Tải bản đầy đủ (.pdf) (60 trang)

ứng dụng thăm dò điện khảo sát sự cố

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.48 MB, 60 trang )

i

LỜI CẢM ƠN
Đồ án này là thành quả cuối cùng sau chuyến thực tập và nhiều giờ làm việc. Tuy nhiên
để hoàn thành tốt đồ án, em đã có sự giúp đỡ từ phía cán bộ hướng dẫn thực tế cũng như
giảng viên hướng dẫn trường. Với tình cảm chân thành, lòng biết ơn em xin dành những
lời đầu tiên cảm ơn các cá nhân, cơ quan, tổ chức đã hỗ hỗ trợ em hoàn thành đồ án tốt
nghiệp.
Đầu tiên, là lời cảm ơn gửi tới TS. Kiều Duy Thông, giảng viên trường Đại học Mỏ Địa
chất Hà Nội đã theo sát hỗ trợ quá trình em thực hiện đồ án. Thầy đã tận tình chỉ bảo, đưa
ra góp ý cũng như động viên tinh thần em ngay từ khi bắt đầu làm đồ án. Em cũng xin gửi
lời cảm ơn tới các thầy, cô thuộc Bộ môn Địa Vật lý, đã dành thời gian, bỏ ra kinh nghiệm
để hỗ trợ em về chuyên môn cũng như kĩ năng bổ trợ để việc hoàn thành đồ án thuận lợi
hơn.
Để đồ án có thể hoàn thiện đồ án, em bày tỏ lòng biết ơn đối với KS. Hà Văn Luật và
các anh thuộc Trung tâm thí nghiệm và Địa vật lý (PECC1) đã cung cấp đầy đủ các tài liệu
cần thiết, tận tình chỉ bảo và đưa ra những góp ý quý báu trong suốt quá trình chuẩn bị cho
đồ án này.
Cuối cùng em xin được gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo Trường Đại học Mỏ Địa chất
Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập và rèn luyện khi còn là sinh
viên của trường.
Sau thời gian làm việc nghiêm túc, cùng sự giúp đỡ của thầy, cô và tận dụng nguồn tài
liệu tham khảo hữu ích thì đồ án tốt nghiệp em đã hoàn thành. Tuy nhiên với giới hạn trình
độ chuyên môn, non yếu về kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những sai sót trong nội
dung, cách biểu đạt. Em rất mong nhận được sự thông cảm và góp ý chân thành từ thầy, cô
và các bạn đọc giả.
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Sinh viên

NGUYỄN MINH HOÀNG



ii

LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em dưới sự hướng dẫn của thầy
giáo, TS. Kiều Duy Thông. Tài liệu, được sửu dụng trong đồ án được cơ quan chủ quản
đồng ý, các số liệu hoàn toàn trung thực. Kết quả được chạy bởi các phần mềm miễn phí
hoặc có bản quyền rõ ràng.
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Sinh viên

NGUYỄN MINH HOÀNG


3

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................................... i
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................................ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT ........................................................ v
DANH MỤC HÌNH VẼ TRONG ĐỒ ÁN ...................................................................... vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU TRONG ĐỒ ÁN ......................................................viii
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
CHƯƠNG I: VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC KHẢO SÁT ..... 4
1.1 Vị trí địa lý ................................................................................................................. 4
1.2 Đặc điểm địa chất....................................................................................................... 4
1.2.1 Địa hình, địa mạo ................................................................................................ 4
1.2.2 Địa chất chung khu vực công trình Sông Bung 2 ................................................. 5
1.2.3 Các đứt gãy kiến tạo trong khu vực ..................................................................... 5
1.2.4 Đặc điểm địa chất thuỷ văn, địa chất công trình tuyến hầm dẫn nước, đường ống

áp lực. .......................................................................................................................... 6
1.2.4.1 Đặc điểm địa chất thuỷ văn ........................................................................... 6
1.2.4.2 Điều kiện địa chất công trình và hiện trạng bề mặt khu vực ĐÔAL .............. 7
1.3 Giả thuyết thấm nước ................................................................................................. 8
CHƯƠNG II: CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP ĐO ẢNH ĐIỆN 2D ......................................... 10
2.1 Cơ sở lí thuyết phương pháp đo ảnh điện 2D ............................................................ 10
2.2 Tổng quan về điện trở suất của đất, đá và nước ngầm............................................... 12
CHƯƠNG III: THIẾT BỊ VÀ THU THẬP SỐ LIỆU ..................................................... 13
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ VÀ ĐÁNH GIÁ ................................................................... 16
4.1 Kết quả..................................................................................................................... 16
4.1.1 Tuyến E7 ........................................................................................................... 16
4.1.2 Tuyến E6 ........................................................................................................... 17
4.1.2 Tuyến E5 ........................................................................................................... 18
4.2 Đánh giá................................................................................................................... 23


4
Độ tin cậy của kết quả giải ngược bởi phần mềm Res2dinv ........................................ 23
KẾT LUẬN ................................................................................................................... 36
Tài liệu tham khảo ......................................................................................................... 37
PHỤ LỤC ...................................................................................................................... 38


v

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
STT
1

2

3

TÊN ĐẦY ĐỦ
Công ty Cổ phần
Tư vấn và Xây
dựng Điện 1
Công ty Cổ phần
Tư vấn và Xây
dựng Điện 3
Đường ống áp lực

THAY THẾ BỞI
PECC1

PECC3
ĐÔAL

GHI CHÚ


vi

DANH MỤC HÌNH VẼ TRONG ĐỒ ÁN

STT SỐ HÌNH
VẼ
1
1
2
2

3
3
4
4
5

5

6

6

7

7a

8

7b

9

7c

10

8a

11


8b

12

8c

13

9a

14

9b

15

9c

16

10

17

11

18

12


19

13

20

14

TÊN HÌNH VẼ

TRANG

Vị trí tuyến đập
Bố trí điện cực trong đo ảnh điện
Các hệ cực trong đo ảnh điện
Sơ đồ đấu nối trạm đo và các điện cực
Bố trí tự động các khối vuông góc được sử dụng
trong mô hình cùng với các điểm dữ liệu trên một
mặt cắt ảo điện trở suất
Minh họa cho 01 mặt cắt ảo điện trở suất quan sát và
tính toán, cùng với mô hình thu được bởi chương
trình giải ngược
Mô hình giải ngược tuyến E7 trong trường hợp
đường hầm và ĐÔAL chưa có nước
Mô hình giải ngược tuyến E7 trong trường hợp
đường hầm và ĐÔAL có nước
Lát cắt thể hiện thay đổi điện trở suất của mô hình
trước và sau khi có nước trong đường hầm và ĐÔAL
Mô hình giải ngược tuyến E6 trong trường hợp
đường hầm và ĐÔAL chưa có nước

Mô hình giải ngược tuyến E6 trong trường hợp
đường hầm và ĐÔAL có nước
Lát cắt thể hiện thay đổi điện trở suất của mô hình
trước và sau khi có nước trong đường hầm và ĐÔAL
Mô hình giải ngược tuyến E5 trong trường hợp
đường hầm và ĐÔAL chưa có nước
Mô hình giải ngược tuyến E5 trong trường hợp
đường hầm và ĐÔAL có nước
Lát cắt thể hiện thay đổi điện trở suất của mô hình
trước và sau khi có nước trong đường hầm và ĐÔAL
Lát cắt giải ngược và lát cắt sai số tuyến E7 khi có
nước trong đường hầm và ĐÔAL
Lát cắt giải ngược (trên) và lát cắt sai số (dưới) tuyến
E7 khi đường hầm và ĐÔAL không nước
Lát cắt giải ngược và lát cắt sai số tuyến E6 khi
đường hầm và ĐÔAL không có nước
Lát cắt giải ngược và lát cắt sai số tuyến E6 khi
đường hầm và ĐÔAL có nước
Lát cắt giải ngược và lát cắt sai sô tuyến E5 khi
đường hầm và ĐÔAL chưa có nước.

4
10
11
14
15

15
20
20

20
21
21
21
22
22
22
26
29
30
31
32


vii

21

15

22
23
24
25
26

16
17
18
19


27

21

28

22

29

23

30

24

31

25

32

26

33
34

27
28


20

Lát cắt giải ngược và lát cắt sai sô tuyến E5 khi
đường hầm và ĐÔAL có nước
Máy SYSCAL Junior Switch 48 và các phụ kiện
Hình ảnh thực địa của tổ thi công
Hình ảnh thực địa của tổ thi công
Hình ảnh thực địa của tổ thi công
Sơ đồ bố trí tuyến đo địa vật lý.
Mô hình giải ngược tuyến E5 khi đường hầm và
ĐÔAL không có nước.
Mô hình giải ngược tuyến E5 khi đường hầm và
ĐÔAL có nước
Mô hình giải ngược tuyến E6 khi đường hầm và
ĐÔAL không có nước
Mô hình giải ngược tuyến E6 khi đường hầm và
ĐÔAL có nước
Mô hình giải ngược tuyến E7 khi đường hầm và
ĐÔAL không có nước
Mô hình giải ngược tuyến E7 khi đường hầm và
ĐÔAL có nước
Tài liệu lỗ khoan QT5A
Tài liệu lỗ khoan QT11

33
39
40
40
40

42
45
46
47

48
49
50
51
52


viii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU TRONG ĐỒ ÁN

STT

SỐ HIỆU
BẢNG

1

1

Lưu lượng nước chảy qua các lỗ thoát nước

6, 7

2


2

Khối lượng chi tiết công việc ngoài thực địa

41

3

3

Tổng hợp kết quả đo địa vật lý trên các tuyến đo

43

4

4

Tham số điện trở suất đặc trưng của các đới đất, đá
vùng nghiên cứu

44

TÊN BẢNG

TRANG


1


MỞ ĐẦU
Trong sự phát triển kinh tế đất nước sau hơn 30 năm đổi mới, thủy điện đóng vai trò vô
cùng to lớn, là một cấu phần quan trọng của ngành điện đảm bảo cung ứng điện cho quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế. Và theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh, đến năm 2020, tổng
công suất các nguồn thủy điện sẽ đạt khoảng 21.600MW; khoảng 24.600MW vào năm
2025 và 27.800MW vào năm 2030. Điện năng sản xuất từ nguồn thủy điện chiếm tỷ trọng
tương ứng là 29,5-20,5% và 15,5%. Như vậy, có thể nói, đến thời điểm hiện tại và cả tương
lai gần, thủy điện vẫn là 1 trong 3 nguồn năng lượng chính đáp ứng nhu cầu điện quốc
gia.[5]
Thủy điện Sông Bung 2 là công trình thủy điện cấp II loại dùng đường dẫn. Dung tích
hồ chứa 94,3 triệu m3, diện tích mặt hồ 2,9 km2, độ dài đường hầm 9.091 m. Công trình
thuộc hệ thống thủy điện bậc thang sông Vu Gia - Thu Bồn, nằm trên thượng nguồn sông
Bung, xã Laê và xã Zuôih, thuộc 2 huyện Nam Giang và Tây Giang (Quảng Nam). Công
suất lắp máy 100 MW, sản lượng điện 425,57 triệu kWh/năm.[3]
Vừa qua công trình thuỷ điện Sông Bung 2 thuộc tỉnh Quảng Nam đã xảy ra sự cố trong
lúc vận hành. Sau sự cố sạt trượt trạm phân phối cuối 2013, EVN đã cho đánh giá tổng thể
khu đường ống áp lực và nhà máy. Toàn bộ quá trình xử lý được thi công và hoàn thành
cuối năm 2015, trải qua mùa mưa lũ 2015, 2016 khu tuyến đường ống áp lực không có bất
thường. Tuy nhiên từ mùa khô năm 2017, công tác nạp nước đường hầm và đường ống áp
lực được thực hiện lại luôn gặp tình trạng rò nước khu vực đường ống áp lực, đồng thời
xuất hiện một số vệt nứt nhỏ quanh mố néo 2. Chủ đầu tư đã đóng cửa van và xả tháo cạn
đường hầm dẫn nước, tiến hành xử lý. Tuy nhiên khi tiến hành nạp nước đường ông áp lực
sau đó, trong lúc máy chạy tiếp tục xuất hiện thấm từ trong hầm ra khu vực đường ống áp
lực.[3]
Công ty Cổ phần Tư vấn và Xây dựng Điện 1 (PECC1) đã lập ra đề án khảo sát phục vụ
đánh giá tổng thể điều kiện địa chất, địa chất công trình và đề xuất giải pháp xử lý thấm từ
hầm dẫn nước, ổn định tuyến đường ống áp lực. Trong đó có công tác khảo sát địa vật lý,
nhằm thu thập các thông tin địa vật lý- địa chất, góp phần làm sáng tỏ các điều kiện địa
chất công trình, địa chất thuỷ văn thuộc khu vực tuyến đường ống áp lực (ĐÔAL).[2]

Sau khi kết thúc chương trình đạo tạo đại học chuyên ngành Địa vật lý, được sự đồng ý
của Ban giám hiệu trường Đại học Mỏ-Địa chất, Bộ môn Địa vật lý, khoa Dầu khí em được
giới thiệu thực tập tại Trung tâm Thí nghiệm và Địa Vật lý, thuộc công ty cổ phần Tư vấn
và Xây dựng Điện 1 (PECC1). Sau khi kết thúc quá trình thực tập, dựa trên những tài liệu


2
thu thập được, dưới sự chỉ bảo của người hướng dẫn, em đã hoàn thành đồ án tốt nghiệp
với đề tài: “Áp dụng đo ảnh điện 2D đánh giá khả năng ngấm nước đường ống áp lực
công trình thuỷ điện Sông Bung 2, tỉnh Quảng Nam”.
Mục tiêu của đồ án:
-Xử lý tài liệu điện 2D trước và sau khi bơm nước, đánh giá sai số của quá trình xử
lý để đánh giá mức độ tin cậy của quá trình xử lý tài liệu.
-So sánh kết quả xử lý giữa hai lần đo để xác định các đới có khả năng ngấm nước.
-Tính mức độ sai lệch giữa số liệu đo được với số liệu tính toán từ mô hình giải ngược.
Trong đồ án sử dụng các tài liệu điện 2D là các mô hình giải ngược địa vật lý. Các mô
hình là kết quả của chương trình giải ngược được thực hiện trên hệ thống máy tính điện tử,
trên cơ sở các thuật toán được viết sẵn. Các mô hình giải ngược luôn mang một sai số, đại
diện cho mức độ chênh lệch giữa số liệu đo được và số liệu tính toán từ mô hình giải ngược.
Sai số này là RMS- sai số trung bình bình phương. Sai số được tính trên toàn bộ mô hình.
Nó được tính toán dựa trên toàn bộ 2 mảng số liệu đo đạc và số liệu tính toán. Việc giải
bài toán ngược luôn đa trị nên kết quả có thể thay đổi sau mỗi lần giải ngược (lần lặp) khác
nhau. Khi quyết định chọn mô hình giải ngược để minh giải, người ta thường chọn mô hình
của lần lặp nào mà kể từ đó sai số RMS thấp nhất hoặc không thay đổi nữa. Đại lượng này
được tính bởi chương trình giải ngược và trình bày trong tập tin kết quả.
Mô hình giải ngược được lựa chọn theo giá trị RMS chưa chắc đã phản ánh sát nhất
thông tin bên dưới bề mặt. Với từng nhiệm vụ cụ thể sẽ quan tâm đối tượng khác nhau. Sai
số RMS chỉ mang giá trị trung bình toàn mô hình. Điều này có nghĩa là tại từng vị trí xác
định trên mô hình mức sai lệch giữa số liệu đo và tính toán cũng khác nhau. Mức độ đáng
tin cậy của một mô hình giải ngược dựa trên giá trị sai số tại vị trí xuất hiện đối tượng quan

tâm. Việc tính sai số chi tiết đòi hỏi tính sai lệch giữa tại từng điểm số liệu. Việc tính toán
này phần mềm giải ngược không thực hiện, người dùng phải tự làm nhưng thời gian cũng
ngắn.
Đồ án có 4 chương chính:
Chương I : Vị trí địa lý và đặc điểm địa chất khu vực khảo sát.
Chương II : Cơ sở phương pháp đo ảnh điện 2D
Chương III: Thiết bị và thu thập số liệu


3
Chương IV: Kết quả và đánh giá tài liệu
Toàn bộ quá trình làm việc, thu thập tài liệu cho đến xử lý, minh giải kết quả cũng như
các đóng góp mới được trình bày trong 4 chương. Một số hình ảnh, bảng biểu minh họa
cho nội dung của đồ án được trình bày ở Phụ lục. Em hi vọng đồ án sẽ truyền tải được toàn
bộ thành quả, ý nghĩa của đề tài.
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Sinh viên

NGUYỄN MINH HOÀNG


4

CHƯƠNG I: VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC KHẢO
SÁT
1.1 Vị trí địa lý
Công trình Sông Bung 2 nằm trên vùng đất huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam. Đây là
huyện có diện tích lớn nhất tỉnh Quảng Nam. Phía Bắc giáp huyện Đông Giang, phía Tây
giáp CHDCND Lào với chiều dài biên giới khoảng 70 km, phía Nam giáp huyện Phước
Sơn. Tuyến đập có tọa độ địa lý 1541’45’’ vĩ Bắc, 10724’00’’ kinh Đông (Hình 1).


Hình 1 Vị trí tuyến đập. Tuyến khảo sát thuộc khu vực tuyến đập của nhà máy.
1.2 Đặc điểm địa chất
Theo tài liệu báo cáo giai đoạn TKKT (PECC3), đặc điểm địa hình địa mạo, cấu trúc
kiến tạo, đặc điểm kiến tạo trong khu vực, như sau:
1.2.1 Địa hình, địa mạo
Dòng sông Bung bắt nguồn từ biên giới Việt Lào chảy chủ yếu theo hướng Bắc–Nam
đến hạ lưu tuyến đập Sông Bung 2 khoảng 10km, dòng sông chuyển hướng sang Tây –
Đông dài khoảng 5km, sau đó theo hướng TN – ĐB kéo dài khoảng 12km đến đuôi hồ thủy
điện Sông Bung 4.
Lòng sông Bung rộng dưới 30m, 02 bờ sông dốc, lòng sông và 2 vách bờ có lộ đá gốc.
Cao hơn là bề mặt sườn núi dốc 25 – 30o đến 35 – 45o, thảm thực vật phủ kín. Cách hạ lưu
nhà máy 2km có trầm đọng cát, sỏi thành các bãi bồi hẹp, chiều dài 200 – 300m, hình thành
tại các đoạn sông uốn khúc.


5
02 bên bờ sông Bung có nhiều suối nhỏ chảy vào, có hướng gần như vuông góc với sông
Bung. Bề mặt san bằng ở độ cao 800 – 900m, rộng 9 - 10km, kẹp giữa 2 đoạn uốn khúc
của sông Bung là bề mặt đỉnh núi của tuyến hầm dẫn nước. Trên bề mặt này bị phân cắt
mạnh bởi hệ thống suối dày đặc.
1.2.2 Địa chất chung khu vực công trình Sông Bung 2
Khu vực tiến hành khảo sát nằm trong địa khối Sông Bung thuộc khối nhô Kon Tum,
được xem là khối nhô móng kết tinh của Tiền Cambri.[2] Phân chia các hệ tầng như sau:
GIỚI PROTEROZOI THƯỢNG
Hệ tầng Núi Vú – phân hệ tầng dưới (PR3nv1)
Gồm các thành tạo thuộc phần thấp của hệ tầng Núi Vú (PR3nv1) với thành phần chủ yếu
là đá phiến thạch anh – artinolit, thạch anh – biotit, thạch anh – mica vv… Thành tạo này
phân bố ở khu giữa tuyến năng lượng.
Hệ tầng Núi Vú – phân hệ tầng giữa (PR3nv2)

Trong phạm vi nghiên cứu chỉ phân bố trong phạm vi vùng hồ và khu vực tuyến đập.
Thành phần của tổ hợp chủ yếu là đá phiến thạch anh – sericit – canxit, phiến thạch anh –
sericit – clorit Xen ít lớp mỏng đá phiến giàu vật chất than.
Các thành tạo xâm nhập macma:
Phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn
Phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn có diện lộ khoảng 15km2, phân bố ở cả vùng lòng hồ, hầm
dẫn nước và tuyến đường ống áp lực. Tổ hợp thành tạo đá chủ yếu là điorit, granođiorit và
granit.
Nửa cuối của hầm dẫn nước cắt qua diện lộ đá granođiorit (δPZ3bg-qs2), kiến trúc hạt
vừa - lớn, cấu tạo định hướng yếu.
Các đá granit (PZ3bg-qs3) Xuất hiện ở khu vực đường ống áp lực và nhà máy.
Các thành tạo đá phức hệ Bến Giằng – Quế Sơn xuyên cắt và có dạng vây quanh bắt tù
các đá biến chất của móng Tiền Cambri - hệ tầng Núi Vú.
1.2.3 Các đứt gãy kiến tạo trong khu vực
Công trình thủy điện Sông Bung 2 nằm trong khối cấu trúc kiến tạo được giới hạn bởi
các đứt gãy:
 Phía Đông Bắc là đứt gãy bậc II Rào Quán – A Lưới (đứt gãy Trường Sơn);
 Phía Đông là đứt gãy bậc III Đak Krabat;


6
 Phía Nam là đứt gãy bậc III sông Bung;
 Phía Tây là đứt gãy bậc III Tam A put.
Trong 4 đứt gãy trên có đứt gãy Rào Quán - A Lưới và đứt gãy Đak Krabat là có khả
năng phát sinh động đất. Khu vực tuyến đập cách đứt gãy Đak Krabat khoảng 3km.
Ngoài các đứt gẫy lớn kể trên, khu vực tuyến hầm dẫn nước, đường ống áp lực và nhà
máy, tồn tại một hệ thống các đứt gẫy bậc IV và bậc V. Trong đó, các đứt gãy IV-30, IV31, IV32, IV35 IV-54, IV-61 và V-10 là các đứt gẫy được cho là cần nghiên cứu chi tiết
hơn.[2]
1.2.4 Đặc điểm địa chất thuỷ văn, địa chất công trình tuyến hầm dẫn nước, đường
ống áp lực.

1.2.4.1 Đặc điểm địa chất thuỷ văn
Theo đặc điểm vận động, nước dưới đất chia làm 2 loại: Nước lỗ rỗng aluvi đệ tứ và
nước lỗ rỗng – khe nứt trong đất đá hệ tầng Núi Vú và phức hệ đá xâm nhập.
Thông thường, có thể xem tầng chứa nước là tầng đất eluvi, còn đá gốc nguyên khối là
một tầng cách nước.
Khu vực tuyến đường ống áp lực và nhà máy có: tầng chứa nước trong đới nứt nẻ của đá
phiến thạch anh hệ tầng Núi Vú và trong đới nứt nẻ các đá xâm nhập tuyến hầm dẫn nước
và nhà máy.
Nước dưới đất được chứa và vận động trong các đới phong hóa, nứt nẻ của đá granodiorit,
granit ở độ sâu 7,5-35,0m, có thể nằm ở đáy đới IA2 hoặc trong đới IB (tham khảo Phụ
lục). Về mùa mưa mực nước được dâng lên 2 – 15m so với mùa khô.
Hiện trạng các lỗ thoát nước tại ĐÔAL trước và sau khi đường hầm và ĐÔAL chứa nước
được trình bày ở bảng 1.

STT

Số hiệu lỗ
thoát nước

Vị trí theo
ĐÔAL

1
2
3
4
5
6
7
8


10
P1
P2
P3
1C
2B
1B
BS2

Sườn phải
Sườn phải
Sườn phải
Sườn phải
Sườn trái
Sườn phải
Sườn trái
Sườn trái

Ngày quan trắc, lưu lượng (lít/s)
6-11
1.4
2.1
0.96
4.6
1.1
0.2
Khô
0.01


7-11
1.2
2.1
0.96
4.6
1.7
0.17
0.1
0.6

8-11
1.4
2.5
1.1
4.7
1.84
0.2
0.35
1.1

9-11
1.3
2.5
1.1
4.7
1.4
0.28
0.6
1.1


10-11
1.8
3.9
0.92
5.4
2.3
0.33
0.9
2


7
9
10
11
12
13

BS1
2A
4
5
BS6

Sườn phải
Sườn phải
Sườn phải
Sườn phải
Sườn phải


Khô
Khô
Khô
Khô
Khô

Khô
Khô
Khô
Khô
Khô

0.01
Khô
Khô
Khô
Khô

0.07
Khô
0.04
Khô
0.03

0.2
0.01

0.1

Bảng 1:Lưu lượng nước chảy qua các lỗ thoát nước. Nguồn số liệu thực địa của Công ty

cổ phần Tư vấn và Xây dựng Điện 3 (PECC3)
- Giai đoạn trước tháng 11 khi đường hầm và ĐÔAL không chứa nước, cho thấy:
Trước ngày 01/11 có 4 lỗ thoát nước có nước chảy ra là 10, P1, P2, P3.
Tại gần vị trí QT6 có lỗ thoát nước 10, P1, P2, P3 ở sườn phải luôn luôn có nước chảy ra
với lưu lượng tương đối lớn và ổn định (vị trí, số hiệu, ngày phát hiện xuất lộ nước của các
lỗ thoát nước xem Sơ đồ bố trí tuyến, vị trí dị thường địa vật lý).
- Giai đoạn sau tháng 11 khi đường hầm và ĐÔAL chứa nước, cho thấy:
Ngày 05/11 Xuất hiện 2 lỗ thoát nước có nước chảy ra là 1C và 2B.
Ngày 07/11 Xuất hiện 2 lỗ thoát nước có nước chảy ra là 1B và BS2, 2 vị trí này đều nằm
bên sườn trái của ĐÔAL.
Ngày 11/11 Xuất hiện thêm 5 lỗ thoát nước có nước chảy ra là BS1, 2A, 4, 5, BS6, 5 vị trí
này đều nằm bên sườn phải của ĐÔAL.
1.2.4.2 Điều kiện địa chất công trình và hiện trạng bề mặt khu vực đường ống áp lực
Do ảnh hưởng của các trận mưa lớn kéo dài, tháng 8, 9, 10 năm 2013, trong khu vực
tuyến đường ống áp lực và nhà máy, đã xảy ra một số hiện tượng trượt lở:
- Khoảng 4h30’ ngày 14/10/2013 xảy ra hiện tượng sạt trượt nhanh (trong vòng 1 phút)
khu vực trạm phân phối điện, từ bề mặt cao trình khoảng 400m trượt xuống làm lấp toàn
bộ hố móng và trôi xuống lòng sông Bung.
- Ngày 19 tháng 10 năm 2017, thực hiện công tác nạp nước đường hầm và đường ống áp
lực, đến ngày 31/10/2017 xuất hiện nước rò ra nền đường ống áp lực, lưu lượng nước tăng
theo áp lực trong hầm dẫn nước, đồng thời xuất hiện một số vết nứt nhỏ quanh vị trí mố
néo 2. [2] Lượng nước rò ra chắc chắn từ lượng nước được bơm về, áp lực nước gây ra vết
nứt.
Kết quả khảo sát bổ sung đã xác định được dị thường địa chất, địa tầng có lớp đất sâu 15
– 20m thuộc phạm vi mố néo MN2 đến MN3.


8
1.3 Giả thuyết thấm nước
Giả thuyết về thấm nước từ đường hầm theo các đứt gãy và về tuyến đường ống áp lực:[2]

Trong hầm dẫn nước khoảng 1km từ khu vực gần cửa ra hầm đã được Xử lý chống thấm
(giai đoạn 1) bằng lắp van 1 chiều, sơn chống thấm…Tuy nhiên, không ngăn được toàn bộ
nước thấm ra ngoài.
Một trong những yếu tố quan trọng quyết định điều kiện thấm nước là khe hở (các đứt
gãy, các hệ khe nứt liên thông với nhau), dòng vận động của nước chỉ theo các khe hình
thành dòng thấm.
Trên cơ sở phân tích kết quả đo mực nước ngầm trong tháng 06/2018, cho thấy:
Mực nước ngầm ở QT17 cao hơn mực nước ngầm tại QT10A, nếu thấm theo vùng và
dọc tim hầm ra thì mực nước ngầm QT10A phải lớn hơn QT17. Do đó, ở đây phải có một
nguồn nước nào đó cung cấp nước cho QT17, dẫn đến mực nước ngầm QT17 cao hơn
QT10A.
Trên cơ sở phân tích hệ thống khe nứt, đứt gãy cắt qua hầm và khu vực đường ống áp
lực, cho thấy:
- Nước thấm từ đường hầm về đường ống áp lực là thông qua hệ thống đứt gãy và khe
nứt thoải, có hướng đổ về đường ống áp lực.
- Đặc điểm đứt gãy cắt qua hầm là các đứt gãy có góc dốc 75-800, là nguồn dẫn nước cho
các đứt gãy khác có phương chéo dọc tim hầm hoặc các đứt gãy giao nhau.
- Trên cơ sở thế nằm các đứt gãy cho thấy chỉ có 2 đứt gãy IV-54 và IV- 61 là giao cắt
với gần như toàn bộ các đứt gãy đi qua hầm, nên nhận định đây có khả năng là các đứt gãy
dẫn đến liên thông các đứt gãy khác và cấp nước về nền đường ống áp lực.
Sơ đồ hướng thấm chính được nhận định: Hầm => Các đứt gãy dốc đứng => đứt gãy IV54, IV-61 => đứt gãy IV-31, IV-30 => đứt gãy V-10 và đổ về nền đường ống áp lực.
1.4 Lựa chọn phương pháp khảo sát
Việc xác định phạm vi các đới đất, đá nằm dưới lòng đất có khả năng chứa nước và cấp
nước cho dòng thấm ra hạ lưu ĐÔAL công trình Sông Bung 2 là một vấn đề rất phức tạp,
khó khăn; trước đó đã sử dụng phương pháp khoan khảo sát với khối lượng khá lớn tuy
nhiên vẫn chưa khẳng định được. Vì tài liệu khoan cho kết quả chính xác ở phạm vi hẹp,
lân cận hố khoan theo chiều thẳng đứng; còn theo chiều ngang và ở các vùng xa hơn đường
kính hố khoan các điều kiện địa chất vẫn là điều bí ẩn.



9
Để có được thông tin ở vùng xa hơn đường kính hố khoan và cơ sở số liệu minh giải
chứng minh cho giả thuyết thấm nước nêu trên, phương pháp thăm dò điện trở suất đã được
sử dụng nhằm đưa ra hình ảnh mặt cắt địa điện dọc tuyến khảo sát, phục vụ cho việc tìm
kiếm, phát hiện các đới đất đá có điện trở suất thấp (ứng với vùng có khả năng chứa nước)
và các đới đất đá có điện trở suất cao (ứng với vùng không chứa nước) ở khu vực lân cận
ĐÔAL. Từ đó, nhà thiết kế có các giải pháp phù hợp tăng cường sự ổn định lâu dài cho
mái dốc đường ống áp lực.


10

CHƯƠNG II: CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP ĐO ẢNH ĐIỆN 2D
Để khảo sát điều kiện địa chất nằm dưới mặt đất có nhiều lựa chọn phương pháp địa vật
lý thăm dò như điện, địa chấn, karota, trọng lực, từ. Mỗi phương pháp có đặc tính riêng
phù hợp với điều kiện cụ thể. Đối tượng ở đây là đới chứa nước, đới nứt nẻ hay đất yếu
bên dưới bề mặt tuyến khảo sát. Các đới chứa nước có điện trở suất thấp; các đới nứt nẻ,
dập vỡ không chứa nước hay các đá gốc điện trở suất cao, sự xuất hiện của chúng gây ra
bất đồng nhất giá trị điện trở suất. Những sự thay đổi giá trị điện trở suất biểu kiến diễn ra
theo cả chiều dài tuyến và chiều sâu khảo sát. Vậy nên phương pháp thăm dò điện trở, đặc
biệt là đo ảnh điện 2D là lựa chọn tối ưu cho nhiệm vụ. Đo ảnh điện 2D có độ phân giải
cao và tính định xứ tốt, khai thác hiệu quả thông tin bất đồng nhất về điện trở suất biểu
kiến dưới bề mặt, lại đồng thời khảo sát theo cả chiều sâu và chiều dài, đây là điểm nổi trội
hơn các phương pháp đo 1D. Quy trình 3D cho thông tin chi tiết về phân bố không gian
đối tượng bên dưới nhưng khối lượng thi công lớn, chi phí đắt đỏ nên thường sử dụng trong
khảo cổ hoặc thăm dò khoáng sản giá trị kinh tế cao.
2.1 Cơ sở lí thuyết phương pháp đo ảnh điện 2D
Phương pháp đo ảnh điện 2D thuộc phân nhóm phương pháp thăm dò điện trở, tên gọi
khác là đo sâu điện 2D (phân biệt với các kiểu đo sâu đối xứng, VES, đo mặt cắt). Phương
pháp đo sâu điện 2D khảo sát điện trở suất biểu kiến theo cả chiều ngang và chiều sâu

ρk(x,z), bằng cách mở rộng kích thước hệ cực với bội số là cấp số cộng của MN = a, để
khảo sát lát cắt địa điện hai chiều ρ=ρ(x,z).[1]
Khi đo sâu điện 2D các điện cực (phát và thu) được đóng đồng thời trên tuyến (hình 2)
nên phương pháp này còn có tên gọi là phương pháp đo sâu điện đa cực. Phương pháp này
có độ phân giải cao và tính định xứ tốt phản ánh trung thực lát cắt địa điện – nguồn gốc tên
gọi phương pháp đo ảnh điện (ảnh cắt lớp vào đất đá). Trong đồ án, em sẽ sử dụng tên gọi
đo ảnh điện.
Trên các tuyến đo, các cực thu, phát được bố trí trên mạng lưới cách đều một khoảng a,
tạo thành các mảng điện cực (hình 2)

Hình 2 Bố trí điện cực trong đo ảnh điện


11
Nếu có cáp chuyên dụng có thể đo sâu đồng thời theo các hệ cực: Cực thế (pole-pole),
3 cực (pole-dipole), lưỡng cực (dipole-dipole), 4 cực đối Xa Wenner-Schlumberger (WS). Khi tăng kích thước hệ cực đều tăng theo cấp số cộng là bội số của a (hình 3)

Hình 3 Các hệ cực trong đo ảnh điện
Trong thực tế thường chỉ đo W-S, dipole- dipole vì các phương pháp này có độ phân giải
cao. Vị trí tương đối của các điện cực phát và thu trong mảng được điều khiển bởi phần
mềm thiết lập sẵn trong máy đo. Các số liệu đo đạc được tự động ghi nhận và lưu trữ vào
ổ cứng của máy. Số liệu được chuyển qua máy tính ở dạng file số liệu. Các số liệu này
được xử lý bằng phần mềm Res2dinv đưa ra mặt cắt ảnh điện dọc tuyến khảo sát. Cơ sở
lý thuyết chi tiết được trình bày trong sách hướng dẫn sử dụng phần mềm (Tutorial: 2-D
electrical imaging surveý, by Dr. M.H.Loke, Copyright 2001, 2004, 2010, 2012).
Phương thức nghịch đảo số liệu 2D để đưa ra mặt cắt ảnh điện dựa trên phương pháp
bình phương nhỏ nhất (deGroot-Hedlin và Constable 1990, Sasaki 1992), biểu diễn bởi
phương trình (2.1):
(𝐉 𝐓 𝐉 + 𝑢𝐅)𝐝 = 𝐉 𝐓 𝐠
với:


(2.1)

𝐅 = 𝐟𝐱 𝐟𝐱𝐓 + 𝐟𝐳 𝐟𝐳𝐓

Trong đó
fx = bộ lọc phẳng ngang;
fz = bộ lọc phẳng dọc;
J = ma trận đạo hàm riêng (matrix of partial)
u = hệ số giảm xóc (damping factor)
d = véc tơ mô hình nhiễu loạn (model perturbation vector)
g = vectơ sai lệch (discrepancy vector)
Trong đồ án sử dụng tài liệu khi sử dụng hệ 4 cực đối Xa Wenner- Schlumberger (W-S)
AnaMaNnaB. Với n=1, ta có hệ cực Wenner, sau đó n=2,3,…8 là hệ cực Schlumberger.


12
Hệ số thiết bị K và chiều sâu nghiên cứu Z theo công thức 2.2:
K=πan(n+1)

(2.2)

Zn=anLn=an.na
Với - αn là hệ số thấm sâu của hệ cực
-Ln là độ dài của hệ cực
Đặc điểm của phương
2.2 Tổng quan về điện trở suất của đất, đá và nước ngầm
Tính chất điện trở của đất đá phụ thuộc vào điều kiện địa lý, địa chất nơi mà ở đó chúng
tồn tại. Điều kiện địa lý, địa chất thay đổi, tính chất điện trở của đá cũng thay đổi theo, tùy
thuộc độ ẩm, độ bão hòa nước dưới đất, nhiệt độ, áp suất và thành phần khoáng hóa. Ví dụ:

điện trở suất của cát bão hòa nước chỉ cỡ vài Ωm, nhưng cát khô nằm trên mực nước ngầm
có điện trở thể lên tới hàng nghìn Ωm. Đá cứng chắc chứa khoáng vật không
dẫn điện (như: thạch anh, fenspat …) có điện trở suất lên tới hàng nghìn Ωm; ngược lại, đá
cứng chắc chứa khoáng vật dẫn điện (như: đồng, vàng hoặc pirit, chancopirit…) phụ thuộc
vào hàm lượng các khoáng vật này trong đá, điện trở thay đổi từ vài Ωm đến hàng chục
Ωm. Đá cứng chắc, tương đối bảo toàn (không chứa nước) điện trở suất cao, từ vài trăm
đến hàng nghìn Ωm, đá cùng thành phần nhưng bị nứt nẻ và chứa nước, thì điện trở suất
có thể giảm xuống còn vài chục Ωm. Như vậy, cho thấy điện trở suất của đá phụ thuộc vào
điều kiện địa chất cụ thể.
Nước ngầm trong lòng đất, được hiểu là dung dịch chứa nhiều thành phần khoáng hóa
có điện trở suất thấp (khoảng 100 Ωm hoặc nhỏ hơn). Khi nước tích tụ ở một vùng hay đới
đất, đá nào đó thì nó sẽ làm cho điện trở suất của khối đó giảm. Đới đất, đá không chứa
nước thường có điện trở suất cao hơn khi chúng chứa nước. Kết quả đo ảnh điện 2D đưa
ra bức tranh phân bố các lớp đất, đá có điện trở suất lớn và nhỏ khác nhau. Dựa vào đó,
người ta có thể chỉ ra những vùng có khả năng chứa nước và không chứa nước.
Nước ngầm di chuyển trong các đới đất, đá phong hóa, nứt nẻ luôn có xu hướng tìm đến
nơi có đường dễ đi nhất. Các tình huống sau sẽ có thể xảy ra:
-Một là, nước sẽ chảy theo đứt gẫy, khe nứt hoặc, ranh giới tiếp xúc giữa các loại đá. Đứt
gẫy thường có tiết diện hình chữ V, rộng và yếu ở phần trên, càng xuống sâu thì đứt gẫy
càng thu hẹp, độ nứt nẻ giảm và tắt hẳn. Nước không thể đi sâu xuống dưới, mà nó luôn có
xu thế trồi lên phần trên đứt gẫy (phần rộng và yếu);
-Hai là, nước có xu thế dịch chuyển ngang theo hướng dốc mặt địa hình, từ cao xuống
thấp trong các đới phong hóa (IA1, IA2, IB) hoặc có thể qua khe nứt trong đới IIA.


13
CHƯƠNG III: THIẾT BỊ VÀ THU THẬP SỐ LIỆU
Sử dụng hệ thống quan sát với hệ cực 48 kênh Wenner – Schlumberger cho các phép đo
sâu ảnh điện - 2D. Mảng hệ cực đo được thiết kế trên máy tính bằng phần mềm ELECTRE
II và đồng bộ hóa cơ sở dữ liệu với hệ thống SYSCAL Junior switch 48 do Pháp chế tạo.

Trạm đo và các thiết bị địa vật lý sử dụng được kiểm định tại Trung tâm kiểm định máy
địa vật lý - Liên đoàn Vật lý Địa chất, Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Sau khi lắp đặt hệ thống SYSCAL Junior, đấu nối điện cực với cáp, kiểm tra điện trở
tiếp địa, SYSCAL Junior sẽ tự động thực hiện các phép đo theo mảng đã thiết kế và ghi
nhớ số liệu vào ổ cứng.
Các điện cực được bố trí trên tuyến thẳng, khoảng cách 5m/ điểm theo bề mặt địa hình,
một mảng số liệu ảnh điện gồm 48 cực. Các cực được cắm với khoảng cách 5m/cực theo
mặt nghiêng địa hình. Để số liệu thu thập bao phủ đến hai điểm đầu mút tuyến (điểm đầu
và cuối tuyến), các mảng hệ cực đo tại hai đầu mút, phải bố trí tuyến kéo dài ra ngoài tuyến
100m (hoặc có thể ngắn hơn tùy thuộc vào điều kiện địa hình- địa chất thực tế).
-

Bước đo: 5m/điểm;

-

Kiểu mảng: W-S;

-

Bội số mở rộng thiết bị (n): 20;

-

Thời gian thực hiện 1 phép đo: 500 ms;

-

Độ lệch tiêu chuẩn tối đa Q max (%): 0.


Số liệu đo ảnh điện thu thập được lấy ra từ máy đo ở dạng file .dat. Các file này được
xử lý bằng phầm mềm RES2DINV 3.71 chạy trên máy tính điện tử với khóa cứng bản
quyền (USB Dongle), thuộc sở hữu của Trung tâm thí nghiệm và địa vật lý, công ty Cổ
phần Tư vấn và Xây dựng Điện 1 (PECC1). Các tham số lặp chạy chương trình xử lý
(running inversion program) được lựa chọn tối ưu, đến khi sai số RMS ổn định, lúc đó sẽ
dừng và xuất ra kết quả. Kết quả nhận được sau xử lý là hình ảnh mặt cắt phân bố điện trở
suất dọc tuyến khảo sát còn được gọi là mặt cắt ảnh điện 2D.
Mô hình 2 chiều được sử dụng bởi chương trình giải ngược, bao gồm một số các khối
vuông góc như được trình bày trong hình 3.3 dưới đây. Việc xắp xếp các khối được liên
quan một cách mật thiết đến sự phân bố các điểm dữ liệu trên mặt cắt ảo điện trở suất. Sự
phân bố và kích thước của các khối vuông góc, được tạo thành, một cách tự động, bởi
chương trình. Do đó số lượng các khối vuông góc không được vượt quá số lượng điểm dữ
liệu. Tuy nhiên, chương trình có một chọn lựa cho phép người dùng sử dụng mô hình tại
đó số lượng các khối có thể vượt quá số lượng điểm dữ liệu. Độ sâu của đáy của các khối
được thiết lập gần bằng với độ sâu khảo sát tương ứng (Edward, năm 1977) của những
điểm dữ liệu ứng với khoảng mở lớn nhất của các cặp điện cực thu - phát. Các số liệu cần
phải được thu thập với hệ thiết bị, tại đó các điện cực được bố trí dọc theo một tuyến đo
với các khoảng cách bằng nhau giữa các điện cực liền kề.[6]


14

Hình 4 Sơ đồ đấu nối trạm đo và các điện cực
Với bội số n = 1, hệ cực là Wenner. Khi n = 2, 3, 4,.v.v... thì hệ cực là Schlumberger. Trong đồ án, khoảng cách giữa hai cực thu MN =
5 không đổi, bội số n tăng đến n = 20.


15

Hình 5 Bố trí tự động các khối vuông góc được sử dụng trong mô hình cùng với

các điểm dữ liệu trên một mặt cắt ảo điện trở suất. (Theo LOOK 2001)

Hình 6 Minh họa cho 1 mặt cắt ảo điện trở suất quan sát và tính toán, cùng với mô hình
thu được bởi chương trình giải ngược.


16

CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ VÀ ĐÁNH GIÁ TÀI LIỆU
Phần mềm xử lý được sử dụng cho tài liệu đo ảnh điện là RES2DINV - một công cụ
thông dụng và hữu ích để giải bài toán ngược thăm dò điện. Các mặt cắt địa vật lý được
trình bày trong chương này hoàn toàn là kết quả xuất ra từ RES2DINV 3.71 dùng khoá
cứng bản quyền, do đơn vị thực tập sở hữu (PECC1). Trong đồ án, em xin trình bày kết
quả từ một số tuyến liên phản ánh trực tiếp hiện trạng khả năng ngấm nước xung quanh
đường ống áp lực (ĐÔAL) và chỉ tiến hành đo ảnh điện. Mỗi tuyến đo sẽ tiến hành đo hai
lần: Lần 1 khi đường hầm và ĐÔAL chưa chứa nước, lần 2 là sau khi chứa nước (sau quá
trình bơm nước từ hồ về).
4.1 Kết quả xử lý tài liệu
4.1.1 Tuyến E7
Tuyến 7 dài 500m, cách ĐÔAL 40 – 70m (gần phía thượng lưu và ở xa phía hạ lưu). Địa
hình dốc từ đầu tuyến về cuối tuyến. Kết quả được mô tả trong hình 7.
-Nhận xét chung toàn tuyến E7:
Phần nông phía trên của mặt cắt là cấu trúc địa chất có sự bất đồng nhất cao về điện trở
suất. Các đới có điện trở suất cao ρ = 500-1000 Ω.m, nằm rải rác từ đầu tuyến đến Mố néo
3. Từ Mố néo 3 về cuối tuyến là dải điện trở suất thấp, ρ = 100-200 Ωm. Chiều dày đới
phong hóa từ đầu tuyến đến hố khoan QT11 khá nhỏ, từ cao trình 460m về cuối tuyến chiều
dày đới phong hóa gia tăng, 30 – 40m.
Phần dưới sâu của mặt cắt tính từ đầu tuyến đến lân cận hố khoan QT11 có điện trở suất
cao khá ổn định nằm trong dải ρ = 800 - 1000Ω.m tương ứng với đới IIA (Granit). Từ cao
trình 460m đến Mố néo 3 phần dưới sâu của mặt cắt bị phân cắt bởi các khối có điện trở

suất thấp ρ = 100 - 200Ω.m, với giá trị điện trở suất này khả năng chứa nước là ít. Đây có
thể là khối đá trầm tích nứt nẻ?.
-Khi đường hầm và ĐÔAL không chứa nước:
Địa vật lý phát hiện được 02 dị thường nông có tâm các dị thường lần lượt tại khoảng
cách x = 51 và 209m, phát hiện được 05 dị thường sâu (đứt gãy, đới nứt nẻ tăng cao và
đới ảnh hưởng) có tâm các dị thường lần lượt tại khoảng cách x = 10; 134; 260; 307;
366m so với đầu tuyến E7. 07 tuyến dị thường này được đánh số tương ứng từ 01 đến 07
trên hình 7 a).
Trong số các dị thường trên tuyến E7, 04 dị thường tính từ đầu tuyến hiện tượng liên
thông theo hướng dốc địa hình là không rõ ràng, 03 dị thường tiếp theo tạo thành một


17
vùng điện trở suất thấp, vùng này có khả năng chứa nước ít, giá trị điện trở suất ở ngưỡng
ρ=100 – 200 Ohm.m.
-Khi đường hầm và ĐÔAL chứa nước:
Địa vật lý phát hiện được dị thường 03 có tâm dịch chuyển về phía cuối tuyến tạo thành
một vùng ảnh hưởng có điện trở suất ρ < 100 Ω.m. Dị thường số 07 có tâm dị thường dịch
về phía cuối tuyến, điện trở suất giảm xuống rõ rệt từ khoảng 100 Ω.m xuống 30 Ω.m. Dị
thường này có khả năng chứa nước tiềm năng. Kết quả thể hiện trên hình 7 b).
4.1.2 Tuyến E6
Tuyến E6 dài 500m, góc phương vị 93016’ được bố trí bên sườn phải, nằm giữa ĐÔAL
tuyến E7, cách ĐÔAL 20 - 25m (gần ở phía thượng lưu và xa ở phía hạ lưu). Địa hình
tuyến dốc từ đầu tuyến về cuối tuyến. Đường màu tím đậm trên mặt cắt là hình chiếu ĐÔAL
vào mặt cắt E6. Tuyến E6 là tuyến gần ĐÔAL nhất. Kết quả được mô tả trong hình 8.
-Nhận xét chung toàn E6:
Phần nông phía trên của mặt cắt là cấu trúc địa chất có sự bất đồng nhất cao về điện trở
suất. Các đới có điện trở suất cao ρ = 500-1000 Ω.m, nằm rải rác từ đầu tuyến đến Mố néo
3. Từ Mố néo 3 về cuối tuyến là dải điện trở suất thấp, ρ = 100-200 Ωm. Chiều dày đới
phong hóa ở đoạn đầu và giữa tuyến mỏng hơn so với đoạn cuối tuyến.

Phần sâu của mặt cắt là cấu trúc có điện trở suất cao, ρ ≥ 800 - 1200Ω.m. Tương ứng với
02 vùng dị thường lớn, điện trở suất của dưới chúng cũng giảm đáng kể, ρ ≥ 300 - 500Ω.m.
- Khi đường hầm và ĐÔAL không chứa nước:
Địa vật lý đã phát hiện được 01 dị thường nông có tâm ở khoảng cách x = 429m, phát
hiện được 07 dị thường sâu (đứt gãy, đới nứt nẻ tăng cao và đới ảnh hưởng) có tâm các dị
thường lần lượt tại khoảng cách x = 5; 152; 182; 214; 300; 356; 384m so với đầu tuyến E6.
08 dị thường này được đánh số tương ứng 01 đến 08 (theo khoảng cách x) trên hình 8 a).
Xét trên mặt cắt E6, đáng chú ý là 02 vùng dị thường lớn (vùng I và II) có điện trở suất
thấp ρ < 50Ω.m. Vùng I do các dị thường 02, 03 và 04 tạo thành, vùng II do các dị thường
05, 06 và 07 tạo thành. Cả 02 vùng này có khả năng là 02 vùng chứa nước.
Khi chiếu hố khoan QT5A và QT17 lên mặt cắt E6 thì các hố khoan này đều nằm trong
khu vực ảnh hưởng của dị thường 02 và 05, mà cao trình miệng hố khoan nằm thấp hơn
cao trình của dị thường nên có thể lý giải cho việc hố khoan QT5A và QT17 có nước trào
ra khỏi miệng hố khoan (nhất là sau những trận mưa lớn).
- Khi đường hầm và ĐÔAL chứa nước:


×