Tải bản đầy đủ (.pdf) (103 trang)

EBOOK các bài DỊCH SONG NGỮ CAMBRIDGE IELTS 13

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.64 MB, 103 trang )

 

 

EBOOK CÁC BÀI DỊCH 
SONG NGỮ 
CAMBRIDGE IELTS 13 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

IELTS ECCYL 
13/2/2019 
 



 

 
Introduction 

Hướng dẫn cách học song ngữ hiệu quả
Bước 1: Chọn 1 bài song ngữ trên trang ​ cần học (có
thể là tiếng Anh/Pháp/Trung)


Bước 2: Xem bản dịch tiếng việt bài trên và đừng vội xem bản gốc (click vào tab
Vietnam).
Bước 3: Dựa vào bản dịch tiếng Việt có sẵn, bạn hãy nghĩ trong đầu câu tiếng
Anh/Pháp/Trung tương ứng (có thể đọc to ra để luyện phát âm) hay viết giấy ra nếu
muốn.
Bước 4: Click vào câu tiếng việt đó trên trang web để xem lại bản gốc tiếng
Anh/Pháp/Trung và so sánh với bản bạn mà bạn đã dịch trước đó.
Lặp lại các bước trên cho hết nguyên bài reading, bạn sẽ thấy kỹ năng viết của mình
biến chuyển rõ rệt. Và bạn sẽ kinh ngạc với tốc độ viết/nói và sự chính xác trong cách
dùng câu từ tiếng Anh/Pháp/Trung của mình.
Công thức luyện viết/nói này giúp bạn viết/nói chuẩn ngữ pháp và cách dùng từ như
người bản ngữ bởi bạn so sánh và đối chiếu với chính bản gốc do người bản ngữ viết.
Điều thú vị hơn là nó giúp bạn không cần phải học công thức ngữ pháp, vốn rất mất
thời gian, rối rắm và khó nhớ. Thay vào đó, mỗi khi có chỗ khó hiểu, bạn hãy học cùng
bạn bè hoặc nhờ giáo viên giải nghĩa cho bạn, cách học như vậy thực dụng và dễ nhớ
hơn nhiều.
Sau mỗi lần tập một đoạn viết ngắn bạn lại tích lũy được một vài cấu trúc hoặc cách
dùng từ như người bản ngữ. Dần dần, bạn sẽ viết thành thạo, nhanh chóng và chuẩn
xác.
Tuy nhiên mọi phương pháp dù hay đến đâu cũng vô ích nếu bạn không bắt tay vào
hành động. Hãy áp dụng phương pháp này ngay từ bây giờ nhé!

Nội dung ebook
Hướng dẫn cách học song ngữ hiệu quả 



 
T1S1 - Case Study: Tourism New Zealand website 
Từ vựng trong bài 

T1S2 - Why being bored is stimulating – and useful too 
Từ vựng trong bài 

 
T1S1 - Case Study: Tourism New Zealand website 
 
New Zealand is a small country of four million inhabitants, a ​long-haul flight ​from all the
major ​tourist-generating​ markets of the world.

New Zealand là một quốc gia nhỏ bé có bốn triệu dân, là một chuyến bay đường dài từ
tất cả các thị trường du lịch lớn trên thế giới.

Tourism currently makes up 9% of the country’s gross ​domestic​ product, and is the
country’s largest export sector.

Du lịch hiện chiếm 9% tổng sản phẩm quốc nội địa của quốc gia và là khu vực xuất
khẩu lớn nhất của quốc gia.

Unlike other export sectors, which make products and then sell them overseas, tourism
brings its customers to New Zealand.
Không giống như các lĩnh vực xuất khẩu khác, nó tạo ra sản phẩm và sau đó bán
chúng ra nước ngoài, du lịch mang những khách hàng của nó đến với New Zealand.

The product is the country itself - the people, the places and the experiences.
Sản phẩm là chính đất nước là - con người, những địa điểm và trải nghiệm.



 


In 1999, Tourism New Zealand launched a campaign to communicate a new brand
position to the world.
Năm 1999, du lịch New Zealand đã phát động một chiến dịch để truyền đạt vị trí thương
hiệu mới với thế giới.

The campaign focused on New Zealand’s scenic beauty, ​exhilarating​ outdoor activities
and authentic Maori culture, and it made New Zealand one of the strongest national
brands in the world.
Chiến dịch tập trung vào vẻ đẹp cảnh quan của New Zealand, các hoạt động ngoài trời
hăng hái và văn hóa Maori chính thống, và nó đã làm cho New Zealand trở thành một
trong những thương hiệu quốc gia du lịch mạnh nhất trên thế giới.

A key feature of the campaign was the website www.newzealand.com, which provided
potential visitors to New Zealand with a single gateway to everything the destination had
to offer.
Một tính năng quan trọng của chiến dịch là trang web www.newzealand.com, trang
mạng cung cấp cho những du khách tiềm năng tới New Zealand với một cổng vào tất
cả mọi thứ điểm đến đã cung cấp.

The heart of the website was a ​database​ of tourism services operators, both those

based in New Zealand and those based abroad which offered tourism services to the
country.
Trung tâm của trang web là một cơ sở dữ liệu của các nhà khai thác dịch vụ du lịch, cả
hai đều có trụ sở tại New Zealand và trụ sở ở nước ngoài cung cấp dịch vụ du lịch cho
đất nước này.

Any tourism-related business could be listed by filling in a simple form.
Bất kỳ doanh nghiệp nào liên quan đến du lịch đều có thể được liệt kê bằng cách điền
vào một biểu mẫu đơn giản.




 

This meant that even the smallest bed and breakfast address or specialist activity
provider could gain a web presence with access to an audience of long-haul visitors.
Điều này có nghĩa là ngay cả địa chỉ giường ngủ và bữa sáng nhỏ nhất hoặc nhà cung
cấp hoạt động chuyên nghiệp có thể có được sự hiện diện trên web với quyền truy cập
vào đối tượng khách du lịch phương xa.

In addition, because participating businesses were able to update the details they gave
on a regular basis, the information provided remained accurate.
Ngoài ra, bởi vì các doanh nghiệp tham gia có thể cập nhật các chi tiết họ đã cung cấp
thường xuyên nên thông tin được cung cấp vẫn chính xác.

And to maintain and improve standards, Tourism New Zealand organised a ​scheme

whereby organisations appearing on the website underwent an independent evaluation
against ​a set of​ agreed national standards of quality.

Và để duy trì và cải thiện các tiêu chuẩn, du lịch New Zealand đã tổ chức một chương
trình theo đó các tổ chức xuất hiện trên trang web đã trải qua một cuộc đánh giá độc
lập với một tập hợp các tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng đã được thống nhất.

As part of this, the effect of each business on the environment was considered.
Như một phần của điều này, hiệu quả của từng doanh nghiệp đối với môi trường được
xem xét.

To communicate the New Zealand experience, the site also carried features relating to

famous people and places.
Để chia sẻ trải nghiệm ở New Zealand, trang web cũng mang các tính năng liên quan
đến những người và địa điểm nổi tiếng.

One of the most popular was an interview with former New Zealand All Blacks rugby



 
captain Tana Umaga.
Một trong những thứ nổi tiếng nhất là một cuộc phỏng vấn với cựu đội trưởng bóng bầu
dục New Zealand All Blacks “Tana Umaga”.

Another feature that attracted a lot of attention was an interactive journey through a
number of the locations chosen for ​blockbuster films​ which had made use of New
Zealand’s ​stunning​ scenery as a ​backdrop​.

Một tính năng thu hút được nhiều sự chú ý là một hành trình tương tác thông qua một
số địa điểm được chọn cho các bộ phim bom tấn đã sử dụng phong cảnh tuyệt đẹp của
New Zealand làm bối cảnh.

As the site developed, additional features were added to help independent travellers
devise​ their own customised itineraries.
Khi trang web được phát triển, các tính năng bổ sung đã được thêm vào để giúp những
du khách tự túc có thể đặt ra lịch trình của riêng họ.

To make it easier to plan ​motoring holidays​, the site ​catalogue​d the most popular driving

routes in the country, highlighting different routes according to the season and indicating
distances and times.

Để làm cho nó dễ dàng hơn để lên kế hoạch các ngày xe nghỉ, trang web đã lập danh
mục các tuyến đường lái xe phổ biến nhất trong nước, làm nổi bật các tuyến đường
khác nhau theo mùa cũng như chỉ ra khoảng cách và thời gian.

Later a Travel Planner feature was added, which allowed visitors to click and ‘bookmark’
: ​pace​s or attractions they were interested in, and then view the results on a map.

Sau đó, tính năng Công cụ lập kế hoạch du lịch đã được thêm vào, cho phép khách
truy cập vào và ‘đánh dấu’: các địa điểm hoặc điểm du lịch mà họ quan tâm và sau đó
xem kết quả trên bản đồ.

The Travel Planner offered suggested routes and public transport options between the



 
chosen locations.
Công cụ lập kế hoạch du lịch cung cấp các tuyến đường được đề xuất và các tùy chọn
giao thông công cộng giữa các địa điểm đã chọn.

There were also links to accommodation in the area.
Ngoài ra còn có các liên kết đến chỗ ở trong khu vực.

By registering with the website, users could save their Travel Plan and return to it later,
or print it out take on the visit.
Bằng cách đăng ký với trang web, người dùng có thể lưu Kế hoạch du lịch của họ và
quay lại kế hoạch nơi đó sau này hoặc in và mang nó trong chuyến đi chơi.

The website also had a ‘Your Words’ section where anyone could submit a blog of their
New Zealand travels for possible inclusion on the website.

Trang web cũng có phần ‘Văn bản của bạn’, nơi bất cứ ai cũng có thể gửi blog về
chuyến đi New Zealand của họ để có thể đưa vào trang web.

The Tourism New Zealand website won two Webby awards for online achievement and
innovation.
Trang web du lịch New Zealand đã giành được hai giải thưởng Webby cho thành tích
và đổi mới trực tuyến.

More importantly perhaps, the growth of tourism to New Zealand was impressive.
Quan trọng hơn có lẽ là , sự phát triển của du lịch đến New Zealand thật ấn tượng.

Overall tourism ​expenditure​ increased by an average of 6,9% per year between 1999
and 2004.

Tổng chi phí du lịch tăng trung bình 6,9% / năm từ năm 1999 đến năm 2004.



 

From Britain, visits to New Zealand grew at an average annual rate of 13% between
2002 and 2006, compared to a rate of 4% overall for British visits abroad.
Từ Anh, các chuyến thăm tới New Zealand tăng trưởng với tốc độ trung bình hàng năm
là 13% trong giai đoạn 2002-2006, so với tỷ lệ 4% tổng thể cho các chuyến thăm nước
ngoài của Anh .

The website was set up to allow both individuals and travel organisations to create
itineraries and ​travel package​s to suit their own needs and interests.

Trang web được thiết lập để cho phép cả các cá nhân và tổ chức du lịch tạo ra các

công cụ và gói du lịch phù hợp với nhu cầu và sở thích của riêng họ.

On the website, visitors can search for activities not solely by geographical location, but
also by the particular nature of the activity.
Trên trang web, du khách có thể tìm kiếm các hoạt động không chỉ bởi vị trí địa lý, mà
còn bởi bản chất đặc thù của hoạt động.

This is important as research shows that activities are the key driver of visitor
satisfaction, contributing 74% to visitor satisfaction, while transport and accommodation
account for the remaining 26%.
Điều này rất quan trọng vì nghiên cứu cho thấy rằng các hoạt động là yếu tố chính
khiến du khách hài lòng, đóng góp 74% cho sự hài lòng của khách du lịch, trong khi vận
chuyển và chỗ ở chiếm 26% còn lại.

The more activities that visitors undertake, the more satisfied they will be.
Các hoạt động mà khách truy cập thực hiện càng nhiều thì họ càng hài lòng hơn.

It has also been found that visitors enjoy cultural activities most when they are
interactive, such as visiting a marae (meeting ground) to learn about traditional Maori



 
life.
Nó cũng đã được tìm thấy rằng du khách thưởng thức các hoạt động văn hóa nhất khi
họ là tương tác, chẳng hạn như tham quan một marae (khu họp mặt) để tìm hiểu về
cuộc sống Maori truyền thống.

Many long-haul travellers enjoy such earning experiences, which provide them with
stories to take home to their friends and family.

Nhiều du khách phương xa thích thú với những trải nghiệm như vậy, những câu chuyện
mà họ có thể kể lại cho bạn bè và gia đình của họ.

In addition, it appears that visitors to New Zealand don’t want to be ‘one of the crowd’
and find activities that involve only a few people more special and meaningful.
Ngoài ra, có vẻ như du khách đến New Zealand không muốn trở thành 'một trong đám
đông' và tìm các hoạt động liên quan đến chỉ một số ít người đặc biệt và có ý nghĩa
hơn.

It could be argued that New Zealand is not a typical destination.
Có thể lập luận rằng New Zealand không phải là một điểm đến điển hình.

New Zealand is a small country with a ​visitor economy​ composed mainly of small
businesses.

New Zealand là một quốc gia nhỏ với nền kinh tế du lịch chủ yếu bao gồm các doanh
nghiệp nhỏ.

It is generally perceived as a safe English-speaking country with a reliable transport
infrastructure​.
Nó thường được coi là một quốc gia nói tiếng Anh an toàn với cơ sở hạ tầng giao thông
đáng tin cậy.



 
Because of the ​long-haul flight​, most visitors stay for longer (average 20 days) and want
to see as much of the country as possible on what is often seen as a once-in-a-lifetime
visit.
Do chuyến bay đường dài, hầu hết du khách ở lại lâu hơn (trung bình 20 ngày) và

muốn thăm đất nước này nhiều nhất có thể, điều thường được xem như một chuyến
thăm một lần trong đời.

However, the underlying lessons apply anywhere-the effectiveness of a strong brand, a
strategy based on unique experiences and a ​comprehensive​ and user-friendly website.

Tuy nhiên, các bài học cơ bản áp dụng ở mọi nơi - hiệu quả của một thương hiệu

mạnh, một chiến lược dựa trên trải nghiệm độc đáo và trang web toàn diện , thân thiện
với người dùng.

Từ vựng trong bài

make up​:​ chiếm
visitor economy​:​ nền kinh tế du lịch
scheme​:​ chương trình
blockbuster films​:​ những bộ phim bom tấn
devise​:​ đặt ra
infrastructure​:​ cơ sở hạ tầng
stunning​:​ tuyệt đẹp
pace​:​ địa điểm
domestic​:​ nội địa
travel package​:​ gói du lịch
motoring holidays​:​ những ngày lễ xe nghỉ
expenditure​:​ chi phí
catalogue​:​ lập danh mục
launch a campaign​:​ phát động một chiến dịch
exhilarating​:​ hăng hái
long-haul flight​:​ chuyến bay đường dài
backdrop​:​ bối cảnh



10 
 
itinerary​:​ lịch trình
comprehensive​:​ toàn diện
undergo​:​ trải qua
database​:​ cơ sở dữ liệu
tourist-generating​:​ (thuộc) du lịch
a set of​:​ một tập hợp
Trắc nghiệm từ vựng 

Dịch bởi Phan Thị Hương, Edit bởi Trang Trần

T1S2 - ​Why

being bored is stimulating – and 
useful too 
We all know how it feels - it’s impossible to keep your mind on anything, time stretches out, and
all the things you could do seem equally unlikely to make you feel better.
Tất cả chúng ta đều biết cảm giác buồn chán là như thế nào – chúng ta không thể giữ tâm trí
mình tập trung vào bất cứ thứ gì, thời gian như kéo dài hơn, và tất cả những gì bạn có thể làm
dường như đều không làm bạn cảm thấy đỡ hơn.

But defining boredom so that it can be studied in the lab has proved difficult.
Nhưng việc định nghĩa sự buồn chán khó đến nỗi mà thậm chí có thể được minh chứng được
bằng nghiên cứu trong phòng thí nghiệm.

For a start, it can include a lot of other mental states, such as ​frustration​, apathy, depression
and ​indifference​.


Ban đầu, tình trạng ấy có thể bao gồm nhiều tâm trạng về mặt tinh thần khác, như là sự thất
vọng, vô cảm , sự phiền muộn và sự thờ ơ.

There isn’t even agreement over whether boredom is always a low-energy, flat kind of emotion
or whether feeling ​agitated​ and ​restless​ counts as boredom, too.

Thậm chí mọi người cũng không có sự đồng ý là liệu việc chán nản có phải luôn là một kiểu
cảm xúc tẻ nhạt ít năng lượng hay liệu cảm giác căng thẳng và bồn chồn cũng được tính là


11 
 
buồn chán luôn.

In his book, Boredom: A Lively History,Peter Toohey at the University of Calgary, Canada,
compares it to ​disgust​ - an emotion that motivates us to stay away from certain situations.

Trong cuốn sách của mình, Buồn chán: một lịch sử sống động, Peter Toohey ở trường Đại học
ở Calgary, Canada, đã so sánh nó với sự chán ghét - một loại cảm xúc mà thúc đẩy chúng ta
tránh xa khỏi những tình huống nhất định.

‘If ​disgust​ protects humans from infection, boredom may protect them from “infectious" social
situations,’ he suggests.

Nếu sự chán ghét bảo vệ loài người khỏi lây nhiễm, buồn chán có lẽ bảo vệ con người khỏi
những tình huống xã hội “lây nhiễm”, ông đề nghị như vậy.

By asking people about their experiences of boredom, Thomas Goetz and his team at the
University of Konstanz in Germany have recently identified five distinct types: indifferent,

calibrating, searching, reactant and apathetic.
Bằng việc phỏng vấn mọi người về những trải nghiệm khi buồn chán, Thomas Goetz và nhóm
của ông ở Trường đại học ở Konstanz, Đức mới đây đã nhận ra 5 kiểu riêng biệt là: chán nản
thờ ơ, chán nản định mức, chán nản tìm kiếm, chán nản ứng hóa học và vô cảm.

These can ​be plotted on​ two axes - one running left to right, which measures low to high

arousal​, and the other from top to bottom, which measures how positive or negative the feeling
is.
Chúng có thể được vẽ trên hai trục - một cái chạy từ trái sang phải, để đo mức khơi dậy thấp
đến cao, và cái kia từ trên xuống dưới, để đo lường cảm giác tích cực hay tiêu cực.

Intriguingly​, Goetz has found that while people experience all kinds of boredom, they tend to
specialise in​ one.
Kỳ lạ thay khi Goetz cho thấy rằng trong khi mọi người trải nghiệm tất cả các loại chán thì họ có
xu hướng chuyên về một loại chán nản nào đó.


12 
 
Of the five types, the most damaging is ‘reactant’ boredom with its ​explosive​combination of high
arousal​ and negative emotion.

Trong 5 loại, loại gây tổn hại nhiều nhất là sự ‘chán nản hóa học’ với sự kết hợp bùng nổ của
cảm xúc kích thích và tiêu cực cao.

The most useful is what Goetz calls ‘indifferent’ boredom: someone isn’t engaged in anything
satisfying but still feels relaxed and calm.
Chán nản hữu ích nhất mà Goetz gọi là chán nản thờ ơ là khi một người không muốn làm bất
cứ thứ gì để hài lòng nhưng vẫn cảm thấy thư giãn và thanh thản.


However, it remains to be seen whether there are any character traits that predict the kind of
boredom each of us might be ​prone to​.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn nên nhìn nhận liệu có những nét tính cách nào có thể báo trước loại
chán mà chúng ta có thể dễ mắc phải.

Psychologist Sandi Mann at the University of Central Lancashire, UK, goes further.
Nhà tâm lí học Sandi Mann ở trường đại học of Central Lancashire, Anh nghiên cứu sâu hơn.

All emotions are there for a reason, including boredom,’ she says.
‘tất cả các cảm xúc tồn tại là có lý do, bao gồm chán nản,’ cô ấy nói.

Mann has found that being bored makes us more creative.
Mann đã phát hiện rằng việc chán khiến chúng ta sáng tạo hơn.

We're all afraid of being bored but in actual fact it can lead to all kinds of amazing things,’ she
says.
Tất cả chúng ta đều sợ chán nhưng thực ra chán có thể dẫn tới tất cả những thứ tuyệt vời,’ cô
ấy nói.

In experiments published last year, Mann found that people who had been made to feel bored


13 
 
by copying numbers out of the phone book for 15 minutes came up with more creative ideas
about how to use a polystyrene cup than a control group.
Trong những thí nghiệm được công bố năm ngoái, Mann đã phát hiện rằng những người đã
từng cảm thấy buồn chán bởi việc sao chép số điện thoại ra khỏi danh bạ trong 15 phút sẽ nảy

ra những ý tưởng sáng tạo hơn về cách sử dụng một cái cốc nhựa so với một nhóm bị kiểm
soát.

Mann concluded that a passive, boring activity is best for creativity because it allows the mind to
wander.
Mann kết luận rằng một hoạt động chán, thụ động là tốt nhất cho sự sáng tạo bởi vì nó cho
phép tâm trí nghĩ vơ vẩn.

In fact, she goes so far as to suggest that we should seek out more boredom in our lives.
Thực ra , cô ấy đi xa như vậy để cho thấy chúng ta nên tìm thêm sự nhàm chán trong cuộc
sống.

Psychologist John Eastwood at York University in Toronto, Canada isn’t ​convince​d.

Nhà tâm lí học John Eastwood ở trường đại học York ở Toronto, Canada không thấy thuyết
phục .

‘If you are in a ​state of mind​-wandering you are not bored,’ he says.

’ Nếu tâm trí bạn đang nghĩ vớ vẩn chứng tỏ bạn không chán,’ ông ấy nói.

‘In my view, by definition boredom is an ​undesirable​ state.

‘ Theo quan điểm của tôi, bằng định nghĩa nhàm chán là một tâm trạng không mong muốn’.

That doesn't necessarily mean that it isn’t ​adaptive​, he adds.

Điều đó không nhất thiết có nghĩa rằng nó không có tính thích nghi, ông ấy nói thêm.

Pain is ​adaptive​ - if we didn’t have physical pain, bad things would happen to us.



14 
 
Đau mang tính thích ứng - nếu chúng ta không có đau đớn về thể chất, những điều xấu sẽ xảy
ra với chúng ta.

Does that mean that we should actively cause pain? No.
Vậy điều đó có nghĩa là chúng ta nên chủ động gây ra nỗi đau ? Không.

But even if boredom has ​evolve​d to help us survive, it can still be toxic if allowed to ​fester​’.

Nhưng ngay cả nếu nỗi buồn đã phát triển để giúp chúng ta tồn tại, nó vẫn sẽ độc hại nếu bị trở
nên tệ hơn.

“For Eastwood, the central feature of boredom is a failure to put our ‘attention system’ into gear.
Đối với Eastwood, điểm đặc trưng trung tâm của sự nhàm chán là sự thất bại khi đặt‘ hệ thống
chú ý’ của chúng ta vào số.

This causes an ​inability​ to focus on anything, which makes time seem to go painfully slowly.

Điều này gây ra sự mất khả năng tập trung vào bất cứ thứ gì, điều mà khiến thời gian dường
như trôi một cách đau khổ chậm chạp.

What's more, your efforts to improve the situation can end up making you feel worse.
Hơn nữa, những nỗ lực của bạn để cải thiện tình hình chỉ khiến bạn cảm thấy thấy tồi tệ hơn
mà thôi.

‘People try to connect with the world and if they are not successful there’s that ​frustration​ and
irritability​,’ he says.


‘ Mọi người cố gắng kết nối với thế giới và nếu họ không thành công, sẽ có sự thất vọng và cáu
giận đó,’ Ông ấy nói.

Perhaps most ​worryingly​, says Eastwood, repeatedly failing to engage attention can lead to a
state where we don’t know what to do any more, and no longer care.

Có lẽ đáng lo ngại nhất, Eastwood nói, liên tục thất bại khi thu hút sự chú ý có thể dẫn đến


15 
 
trạng thái nơi mà chúng ta không biết làm gì nữa và không còn quan tâm mọi thứ xung quanh
nữa.

Eastwood’s team is now trying to explore why the attention system fails.
Nhóm của Eastwood hiện nay đang cố gắng khám phá tại sao hệ thống chú ý thất bại

It’s early days but they think that at least some of it comes down to ​personality​.

Đó là những ngày đầu nhưng họ nghĩ rằng ít nhất một trong số đó là do tính cách.

Boredom ​proneness​ has been linked with a variety of traits.

Dễ mắc chán nản đã được gắn với tới những tính cách khác nhau.

People who are motivated by pleasure seem to suffer particularly badly.
Những người bị thúc đẩy bởi niềm vui dường như đặc biệt dễ mắc một cách tồi tệ.

Other ​personality​ traits, such as curiosity, are associated with a high boredom ​threshold​.


Những đặc điểm tính cách khác nhau, chẳng hạn như tính hiếu kỳ, thường liên kết với ngưỡng
nhàm chán cao.

More evidence that boredom has ​detrimental​ effects comes from studies of people who are
more or less ​prone to​ boredom.

Thêm bằng chứng rằng sự nhàm chán có ảnh hưởng có hại đến từ những nghiên cứu về
những người mà nhiều hoặc ít mắc chứng nhàm chán hơn..

It seems those who bore easily face poorer prospects in education, their career and even life in
general.
Có vẻ như những người mà chán nản dễ dàng đối mặt với những triển vọng kém trong giáo
dục, sự nghiệp của họ và ngay cả cuộc sống nói chung của họ.


16 
 

But of course, boredom itself cannot kill -it’s the things we do to deal with it that may put us in
danger.
Nhưng dĩ nhiên, chán không thể mất đi-đó là những điều chúng ta làm để đối phó với nó điều
mà có thể khiến chúng ta gặp nguy hiểm.

What can we do to alleviate it before it comes to that? Goetz’s group has one suggestion.
Chúng ta có thể làm gì để giảm sự buồn chán trước khi nó đến ? Nhóm của Goetz có một đề
nghị.

Working with teenagers, they found that those who ‘approach’ a boring situation - in other
words, see that it’s boring and get stuck in anyway - report less boredom than those who try to

avoid it by using snacks, TV or social media for distraction.
Khi nghiên cứu những trẻ vị thành niên, họ thấy rằng những người gặp tình huống nhàm chán –
nói cách khác, thấy nhàm chán và bị mắc kẹt ở bất cứ cách nào- kể lại rằng ít buồn chán hơn
những người cố gắng tránh nó bằng việc ăn bimbim, xem TV hoặc những phương tiện xã hội
để phân tâm.

Psychologist Francoise Wemelsfelder ​speculate​s that our over-connected lifestyles might even
be a new source of boredom.

Nhà tâm lý học Francoise Wemelsfelder đoán rằng lối sống quá kết nối của chúng ta ngay cả có
thể là một nguồn mới của sự buồn chán.

‘In modern human society there is a lot of ​overstimulation​ but still a lot of problems finding
meaning,’ she says.

‘Trong một xã hội hiện đại của con người có nhiều sự kích thích quá mứcnhưng vẫn có nhiều
vấn đề đang cần được tìm ra ý nghĩa,’Cô ấy nói.

So instead of seeking yet more mental stimulation, perhaps we should leave our phones alone,
and use boredom to motivate us to engage with the world in a more meaningful way.
Nên do đó thay vì tìm sự thúc đẩy về mặt tinh thần, có lẽ chúng ta nên bỏ chiếc điện thoại đi, và


17 
 
lấy sự buồn chán để thúc đẩy chúng ta để hoà mình vào thế giới theo một cách ý nghĩa hơn.

Từ vựng trong bài

frustration​: thất vọng

agitated​: căng thẳng
disgust​: sự chán ghét
be plotted on​: được vẽ trên
specialise in​: chuyên về
undesirable​: không mong muốn
state of mind​: tâm trí
adaptive​: thích ứng
restless​: bồn chồn
overstimulation​: sự kích thích quá mức
convince​: thuyết phục
worryingly​: đáng lo ngại
Intriguingly​: Kỳ lạ thay
personality​: tính cách
calibrate​: định mức
prone to​: dễ mắc phải
evolve​: phát triển
speculate​: đoán
indifference​: sự thờ ơ
irritability​: cáu giận
detrimental​: có hại
explosive​: bùng nổ
inability​: sự mất khả năng
threshold​: ngưỡng
fester​: tệ hơn
proneness​: trạng thái dễ mắc
arousal​: khơi dậy
Trắc nghiệm từ vựng 

Edit bởi Trang Trần



18 
 
Source:
/>ul-too/

T1S3 - Artificial artists 
Can computers really create works of art?.
Những chiếc máy tính thật sự có thể tạo nên các tác phẩm nghệ thuật?.

The Painting Fool is one of a growing number of computer programs which, so their
makers claim, ​possess​es creative talents.
Chương trình Painting Fool là một trong số rất nhiều các chương trình máy tính được
những người sáng lập nhận định rằng nó sở hữu tài năng về sáng tạo.

Classical music by an artificial ​composer has had audiences ​enrapture​d, and even
tricked them into believing a human was behind the score.
Những bản nhạc cổ điển được tạo ra bởi những nhà soạn nhạc nhân tạo đã làm khán
giả mê mẩn và thậm chí chúng còn có thể làm cho những khán giả này tin rằng những
bản nhạc kia được tạo ra bởi con người.

Artworks painted by a robot have sold for thousands of dollars and been hung in
prestigious galleries.
Những tác phẩm nghệ thuật do robot tạo nên đã được bán với giá hàng nghìn đô la và
được trưng bày trong những buổi triển lãm danh giá.

And software has been built which creates art that could not have been imagined by the
programmer.
Và phần mềm được lập trình có thể tạo ra các tác phẩm nghệ thuật vượt ngoài cả sự
tưởng tượng của những nhà lập trình.


Human beings are the only species to perform ​sophisticated​ creative acts regularly.


19 
 
Nhân loại là giống loài duy nhất thực hiện các trình diễn nghệ thuật phức tạp và giàu
tính sáng tạo một cách liên tục.

If we can break this process down into ​computer code​, where does that leave human
creativity? This is a question at the very ​core of humanity​,’ says Geraint Wiggins, a
computational creativity researcher at Goldsmiths, University of London.
Geraint Wiggins, một nhà nghiên cứu vế trí tuệ máy tính (sự sáng tạo của máy tính) tại
Goldsmiths, trường đại học Luân Đôn đặt ra câu hỏi rằng: “Nếu như chúng ta có thể
phân tích quá trình này thành đoạn mã máy tình thì sự sáng tạo của con người nằm ở
đâu? Đây là một câu hỏi về phần vô cùng cốt lõi của con người.

‘It scares a lot of people.
” Nó làm cho con người thật sự lo lắng.

They are worried that it is taking something special away from what it means to be
human’.
Họ lo lắng rằng robot đang dần dần có được những thứ rất đặc biệt mà chỉ con người
mới có.

” To some extent, we are all familiar with ​computerised​ art.
Ngoài ra, chúng ta đã quen thuộc với những hoạt động nghệ thuật được “ vi tính hóa”.

The question is: where does the work of the artist stop and the creativity of the
computer begin?

Câu hỏi ở đây là “Vậy đâu sẽ là nơi mà công việc của một người nghệ sĩ sẽ dừng lại và
sự sáng tạo của máy tính sẽ bắt đầu từ đâu?”

Consider one of the oldest machine artists, Aaron, a robot that has had paintings
exhibited in London's Tate Modern and the San Francisco Museum of Modern Art.


20 
 
Quan sát một trong những chiếc máy nghệ sĩ lâu đời nhất, tên là Aaron, nó là một con
robot đã có được những bức họa được triển lãm tại London's Tate Modern và Bảo tàng
nghệ thuật hiện đại San Francisco.

Aaron can pick up a ​paintbrush​ and paint on ​canvas​ on its own.
Aaron có thể tự mình cầm cọ vẽ và vẽ nên một bức tranh sơn dầu.

Impressive perhaps, but it is still little more than a tool to realise the programmer’s own
creative ideas.
Có thể rất ấn tượng, nhưng nó vẫn chỉ nhỉnh hơn một công cụ để nhận ra những ý
tưởng sáng tạo của chính người lập trình ra nó.

Simon Colton, the designer of the Painting Fool, is keen to make sure his creation
doesn’t attract the same ​criticism​.
Simon Colton, nhà thiết kế của chương trình Painting Fool kiên quyết khẳng định rằng,
sản phẩm của anh ấy sẽ không nhận những lời phê bình giống nhau.

Unlike earlier ‘artists’ such as Aaron, the Painting Fool only needs ​minimal direction and
can come up with its own concepts by going online for material.
Không giống như những “nghệ sĩ” đời trước như Aaron, chương trình Paiting Fool chỉ
cần những chỉ dẫn đơn giản và có thể tự mình tạo ra một ý tưởng riêng từ các dữ liệu

trên Internet.

The software runs its own web searches and ​trawl​s through social media sites.
Chương trình này được chạy trên các trang web tìm kiếm riêng của nó và tìmthông tin
cả trên các mạng xã hội.

It is now beginning to display a kind of imagination too, creating pictures from scratch.
Hiện tại nó cũng đang bắt đầu hiển thị một loại trí tưởng tượng, tạo ra các bức tranh từ
vạch xuất phát ban đầu.


21 
 

One of its original works is a series of ​fuzzy landscapes​, ​depict​ing trees and sky.
Một trong những tác phẩm đầu tiên của phần mềm này là một loạt các quang cảnh mờ
ảo, phác họa lại những hàng cây và bầu trời.

While some might say they have a ​mechanical look​, Colton argues that such reactions
arise from people’s double standards towards software-produced and human-produced
art.
Trong khi có một số người sẽ cho rằng những bức tranh này chỉ có được cái nhìn của
những cỗ máy, nhưng Colton đã phản biện rằng những phản ứng này nổi lên từ chuẩn
mực khắt khe của con người đối với những tác phẩm nghệ thuật được tạo ra bởi các
phần mềm và các nghệ sĩ.

After all, he says, consider that the Painting Fool painted the landscapes without
refer​ring to a photo.
Sau cùng, ông nói, hãy xem xét việc phần mềm Painting Fool đã vẽ nên những bức
tranh phong cảnh mà không tham khảo bất cứ một bức ảnh nào.


‘If a child painted a new scene from its head, you’d say it has a certain level of
imagination,’ he points out.
Ông ấy cũng chỉ ra rằng “Nếu là một đứa trẻ tự mình vẽ ra một cảnh vật mới, hẳn là
bạn sẽ cho rằng đứa bé đang sở hữu một mức độ nhất định của trí tưởng tượng.

The same should be true of a machine.
Và điều tương tự như vậy rất có thể cũng đúng với một chiếc máy.

” ​software bug​s can also lead to unexpected results
Những lỗi phần mềm cũng có thể dẫn đến những kết quả không thể ngờ đoán trước
được.


22 
 

Some of the Painting Fool’s paintings of a chair came out in black and white, thanks to a
technical glitch.
Một vài bức vẽ của Painting Fool về một chiếc ghế được hoàn thành với chỉ 2 màu
trắng và đen nhờ có một lỗi kĩ thuật đã xảy ra.

This gives the work an ​eerie​, ghost like quality.
Nhờ đó mang đến một tác phẩm có tính chất kỳ lạ, ma quái.

Human artists like the renowned Ellsworth Kelly are lauded for limiting their ​colour
palette​ - so why should computers be any different?.
Các nghệ sĩ nổi tiếng như Ellsworth Kelly đã từng được ca ngợi vì giới hạn bảng màu
riêng của họ, vậy tại sao máy tính nên có sự khác biệt ?.


Researchers like Colton don't believe it is right to measure machine creativity directly to
that of humans who have had ​millennia​ to develop our skills'.
Các nhà nghiên cứu như Colton không tin rằng điều đó là đúng khi đo lường sự sáng
tạo của máy tính trực tiếp với những con người mà đã có hàng ngàn nămphát triển kỹ
năng của chúng ta'

Others, though, are fascinated by the prospect that a computer might create something
as original and ​subtle​ as our best artists.
Tuy nhiên, những người khác bị cuốn hút bởi viễn cảnh rằng máy tính có thể tạo ra một
thứ gì đó như bản gốc và tinh tế như những nghệ sĩ giỏi nhất của chúng ta.

So far, only one has come close.
Nhưng cho đến này chỉ có một người đã làm được.


23 
 
composer David Cope invented a program called Experiments in Musical Intelligence,
or EMI.
Nhà soạn nhạc David Cope đã phát minh ra một phần mềm mang tên “Experiments in
musical intelligence (Tài năng về âm nhạc), hoặc viết tắt là EMI.

Not only did EMI create ​compositions in Cope s style, but also that of the most revered
classical ​composer​s, including Bach, Chopin and Mozart.
EMI không chỉ có thể tạo ra những đoạn nhạc theo phong cách của Cope mà còn là
bản nhạc của những nhạc sĩ cổ điển nổi tiếng như Bach, Chopin hay Mozart.

Audiences were moved to tears, and EMI even fooled classical music experts into
thinking they were hearing ​genuine​ Bach.
Khán giả đã rơi nước mắt và thậm chỉ EMI đã đánh lừa cả những chuyên gia về âm

nhạc cổ điển khiến họ nghĩ rằng họ đang được lắng nghe thần đồng âm nhạc Bach.

Not everyone was impressed however, some such as Wiggins, have ​blast​ed Cope's
work as pseudoscience, and condemned him for his ​deliberately vague​explanation of
how the software worked.
Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người đều cảm động, một số người, chẳng hạn như
Wiggins, đã nguyền rủa tác phẩm của Cope là ngụy khoa học, và lên án ông vì lời giải
thích cố ý mơ hồ của ông về cách phần mềm tạo ra .

Meanwhile, Douglas Hofstadter of Indiana University said EMI created replicas which
still rely completely on the original artist’s creative impulses.
Trong khi đó, Douglas Hofstadter của trường Đại Học Indiana nói rằng EMI tạo ra
những phiên bản sao chép vẫn dựa hoàn toàn trên những sự sáng tạo bất chợt ban
đầu của các nghệ sĩ.

When audiences found out the truth they were often ​outraged with Cope, and one music
lover even tried to punch him.


24 
 
Khi những khán giả phát hiện ra sự thật, họ thường cảm thấy bị xúc phạm với Cope, và
một người yêu nhạc thậm chí đã cố gắng đánh Cope.

amid​ such controversy, Cope destroyed EMI's vital databases.
giữa những cuộc cãi vã như vậy, Cope đã phá đi hệ thống dữ liêu quan trọng của EMI.

But why did so many people love the music, yet ​recoil when they discovered how it was
composed?.
Nhưng tại sao có rất nhiều người yêu âm nhạc nhưng lại giấy lên khi mà họ biết được

rằng cách nó được sáng tạo ?.

A study by computer scientist David Moffat of Glasgow Caledonian University provides
a clue.
Một nghiên cứu của nhà khoa học máy tính David Moffat của Trường Đại học Glasgow
Caledonian cung cấp một manh mối.

He asked both expert musicians and non-experts to ​assess​ six ​compositions​.
Ông ta đã yêu cầu những nhà soạn nhạc chuyên nghiệp và cả những người không
chuyên đánh giá 6 tác phẩm.

The participants weren't told beforehand whether the tunes were composed by humans
or computers, but were asked to guess, and then rate how much they liked each one.
Những người tham gia không được biết trước các đoạn nhạc họ nghe là do con người
hay máy tính tạo ra, mà họ được yêu cầu đoán và đánh giá mức độ yếu thích của họ
đối với những đoạn nhạc này.

People who thought the ​composer was a computer tended to dislike the piece more
than those who believed it was human.


×