật bạo tàn, nhưng những sáng tạo
của phái Pháp gia nhà Tần đã trở thành thứ trung tâm nhất của các triều đình Trung Hoa sau đó.
[sửa] Thời Chiến quốc
Xem thêm: Chiến Quốc
Thời đại này xảy ra vì sự cân bằng mong manh giữa các vương quốc biến thành hỗn loạn trong
một thế kỷ và vì một phần ở sự kết thúc thời đại cai trị của nhà Chu. Các liên minh dễ thay đổi
và thường bị tan rã khi các nước lớn bắt đầu xâm chiếm và sáp nhập các nước nhỏ hơn. Bắt đầu
từ thế kỷ thứ tư, chỉ tám hay chín nước lớn còn sót lại. Tất cả các cuộc xung đột thời Chiến
quốc đều có mục đích tìm kiếm kẻ có thể kiểm soát toàn bộ Trung Quốc.
Trung Quốc đang trên con đường trở thành một quốc gia thống nhất và duy nhất, một đế chế

duy nhất. Dân số Trung Quốc đã tăng mạnh ở giai đoạn Xuân Thu; công cụ bằng sắt và ảnh
hưởng của nó đến nông nghiệp đã làm tăng mạnh dân số (vào thế kỷ thứ tư TCN, Trung Quốc
là vùng đông dân nhất thế giới – không có thời điểm nào trong lịch sử mà điều này không chính
xác.) Chiến tranh đã trở thành một công việc lớn trong thời đại Xuân Thu; quân đội nhỏ và dưới
sự chỉ đạo của tầng lớp quý tộc không còn nữa. Chúng đã thành những đội quân to lớn và gồm
những người lính chuyên nghiệp. Một triều đình gồm tầng lớp chuyên nghiệp ngày càng phát
triển, một tầng lớp quý tộc tự gọi mình bằng cái tên “quân tử” (chun tzu) hay “những người bên
trên”. Tất cả những thứ đó dẫn Trung Quốc theo cách không thể lay chuyển vào một quốc gia
thống nhất. Những người tạo lập ra quốc gia đó có thể là nhà Tần, một dân tộc tàn nhẫn và táo
bạo ở miền viễn tây tới Trung Quốc.
[sửa] Nhà Tần
Xem thêm: Nhà Tần
6
Tần Thủy Hoàng, vị Hoàng đế được coi là người đã thiết lập đế chế Trung Quốc.
Các nhà sử học thường coi thời kỳ từ khi bắt đầu nhà Tần tới khi kết thúc nhà Thanh là giai
đoạn Đế quốc Trung Quốc. Dù thời gian thống nhất dưới sự cai trị của Tần Thủy Hoàng Đế
(秦) chỉ kéo dài mười hai năm, ông đã chinh phục được những vùng đất rộng lớn để tạo nên cơ
sở cho nhà Hán sau này và thống nhất chúng dưới một chính phủ Pháp gia tập trung trung ương
chặt chẽ, với thủ đô tại Hàm Dương (咸陽) (Tây An hiện nay). Học thuyết của Pháp gia đã
khiến Tần đặt trọng tâm trên sự tôn trọng triệt để một hệ thống pháp luật và quyền lực tuyệt đối
của hoàng đế. Triết học này, trong khi rất hữu dụng để mở rộng đế chế bằng quân sự, thì lại cho
thấy không thể hoạt động tốt ở thời bình. Nhà Tần dùng những biện pháp tàn bạo để dẹp yên
chống đối, thậm chí gồm cả việc Đốt sách chôn Nho. Điều này khiến cho nhà Hán kế tục sau
này phải đưa thêm vào hệ thống chính phủ đó những trường phái cai trị có tính ôn hòa hơn.
Nhà Tần nổi tiếng vì đã khởi đầu công trình Vạn lý trường thành, sau này được sửa chữa và xây
dựng thêm ở thời nhà Minh (明朝). Các đóng góp quan trọng khác của nhà Tần gồm thống nhất
và tiêu chuẩn hóa pháp luật, chữ viết, tiền tệ, đo lường Trung Quốc sau giai đoạn Xuân Thu và
Chiến Quốc đầy biến loạn. Thậm chí cả chiều dài trục xe cũng được quy định thống nhất ở thời
kỳ này để đảm bảo hệ thống thương mại có thể hoạt động trên khắp đế chế.
Việc huy động đông đảo dân chúng xây dựng các công trình công cộng cũng như cung điện, sự

phân biệt đối xử giữa người Tần và dân sáu nước cũ gây cho họ sự phẫn nộ lớn. Ngay sau khi
Tần Thủy Hoàng chết, các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi trong đế chế và quân đội
Tần không thể dẹp yên. Cuối cùng, hai lực lượng mạnh nhất do Hạng Vũ và Lưu Bang lãnh đạo
lật đổ nhà Tần. Vua Tần cuối cùng là Tử Anh đầu hàng đánh dấu sự kết thúc của đế chế đầu
tiên trong lịch sử Trung Quốc.
[sửa] Nhà Hán
Xem thêm: Nhà Hán
[sửa] Tây Hán
7
Hán Cao tổ Lưu Bang.
Năm 202 TCN, Lưu Bang đã đánh bại kẻ thù nguy hiểm và hung bạo của mình là Hạng Vũ.
Ông lên ngôi Hoàng đế. Do từng được phong ở đất Hán Trung, ông đặt tên triều đại của mình là
Hán, mà người đời sau gọi là vương triều Lưu Hán.
Cuộc đấu tranh cho quyền lực của Lưu Bang vẫn tiếp diễn, ông phải chiến đấu nhiều cuộc chiến
nhỏ để củng cố quyền lực, một số cuộc chiến để chống lại các đồng minh cũ. Một việc khác để
củng cố quyền lực mà Lưu Bang phải đối mặt là liên minh các bộ lạc ở biên giới phía bắc
Trung Quốc, có họ ngữ âm Thổ Nhĩ Kỳ, gọi chung là Hung Nô, cầm đầu bởi một Thiền vu (vua
Hung Nô). Các bộ tộc Hung Nô là những bộ tộc du mục và trong giai đoạn chiếm hữu nô lệ. Và
cũng giống như những bộ tộc du mục khác, người Hung Nô có truyền thống chiến tranh và đã
từng nhiều lần tiến hành các vụ tấn công vào Trung Quốc. Lưu Bang tin rằng ông vẫn chưa đủ
mạnh để đánh bại các bộ tộc phương bắc, vì thế ông đút lót thực phẩm và quần áo cho họ để đổi
lấy sự thỏa thuận của họ không xâm phạm vào đế quốc mới của ông. Thậm chí ông đã phải gả
cho vị vua Hung Nô (Thiền vu) một cô gái mang danh là công chúa Trung Quốc.
Tất nhiên, triều đình của Lưu Bang bắt buộc phải quay lại kiểu cai trị độc tài. Dân chủ không
bao giờ là vấn đề đối với người Trung Quốc như nó đã từng có ở các nền văn minh khác ở
khoảng năm 200 TCN. Giống với Jeroboam ở Israel, Lưu Bang không phải là nhà cách mạng.
Đối với ông triều đình tốt là một triều đình mạnh - một triều đình có thể duy trì sự phục tùng
đầy đủ. Lưu Bang đã bắt đầu xây dựng một kinh đô mới, tại Trường An – đây sẽ trở thành
thành phố lớn nhất thế giới. Nhưng ngoài mục tiêu xây dựng một triều đình mạnh ông muốn tập
trung sự quản lý đế chế của mình, và vì thế ông cần một đội quân gồm những bầy tôi dân sự

trung thành. Để có thể kiểm soát một cách đáng tin cậy đế chế vĩ đại của mình, ông đưa các anh
em, chú bác, họ hàng làm những lãnh chúa địa phương. Ông tìm kiếm những sự ủng hộ tiếp tục
của các tướng lĩnh địa phương những người từng góp phần trong đồng minh của ông để giành
quyền lực, và những người từng làm tướng văn tướng võ của ông, ông phong thành các quý tộc
8
ở cấp nhỏ hơn. Những quan lại địa phương cũ của nhà Tần đã từng ủng hộ ông vẫn được giữ
chức vụ cũ, và một số nhà quý tộc thân thiện với ông vẫn được giữ đất đai của mình.
Lưu Bang cũng tìm kiếm sự ủng hộ từ phía nông dân. Ông giảm thuế cho họ và cho những
người khác. Ở khắp nơi, ông đều tìm cách bảo vệ nông dân khỏi những nhà quý tộc cũ đang tìm
cách lấy lại đất đai đã mất. Ông cải thiện đời sống cho họ bằng cách không bắt họ phải đi làm
việc nhiều như dưới triều đại cũ, Tần Thủy Hoàng. Và các nông dân tin rằng bởi vì Lưu Bang
cũng từng là một nông dân nên ông sẽ tiếp tục cai trị theo cách có lợi cho họ.
[sửa] Sự bắt đầu của tầng lớp quý tộc nhỏ Trung Quốc
Dựa vào nguồn gốc nông dân của mình, Lưu Bang tỏ thái độ khinh thị với người trí thức bằng
cách đái vào trong mũ của một người trí thức trong triều, nhưng trong nỗ lực để cai trị quốc gia
ông đã thấy lợi ích trong việc sử dụng người trí thức, và ông đã dàn hòa với họ. Nhiều người trí
thức là thuộc Khổng giáo, và ông đã bắt đầu đối xử với Khổng giáo với sự khoan dung lớn hơn
– trong khi ông tiếp tục đặt ra ngoài vòng pháp luật những sự tố cáo của Khổng giáo đối với các
quan điểm của Pháp gia. Với sự hỗ trợ bên cạnh của Khổng giáo, Lưu Bang tìm cách thu hút
các bầy tôi dân sự giỏi và ông đã tìm thấy họ trong những gia đình thuộc tầng lớp trung lưu mới
trong nông nghiệp gọi là những quý tộc nhỏ - một tầng lớp khác biệt với quý tộc. Đầu tiên, Lưu
Bang và quan lại xung quanh tìm cách đưa những người bạn chiến đấu của mình vào các vị trí
quản lý dân sự, nhưng sau đó họ thấy rằng những người đó không đủ khả năng làm quản lý
hành chính. Và sau khi có sai lầm vì thấy các tướng tá không có tài hành chính, Lưu Bang
không cho họ giữ các chức vụ đó nữa. Các triều đình trước thường rất thành công khi cho các
nhà buôn giữ các chức vụ quản lý dân sự, nhưng đối với Lưu Bang và quan lại xung quanh vốn
có nguồn gốc nông dân nên họ không tin các nhà buôn. Thay vào đó, họ dùng những người
thuộc gia đình trồng trọt giàu có, đa phần số họ trở nên giàu ở một vài thế hệ gần đây. Tầng lớp
mới này – quý tộc nhỏ - đã gửi những đứa con ưu tú nhất của mình đi làm việc trong triều đình
và cho những đứa kém hơn ở nhà làm ruộng. Và với quyền lợi mới trong việc cưới xin hợp lúc,

tầng lớp mới đã bắt đầu có nhiều ảnh hưởng hơn nhờ vào họ ngoại.
[sửa] Hán Văn Đế, Khởi đầu một thời đại mới
Một đèn ba chân làm bằng đồng thời Tây Hán.
9
Lưu Bang chết năm 195 TCN ở tuổi sáu mươi ba, được trao tên thuỵ (honorific name) là Cao
Đế. Quyền lực rơi vào tay vợ ông, Lữ hậu. Ở Trung Quốc cũng như ở những nơi khác cai trị
độc tài đồng nghĩa với cai trị gia đình, và những cuộc tranh giành quyền lực diễn ra bên trong
gia đình. Lữ hậu tống các thành viên gia đình họ Lưu ra khỏi các vị trí quyền lực và thay thế họ
bằng những người họ Lữ. Sau năm năm cai trị, bà mất, và họ hàng của Lưu Bang lại quay lại
nắm quyền cai trị, họ giết tất cả các thành viên gia đình Lữ hậu. Một người con thứ của Lưu
Bang với người thiếp là vợ cũ của Ngụy vương Báo tên là Lưu Hằng được lập làm hoàng đế,
phục hồi lại quyền cai trị nhà Hán, tức là Hán Văn Đế.
Với hệ thống quan liêu triều đình, sự cai trị nhà Hán đang dần hướng về thảm họa, nhưng trong
ngắn hạn thì dưới triều Văn đế ông là người biết cai trị, nổi tiếng về chú ý đến quyền lợi của
nhân dân. Khi nạn đói xảy ra, Văn đế tổ chức cứu tế. Ông cũng trợ cấp cho người già. Ông thả
tự do nhiều nô lệ và bãi bỏ nhiều cách hành hình man rợ. Trong thời cai trị của ông, kinh tế
được nghiên cứu kỹ lưỡng, và Văn đế rất coi trọng những nội dung kinh tế. Ông phát triển kinh
tế bằng cách giảm bớt ngăn cấm khai mỏ đồng, bằng cách chi tiêu tiết kiệm và giảm thuế đánh
vào nông dân.
Dưới thời Văn đế, Trung Quốc có hòa bình bên trong và một sự thịnh vượng chưa từng có.
Điều này giúp nghệ thuật phát triển cao và vẫn còn làm chúng ta ngày nay phải chiêm ngưỡng.
Và cùng với sự thịnh vượng, dân số Trung Quốc bắt đầu tăng lên, người dân lao vào khai phá
và trồng cấy các vùng đất mới.
Tầng lớp quý tộc nhỏ được nhiều lợi ích từ phát triển kinh tế và nhiều người trong số họ chuyển
tới thành phố. Quý tộc nhỏ muốn được coi là những người quý phái giống tầng lớp quý tộc cũ.
Sự phát triển tầng lớp ưu tú này, cộng với sự thịnh vượng, đã giúp Khổng giáo phát triển. Có
thời gian học tập, quý tộc nhỏ trở nên hứng thú với những trường phái học cũ. Với một sự phục
hưng những trường phái học cũ, các cố gắng đã có nhằm tái tạo lại các cuốn sách đã bị đốt dưới
thời cai trị cả Tần Thủy Hoàng. Bị lôi cuốn bởi sự ngưỡng mộ của Khổng giáo đối với chính
quyền và cách sử sự đúng mực, các trí thức học giả trở nên rất nhiều thuộc Khổng giáo. Văn đế

khuyến khích môn đệ Khổng giáo vào các chức vụ cao nhất trong chính quyền. Ông đã trở
thành vị vua đầu tiên hoàn toàn chấp nhận việc lưu truyền Khổng giáo – như Khổng Tử từng
mơ về một vị vua như vậy. Nhưng sự lớn mạnh của Khổng giáo không cứu vãn được Trung
Quốc khỏi thảm họa chính trị và xã hội.
[sửa] Vũ Đế, Mở rộng và Suy tàn
Bản đồ nhà Hán năm 87 TCN, thời Hán Vũ Đế.
10
Năm 156 TCN, con trai Văn Đế, Cảnh Đế, kế tục cha. Ông cai trị 16 năm và cố gắng mở rộng
sự thống trị của gia đình đối với các gia đình quý tộc. Các cuộc chiến giữa các quý tộc đó và
Cảnh Đế đã kết thúc một cách có lợi cho ông. Nó kết thúc trong sự thỏa hiệp rằng các quý tộc
vẫn giữ một số quyền ưu tiên và quyền lực nhưng không được phép chỉ định quan lại trong đất
đai của mình nữa.
Năm 141 TCN, con Cảnh Đế là Hán Vũ Đế kế vị. Vị vua mười sáu tuổi thông minh và mạnh
mẽ, luôn thích liều mạng trong những cuộc săn lớn. Vũ Đế kéo dài thời thịnh vượng của Hán
triều. Vũ Đế bắt đầu thời cai trị của mình bằng một nỗ lực không can thiệp vào thương mại và
các cơ hội kinh tế, điều này cho phép kinh tế tư nhân phát triển. Ông vẫn giữ các vị quan dân sự
dưới sự quản lý chặt chẽ và trừng phạt sự bất tuân nhỏ nhất cũng như sự không trung thành.
Ông kết thúc sự thỏa hiệp của Cảnh Đế bằng một cuộc chiến quý tộc chống lại các hoàng tử có
ảnh hưởng nhất của Trung Quốc, và ở tầm địa phương ông trao nhiều quyền lực cho các vị
quan đại diện của mình.
Vũ Đế thay đổi luật thừa kế. Thay vì việc đất đai gia đình rơi vào tay người con trai cả, ông trao
cho mọi người con trong gia đình phần chia bằng nhau đối với đất đai của ông cha, điều này
phá vỡ các khoảnh đất lớn thành cách mảnh nhỏ. Và vào năm 138 TCN, Vũ Đế tiến hành cuộc
thám hiểm được biết đến lần đầu tiên của Trung Quốc, Trương Khiên đến Tây Á, phía tây của
Bactri để thiết lập quan hệ với Quý Sương (Kushan) (Nguyệt thị Yuzhi).
[sửa] Khổng giáo trở thành chính thức Trong hai mươi năm cai trị, Vũ đế biến Khổng giáo thành
triết lý chính trị chính thức của Trung Quốc. Khổng giáo trở thành thống trị trong giới quan lại
dân sự trong khi các đối thủ Pháp gia vẫn giữ được vị trí của mình. Các cuộc thi cử được tổ chức
để chọn ra 130.000 hoặc còn hơn thế nhân viên dân sự, họ phải trải qua cuộc thi về sự hiểu biết lý
thuyết Khổng giáo, hiểu biết về chữ viết cổ và các nguyên tắc thứ bậc xã hội hơn là sự thành thạo

kỹ thuật. Về mặt lý thuyết, các cuộc thi đó cho phép mọi người dân tham dự, nhưng trên thực tế
chỉ những người có đủ sự tôn trọng, trong đó không bao gồm thợ thủ công, nhà buôn và các
tầng lớp bên dưới quý tốc nhỏ tham dự - không nghi ngờ rằng nhiều người trong số họ có khả
năng để phụng sự Trung Quốc. Việc huấn luyện làm việc cho các nhân viên dân sự được tiến hành
ở cấp quan liêu địa phương. Và việc thích hợp với truyền thống Khổng giáo đã trở thành một thứ
để truyền dạy trong thời gian học việc. Một người trẻ tuổi chứng minh được mình có khả năng
như một thư ký có thể được phong làm một nhà quản lý. Và sau khi đã chứng minh được khả
năng quản lý của mình anh ta sẽ được thăng chức làm cố vấn và được tham dự vào triều đình,
hay anh ta sẽ có một vị trí cao hơn trong một triều đình địa phương.[sửa] Mở cửa ra phía
Tây và các cuộc chiến mở rộng lãnh thổ
11
Hành trình 138 TCN–126 TCN của Trương Khiên về phía Tây, Hang Mộ Cao, tranh tường
618–712.
Nhờ nền kinh tế thịnh vượng, Trung Quốc có nhiều khả năng hơn để chi phí chiến tranh. Vũ đế
tin rằng ông đủ mạnh để không cần phải cống nạp cho Hung nô, vốn bắt đầu từ thời Lưu Bang,
nữa. Ông lo ngại rằng Hung nô có thể phái quân vào thảo nguyên miền bắc dân cư thưa thớt
của Trung Quốc hay họ có thể lập thành liên minh với người Tây Tạng, và ông muốn lập nên
một con đường thương mại nhằm buôn bán với vùng Trung Á bảo đảm được an toàn. Vì thế Vũ
đế mở nhiều chiến dịch quân sự. Chúng được các tướng của ông ta chỉ huy, nhưng chúng lại
mang lại cho Vũ đế sự công nhận như là một vị vua mạnh mẽ và can đảm.
Việc Vũ đế quay sang chống lại Hung Nô làm tốn nhiều nhân lực nhưng nó giúp đẩy lùi Hung
nô ra khỏi biên giới phía bắc Trung Quốc. Có lẽ khoảng hai triệu người Trung Quốc đã di cư
đến các vùng mới chinh phục được và Vũ đế thành lập các thuộc địa ở đó với các binh sỹ và
nhân viên dân sự của mình. Những người Hung nô bị bắt phải chuyển sang làm nghề trồng trọt,
công nhân xây dựng và lao động tại các trang trại. Một số trong số họ gia nhập quân đội Trung
Quốc, gia đình của họ bị bắt buộc phải ở tại nơi cũ làm con tin để đảm bảo họ không phản bội.
Cuộc chiến chống lại Hung nô khuyến khích việc khai phá xa hơn về phía tây. Sau mười ba
năm vắng mặt và mười năm bị Hung nô bắt giữ, nhà thám hiểm Trương Khiên quay trở về triều
đình Vũ đế và mang theo miêu tả đáng tin cậy đầu tiên về Trung Á. Vũ đế ra lệnh cho Trương
Khiên và tay chân quay trở lại Trung Á, và họ đã thu thập thông tin về Ấn Độ và Ba Tư và

khám phá các vùng đất trồng trọt màu mỡ ở Bactria. Các cuộc thám hiểm đó, và sự thắng lợi
của Trung Quốc trướng Hung nô mang lại một sự trao đổi sứ thần thường xuyên giữa Trung
Quốc và các nước phía Tây, và nó mở ra cho Trung Quốc con đường thương mại dài 4.000 dặm
sau này sẽ được biết đến với cái tên Con đường tơ lụa. Trung Quốc bắt đầu nhập khẩu các ngũ
cốc và ngựa tốt, họ cũng bắt đầu trồng cỏ đinh lăng và nho. Vũ đế biết thêm nhiều về nguồn
gốc của những hàng hóa mà Trung Quốc nhập khẩu. Để kiếm thêm lợi nhuận ông yêu cầu các
nước lân cận trả thuế cho mình để được phép bán hàng cho người dân Trung Quốc, và tiến hành
các chiến dịch quân sự nhằm buộc họ phải làm thế.
Trong lúc đó, Vũ đế gửi quân đội của mình tới phía bắc và phía Nam. Năm 108 TCN vì muốn
kiểm soát vùng đông bắc, Vũ đế chinh phục một vương quốc đang ở thời đồ sắt phía bắc Triều
Tiên. Đây là một vương quốc ở cùng mức với nhiều tiểu quốc tại Trung Quốc trước khi chúng
thống nhất với nhau năm 221 TCN, và nó cũng có nhiều người tị nạn Trung Quốc chạy đến từ
những thế kỷ trước. Ở phía Nam, quân đội của Vũ đế chinh phục lại những đất đai mà Trung
Quốc đã mất trong cuộc nội chiến đưa nhà Hán lên ngôi, gồm cả thành phố cảng Quảng Châu
(Guangzhou). Những người di cư Trung Quốc theo chân quân đội. Sau đó, với những trận chiến
lớn, quân đội của Vũ đế chinh phục phía bắc Việt Nam, một vùng mà người Trung Quốc gọi là
Annam, hay “miền nam yên ổn”.
Người dân di cư Trung Quốc cũng kéo đến đây, và một số sẽ đóng đô ở gần vùng núi miền
trung Việt Nam. Người Việt Nam dạy người Trung Quốc dùng trâu, dùng cày kim loại và các
12
công cụ khác
[cần dẫn nguồn]
, cách trồng lúa nước và Trung Quốc đã xoá bỏ chữ viết người Việt,
mang đến Annam chữ viết của mình
[cần dẫn nguồn]
. Tuy nhiên về tiếng nói, người Trung Quốc
không thể đồng hóa được người Việt Nam. Người Trung Quốc biến người Annam từ cách trồng
cấy theo kiểu khai hoang và đốt sang kiểu đời sống ổn định hơn. Họ chia Annam thành hai
vùng hành chính, mỗi vùng có trách nhiệm thu thuế và cung cấp binh sỹ cho triều đình địa
phương. Nhưng sự cai trị của Trung Quốc đối với Annam luôn mong manh, các cánh rừng và

núi đồi ở đó cung cấp nơi trú ẩn cho người Việt Nam tiến hành nhiều cuộc khởi nghĩa liên tục
và chiến tranh du kích chống lại người Trung Quốc.
[sửa] Suy tàn kinh tế và nạn nhân mãn
Thành phố Tây An, thủ phủ tỉnh Thiểm Tây, xưa kia là kinh đô Trường An của nhà Tây Hán.
Các cuộc chiến mở mang đất đai của Vũ đế và việc cung cấp cho một quân đội chiếm đóng
đông đảo là một gánh nặng cho kinh tế Trung Quốc. Chúng lớn hơn nhiều nhưng lợi ích thu lại
được từ việc tăng trưởng thương mại theo sau các cuộc chinh phục. Nhập khẩu góp phần thỏa
mãn nhu cầu của người giàu hơn là góp phần tăng sinh khí cho kinh tế Trung Quốc. Các quan
chức triều đình theo pháp Pháp gia thậm chí làm mọi việc trở nên tồi tệ hơn. Họ rất thù địch với
những thương nhân, và họ vận động việc triều đình quản lý kinh tế. Dưới ảnh hưởng của họ,
triều đình đánh thuế mới trên các tàu và xe buôn bán hai loại hàng mang lại nhiều lợi nhuận
nhất trong công nghiệp của Trung Quốc: muối và sắt. Và với việc triều đình ngày càng can
thiệp sâu, kinh tế suy yếu.
Tích tụ ruộng đất đã từng làm thay đổi nông nghiệp của đế chế Roma giờ đây cũng làm thay đổi
nông nghiệp Trung Quốc, ngoại trừ việc dân số vùng nông thôn Trung Quốc đã tăng lên. Với
việc ruộng đất của người giàu ngày càng tăng và nông dân cũng tăng, một sự thiếu hụt đất đai
xuất hiện. Quan liêu tiểu quý tộc tìm cách ngăn chặn sự bấp bênh bằng cách mua đất và thường
lợi dụng ưu thế của mình để làm việc đó, và thông thường họ có thể miễn trừ thuế cho đất đai
của mình. Những người dân thường phải chịu phần thuế nặng hơn, dẫn tới kết quả là họ phải
vay mượn nhiều hơn - với lãi rất nặng. Khả năng sản xuất nông nghiệp giảm sút. Nhiều nông
dân bị đuổi đi hay bị buộc phải rời bỏ đất đai, làm cho tiểu quý tộc càng có nhiều đất hơn. Một
số nông dân rời ruộng đất để làm nghề ăn cướp, và một số nông dân bắt buộc phải bán con làm
nô lệ.
13
Chế độ bắt lính và bắt lao động cũng làm tăng sự bất mãn của nông dân. Học giả nổi tiếng
Trung Quốc Đổng Trọng Thư (Dong Zhongshu), bất bình trước cảnh tuyệt vọng của người dân
và ông đã bày tỏ những lo lắng về tình trạng suy tàn của xã hội. Ông phàn nàn về sự mở rộng to
lớn của những vùng đất của người giàu trong khi người nghèo không có chỗ đứng chân. Ông
phàn nàn rằng những người canh tác trên đất của người khác phải mất năm mươi phần trăm thu
hoạch cho chủ đất. Đổng Trọng Thư công nhận sự bất mãn đối mặt với những người nông dân

không thể có tiền để mua công cụ bằng sắt, những người phải trồng cấy bằng dụng cụ gỗ và và
phải nhổ cỏ bằng tay. Ông phàn nàn rằng người dân thường phải bán mùa màng của mình khi
giá thấp và sau đó lại phải vay tiền vào mùa xuân để bắt đầu gieo hạt khi mức lãi rất cao. Và
ông phàn nàn về việc hàng nghìn người bị giết hàng năm vì tội ăn cướp. Đổng Trọng Thư đề
nghị Vũ đế một phương thuốc chữa khủng hoảng kinh tế: giảm thuế đánh vào người nghèo và
giảm số nhân công bắt buộc mà người dân phải thực hiện cho nhà nước; bãi bỏ độc quyền nhà
nước về muối và sắt; và cải thiện phân phối đất đai bằng cách hạn chế số đất sở hữu của mọi
gia đình. Không một đề xuất nào của Đổng Trọng Thư được thi hành. Vũ đế muốn nông dân
được phồn thịnh nhưng ông quá bị ảnh hưởng bởi bọn quý tộc nhỏ quan liêu những người cai
trị địa phương ở mọi cấp. Cuộc vận động cải cách do những người theo Khổng giáo đề xuất
nhưng những quý tộc Khổng giáo lại không chống lại quyền lợi kinh tế của mình. Sự trả lời
quan trọng duy nhất của Vũ đế cho sút giảm kinh tế là đánh thuế cao hơn vào người giàu và gửi
điệp viên đi khám phá các vụ trốn thuế. Ông không muốn phân phối lại đất đai, không muốn
tấn công những chủ đất giàu có, tin rằng ông cần sự hợp tác của họ để có tiền chi cho các chiến
dịch quân sự.
[sửa] Những người kế tục Vũ đế
Hệ thống Con đường tơ lụa.
Năm 91 TCN, khi thời đại trị vì 54 năm của Vũ đế dần tới hồi kết, quanh thủ đô các cuộc chiến
nổ ra về việc ai sẽ kế tục ông. Một phía là hoàng hậu vợ Vũ đế cùng con thừa kế của ông, bên
kia là gia đình người thiếp của ông. Hai gia đình gần đạt tới mức hủy diệt lẫn nhau. Cuối cùng,
chỉ ngay trước khi Vũ đế chết, một vị thừa tự thỏa hiệp mới được lựa chọn: một đứa trẻ tám
tuổi là Chiêu Đế, đặt dưới quyền nhiếp chính của một cựu tướng lĩnh tên là Hoắc Quang.
Hoắc Quang tổ chức một hội nghị để thu thập những bất bình của dân chúng. Mời các quan
chức triều đình thuộc phái Pháp gia và những người có uy tín phái Khổng giáo. Pháp gia phàn
nàn việc giữ tình trạng không thay đổi. Họ kêu ca rằng các chính sách kinh tế của họ giúp
14
Trung Quốc tự bảo vệ chống lại những thù nghịch ngày càng tăng từ phía người Hung nô và họ
đang bảo vệ người dân khỏi sự bóc lột của những thương gia. Họ đòi hỏi triều đình phải có một
chính sách khai thác đất đai phía tây sẽ giúp đế chế có thêm ngựa, lạc đà, hoa quả và nhiều đồ
xa xỉ nhập khẩu khác, như lông thú, thảm và đá quý. Những người theo Khổng giáo, trái lại,

đưa ra vấn đề đạo đức đối với những khó khăn của nông dân. Họ cũng đòi hỏi rằng người
Trung Quốc không nên buôn bán với vùng Trung Á và rằng Trung Quốc chỉ cần sống trong
lãnh thổ của mình và sống hòa bình với các nước láng giềng. Phái Khổng giáo cho rằng thương
mại không phải là hành động đúng đắn của triều đình, rằng triều đình không nên cạnh tranh với
những nhà buôn tư nhân, và họ phàn nàn rằng những hàng hóa nhập khẩu mà phái Pháp gia nói
chỉ có thể thỏa mãn người giàu. Dưới sự nhiếp chính của Hoắc Quang, thuế được cắt giảm và
các cuộc thương lượng hòa bình với các thủ lĩnh Hung nô bắt đầu. Vị vua trẻ Chiêu Đế chết
năm 74 TCN, và xung đột trong triều đình lại một lần nữa diễn ra. Người nối ngôi Chiêu Đế là
Xương Ấp vương (Lưu Hạ) chỉ làm vua trong 27 ngày và bị Hoắc Quang thay thế bằng một
người khác mà Hoắc Quang cho rằng mình có thể kiểm soát là Tuyên Đế. Sáu năm sau, Hoắc
Quang chết yên ổn, nhưng những đối thủ trong triều đình trả thù gia đình ông: vợ ông, con và
nhiều họ hàng của Hoắc Quang và họ đã bị hành quyết.
Sau đó Tuyên Đế cai trị trong hai sáu năm, trong thời gian đó ông luôn phải mệt mỏi với việc
giảm bớt tình trạng thạm nhũng vốn đã lan tới triều đình, và cố gắng giúp người nông dân đỡ
khó khăn. Nhưng những cố gắng của ông không đạt mục đích, và con trai thừa kế của ông,
Nguyên Đế, là điểm tựa chính đầu tiên của triều đình hoạt động không bình thường – cơ hội
của một triều đình vô nghĩa nhận được quyền lực để tự thể hiện nó.
Nguyên Đế nắm quyền năm 48 TCN ở tuổi hai bảy. Ông là một trí thức rụt rè, người chỉ dành
phần lớn thời gian cho thê thiếp của mình - họ nhiều đến nỗi ông không biết được hết số họ.
Thay vì cai trị, Nguyên Đế trao quyền vào tay các hoạn quan của mình và các thành viên gia
đình bên họ mẹ.
Con của Nguyên Đế, Thành Đế, lên làm vua năm 32 TCN ở tuổi 19, và ông ta cũng không chú
tâm lắm tới việc trị nước và chỉ lo ăn chơi, kể cả việc đến các nhà thổ vào buổi tối. Trong hai
bảy năm cầm quyền của Thành Đế ông tìm sự hướng dẫn từ các thầy bói và để làm giảm sự
ghen tuông của một trong những bà vợ của mình, ông giết hai đứa con của mình với một phụ
nữ khác.
Năm thứ 6 TCN, Ai Đế nối ngôi Thành Đế, sống cùng những đứa trẻ đồng tính, một trong số
chúng được cử làm tổng tư lệnh quân đội. Với sự suy tàn về chất lượng triều đình tiếp sau thời
cai trị của Vũ đế, một số người trí thức Khổng giáo tuyên bố rằng vương triều Hán đã mất
Thiên mệnh và điều này được người dân mạnh mẽ tin tưởng.

[sửa] Âm Dương và học thuyết triết học khác
15
Biểu tượng của Âm Dương.
Như ở thời Chiến Quốc (475-221 TCN) và như ở thời Hy Lạp trong thời gian diễn ra cuộc
chiến Peloponnesus, thời kỳ khó khăn của Trung Quốc không gây trở ngại cho sự nảy nở của
kiến thức. Sự suy tàn ở Trung Quốc dẫn tới những bất mãn, và với sự bất mãn đã trở thành sự
hồi sinh của trí thức Đạo giáo, trong khi trường phái Pháp gia tiếp tục giữ vị trí của mình, đặc
biệt trong triều đình. Không giáo tìm cách phản công các triết thuyết của đối thủ bằng cách lập
ra nhiều quan điểm toàn diện hơn về con người và vũ trụ. Đổng Trọng Thư mang rất nhiều tư
tưởng vào trong triết lý Khổng giáo, gồm cả ý tưởng Âm và Dương - một ý tưởng đã mọc ra để
giải thích mọi sự thay đổi, về cả vật chất và xã hội.
Để phát triển quan điểm của mình về vũ trụ, phái Khổng giáo chấp nhận một sự giải thích về
những nguồn gốc của vũ trụ. Họ tin rằng lúc khởi đầu tất cả là mơ hồ và vô định, tiếp theo là
trạng thái trống rỗng, rồi cái trống rỗng đó tạo nên vũ trụ. Họ tin rằng những thứ sáng và nhẹ bị
đẩy lên trên thành trời, những thứ tối và nặng liên kết với nhau thành đất. Sự liên kết tinh hoa
của trời và đất tạo thành Âm và Dương và một sự thống nhất vĩ đại.
[sửa] Vương Mãng, Người Khổng giáo tử vì đạo
Vương Mãng.
16
Năm thứ 6 CN, Bình Đế được con trai hai tuổi là Nhũ Tử Anh nối ngôi. Sự ngự trị triều đình
thuộc về tay bà quả phụ của vị vua từ năm 48 đến 32 TCN, Nguyên Đế, và bà đưa cháu trai
mình là Vương Mãng, nhiếp chính cho Tử Anh. Vương Mãng là một nhà nho và nhiều nhà nho
coi ông là hy vọng rằng Trung Quốc sẽ lại được cai trị với những tư tưởng đạo đức, và một số
người trông chờ vào ông để có được một vương triều mới. Được khuyến khích bởi những ủng
hộ ngày càng tăng trong giới Khổng giáo, năm 9 CN, Vương Mãng tuyên bố lập làm hoàng đế,
kết thúc sự cai trị của Hán triều. Và Vương Mãng bắt đầu chiến đầu để được công nhận sự hợp
pháp của mình.
Vương Mãng hy vọng có được sự ủng hộ của người dân thông qua các cuộc cải cáh. Giống như
thầy tế Do Thái (Yawhist) dưới thời vua Josiah, Vương tuyên bố phát hiện ra một bản sách:
những cuốn sách do Khổng Tử viết, được cho là đã tìm thấy ở nhà Khổng Tử vốn đã bị phá hủy

hai trăm năm trước. Những bản sách tìm thấy chứa những tuyên bố ủng hộ những cuộc cải cách
mà Vương Mãng đang tiến hành. Vương bảo vệ các chính sách của mình bằng cách công bố
những đoạn trong các cuốn sách được tìm thấy. Theo những thứ được coi là được miêu tả bởi
Khổng Tử, ông quy định sẽ quay trở lại vào một thời kỳ vàng son khi mọi người đều có đất đai
để canh tác, và trên nguyên tắc đất đai thuộc về nhà nước. Ông tuyên bố rằng một gia đình dưới
tám người mà có hơn mười lăm acre đất đai bị bắt buộc phải phân phát chỗ dư thừa cho người
không có. Ông cố giảm bớt gánh nặng thuế má trên những người dân nghèo, và ông nghĩ ra một
kiểu ngân hàng nhà nước nhằm cho người cần tiền vay với mức lãi suất mười phần trăm một
năm, trái với mức lãi ba mươi phần trăm của những kẻ cho vay tư nhân. Nhằm làm ổn định giá
lương thực, ông đưa ra những kế hoạch lập kho thóc nhà nước, hy vọng rằng nó có thể làm cho
người giàu không còn tích trữ lúa gạo và ăn lãi khi giá thay đổi. Vương cũng uỷ quyền cho một
hội đồng quan chức quản lý kinh tế và ấn định giá ba tháng một lần, và ông ra lệnh rằng những
kẻ chỉ trích dành cho kế hoạch của mình sẽ bị bắt lính. Vương tuyên bố rằng ông đang làm theo
ý nguyện của Khổng Tử. Ông tuyên bố rằng cách cai trị của ông là lấy theo nhà Chu thời kỳ
đầu - một thời kỳ mà các nhà Khổng giáo Mạnh Tử cho rằng cứ năm trăm năm lại xuất hiện
một lần. Từ khi nhà Chu xuất hiện đến lúc đó đã khoảng 1.000 năm và cách Khổng Tử 500
năm.
Vương tin rằng thần dân của mình sẽ tuân theo lệnh ông, nhưng một lần nữa quan liêu tiểu quý
tộc lại không quan tâm nhiều tới Khổng giáo bằng tới sự giàu có của mình. Họ và những kẻ có
nhiều đất đai khác không hợp tác với nhau để thực hiện những cải cách của Vương. Còn người
dân địa phương thì không hề hay biết gì về các cải cách đó. Những thương nhân giàu có mà
triều đình Vương Mãng sử dụng để thực hiện cái cách không chống nổi sự mua chuộc và chỉ có
tác dụng làm họ giàu thêm lên. Vương cần có một cơ sở tuyên truyền để ủng hộ ông và một lực
lượng muốn cải cách chống lại những kẻ đang vi phạm luật cải cách của ông, nhưng ông vẫn
ngù ngờ và trung thành với một chủ nghĩa lý tưởng hòa bình chủ nghĩa. Thay vì huy động quân
đội nông dân tăng cường cho những cải cách của mình, thì một đội quân nông dân dưới sự lãnh
đạo của những chủ đất giàu có nổi lên chống lại ông.
[sửa] Nạn đói và Nội chiến
17
Năm 11, sông Hoàng Hà vỡ đê, tạo ra lũ lụt từ phía bắc Sơn Đông cho tới chỗ nó chảy ra biển.

Những cố gắng không thành để tích trữ lương thực cho những lúc khó khăn đã làm cho người
dân không có thực phẩm. Và vào năm 14 tình trạng ăn thịt người diễn ra. Tin rằng chương trình
cải cách là một sai lầm, Vương bãi bỏ nó. Nhưng những cuộc nổi loạn quân sự chống lại ông đã
diễn ra. Ở tỉnh Sơn Đông, gần cửa sông Hoàng Hà, Vương phải đối mặt với một phong trào
gồm các nhóm nông dân vũ trang có tổ chức gọi là giặc Xích Mi, xuất thân là một toán cướp.
Tại các tỉnh lân cận cho đến phía bắc, những cuộc nổi loạn khác cũng diễn ra, và tình trạng hỗn
loạn lan khắp Trung Quốc. Ở một số nơi, những người nông dân nổi loạn dưới cờ chủ đất. Một
số nhóm nổi loạn coi sự cai trị của Vương là trái pháp luật, mà một trong số đó đặt dưới sự lãnh
đạo của Lưu Tú, hậu duệ của Lưu Bang.
Các đội quân nông dân giết hại và cướp bóc, và những người nông dân kéo tới kinh đô giết hại
các quan chức. Những đội quân Vương cử đi dẹp loạn lại theo quân nổi loạn hay chỉ chè chén
và cướp bóc, lấy đi dù chỉ một chút lương thực kiếm được. Lòng tốt cơ bản của con người mà
Khổng giáo tin tưởng dường như đã tan biến. Vào năm 23, một đội quân nổi loạn xông vào và
đốt kinh đô Trường An. Binh sỹ của họ tìm thấy Vương Mãng trên ngai đang đọc lại những
cuốn sách của Khổng Tử trước kia, và Vương Mãng đã bị một tên lính chặt đầu.
[sửa] Đông Hán
[sửa] Nhà Hán phục hồi và thịnh vượng
Tượng đầu ngựa thời Đông Hán, thế kỷ 2.
Năm năm sau cái chết của Vương Mãng, hàng triệu người chết trong các cuộc chiến tranh phe
phái nhằm giành quyền lực. Phe thắng lợi nhất do hoàng thân nhà Hán Lưu Tú dẫn đầu. Ông có
nhiều tay chân học thức và rất nổi tiếng trong binh sỹ. Quân đội của ông là lực lượng duy nhất
không cướp bóc sau khi chiếm được các thành phố, và điều đó giúp ông chiếm được trái tim và
tình cảm của người dân. Lưu Tú kiểm soát được thủ đô Trường An đã bị đốt phá. Ông tự xưng
làm hoàng đế, tức là Hán Quang Vũ Đế, khôi phục Hán triều - được gọi là Hậu Hán. Ông
chuyển thủ đô về Lạc Dương phía đông, do đó nhà Hậu Hán cũng gọi là nhà Đông Hán. Trong
11 năm sau đó ông phải dẹp yên các đối thủ. Ông thu hút một số nhóm Xích Mi vào quân đội
của mình, và sau đó quân đội của ông cũng giết hại rất nhiều quân Xích mi.
18
Những điều chưa được hoàn thành bởi các cuộc cải cách lại được hoàn thành bằng bạo lực: rất
nhiều người đã chết đột ngột đến mức mọi người nếu muốn đều có đất, và nhiều kẻ cho vay lãi

cũng đã chết nên lại có càng nhiều hơn nữa những nông dân đã thoát khỏi nợ nần. Lưu Tú phát
triển kinh tế bằng cách giảm thuế, nhiều đến mức tối đa mà ông cho là có thể: ở mức mười hay
mười ba phần trăm sản lượng hay lợi nhuận. Trong thời kỳ cai trị dài 32 năm của ông, ông cố
gắng đưa ra các cải thiện bằng cách thúc đẩy học hành và cắt bớt ảnh hưởng của hoạn quan và
một số kẻ khác xung quanh gia đình hoàng gia. Ông bảo vệ biên giới phía tây và phía bắc
Trung Quốc bằng cách tung ra nhiều chiến dịch quân sự thắng lợi trên các mặt trận đó, đẩy lùi
Hung Nô, cho phép ông kiểm soát Tân Cương (điểm cực tây bắc Trung Hoa hiện đại). Cũng
như vậy, ông thắt chặt sự kiểm soát của Trung Quốc đối với các vùng quanh sông Liêu và phía
bắc Triều Tiên, và ông đã có thể mở rộng tầm kiểm soát tới mọi vùng từng thuộc lãnh thổ
Trung Quốc. Việc khôi phục Hán triều dường như đã lấy lại được "Thiên mệnh".
[sửa] Sự thịnh vượng quay trở lại
Quang Vũ Đế.
Năm 57, Lưu Tú chết. Ông được tôn miếu hiệu là Quang Vũ đế, và con trai ông là Minh Đế lên
nối ngôi, cai trị trong vòng 18 năm, trong khi kinh tế Trung Quốc tiếp tục hồi phục. Thời cai trị
của Minh Đế được coi là tàn bạo. Ông tự đồng hóa mình với Đạo giáo và thần học Khổng giáo,
ông tự cho mình là một nhà tiên tri. Ông ủng hộ sự phát triển của cái mà hồi bấy giờ cho là giáo
dục, và ông thuyết giảng về lịch sử tại trường đại học mới của đế quốc ở Lạc Dương - một buổi
thuyết giảng có hàng ngàn người tham gia. Chương Đế nối ngôi Minh Đế và cai trị từ năm 75
đến 88. Hòa Đế tiếp tục nối ngôi từ 88 đến 106. Dù Hòa Đế là một người tầm thường, Trung
Quốc vẫn tiếp tục được hưởng sự thịnh vượng ngày càng tăng. Đại học ở Lạc Dương có đến
240 căn nhà và 30.000 sinh viên. Thương mại của Trung Quốc đạt tới tầm cao mới. Tơ từ
Trung Quốc đã trở nên quen thuộc với những người ở tận vùng Đế chế Roma – lúc ấy cũng
đang ở thời vàng son. Và đổi lại, Trung Quốc có được kính, ngọc bích, ngựa, đá quý, mai rùa
và vải vóc.
Việc Trung Quốc trở nên thịnh vượng lại làm xuất hiện cố gắng mở rộng về phía tây. Một vị
tướng quân đội Trung Quốc, Ban Siêu, dẫn một đội quân sáu mươi nghìn người không hề bị
ngăn cản đến tận bờ phía đông biển Caspi. Ông muốn gửi sứ thần đến tận Roma, nhưng người
19
nước Parthia (ở Trung Á) sợ sẽ có một liên minh giữa Trung Quốc và Roma nên đã khuyên Ban
Siêu từ bỏ ý định với những câu chuyện thêu dệt về sự nguy hiểm, và ông đã quay lại.

[sửa] Đạo giáo và Thiên đường
Sau khi đã có hiểu biết nhiều hơn về thế giới bên ngoài Trung Quốc, người Trung Quốc được
nghe nhiều tin đồn về những nơi tuyệt vời. Những tín đồ đạo giáo - những người vẫn coi văn
minh Trung Hoa là xấu xa và lý tưởng hóa thiên nhiên cũng như sự chất phác – giúp truyền bá
những miêu tả về những nơi tuyệt vời xa xăm và thiên đường. Các câu chuyện về những nơi
chất phác và thiên đường xuất hiện trong triều đình, do những người đến để trình diễn ma thuật
và giải trí, và thỉnh thoảng triều đình lại trả lời bằng cách tài trợ một số chuyến thám hiểm để
tìm kiếm những nơi thiên đường.
Một câu chuyện như vậy miêu tả thiên đường dọc theo bờ biển viễn đông bắc Trung Quốc.
Thời tiết ở đó êm dịu hơn trong đất liền, và họ nói rằng ở đó không hề có bệnh tật, con người
không bao giờ đau ốm và tự quản lý lấy mình. Họ nói rằng ở thiên đường đó người già và
người trẻ đều có quyền như nhau, rằng người dân thì lịch sự và không cãi cọ, rằng không bao
giờ có xung đột giữa con người và thiên nhiên, rằng con người nhận được số lương thực mà họ
cần từ một dòng sông từ thiện, rằng uống nước từ con sông đó có thể làm thân thể con người có
lại sự hoàn hảo và khoẻ mạnh của tuổi thanh xuân, và rằng con người ở đó sống lâu hàng trăm
tuổi.
Một thiên đường khác được đồn đại là ở vùng núi Tây Tạng xa xôi. Ở đó, có thiên đường do
Tây vương mẫu cai trị; bà có rất nhiều người hầu kẻ hạ. Ở thiên đường đó, có gió mát thổi – trái
với ẩm và nóng ở vùng lục địa và châu thổ Trung Hoa vào mùa hè. Họ cho rằng ở thiên đường
đó có những vườn treo, với những ao và hồ tuyệt đẹp, rằng nước ở đó cho người ta sự bất tử,
rằng mọi người có thể trèo lên đỉnh núi và trở thành thần linh có quyền lực đối với gió và mưa,
và rằng mọi người có thể trèo sang đỉnh núi bên cạnh để lên thiên đường.
[sửa] Đạo giáo mới
20
Trương Đạo Lăng.
Tín đồ Đạo giáo vẫn giữ niềm tin vào đức tin vào sự đồng điệu và sự an ủi của thiên nhiên. Họ
tin vào một số mệnh bên ngoài sự thay đổi liên tục của cuộc sống vật chất, và họ vẫn giữ niềm
tin vào đức tin ở sự mộc mạc cảm xúc. Ví dụ, một người Đạo giáo mộ đạo sẽ vẫn giải thích
việc anh ta không khóc cho người vợ vừa chết bằng cách nói rằng nếu anh ta khóc than như vậy
thì sẽ chứng tỏ rằng anh ta còn kém hiểu biết về số mệnh. Đạo giáo vẫn giữ những sự bày tỏ

trái ngược như vậy, và nó vẫn giữ các quan niệm chống Khổng giáo như con trai và con gái của
một người thì không thuộc sở hữu của người đó.
Đạo giáo mở ra nhiều ý tưởng mới, gồm cả việc tìm cách sống lâu hay trường sinh bằng cách
chấp nhận một thái độ đúng đắn và những kỹ thuật thể chất. Một số người theo đạo giáo tìm
cách tìm kiếm sự cứu rỗi trong tự nhiên bằng cách tập trung vào niềm vui sướng trong quan hệ
tình dục, và một số người sùng đạo tìm cách có được cuộc sống vĩnh cửu bằng các kiểu tập thần
thành hay các chế độ ăn kiêng - một sự trải nghiệm theo kiểu sẽ hỏng nếu có một người chết.
Nhưng thay vì chấp nhận rằng cuộc sống vĩnh cửu là không thể có được bằng cách thực hiện
một số chương trình đặc biệt, những người theo đạo giải thích sự sai lệch như là một kết quả
của hoàn cảnh chứ không phải là do cái chết của con người.
Đạo giáo thu nhập những hoạt động ma thuật đã từng tồn tại ở một số cộng đồng nông nghiệp
Trung Quốc. Một số đạo sỹ chấp nhận các vị thần vốn bị quý tộc nhỏ và người theo Nho giáo
chế nhạo. Trái với niềm tin ban đầu của Đạo giáo ở sự vô vi, một số đạo sỹ hăng hái tìm cách
cải đạo, và một số đạo sỹ trở thành những nhà hoạt động nhằm thay đổi xã hội và khởi xướng
các chương trình chính trị. Đạo giáo không có định nghĩa rõ ràng về tính chính thống hay sự tổ
chức chặt chẽ các nhà hành đạo, nhưng ở nơi này và nơi khác, các tổ chức do các nhà hành đạo
chỉ huy vẫn phát triển. Các nhà hành đạo đạo sỹ tập hợp quanh mình những kẻ sùng tín, những
người tin rằng họ đã gia nhập vào một nhóm đặc biệt, lúc nào cũng lo lắng cho sự tồn tại đúng
đắn của mình. Cái này làm chính quyền Trung Quốc khó chịu – các nhà Nho và giới quan lại
tiểu quý tộc - vốn sợ rằng sự thờ cúng các đạo giáo không được cho phép có thể phát triển
thành một điểm đối lập với chính quyền của họ.
Trong số những nhóm thờ cúng Đạo giáo có một do Trương Lăng lãnh đạo (hay Trương Đạo
Lăng) ở tỉnh Tứ Xuyên. Trương Lăng đi loanh quanh vùng nông thôn hứa hẹn những người thú
nhận trước công chúng tội lỗi của mình sẽ được ông ta chữa khỏi bệnh tật và sự kém may mắn.
Ông tuyên bố rằng bệnh tật là một sản phẩm của những suy nghĩ đen tối. Sử dụng sự mê hoặc
và bùa chú ông đòi phải được tôn làm người chữa bệnh, và những buổi thú nhận trước công
chúng của ông làm cho người nông dân có cảm giác rằng họ đang tự làm sạch mình khỏi tội lỗi
và gia nhập vào một cộng đồng. Năm 142, Trương Lăng lập ra tôn phái Đạo giáo, gọi là “Thiên
sư đạo” (Đạo của những pháp sư vĩ đại), chuyển Đạo giáo của mình từ một cách bắt buộc của
cuộc sống thành một tôn giáo được tổ chức. Tôn giáo của ông cũng được gọi là “Ngũ đấu mễ

đạo” (Đạo của năm thùng gạo); năm thùng gạo trở thành một nhiệm vụ hàng năm mà các tín đồ
phải thực hiện. Trương Lăng hứa những người theo ông sẽ sống lâu và bất tử, và ông có được
lòng biết ơn của người dân địa phương bằng cách làm được những việc mà chính quyền của
21
nhà vua không làm được: sửa đường xá và cầu, tích trữ lúa gạo và phân phối lương thực cho
người đói. Trương Lăng đã tạo ra một triều đình địa phương đối lập với chính quyền của nhà
vua. Không biết đến điều đó, các đạo sỹ lại chui lại vào thế giới của quyền lực chính trị.
[sửa] Những cuốn sách thần thánh về hòa bình
Một tư tưởng bao trùm ở Trung Quốc, dù muốn hay không, rằng xã hội đang chuyển sang một
trạng thái nhà nước tuyệt vời và công bằng, và đi kèm với tư tưởng đó là khái niệm phục vụ
cộng đồng, nó sống dậy từ thời đại và ảnh hưởng của Mặc Địch. Khái niệm phục vụ cộng đồng
đã xuất hiện trong sách Lã Thị Xuân Thu của Lã Bất Vi (Lu Bu-wei, 呂布韋), vốn được một số
người coi là sự khởi đầu của truyền thống xã hội của Trung Quốc.
Các vị hoàng đế và các quý tộc Khổng giáo coi những cuốn sách đó là có tính phá hoại, và
thỉnh thoảng chính quyền tịch thu chúng. Một số cuốn sách cho rằng hòa bình và bình đẳng sẽ
xuất hiện nếu có một sự can thiệp của trời. Một số kêu gọi người dân tỏ thái độ sùng kính và
tìm kiếm sự cứu rỗi. Có những người dân coi những cuốn sách đó là thuộc thần thánh và ít nhất
có một cuốn được coi là do một người nào đó viết ra và gửi về từ thiên đường. Một số cuốn
được gọi là Những cuốn sách của Nền hòa bình cao hơn và chứa nhiều sự lên án tính tham lam
và ích kỷ của những ông vua, và các cuốn sách cho rằng xã hội là để dành cho những người dân
bình thường. Một cuốn như vậy, tên là Thái Bình Kinh (Tai-ping-Jing, 太平經), tìm cách loại
bỏ vũ khí và nhờ đó con người sẽ sống trong hòa bình vĩnh cửu.
[sửa] Sự suy yếu của vương triều Hán
Trong khi những người Trung Quốc lao vào tìm tòi trong thế giới của sự thần bí và linh hồn thì
họ cũng khám phá ra một số điều và phát triển khả năng châm cứu và bấm huyệt. Tới thế kỷ thứ
hai, Trung Quốc đã đuổi kịp và ở một số lĩnh vực đã vượt qua trình độ khoa học và kỹ thuật của
Châu Âu và Tây Á. Giấy bắt đầu được sử dụng ở Trung Quốc. Trung Quốc đã có một chiếc
đồng hồ nước với độ chính xác mà người Châu Âu không thể chế tạo nổi trong hơn một nghìn
năm sau đó. Trung Quốc có một lịch mặt trăng mà tới thế kỷ hai mươi chúng ta vẫn sử dụng tốt.
Họ có một máy ghi địa chấn đã được phát minh vào năm 132 – có tám chân và làm bằng đồng.

Người Trung Quốc quan sát các vết đen trên mặt trời, ở Châu Âu mãi về sau này Galileo là
người đầu tiên làm việc đó. Người Trung Quốc đã vẽ bản đồ 11.500 ngôi sao và đo đạc quỹ đạo
quay của mặt trăng. Người Trung Quốc có một cái máy gieo hạt và một cái máy xay lúa. Họ có
bơm nước, và không giống như nền văn minh Roma, người Trung Quốc có xe cút kít có bánh.
Người Trung Quốc cũng có hàm thiếc và bàn đạp cho ngựa. Họ cải thiện cách dùng thảo mộc
làm thuốc và biết thêm nhiều về giải phẫu người và sự chẩn đoán sự rối loạn về cơ thể. Họ đã
biết làm các phẫu thuật nhỏ và thuật châm cứu, và họ biết được những lợi ích của một chế độ ăn
kiêng tốt.
Nhưng cuộc sống của người dân thường Trung Quốc - những nông dân - vẫn rất khó khăn. Họ
vẫn bị đánh thuế nặng. Họ vẫn phải đi lao động công ích mỗi tháng một lần cho nhà vua.
Những sự trừng phạt vẫn rất khốc liệt. Một nông dân nghèo có thể bị hành quyết chỉ vì dám đi
ở giữa đường lớn, nó chỉ dành cho nhà vua. Và họ không có đủ lương thực dự trữ cho những
khi cần thiết.
22
Sự thịnh vượng của Trung Quốc đã tăng lên dưới thời Hán Hòa Đế (giữa năm 88 và 106), và
triều đình Hòa Đế đã trở nên cũng xa hoa như những triều đình trước Hán đó. Trong triều, vua
hàng trăm vợ và thiếp cùng một số lượng lớn hoạn quan để cai quản họ. Dưới thời Hòa Đế, các
hoạn quan và các gia đình họ hàng vua có ảnh hưởng lớn hơn, qua hoạn quan họ có thể gây ảnh
hưởng đến nhà vua.
Những người có liên quan tới việc lựa chọn người kế vị ngai vàng thường thích một đứa trẻ bởi
vì họ dễ dàng cai quản nó hơn so với một người lớn, nên họ có được một quyền lực cực lớn. Tất
cả các vị vua Hán kể từ thời Hán Minh Đế đều được lên làm vua khi còn vị thành niên, hai
người mới chỉ lên hai tuổi, và đa số đều bắt đầu thời cai trị của mình với hoàng hậu nhiếp
chính. Những người đàn bà đó thường bị cô lập và phụ thuộc vào những người đàn ông -
thường là họ hàng. Khi vua đến tuổi thành niên, nếu ông bãi chức những người cố vấn họ hàng
đó thì ông lại phải nhờ ở những người đàn ông mà ông có quan hệ - những hoạn quan – và ông
đưa họ lên những vị trí cao để làm đối lập với ảnh hưởng của mẹ.
Trong thời cai trị của Hán Thuận Đế (125-144), những lời đồn đại nổi lên ở trong đám nông
dân Trung Quốc rằng các vị vua Hán một lần nữa lại mất Thiên Mệnh. Khắp nơi, những cuộc
nổi loạn nông dân lại diễn ra. Trong thời Hán Hoàn Đế (146-168) sự suy sụp chính trị tiếp tục

diễn ra. Năm 159 vị hoàng hậu nhiếp chính qua đời, các hoạn quan quanh Hoàn Đế, cảm thấy
thời cơ đã đến, liền hạn chế ảnh hưởng của đối thủ bằng cách xếp đặt sự hủy diệt các thành viên
thuộc phe cánh hoàng hậu. Hoàn Đế trở nên phụ thuộc vào hoạn quan. Ông uỷ quyền cho bọn
họ, và các hoạn quan chiếm hết các vị trí triều đình cho họ hàng mình, đòi các vị quan hay
tướng được phong chức phải hối lộ vàng cho họ.
Hoàn Đế chết năm 168, và ngày hôm sau vợ ông, Đậu hoàng hậu, tuyên bố lên làm hoàng hậu
nhiếp chính. Bà thỏa thuận lựa chọn một đứa trẻ mười hai tuổi ở nông thôn tên là Lưu Hoằng,
chút của Hán Chương Đế. Sau đó, bà cùng với Đậu Vũ đón Lưu Hoằng vào cung lập làm hoàng
đế, tức Hán Linh Đế. Trong thời Linh Đế một cuộc xung đột xảy ra giữa hoạn quan và các quan
chức theo Khổng giáo. Phái Khổng giáo từ lâu vốn không thích các hoạn quan, coi họ là thiếu
giáo dục và gây trở ngại cho một triều đình tốt.
Chiến tranh xảy ra giữa các hoạn quan và phái Khổng giáo về sự ảnh hưởng của một vị phù
thủy Đạo giáo. Vị phù thủy Đạo giáo tiên đoán rằng một lòng khoan dung khắp nơi sắp đến và
sai con mình đi giết một người nào đó để bày tỏ sự tin tưởng vào sự tiên tri đó. Con trai của ông
là người hầu cận của các hoạn quan, và các hoạn quan đã ngăn chặn sự hành hình của vị phù
thủy. Tuy nhiên vị quan cai trị vẫn hành hình con vị phù thủy. Các hoạn quan buộc tội vị quan
cai trị vi phạm vào điều luật của đế chế và âm mưu với sinh viên và những bậc trí thức để thành
lập một liên minh bất hợp pháp nhằm chống lại chính quyền. Các hoạn quan có được lệnh từ
Linh Đế, ra lệnh bắt giữ các sinh viên dám biểu tình và dám tìm cách khấn nguyện lên hoàng
đế. Và nhanh chóng, họ giết nhiều sinh viên trong ngục.
Tại các tỉnh, sự tôn trọng quyền lực của vua ngày càng suy tàn. Các quan lại hành chính địa
phương và quan cai trị mất quyền lực vào tay những người giàu, vì họ thường đút lót cho bọn
hoạn quan ở triều đình. Những người địa phương đó thường có thói quen che giấu những tên
23
côn đồ để bảo vệ quyền lợi của họ. Và với sự bùng nổ xung đột giữa hoạn quanh và tiểu quý tộc
trong triều, những vị quan võ đang nắm quân đội tại các tỉnh Trung Quốc ngày càng trở nên độc
lập.
Một người theo Đạo giáo tên là Trương Giác, tự cho mình là "đại hiền lương sư", đã đi quanh
vùng làng quê giống như Trương Lăng. Ông trình diễn những trò ma thuật, chữa khỏi các phiền
não bằng nước và những lời khấn mà ông gọi là "thái bình yếu thuật". Trương Giác cũng nói

rằng nhà Hán đã mất Thiên Mệnh, và ông tự tuyên bố sự sụp đổ sắp tới của họ. Trong vòng
mười năm, phong trào của ông có hàng trăm nghìn người. Phong trào của ông phân chia vào
các tỉnh, và mỗi tỉnh có một thủ lĩnh lãnh đạo.
Năm có tính chất quyết định đối với phong trào của Trương Giác là năm 184. Ngày mùng năm
tháng ba âm lịch được hẹn làm ngày cho một cuộc khởi nghĩa tổng thể ở Lạc Dương và các
vùng lân cận. Nhưng triều đình đã biết được tin đó, và chính quyền bắt các thủ lĩnh địa phương
của cuộc nổi loạn và hành quyết họ. Trương Giác thay đổi kế hoạch và kêu gọi một cuộc nổi
dậy ngay lập tức, kêu gọi những người theo ông đốt những trụ sở chính phủ và cướp bóc thành
phố. Đây được gọi là cuộc khởi nghĩa khăn vàng, được đặt theo kiểu đội đầu của phong trào –
màu vàng biểu thị sự liên kết của họ với yếu tố đất như đối kháng với yếu tố lửa, mà họ coi là
của nhà Hán. Cuộc nổi loạn lan rộng, và người dân khắp mọi nơi trong nước bắt đầu cướp phá,
giết chóc và kéo nhau đến thủ đô.
Các hoạn quan và quan lại ở Lạc Dương bỏ quan sự khác biệt giữa hai bên vì sợ cuộc nổi dậy
Khăn Vàng. Các lực lượng chính phủ củng cố quanh Lạc Dương, và chính phủ cho phép quan
cai trị địa phương được tổ chức quân đội riêng để chiến đấu chống nổi loạn. Các chúa đất giàu
có cũng tổ chức quân đội để tự bảo vệ mình. Nhưng hết thành phố này tới thành phố khác rơi
vào tay quân Khăn Vàng, quan đầu tỉnh và cấp dưới bỏ trốn không đối đầu với họ để tránh bị
đem ra hiến tế cho thần thánh của quân nổi loạn.
Ở giữa cuộc hỗn loạn, Hung nô lại bắt đầu tổ chức các cuộc tấn công Trung Quốc. Và tại Triều
Tiên, các bộ tộc chiến binh trên lưng ngựa tràn từ trên cao nguyên xuống đánh Trung Quốc.
Chính phủ ở Lạc Dương không thể giúp đỡ, và người Triều Tiên tràn qua vùng đất của họ trước
đó bị đặt dưới sự thống trị của Trung Quốc.
Trong nỗ lực nhằm tự bảo vệ mình, triều đình Hán bắt đi lính rất nhiều người, lập lên những đội
quân đông đảo với chi phí rất lớn, và mặc dù quân Hán yếu kém và không có hiệu quả vì nạn
tham nhũng, quân Khăn Vàng cũng không phải là đối thủ của họ. Về mặt quân sự, quân Khăn
Vàng không được tổ chức, và họ bị tuyên truyền rằng chúa của họ biến họ thành một đội quân
vì cái tốt đẹp, rằng họ không thể bị tấn công, và thậm chí họ cũng chẳng cần đến vũ khí - một
quan điểm không thích hợp cho một chiến dịch quân sự. Đạo thần bí là một phần của sự thành
lập phong trào và cũng là một phần của sự hủy diệt của nó. Trong năm đầu tiên của cuộc nổi
loạn, Trương Giác chết, và chỉ trong vòng một năm cuộc khởi nghĩa bị đánh bại. Trong năm

năm thỉnh thoảng có những cuộc nổi loạn rời rạc vẫn tiếp diễn. Chín tỉnh của Trung Quốc bị tàn
phá, Các lực lượng đối lập với Khăn Vàng tiêu diệt hết nhóm Khăn Vàng nọ đến nhóm kia.
Những cuộc chiến rời rạc vẫn tiếp diễn trong hàng thập kỷ sau, trong khi những người nông dân
24
ủng hộ cho Khăn Vàng quay trở về với công việc của mình kiếm sống bằng cách làm việc và hy
vọng về một thế giới thiên đường ở đâu đó.
[sửa] Sự sụp đổ của quyền lực nhà Hán
Bản đồ Tam quốc năm 262.
Linh Đế chết năm 189, ở tuổi 33, trong khi các tướng lĩnh ngày càng đòi nhiều quyền lực hơn
so với lúc họ chiến đấu chống lại Khăn Vàng. Đại tướng quân Hà Tiến, một người anh em họ
của vị thái hậu nhiếp chính tìm cách tóm lấy quyền lãnh đạo triều đình. Ông âm mưu chống lại
bọn hoạn quan trong triều và những kẻ ủng hộ họ, và mời tướng Đổng Trác đem quân về kinh
đô để tiêu diệt bọn hoạn quan. Nhưng trước khi Đổng Trác đến, chiến tranh nổ ra trong triều.
Tập đoàn hoạn quan giết Hà Tiến. Các thế lực quân sự ủng hộ Hà Tiến phản công và đốt cung
điện, giết mọi hoạn quan mà họ gặp – hay bất kỳ ai trông giống với hoạn quan vì không có râu.
Và hơn hai nghìn hoạn quan, cùng những kẻ ủng hộ bị giết.
Ngay sau đó, Đổng Trác đến kinh đô và giết cả Thiếu Đế lẫn Hà thái hậu nhiếp chính. Ông
chọn Lưu Hiệp, hoàng tử chín tuổi, là em của Thiếu Đế lên làm vua, tức là vua Hiến Đế. Đổng
Trác doạ nạt cả triều đình bằng thanh gươm của mình, với cách cư xử được miêu tả là trác táng
và cục súc, trong khi quân đội của ông ta, đa phần đến từ Hung Nô, cướp phá và giết hại cho
sướng tay quanh kinh đô.
Trước sự thao túng triều đình của Đổng Trác, nhiều trấn chư hầu nổi dậy chống lại. Đổng Trác
thua trận mang Hiến Đế di cư đến Trường An. Trước khi đi, ông đốt cháy Lạc Dương. Sách vở
nói, họ mang theo hơn một triệu thường dân, đa phần đã chết vì kiệt sức và cái đói dọc đường.
Sự vô tình của Đổng Trác với nhân dân khiến mọi người chống lại ông. Sự khát máu vô biên
của ông cùng tâm tính nóng nảy làm binh lính bên dưới xa lánh, và trong năm 192, Lã Bố, một
thuộc tướng đã ám sát ông và quẳng xác vào một đám đông quần chúng ghét ông. Một cuộc
chiến giành quyền kiểm soát ngôi báu diễn ra giữa các tướng lĩnh. Tới năm 196, một vị tướng
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×