Tải bản đầy đủ (.doc) (37 trang)

ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG STRESS TRƯỚC PHẪU THUẬT THEO CHƯƠNG TRÌNH của NGƯỜI BỆNH tại KHOA CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH và y học THỂ THA BỆNH VIỆN đại học y hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (325.61 KB, 37 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ LINH

ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG STRESS TRƯỚC PHẪU THUẬT
THEO CHƯƠNG TRÌNH CỦA NGƯỜI BỆNH TẠI KHOA
CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VÀ Y HỌC THỂ THAO
BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

HÀ NỘI – 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ LINH

ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG STRESS TRƯỚC PHẪU THUẬT
THEO CHƯƠNG TRÌNH CỦA NGƯỜI BỆNH TẠI KHOA
CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VÀ Y HỌC THỂ THAO
BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Chuyên ngành: Điều dưỡng


Mã số:
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM QUANG MINH

HÀ NỘI – 2019


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BN

: Bệnh nhân

CTCH & YHTT : Chấn thương chỉnh hình và y học thể thao
ICD

: (International Classification of Diseases)
Phân loại bệnh quốc tế.

ASA

: (American Sociaty of Anesthesiologist)
Phân loại bệnh nhân theo tiêu chuẩn của hiệp hội
gây mê hồi sức Mỹ.

WHO

: (World Health Organization )

Tổ chức y tế thế giới.

K

: Ung thư

OR

: Tỷ suất chênh

CI

: Khoảng tin cậy

NVYT

: Nhân viên y tế

PT

: Phẫu thuật


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ...................................................................................................1
CHƯƠNG 1......................................................................................................3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU...............................................................................3
1.1. Giới thiệu về stress......................................................................................................................3
1.1.1. Khái niệm.............................................................................................................................3
1.1.2. Hậu quả................................................................................................................................4

1.2. Đặc điểm bệnh nhân chấn thương tại khoa CTCH và YHTT.......................................................4
1.2.1. Định nghĩa chấn thương......................................................................................................4
1.2.2. Các loại chấn thương...........................................................................................................5
1.2.3 Một số đặc điểm tâm lý bệnh nhân chấn thương...............................................................5
1.3. Stress trên bệnh nhân trước phẫu thuật...................................................................................6
1.4. Một số yếu tố liên quan đến lo âu, stress của bệnh nhân trước phẫu thuật...........................7
1.4.1. Yếu tố tuổi............................................................................................................................7
1.4.2. Giới tính................................................................................................................................8
1.4.3. Trình độ học vấn..................................................................................................................8
1.4.4. Nghề nghiệp.........................................................................................................................8
1.4.5. Điều kiện kinh tế..................................................................................................................9
1.4.6. Tiền sử bản thân..................................................................................................................9
1.4.7. Tình trạng đau của bệnh nhân trước phẫu thuật.............................................................10
1.4.8. Tình trạng sức khỏe của bệnh nhân trước khi vào viện...................................................11
1.4.9. Sự giải thích của nhân viên y tế.........................................................................................11
1.5. Đánh giá mức độ stress............................................................................................................11
1.6 .Tình hình nghiên cứu lo âu, stress trước phẫu thuật..............................................................12

CHƯƠNG 2....................................................................................................15
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.................................15
2.1. Đối tượng nghiên cứu...............................................................................................................15
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn...........................................................................................................15
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ..............................................................................................................15
2.2. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................................15


2.2.1 Thiết kế nghiên cứu............................................................................................................15
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu.............................................................................................................15
2.2.3. Các biến số, chỉ số thu thập trên đối tượng nghiên cứu..................................................16
2.3. Tiến hành nghiên cứu...............................................................................................................17

2.3.1. Thu thập số liệu.................................................................................................................17
2.3.2 Quy trình thu thập số liệu..................................................................................................17
2.3.3 Xử lý và phân tích số liệu....................................................................................................17
2.3.4 Đạo đức nghiên cứu:..........................................................................................................17

CHƯƠNG 3....................................................................................................19
DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.........................................................19
CHƯƠNG 4....................................................................................................23
DỰ KIẾN BÀN LUẬN..................................................................................23
DỰ KIẾN KẾT LUẬN..................................................................................24
DỰ KIẾN KHUYẾN NGHỊ.........................................................................24
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................25


DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Tuổi của đối tượng nghiên cứu....................................................19
Bảng 3.2: Giới tính........................................................................................19
Bảng 3.3: Trình độ học vấn...........................................................................19
Bảng 3.4: Nghề nghiệp..................................................................................20
Bảng 3.5: Tình trạng hôn nhân....................................................................20
Bảng 3.7: Liên quan giữa giới tính và stress của BN trước phẫu thuật...20
Bảng 3.8: Liên quan giữa tuổi và tâm lý bệnh nhân stress trước phẫu
thuật................................................................................................................20
Bảng 3.9: Liên quan giữa trình độ học vấn và stress của BN trước phẫu
thuật................................................................................................................21
Bảng 3.10: Liên quan giữa nghề nghiệp và stress BN trước phẫu thuật..21
Bảng 3.11: Liên quan giữa tình trạng kinh tế và tâm lý của BN trước PT
.........................................................................................................................21
Bảng 3.12 Liên quan giữa tình trạng đau và tâm lý stress của bệnh nhân

.........................................................................................................................21
Bảng 3.13: Liên quan giữa việc giải thích của NVYT và tâm lý stress của
BN...................................................................................................................22


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh nhân nhập viện với bất kể lý do gì đều lo âu ở các mức độ khác
nhau. Nếu không được kiểm soát, sự lo âu trong thời gian dài sẽ gây ra stress,
tác động bất lợi và làm chậm thời gian hồi phục của bênh nhân. Lo âu và
stress trước phẫu thuật còn nghiêm trọng hơn, bởi lẽ phẫu thuật dù nhỏ cũng
ảnh hưởng lớn đến tâm lý của bệnh nhân. Tuy nhiên, mức độ stress trước mổ
của mỗi bệnh nhân là khác nhau, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loại và
tính phức tạp của cuộc mổ, trải nghiệm phẫu thuật trước đây và sự nhạy cảm
của bệnh nhân với stress. Stress trước mổ liên quan đến các vấn đề như khó
làm đường truyền, tăng nguy cơ ho, sặc vào đường thở khi khởi mê, xuất hiện
các rối loạn thần kinh thực vật và tăng nhu cầu thuốc mê . Nó cũng liên quan
đến tăng đau, tăng nguy cơ nôn và buồn nôn sau mổ, chậm hồi phục và tăng
nguy cơ nhiễm khuẩn . Ngoài ra, stress trước mổ ở mức độ nặng có thể liên
quan đến các phản xạ sinh lý không mong muốn như tăng huyết áp, rối loạn
nhịp tim và có thể làm bệnh nhân từ chối cuộc mổ. Tỉ lệ stress trước mổ dao
động từ 60% đến 92% và mức độ nặng của nó thay đổi tuỳ thuộc vào loại
phẫu thuật .
Trên thế giới, có nhiều nghiên cứu khảo sát về mức độ lo âu,stress và
trầm cảm của người bệnh nội trú. Các bác sỹ tâm lý đề xuất nhiều công cụ
khảo sát đánh giá mức độ stress trầm cảm, một số phương pháp đã được
công nhận và sử dụng rộng rãi. Gần đây, một số nghiên cứu đi sâu vào đánh
giá đối tượng bệnh nhân trước phẫu thuật, chỉ ra mức độ lo âu, stress trầm
cảm cũng như các yếu tố nguy cơ hay hậu quả không mong muốn của nó.

Nghiên cứu của Atanassova M (2009) cho thấy có trên 62% bệnh nhân
stress trước phẫu thuật, phụ nữ stress hơn nam giới, tuổi càng tăng thì tỉ lệ
stress càng tăng, có liên quan chặt chẽ giữa trình độ học vấn và stress trước
mổ . Một nghiên cứu khác ở Hồng Kông cho rằng nếu bệnh nhân được
nghe nhạc do chính họ tự chọn trong quá trình phẫu thuật sẽ giúp làm giảm
các tác động tâm lý và stress .


2

Tại Việt Nam, một số nghiên cứu đề cập đến vấn đề lo âu stress và trầm
cảm nhưng tập trung chủ yếu vào nhóm bệnh nhân ung thư, bệnh nhân bị các
bệnh mạn tính đang điều trị nội trú, rất ít đề tài nghiên cứu về lo âu trước
phẫu thuật. Năm 2013, nghiên cứu về tâm lý của bệnh nhân trước phẫu thuật
tại khoa Ngoại tổng hợp - BVĐK Ba Tri cho thấy: lo lắng nhất của BN trước
phẫu thuật là sợ đau 58%, lo lắng về kinh tế 26%... Một nghiên cứu khác trên
bệnh nhân phẫu thuật tim hở tại bệnh viên Bạch Mai (2005) cho kết quả: tỷ lệ
người bệnh lo âu trước phẫu thuật là ≥ 83%, 58,6% người bệnh lo sợ rủi ro
liên quan đến phẫu thuật....
Hiện nay, ở nước ta cùng với sự phát triển kinh tế, sự bùng nổ của các
phương tiện giao thông, đường quốc lộ được nâng cấp, các công trình xây
dựng ở khắp nơi đồng nghĩa với tai nạn giao thông, tai nạn sinh hoạt ngày một
nhiều hơn, các khoa Ngoại chấn thương chỉnh hình tại các bệnh viện trong cả
nước luôn trong tình trạng quá tải. Khoa Chấn thương chỉnh hình và Y học thể
thao của bệnh viện đại học Y Hà Nội tuy mới được thành lập nhưng cũng
không nằm ngoài xu thế đó. Bệnh nhân chấn thương tại khoa mặc dù chưa
phải nằm ghép nhưng do tâm lý chờ phẫu thuật và đau ở các mức độ khác
nhau nên chắc chắn không tránh khỏi tâm lý lo âu. Tuy nhiên mức độ stress ra
sao, các yếu tố liên quan đến tình trạng đó thế nào và phải làm gì để kiểm soát
là vấn đề cần được quan tâm tại Bệnh viện Đại học Y Hà nội, nơi đang nhận

được rất nhiều sự tin tưởng của người bệnh. Vì vậy chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tình trạng stress trước phẫu thuật theo
chương trình của người bệnh tại khoa Chấn thương chỉnh hình và Y học
thể thao bệnh viện đại học Y Hà Nội” với các mục tiêu sau:
1. Đánh giá tình trạng stress trước phẫu thuật theo chương trình của
người bệnh tại khoa CTCH và YHTT bệnh viện đại học Y Hà Nội.
2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress của người bệnh
tại khoa CTCH và YHTT bệnh viện đại học Y Hà Nội.


3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giới thiệu về stress
1.1.1. Khái niệm
Stress là một từ xuất phát từ tiếng La-tinh “stringere” có nghĩa là căng
thẳng, mệt mỏi.
Những định nghĩa từ xa xưa về căng thẳng mệt mỏi đã được sử dụng
trong vật lí, trong kỹ thuật và kết quả là ảnh hưởng tới khái niệm stress tác
động đến cá nhân.Theo khái niệm này thì áp lực bên ngoài (áp lực công việc,
gánh nặng công việc) được xem như là áp lực tác động đến cá nhân mà nó
gây ra căng thẳng.
Stress là thuật ngữ tiếng Anh được dùng trong vật lý học để chỉ một sức
nén vật liệu phải chịu đựng. Đến thế kỷ thứ XVII từ ý nghĩa sức ép trên vật
liệu được chuyển sang dùng cho người với ý nghĩa một sức ép hay một xâm
phạm nào đó tác động vào con người gây ra một phản ứng căng thẳng. Hiện
nay stress là một thuật ngữ được dùng rộng rãi. Tuy nhiên, nhiều tác giả sử
dụng với những sắc thái khác nhau.
Theo nhà tâm lý học Hans Selye năm 1946 “Stress là một phản ứng

sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống căng thẳng ”.
Ông mô tả ba giai đoạn mà mỗi cá nhân phải đối mặt trong những tình huống
gây stress.
+ Giai đoạn 1: Phản ứng báo động, giai đoạn đầu của sự kháng cự được
theo sau bởi cú sốc chạm trán với stress. Trong giai đoạn này cách thức phòng
thủ của mỗi cá nhân trở thành hành động.
+ Giai đoạn 2: Sự kháng cự đây là giai đoạn của sự thích nghi tối đa và
có cơ hội trở lại trạng thái cân bằng của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, nếu tác nhân
gây stress vẫn tiếp tục hoặc không thực hiện các phương thức phòng thủ thì cá
nhân chuyển sang giai đoạn 3.


4

+ Giai đoạn 3: Kiệt sức khi các phương thức thích nghi sụp đổ.
Theo J.Delay “Stress là một trạng thái căng thẳng cấp diễn của cơ thể
buộc phải huy động các khả năng phòng vệ đối phó với một tình huống đang
đe dọa”.
Những lý thuyết mới hơn hoàn thiện hơn về stress nhấn mạnh sự tác
động qua lại giữa một người và môi trường của người đó bằng cách xem xét
stress như là hậu quả của sự không thích nghi giữa cá nhân với môi trường
làm việc.
Như vậy, có rất nhiều khái niệm khác nhau về stress nhưng tựu chung
lại nó đều là những căng thẳng, mệt mỏi, là sức nén mà con người phải chịu
đựng. Nó vượt quá khả năng phòng vệ và tự kiểm soát của mỗi con người.
1.1.2. Hậu quả
Stress gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người không chỉ về mặt tinh
thần mà còn cả mặt thể chất, ảnh hưởng trên các hệ cơ quan như
- Tim mạch: tăng nhịp tim, tăng huyết áp.
- Hô hấp: thở nhanh

- Tiêu hóa: miệng khô, đắng, biếng ăn, buồn nôn, nôn, ăn không ngon,
không có cảm giác mùi vị.
- Cơ, khớp: rùng mình, đau ngực, đau mình mẩy, cảm giác rã rời chân tay.
- Tiết niệu: đái buốt, đái dắt.
- Sinh dục: đau bụng kinh, khả năng sinh dục giảm.
- Nội tiết: tăng tiết adrenalin, serotonin, toát mồ hôi, ra mồ hôi tay chân.
- Thần kinh, nhức đầu, mệt mỏi, mất ngủ, suy nghĩ miên man,giảm nhớ.
- Nếu nặng có thể có các rối loạn về tâm thần.
1.2. Đặc điểm bệnh nhân chấn thương tại khoa CTCH và YHTT
1.2.1. Định nghĩa chấn thương
Chấn thương là việc các tác động bên ngoài tác động, gây tổn thương


5

cho các cấu trúc giải phẫu bình thường của tổ chức; gây ra sự giảm, rối loạn
hay mất đi chức năng sinh lý bình thường của tổ chức đó và gây ảnh hưởng
nghiêm trọng đến sinh hoạt của người bị chấn thương”.
1.2.2. Các loại chấn thương
Chấn thương mô mềm: gân – cơ – dây chằng với nhiều mức độ khác
nhau có thể do va chạm trực tiếp hay bị kéo căng quá mức – vặn xoắn, co rút
đột ngột với nhiều mức độ khác nhau như giãn – rách – đứt – đụng dập…
Chấn thương khớp
Đó là tình trạng mất tương quan bình thường của mặt khớp, hai mặt
khớp bị xê dịch ra khỏi vị trí bình thường. Nguyên nhân do lực tác động lớn
làm đứt, rách bao khớp và dây chằng quanh khớp.
Chấn thương xương
Là sự mất liên tục cấu trúc xương do lực tác động mạnh. Lực có thể
mạnh đột ngột dẫn đến gãy xương cấp tính. Hoặc lực có thể vừa phải nhưng
lặp đi lặp lại nhiều lần dẫn đến xương bị gãy mệt (gãy xương diễn ra từ từ và

lâu ngày).
1.2.3 Một số đặc điểm tâm lý bệnh nhân chấn thương
- Tâm lý bệnh nhân chấn thương có những diễn biến phức tạp. Đầu tiên
là bệnh nhân đau mong muốn được giảm đau, mong muốn được sớm phẫu
thuật tuy nhiên lại sợ phẫu thuật có để lại di chứng tàn phế gì không? Do vậy
vài trò của điều dưỡng và bác sỹ để hỗ trợ và giúp đỡ bệnh nhân là hết sức
quan trọng, tùy vào bệnh nhân để có can thiệp tác động tâm lý với bệnh nhân.
- Giai đoạn trước khi phẫu thuật:
Trong số những bệnh nhân nằm viện, bệnh nhân ngoại khoa đặc biệt là
trước khi mổ, là những người chịu nhiều lo âu, stress nhất. Theo M. Pitts
(2003) có 3 yếu tố chính dẫn đến stress cho người bệnh trước mổ .


6

- Gây mê: Người bệnh hiểu rằng có thể mình sẽ bị mất ý thức, không
còn khả năng kiểm soát bản thân , họ cũng sợ “ không tỉnh dậy”, bị “ ngủ”
luôn hoặc tỉnh lại được nhưng có thể “quên hết mọi thứ”.
- Lo ngại những cơn đau sau mổ, đặc biệt là khi tỉnh lại và thuốc giảm
đau đã hết tác dụng.
- Chính sự kiện phẫu thuật: bị mổ, rạch da, việc sử dụng dao , kéo
phẫu thuật và đặc biệt là những tiếng đốt điện, dùng búa, đục gõ… với những
bệnh nhân gây tê.
Theo Pitts, mỗi thành tố trên cũng có thể là một tác nhân gây stress
nhưng chúng thường kết hợp với nhau làm stress càng phức tạp và khó
đối phó.
Một điểm đáng lưu ý và cũng có thể là tác nhân gây stress cho người
bệnh trước phẫu thuật , đó là ý nghĩ, đặc biệt là những phụ nữ còn trẻ, rằng cơ
thể mình bị bộc lộ hoàn toàn cho người lạ. Tất nhiên không phải trường hợp
nào cũng vậy.

1.3. Stress trên bệnh nhân trước phẫu thuật
Bệnh nhân có thể cảm nhận ngày phẫu thuật là ngày đe dọa nhất đến
tính mạng trong đời họ. Mức độ mà các bệnh nhân biểu hiện sự lo lắng liên
quan đến trải nghiệm sau đó và phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Bao gồm tuổi,
giới, loại và quy mô của phẫu thuật, trải nghiệm phẫu thuật trước đây, sự nhạy
cảm của cá nhân với stress. Nhiều bệnh nhân trải qua lo lắng đáng kể trước
mổ và điều này được báo cáo ảnh hưởng đến 60-80% bệnh nhân phẫu thuật.
Tăng lo lắng trước mổ liên quan đến các phản xạ sinh lý, như tăng huyết áp,
rối loạn nhịp tim và có thể làm bệnh nhân từ chối cuộc mổ .
Việc đo mức độ lo lắng trước mổ ở các phẫu thuật có chuẩn bị hiện đại
là rất khó để thực hiện, chủ yếu do hạn chế về mặt thời gian. Ở một nghiên
cứu thực hiện ở Thổ Nhĩ Kỳ trên bệnh nhân phẫu thuật, hầu hết các bệnh nhân
chờ phẫu thuật lo lắng ở mức độ cao. Điểm lo lắng cao hơn ở bệnh nhân nữ so


7

với nam. Kết quả gợi ý rằng bệnh nhân có trình độ giáo dục cao ước tính nguy
cơ phẫu thuật đúng đắn hơn, tuy nhiên các bệnh nhân trình độ giáo dục thấp
hơn có thể lo sợ mơ hồ và vì vậy có mức độ lo lắng cao hơn. Các bệnh nhân
phẫu thuật trung bình có mức độ lo lắng cao hơn so với phẫu thuật lớn .
Nguyên nhân hàng đầu gây lo lắng là khả năng phẫu thuật bị hoãn
(69.6%), sau đó là sợ các sai sót trong mổ (64%), sợ không được quan tâm
chăm sóc đầy đủ (63.2%) và sợ không tỉnh lại sau mổ (58.4%). Đối tượng
nghiên cứu ít lo lắng nhất về vấn đề nôn và buồn nôn sau mổ (8%). Chỉ
27.1% nam tham gia và 40.9% nữ tham gia có lo lắng một cách đáng kể. Tuy
nhiên sự khác nhau về giới khác biệt không có ý nghĩa thống kê .
Thay đổi môi trường, chờ đợi phẫu thuật, đau sau mổ, lo lắng về gia
đình, lo sợ cái chết, nhịn ăn, truyền máu, sợ mơ hồ, sai sót của bác sĩ, điều
dưỡng, bị chọc kim và sợ tỉnh trong khi gây mê là các yếu tố chủ yếu làm

tăng lo lắng trước mổ ở phụ nữ khi so với nam giới .
Các chiến lược kiểm soát lo lắng thường được dùng cho đối tượng
nghiên cứu bao gồm liệu pháp dùng thuốc để giảm lo lắng và đau và liệu pháp
không dùng thuốc bao gồm cung cấp thông tin, nói chuyện, và giảm căng
thẳng. Mặc dù các chiến lược này là hữu ích, chúng có thể không hiệu quả
cho tất cả bệnh nhân .
1.4. Một số yếu tố liên quan đến lo âu, stress của bệnh nhân trước phẫu thuật
Mức độ biểu hiện lo lắng của mỗi bệnh nhân liên quan đến kinh nghiệm
trong tương lai phụ thuộc vào nhiều yếu tố . Bao gồm:
1.4.1. Yếu tố tuổi
Vấn đề lứa tuổi rất quan trọng, với từng lứa tuổi lại có suy nghĩ và cách
nhìn nhận vấn đề khác nhau nên có những cung bậc cảm xúc khác nhau, nó
ảnh hưởng rất lớn tới nhận thức của bệnh nhân:
• Đối với tuổi thanh niên thường đánh giá cao sức khỏe của mình coi


8

thường bệnh, chú ý nhiều đến thẩm mỹ, sợ xấu người,…
• Đối với tuổi trung niên thì nét tâm lý chững trạc hơn, ổn định hơn
nên phản ứng với bệnh tật và nhận thức của họ đối với bệnh mang dấu vết
nhân cách và đã hình thành vững chắc.
• Đối với người lớn tuổi bệnh nhân thường bi quan với tác hại của
bệnh, đánh giá thấp sức khỏe của mình. Bệnh nhân dễ lo sợ, hoang mang, khó
tính, đòi hỏi cao, yêu cầu giải đáp tường tận, khoa học .
1.4.2. Giới tính
Theo một vài nghiên cứu, nữ có tâm lý yếu hơn nam giới. Họ dễ bị kích
động và bị ảnh hưởng bởi các tác nhân xung quanh, nên trước phẫu thuật họ
thường lo âu hơn nam giới .
Trong nghiên cứu của Hoàng Thị Minh Phương (2007) cho thấy trước

phẫu thuật tỷ lệ rối loạn lo âu ở nữ là 38,6%, ở nam là 19%. Như vậy ta thấy
tỷ lệ lo âu trước phẫu thuật ở nữ cao gấp 2 lần so với nam .
1.4.3. Trình độ học vấn
Một số kết quả cho thấy rằng các cá nhân có trình độ giáo dục cao có
thể ước tính chính xác hơn nguy cơ của phẫu thuật so với những người không
có điều kiện được học tập đầy đủ. Bên cạnh đó, những người có thói quen đọc
sách báo nhiều, ham học hỏi cũng có nhận thức rất khác. Họ dễ dàng hiểu được
những thông tin NVYT cung cấp cho họ về bệnh tật và ca phẫu thuật. Nhưng
không phải vì thế mà họ có tâm lý tích cực. Cũng có khi, cá nhân với mức học
vấn thấp có thể sợ không rõ và do đó có mức độ cao của sự lo lắng .
1.4.4. Nghề nghiệp
Qua nhiều nghiên cứu đã chứng minh những bệnh nhân có nghề lao
động chân tay có tỷ lệ lo âu cao nhất. Như nghiên cứu của Hoàng Thị Minh
Phương (2007) là 32,5%, trong nghiên cứu của Dương Văn Tú (2013) là 63%
trong khi lao động trí óc chỉ chiếm 16,82%. Lao động chân tay thường là công


9

việc nặng nhọc, không ổn định và thu nhập không cao. Đây là nhóm đối
tượng ít có điều kiện tiếp cận với dịch vụ y tế để chẩn đoán và điều trị sớm.
Sự nặng nhọc trong công việc, sự bất ổn về kinh tế là yếu tố gây sang chấn
tâm lý cho nhóm đối tượng này .
1.4.5. Điều kiện kinh tế
Đây luôn là một vấn đề với tuyệt đại đa số bệnh nhân Việt Nam. Đối
với nước ngoài, bệnh nhân có bảo hiểm chi trả toàn bộ nên không thành vấn
đề. Ở Việt Nam, người bệnh hoặc không có bảo hiểm hoặc bảo hiểm chỉ chi
trả một phần vì chi phí cho một cuộc phẫu thuật cột sống là rất tốn kém ngoài
ra còn có các chi phí phát sinh nằm ngoài dự kiến ban đầu. Đôi khi vấn đề này
lại làm tăng thêm sự lo âu của người bệnh.

“Một trở ngại cần chú ý đó là chi phí cho mỗi lần can thiệp là một số
tiền lớn hàng chục triệu trở lên, với những người không có bảo hiểm là cả
một gia tài, còn đối với những người có bảo hiểm cũng chỉ được bù một
phần” .
1.4.6. Tiền sử bản thân
Tiền sử mắc bệnh của bản thân bệnh nhân cũng ảnh hưởng không nhỏ
đến tâm lý. Những bệnh nhân chưa từng phẫu thuật sẽ đòi hỏi rất nhiều thông
tin về bệnh của mình, về ca phẫu thuật. Họ luôn có xu hướng hướng ngoại,
luôn bày tỏ nỗi lo lắng của mình và mong muốn được chia sẻ. Còn những
bệnh nhân có bệnh mạn tính hay đã từng phải phẫu thuật có tâm lý rất phức
tạp, có thể theo hướng tích cực và cũng có thể theo hướng tiêu cực . Bệnh
nhân đã từng được phẫu thuật sẽ ít lo lắng hơn những bệnh nhân chờ phẫu
thuật lần đầu tiên. Vì họ đã từng trải qua, hiểu và có kinh nghiệm về phẫu
thuật trước đó .
Mặt khác, một số biểu hiện tâm lý tiêu cực có thể xuất hiện là :


10

• Lo lắng thái quá, stress về bệnh tật và cuộc phẫu thuật. Bản thân họ
đang mang trong người một bệnh lý mạn tính nào đó và việc phải trải qua
cuộc phẫu thuật là quá sức đối với họ. Họ lo sợ về những rủi ro, về ảnh hưởng
không tốt của căn bệnh mạn tính đến ca PT. Hay một người đã trải qua PT,
phải chịu rất nhiều đau đớn và đặc biệt đã có những biến chứng sau PT thì
việc phải trải qua thêm một cuộc PT nữa là một điều kinh khủng đối với họ.
• Thờ ơ, không quan tâm, coi thường sức khỏe. Việc đã từng mắc
bệnh, từng phải phẫu thuật khiến bệnh nhân thấy quen thuộc với bệnh tật. Họ
không còn cảm giác lo lắng, họ phó mặc cho số phận.
1.4.7. Tình trạng đau của bệnh nhân trước phẫu thuật
Đau làm thay đổi trạng thái tâm lý và khả năng lao động của con người.

Nó làm giảm các chất lượng các hoạt động chú ý, tư duy, trí nhớ,.. Những cơn
đau trung bình (đau răng, đau do sẹo chai…) cũng làm cho người bệnh mất
vui, giảm tri giác thẩm mỹ và hoạt động sáng tạo. Những người phải chịu
đựng đau đớn kéo dài thường trở nên nóng nảy, thô bạo, lạnh nhạt, thậm chí
độc ác, không thích đùa, không hài lòng khi thấy người khác vui, thế giới nội
tâm và ý thức bị thu hẹp, có trường hợp dẫn đến trầm cảm điển hình với ý
định tự sát hoặc bị các rối loạn tâm thần khác. Ngay từ năm 1897, Tocarxki đã
viết: “Đau làm rối loạn quá trình tâm lý, mọi ý nghĩ dường như bị ngắt quãng
một thời gian ngắn và trong ý thức chỉ còn cảm giác đau rõ rệt nhất”.
Con người vật lộn với cơn đau và dùng tâm lý để khắc phục cơn đau.
Vỏ não đóng vai trò điều chỉnh cơ thể trong đấu tranh chống lại cơn đau theo
quy luật cảm ứng hưng phấn ưu thế. Trong lâm sàng phẫu thuật hàm mặt, vô
cảm bằng âm nhạc với âm thanh có cường độ lớn, có thể đạt kết quả 90%
trường hợp. Trong thực tế, có rất nhiều bằng chứng chứng minh khả năng dùng
tâm lý để khắc phục cơn đau một cách kỳ diệu. Vì vậy, người thầy thuốc cần
phải giúp người bệnh thoát khỏi sự đau đớn bằng thuốc và bằng tâm lý .


11

1.4.8. Tình trạng sức khỏe của bệnh nhân trước khi vào viện
Bệnh nặng hay nhẹ là một trong những vấn đề bệnh nhân lo lắng. Khi
chưa rõ tình trạng bệnh của bản thân, BN thường tự đi tìm hiểu qua các
bệnh nhân khác, qua NVYT hay qua các tài liệu tìm được. Nếu thông tin từ
những nguồn này không chính xác sẽ gây những lo âu không cần thiết cho
người bệnh.
Nếu nhẹ thì nỗi lo tất nhiên ít, nếu bệnh nặng, ác tính, khả năng tử vong
cao, thì tất nhiên lo lắng nhiều thậm chí tuyệt vọng. Bệnh nhân không phải là
người am hiểu về chuyên môn nên họ không phân biệt được bệnh nặng hay
nhẹ, chính trong hoàn cảnh đó bệnh nhân thường hay tìm hiểu ở NVYT, dò

hỏi bệnh nhân khác hay tìm đọc tài liệu chuyên môn .
1.4.9. Sự giải thích của nhân viên y tế
Khi vào viện bệnh nhân luôn mong muốn được nhân viên y tế giải thích
tư vấn cho họ và họ luôn có một lòng tin vào nhân viên y tế. Các yếu tố có thể
làm giảm lo lắng trước phẫu thuật liên quan đến việc cung cấp các thông tin
của nhân viên y tế. Như vậy, nhân viên y tế làm việc trong bệnh viện cung cấp
thông tin đầy đủ hay không sẽ liên quan đến sự lo âu cho bệnh nhân.
1.5. Đánh giá mức độ stress
Stress là một vấn đề phổ biến ở mọi người trong cuộc sống .Để giúp việc
chẩn đoán và điều trị những trường hợp stress, lo âu bệnh lý, các nhà nghiên cứu
đặc biệt là lĩnh vực tâm thần, tâm lý lâm sàng đã xây dựng rất nhiều thang đo
(trắc nghiệm) , chuẩn hóa và ứng dụng trong thực hành lâm sàng.
Thang đánh giá stress, lo âu và trầm cảm (DASS): Năm 1995,
Lovibond S. H và Lovibond P. F tại khoa tâm lý học đại học New South
Wales, Australia đã xây dựng nên thang đo đánh giá stress, lo âu và trầm
cảm ký hiệu là DASS – 42. Bên cạnh thang đo DASS – 42 còn có một
phiên bản rút gọn là DASS – 21 được xây dựng năm 1997. Tính phù hợp


12

của các tiểu mục trong mỗi phần ở cả 2 phiên bản DASS – 42 và DASS –
21 đều cao (Cronbach‟s Alpha của DASS – Trầm cảm là 0.96-0.97, của
DASS – Lo lắng là 0.84 – 0.92, của DASS – Căng thẳng là 0.90 –
0.95) [46]. Thang đo DASS 21 ở Việt Nam được chuẩn hóa trên đối
tượng là những phụ nữ ở miền Bắc Việt Nam với hệ số Cronbach‟s Alpha
khá cao DASS – Trầm cảm là 0,72, của DASS – Lo lắng là 0,77, của DASS
– Căng thẳng là 0,7 [52].
Các nội dung trong thang đo DASS 21 không có ý nghĩa chẩn đoán
phân biệt người bệnh như các triệu chứng trong các triệu chứng được đưa ra

trong hướng dẫn phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10 (ICD – 10), mà mục
đích của nó là đưa ra một thực trạng trong quần thể nghiên cứu, giúp cho
nhà quản lý nhân lực có được cái nhìn tổng quát về tình trạng stress, lo âu
và trầm cảm, từ đó có những chính sách cải thiện, nâng cao hiệu suất lao
động. Đây cũng là thang đo đồng thời đánh giá được ba loại rối loạn tâm
thần phổ biến stress, lo âu và trầm cảm. Đồng thời, thang đo này cũng
được sử dụng phổ biến khi đồng thời nghiên cứu cả ba loại rối loạn tâm
thần. Từ những lí do trên, thang đo DASS -21 đã được chọn sử dụng cho
nghiên cứu.
1.6 .Tình hình nghiên cứu lo âu, stress trước phẫu thuật
Một nghiên cứu về lo lắng trước phẫu thuật và các yếu tố liên quan trong
phẫu thuật giữa các người bệnh được tiến hành ở bệnh viện Debre Markos và
Felege Hiwot tại Northwest Ethiopia năm 2017. Nghiên cứu chỉ ra rằng 61%
(95% CI:55,5-65,7) bệnh nhân có mức độ lo lắng trước phẫu thuật cao. Yếu tố
được báo cáo phổ biến gây nên sự lo lắng trước phẫu thuật là sợ biến chứng
187(52,4%). Có một mức độ lo lắng trước phẫu thuật cao đáng kể ở bệnh
nhân nữ OR = 2.19(95% CI:1.29-3.71) và bệnh nhân thiếu thông tin trước
phẫu thuật OR = 2.03(95% CI: 1.22-3.33).


13

Một nghiên cứu khác về “Đánh giá sự lo lắng trước phẫu thuật và nỗi sợ
gây mê bằng cách sử dụng thang điểm APAIS” tại bệnh viện Istanbul Thổ Nhĩ
Kỳ năm 2017. Nghiên cứu đã chỉ ra mối tương quan có ý nghĩa giữa độ tuổi
và mong muốn được biết thêm thông tin. Họ thấy rằng bệnh nhân tuổi càng
cao mong muốn được biết thông tin càng giảm (r: 0,241; p= 0,001). Nghiên
cứu còn chỉ ra rằng bệnh nhân được gây mê toàn thân có điểm lo âu cao hơn
bệnh nhân được gây mê vùng . Có 25,3% bệnh nhân có nỗi sợ kim tiêm hay
sự can thiệp , 22,6% bệnh nhân lo lắng về đau trong phẫu thuật, 18,6% lo lắng

về việc bị tàn tật và 17,2 % lo lắng về nôn và buồn nôn sau phẫu thuật.
Trong một nghiên cứu tại bệnh viện Civil Karacli Parkistan, bệnh nhân
trải qua phẫu thuật có mức độ lo lắng cao, 56% bệnh nhân nghĩ rằng mức độ
lo lắng giảm xuống bằng cách giải thích kỹ càng rõ ràng về phương pháp
phẫu thuật và gây mê .
Tại Việt Nam, có khá nhiều nghiên cứu về lo âu trên bệnh nhân nội trú,
trên các bệnh nhân mắc các bệnh mạn tính. Như trong một nghiên cứu về lo
âu trên bệnh nhân suy thận mạn lọc máu có chu kỳ tại bệnh viện Bạch Mai
năm 2015, có 40,4% bệnh nhân lo âu; 40,9% bệnh nhân trầm cảm; 27,5%
bệnh nhân xuất hiện đồng thời lo âu và trầm cảm. Ở một nghiên cứu khác về
lo âu trầm cảm trên bệnh nhân ung thư vú tại bệnh viện K, bệnh viện Ung
bướu Hà Nội, trung tâm y học hạt nhân và ung bướu –bệnh viện Bạch Mai Hà
Nội, 28,8% bệnh nhân K vú có lo âu thực sự, 15,9% bệnh nhân K vú có trầm
cảm thực sự, 13,3% bệnh nhân vừa có lo âu vừa có trầm cảm.
Trong một nghiên cứu về lo âu trước mổ của bệnh nhân khoa Ngoại thần
kinh tại bệnh viện Chợ Rẫy, 17.89% bệnh nhân có trạng thái lo âu với tổng
điểm lo âu ( HADS-A) ≥11 và 17,57% có trạng thái trầm cảm với tổng điểm
trầm cảm (HADA-D) ≥ 11; nữ giới có mức độ lo âu cao hơn nam giới (P,
0,05); bệnh nhân có những đòi hỏi về thông tin tư vấn có mức độ lo âu và
trầm cảm cao hơn .


14

Một nghiên cứu khác tại khoa CTCH –hệ thống bệnh viện SAIGON-ITO
khảo sát 50 người bệnh từ 60 tuổi trở lên, người bệnh lo lắng hồi hộp trước
phẫu thuật chiếm 46% ; lo cuộc mổ không thành công là 34%; lo lắng giữa
nam và nữ không có gì khác biệt.
Nghiên cứu của tác giả Phạm Thành Luân năm 2014 tại bệnh viện đại
học Y Hà Nội tiến hành trên 517 bệnh nhân nhằm đánh giá tâm lý bệnh nhân

trước và sau phẫu thuật, kết quả cho thấy 49,1% bệnh nhân sợ rủi ro khi phẫu
thuật; 41,4 % bệnh nhân sợ đau; 38,7% sợ lâu khỏi bệnh…Nữ giới lo lắng
nhiều hơn nam giới, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê .
Như vậy, có thể thấy trên thế giới cũng như ở Việt Nam, nghiên cứu về
mức độ lo âu, stress của bệnh nhân ngoại khoa cũng chưa phổ biến, đặc biệt là
những nghiên cứu về trước phẫu thuật trên bệnh nhân thuộc nhóm chấn
thương. Chính vì vậy, việc khảo sát thực trạng lo âu cũng như các yếu tố liên
quan đến lo âu trước phẫu thuật là rất cần thiết để nâng cao hoạt động chăm
sóc sức khỏe cả về thể chất lẫn tinh thần cho bệnh nhân; nâng cao hiệu quả
điều trị và uy tín của bệnh viện đại học Y Hà Nội.


15

CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên các bệnh nhân phẫu thuật thuộc khoa
Chấn thương chỉnh hình và Y học thể thao có chỉ định phẫu thuật có kế hoạch
với các tiêu chuẩn sau:
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Các BN tự nguyện tham gia và nghiên cứu.
- BN chấn thương
- Tuổi > 18 tuổi.
- ASA I, II.
- BN biết đọc biết viết; đang chờ lịch mổ theo kế hoạch.
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân mổ cấp cứu
- Bệnh nhân lú lẫn; mất ý thức do bệnh lý
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.

- Bệnh nhân mắc các bệnh lý nhiễm trùng hoặc BN phải cắt cụt chi.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu: Theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể:

Trong đó:
n: là cỡ mẫu nghiên cứu


16

p = là tỷ lệ lo âu nghiên cứu trước đó ; p = 0,18
α: là sai số loại I, ước tính trong nghiên cứu = 0,05 với độ tin cậy là 95%.
Khi đó hệ số tin cậy Z1-α/2 = 1,96.
Δ: là độ chính xác mong muốn giữa mẫu và quần thể. Ước tính Δ = 0,05.
Thay vào công thức; ta tính được cỡ mẫu tối thiểu 226 bệnh nhân.
Trong nghiên cứu này ; chúng tôi dự định lấy 250 bệnh nhân.
Chọn mẫu: Sử dụng kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện.
Lựa chọn tất cả các bệnh nhân thuộc khoa CTCH và YHTT đồng ý
tham gia nghiên cứu và đáp ứng các tiêu chuẩn lựa chọn; tiêu chuẩn loại trừ
cho tới khi lấy đủ số bệnh nhân.
2.2.3. Các biến số, chỉ số thu thập trên đối tượng nghiên cứu
2.2.3.1. Các đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
 Thông tin cá nhân:
• Tuổi: tuổi của đối tượng nghiên cứu, tính bằng năm
• Giới: Nam hay nữ
• Trình độ học vấn: Phân chia theo các mức độ (không đi học; tiểu
học; trung học cơ sở; trung học phổ thông; đại học; sau đại học).

• Nghề nghiệp: Ghi nhận và chia các nhóm nghề nghiệp (học sinh,
sinh viên; nông dân; công nhân; viên chức; hưu trí; kinh doanh; nội trợ; thất
nghiệp; khác).
• Điều kiện kinh tế: khá giả; đủ, trung bình; khó khăn
 Thông tin về tình trạng bệnh:
• Tiền sử bệnh tật:
- Nội khoa: Có hoặc không.
- Ngoại khoa: đã từng phẫu thuật hoặc chưa từng phẫu thuật.
• Tình trạng đau của bệnh nhân: sử dụng thang điểm VAS để đánh giá


17

mức độ đau của bệnh nhân.
• Giải thích của nhân viên y tế:
- Trước khi nhân viên y tế giải thích
- Sau khi nhân viên y tế đã giải thích
2.2.2.2. Đặc điểm tâm lý lo âu trước phẫu thuật
2.3. Tiến hành nghiên cứu
2.3.1. Thu thập số liệu
• Phỏng vấn bệnh nhân theo bộ câu hỏi đã chuẩn bị trong phiếu điều tra.
2.3.2 Quy trình thu thập số liệu
- Xây dựng bộ câu hỏi dựa trên mục tiêu, biến số nghiên cứu.
- Điều tra thử 30 bệnh nhân và chỉnh sửa bộ câu hỏi điều tra cho phù
hợp, tiến hành in ấn.
- Phỏng vấn BN theo bộ câu hỏi.
- Thời điểm phỏng vấn: một ngày trước khi bệnh nhân phẫu thuật.
- Trước khi phỏng vấn, đối tượng được giải thích rõ về mục đích nghiên
cứu, xin ý kiến đồng ý tham gia và tiến hành phỏng vấn theo bộ câu hỏi.
- Thời gian lấy số liệu: Từ tháng 8/ 2019 đến tháng 4 /2020.

2.3.3 Xử lý và phân tích số liệu
- Số liệu được làm sạch trước khi nhập liệu.
- Số liệu được nhập vào máy tính bằng phần mềm EPI-DATA 3.1
- Phân tích số liệu dựa trên phần mềm STATA 12.0.
2.3.4 Đạo đức nghiên cứu:
Đây không phải là một nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng mà là nghiên
cứu nhằm phát hiện và mô tả thực trạng các rối loạn lo âu xuất hiện trên bệnh
nhân trước mổ có kế hoạch của bệnh nhân khoa CTCH và YHTT.
Nghiên cứu được sự chấp thuận của khoa CTCH và YHTT bệnh viện
Đại học Y Hà Nội và phù hợp với quy định hiện hành.
Bệnh nhân tự nguyện tham gia nghiên cứu, các thông tin cá nhân được


18

giữ bí mật.


19

CHƯƠNG 3
DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 3.1: Tuổi của đối tượng nghiên cứu
Nhóm tuổi

n

%

Nhận xét:

Bảng 3.2: Giới tính
Giới

n

%

Nam
Nữ
Nhận xét:
Bảng 3.3: Trình độ học vấn
Trình độ học vấn
Không đi học
Tiểu học
Trung học cơ sở
Phổ thông trung học
Đại học/ Sau đại học
Nhận xét:

n

%


×