Tải bản đầy đủ (.pdf) (149 trang)

Văn hóa vùng miền và việc ra quyết định trong tài chính doanh nghiệp bằng chứng thực nghiệm tại các công ty cổ phần niêm yết việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.06 MB, 149 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LÊ THÚY NGỌC

VĂN HÓA VÙNG MIỀN VÀ VIỆC RA QUYẾT
ĐỊNH TRONG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP:
BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC
CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LÊ THÚY NGỌC

VĂN HÓA VÙNG MIỀN VÀ VIỆC RA QUYẾT
ĐỊNH TRONG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP:
BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC
CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ VIỆT QUẢNG



TP. Hồ Chí Minh – Năm 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan rằng toàn bộ nội dung trong luận văn này đều là nguyên bản
chính của bản thân và trước đây chưa từng được trình bày trong phạm vi Trường Đại
học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh hoặc tại bất cứ cơ sở nào khác ngoài phạm vi
Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Thông tin được trích dẫn trong bài
nghiên cứu này đều được tác giả ghi rõ nguồn trích dẫn chính xác và đầy đủ, hoàn toàn
không có hiện tượng bóp méo hay sao chép dưới bất kỳ hình thức nào.

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 11 năm 2018
Tác giả

Lê Thúy Ngọc


MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
TÓM TẮT
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ...............................................................................................1
1.1 Lý do nghiên cứu ..........................................................................................................1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu.....................................................................................................2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...............................................................................2
1.4 Phương pháp nghiên cứu.............................................................................................2

1.5 Cấu trúc bài nghiên cứu ..............................................................................................2
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT, TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
ĐÂY VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU.........................................................................4
2.1 Văn hóa và hành vi con người .....................................................................................4
2.2 Văn hóa vùng miền và hành vi giao tiếp kinh doanh ở Việt Nam ...........................4
2.2.1 Sơ lược về văn hóa Việt Nam ..................................................................................4
2.2.2 Văn hóa vùng miền và hành vi giao tiếp kinh doanh ở miền Bắc ..........................6
2.2.3 Văn hóa vùng miền và hành vi giao tiếp kinh doanh ở miền Trung .....................10
2.2.4 Văn hóa vùng miền và hành vi giao tiếp kinh doanh ở miền Nam .......................14


2.3 Văn hóa vùng miền và việc ra quyết định trong tài chính doanh nghiệp của
CEO các công ty cổ phần niêm yết Việt Nam ................................................................18
2.3.1 Văn hóa vùng miền và quyết định nắm giữ tiền mặt của CEO các công ty cổ phần
niêm yết Việt Nam ..........................................................................................................20
2.3.2 Văn hóa vùng miền và quyết định đầu tư của CEO các công ty cổ phần niêm yết
Việt Nam ........................................................................................................................27
2.3.3 Văn hóa vùng miền và quyết định phân phối cổ tức của CEO các công ty cổ phần
niêm yết Việt Nam ..........................................................................................................31
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...........................................................43
3.1 Mô hình nghiên cứu và đo lường các biến số trong mô hình .................................43
3.2 Dữ liệu và mẫu nghiên cứu ........................................................................................48
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.......................................................................50
4.1 Thống kê mô tả ...........................................................................................................50
4.2 Ma trận tương quan ...................................................................................................51
4.3 Phân tích kết quả hồi quy ước lượng .......................................................................52
4.3.1 Mô hình (1): Mối tương quan giữa văn hóa vùng miền và quyết định nắm giữ
tiền mặt ..........................................................................................................................53
4.3.2 Mô hình (2): Mối tương quan giữa văn hóa vùng miền và quyết định đầu tư .....59
4.3.3 Mô hình (3): Mối tương quan giữa văn hóa vùng miền và quyết định phân phối

cổ tức ..............................................................................................................................63
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN ...............................................................................................72
5.1 Kết luận .......................................................................................................................72
5.2 Đóng góp của đề tài nghiên cứu ................................................................................74


5.3 Hạn chế của đề tài nghiên cứu ..................................................................................75
5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo ......................................................................................76
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: DANH SÁCH 236 CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT VIỆT NAM
ĐƯỢC SỬ DỤNG LÀM MẪU NGHIÊN CỨU
PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ HỒI QUY ƯỚC LƯỢNG
Phụ lục 2.1: Kết quả hồi quy ước lượng mối tương quan giữa văn hóa vùng miền
và quyết định nắm giữ tiền mặt
Phụ lục 2.2: Kết quả hồi quy ước lượng mức độ tác động của văn hóa vùng miền
đến mối quan hệ giữa dòng tiền và quyết định nắm giữ tiền mặt
Phụ lục 2.3: Kết quả hồi quy ước lượng mối tương quan giữa văn hóa vùng miền
và quyết định đầu tư
Phụ lục 2.4: Kết quả hồi quy ước lượng mức độ tác động của văn hóa vùng miền
đến mối quan hệ giữa dòng tiền và quyết định đầu tư
Phụ lục 2.5: Kết quả hồi quy ước lượng mối tương quan giữa văn hóa vùng miền
và quyết định phân phối cổ tức
Phụ lục 2.6: Kết quả hồi quy ước lượng mức độ tác động của văn hóa vùng miền
đến mối quan hệ giữa dòng tiền và quyết định phân phối cổ tức


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
CASH
CEO

CF
DIV
GLS

Từ viết đầy đủ bằng tiếng Anh
Cash
Chief Executive Officer
Cashflow
Dividend
Generalized Least Squares

HNX

Hanoi Stock Exchange

HOSE

Ho Chi Minh Stock Exchange

INV_SALES
INV_TA
LEV
MB
NWC
Pooled OLS

Investment_Sales
Investment_Total Assets
Leverage
Market-to-book

Net Working Capital
Pooled Ordinary Least Squares

R&D
REM

Research and Development
Random Effects Model

REP
SIZE
VOCF

Repurchase
Firm Size
Volatility of Cashflow

Từ viết đầy đủ bằng tiếng Việt
Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt
Giám đốc điều hành
Dòng tiền
Cổ tức
Phương pháp bình phương nhỏ
nhất tổng quát
Sở Giao Dịch Chứng Khoán Hà
Nội
Sở Giao Dịch Chứng Khoán
Thành phố Hồ Chí Minh
Chi tiêu vốn trên doanh thu
Chi tiêu vốn trên tổng tài sản

Đòn bẩy
Giá trị thị trường/giá trị sổ sách
Vốn luân chuyển ròng
Mô hình ước lượng bình phương
nhỏ nhất gộp
Nghiên cứu và phát triển
Mô hình các ảnh hưởng ngẫu
nhiên
Mua lại cổ phiếu
Quy mô công ty
Độ bất ổn của dòng tiền


DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
Bảng 2.1

Tên bảng biểu
Tổng hợp mối tương quan giữa văn hóa vùng miền và việc
ra quyết định trong tài chính doanh nghiệp của các công ty
cổ phần niêm yết Việt Nam theo giả thuyết nghiên cứu
Bảng 4.1 Thống kê mô tả
Bảng 4.2 Ma trận tương quan
Bảng 4.3 Kết quả hồi quy ước lượng mối tương quan giữa văn hóa
vùng miền và quyết định nắm giữ tiền mặt
Bảng 4.4 Kết quả hồi quy ước lượng mức độ tác động của văn hóa
vùng miền đến mối quan hệ giữa dòng tiền và quyết định
nắm giữ tiền mặt
Bảng 4.5 Kết quả hồi quy ước lượng mối tương quan giữa văn hóa
vùng miền và quyết định đầu tư

Bảng 4.6 Kết quả hồi quy ước lượng mức độ tác động của văn hóa
vùng miền đến mối quan hệ giữa dòng tiền và quyết định
đầu tư
Bảng 4.7 Kết quả hồi quy ước lượng mối tương quan giữa văn hóa
vùng miền và quyết định phân phối cổ tức dưới hình thức
chi trả cổ tức bằng mua lại cổ phiếu
Bảng 4.8 Kết quả hồi quy ước lượng mối tương quan giữa văn hóa
vùng miền và quyết định phân phối cổ tức dưới hình thức
chi trả cổ tức bằng tiền mặt
Bảng 4.9 Kết quả hồi quy ước lượng mức độ tác động của văn hóa
vùng miền đến mối quan hệ giữa dòng tiền và quyết định
phân phối cổ tức dưới hình thức chi trả cổ tức bằng mua lại
cổ phiếu
Bảng 4.10 Kết quả hồi quy ước lượng mức độ tác động của văn hóa
vùng miền đến mối quan hệ giữa dòng tiền và quyết định
phân phối cổ tức dưới hình thức chi trả cổ tức bằng tiền mặt
Bảng 4.11 So sánh giả thuyết nghiên cứu và kết quả nghiên cứu về mối
tương quan giữa văn hóa vùng miền và việc ra quyết định
trong tài chính doanh nghiệp của các công ty cổ phần niêm
yết Việt Nam

Trang
42

51
52
55
58

60

62

64

66

68

70

71


TÓM TẮT
Bài nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích tìm hiểu về mối quan hệ giữa văn hóa
vùng miền và việc ra quyết định trong tài chính doanh nghiệp của các công ty cổ phần
niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, điển hình là quyết định nắm giữ tiền
mặt, quyết định đầu tư và quyết định phân phối cổ tức. Tác giả tiến hành hồi quy dữ
liệu bảng của 236 công ty cổ phần phi tài chính niêm yết trên Sở Giao Dịch Chứng
Khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao Dịch Chứng Khoán Hà Nội
(HNX) trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2017 với tổng cộng 1.888 quan sát, kết
quả nghiên cứu cho thấy rằng văn hóa vùng miền có tác động đến quyết định nắm giữ
tiền mặt của CEO các công ty cổ phần niêm yết Việt Nam, cụ thể là công ty cổ phần có
CEO xuất thân từ miền Bắc sẽ có khuynh hướng nắm giữ tiền mặt ít hơn so với công ty
cổ phần có CEO xuất thân từ hai vùng miền còn lại, công ty cổ phần có CEO xuất thân
từ miền Trung sẽ có khuynh hướng nắm giữ tiền mặt nhiều hơn so với công ty cổ phần
có CEO xuất thân từ hai vùng miền còn lại và cuối cùng, công ty cổ phần có CEO xuất
thân từ miền Nam sẽ có khuynh hướng nắm giữ tiền mặt nhiều hơn so với công ty cổ
phần có CEO xuất thân từ miền Bắc nhưng ít hơn so với công ty cổ phần có CEO xuất
thân từ miền Trung.


Từ khóa: Văn hóa vùng miền, quyết định nắm giữ tiền mặt, quyết định đầu tư, quyết
định phân phối cổ tức, Việt Nam.


1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
Chương 1 sẽ giúp người đọc có được cái nhìn sơ bộ về đề tài nghiên cứu mà tác giả sẽ
phân tích trong xuyên suốt bài luận văn này thông qua lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu
thực hiện đề tài, mô tả sơ lược về đối tượng và phạm vi nghiên cứu cũng như phương
pháp nghiên cứu được vận dụng.

1.1 Lý do nghiên cứu
Không thể phủ nhận rằng đứng sau thành công của mỗi doanh nghiệp luôn mang dấu
ấn của Giám đốc điều hành (Chief Executive Officer – CEO). Có thể nói, CEO là vị
thuyền trưởng có vai trò tiên quyết trong việc đưa ra các quyết định mang tính chiến
lược tạo nên thành công hay thất bại cho con tàu doanh nghiệp, các quyết định quan
trọng có thể kể đến trong công tác quản trị doanh nghiệp như quyết định nắm giữ tiền
mặt, quyết định đầu tư và quyết định phân phối cổ tức. Tuy nhiên, dưới góc nhìn khác
cho thấy văn hóa vùng miền có tác động rất lớn đến các quyết định quan trọng này của
CEO các công ty. Cụ thể là, nếu các CEO của các doanh nghiệp xuất thân từ các địa
phương vùng miền khác nhau thì các quyết định như nắm giữ tiền mặt, đầu tư và phân
phối cổ tức cũng có thể sẽ khác nhau vì văn hóa vùng miền là một trong những yếu tố
ảnh hưởng đến sự hình thành tính cách và hành vi của mỗi cá nhân. Việc hiểu rõ mối
quan hệ này sẽ giúp chúng ta đưa ra được cái nhìn tổng quan về quyết định nắm giữ
tiền mặt, quyết định đầu tư cũng như quyết định phân phối cổ tức của các công ty hoạt
động tại một quốc gia có nền văn hóa phong phú và đa dạng trên tất cả các khía cạnh
như Việt Nam. Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Văn hóa vùng miền và
việc ra quyết định trong tài chính doanh nghiệp: Bằng chứng thực nghiệm tại các

công ty cổ phần niêm yết Việt Nam” nhằm mục đích tìm ra câu trả lời cho nghi vấn
liệu có thể dùng văn hóa vùng miền làm yếu tố giải thích cho sự khác nhau trong việc
ra quyết định trong tài chính doanh nghiệp của CEO các công ty cổ phần niêm yết trên
thị trường chứng khoán Việt Nam hay không.


2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu này nhằm tìm hiểu về mối quan hệ giữa văn hóa
vùng miền và việc ra quyết định trong tài chính doanh nghiệp của các công ty cổ phần
niêm yết Việt Nam, điển hình là quyết định nắm giữ tiền mặt, quyết định đầu tư và
quyết định phân phối cổ tức.

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tác giả tiến hành kiểm định hồi quy sử dụng dữ liệu bảng của 236 công ty cổ phần
niêm yết trên Sở Giao Dịch Chứng Khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở
Giao Dịch Chứng Khoán Hà Nội (HNX) trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2017,
với tổng cộng 1.888 quan sát. Tất cả dữ liệu được sử dụng trong bài nghiên cứu đều
được thu thập và tập hợp từ các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên và bản cáo bạch
được công khai rộng rãi trên trang dữ liệu chứng khoán tài chính www.vietstock.vn và
www.cafef.vn. Mẫu nghiên cứu chỉ tập trung vào các công ty phi tài chính, không bao
gồm các công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính, chẳng hạn như, ngân hàng, công ty
bảo hiểm, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư, v.v…

1.4 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu vận dụng phương pháp định lượng và thực hiện mô hình hồi quy dữ
liệu bảng nhằm đo lường mức độ tác động của đặc điểm nguồn gốc xuất thân của CEO
đến quyết định nắm giữ tiền mặt, quyết định đầu tư và quyết định phân phối cổ tức của
các công ty cổ phần phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trên

cơ sở lược khảo lý thuyết cũng như các nghiên cứu liên quan, thu thập các số liệu cần
thiết từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên và bản cáo bạch của các công ty cổ phần
niêm yết làm dữ liệu đầu vào cho mô hình nghiên cứu và tiến hành hồi quy đa biến
thông qua phần mềm kinh tế lượng Stata.

1.5 Cấu trúc bài nghiên cứu


3

Kết cấu bài nghiên cứu bao gồm năm chương như sau: chương một sẽ trình bày sơ lược
về đề tài nghiên cứu; nội dung chương hai đề cập đến cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu
thực nghiệm trước đây và từ đó, phát triển các giả thuyết nghiên cứu; tiếp theo, chương
ba sẽ là phần mô tả phương pháp, mô hình nghiên cứu và cách đo lường các biến số
trong mô hình cùng với dữ liệu nghiên cứu và mẫu nghiên cứu; nội dung về việc kiểm
định tác động của văn hóa vùng miền đến việc ra quyết định trong tài chính doanh
nghiệp sẽ được trình bày trong chương bốn; và cuối cùng là chương năm bao hàm nội
dung tổng kết lại những vấn đề được nêu ra trong bốn chương trước.


4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT, TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN
CỨU TRƯỚC ĐÂY VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Ở Chương 2 này, tác giả sẽ đưa ra phần tổng quan cơ sở lý thuyết về văn hóa vùng
miền và các quyết định trong tài chính doanh nghiệp cũng như các kết quả nghiên cứu
thực nghiệm trước đây nhằm mục tiêu giúp người đọc trang bị được kiến thức mang
tính lý thuyết lẫn thực tiễn về mối quan hệ giữa văn hóa vùng miền và các quyết định
như quyết định nắm giữ tiền mặt, quyết định đầu tư, quyết định phân phối cổ tức, và
cuối cùng, tác giả sẽ xây dựng giả thuyết nghiên cứu được kế thừa từ các kết quả

nghiên cứu thực nghiệm này. Nội dung Chương 2 cũng là tiền đề cho hai chương tiếp
theo trình bày về phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu.

2.1 Văn hóa và hành vi con người
Văn hóa là toàn bộ giá trị, tiêu chuẩn, tín ngưỡng và giả định chi phối quan điểm và
hành vi của các cá nhân. Cụ thể là, văn hóa làm cho quan điểm và hành vi của các cá
nhân có đặc điểm tương tự và đồng thời cho phép tạo ra sự khác biệt giữa các cá nhân.
Ở điểm này, khái niệm về văn hóa quốc gia trở nên quan trọng. Văn hóa quốc gia có
thể được định nghĩa là toàn bộ các tiêu chuẩn hành vi, tín ngưỡng truyền thống và giá
trị có ảnh hưởng mang tính xác định đối với phần lớn các cá nhân sinh sống tại một
quốc gia nhất định (Çetenak và cộng sự, 2017).

2.2 Văn hóa vùng miền và hành vi giao tiếp kinh doanh ở Việt Nam
2.2.1 Sơ lược về văn hóa Việt Nam
Theo Nguyen và Truong (2016), kể từ thế kỷ II trước công nguyên, Việt Nam đã chịu
sự thống trị và chi phối của các triều đại phong kiến Trung Quốc trong hơn một nghìn
năm. Điều này lý giải vì sao văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều bởi hệ tư tưởng
và tín ngưỡng Trung Quốc. Trong nguồn gốc văn hóa Trung Quốc, triết học Khổng Tử
được lan rộng tại Việt Nam dưới thời nhà Hán (từ năm 110 trước công nguyên đến năm


5

220 sau công nguyên) có thể được xem là yếu tố tác động mạnh mẽ nhất đến giá trị văn
hóa Việt Nam (Kelley, 2006). Hơn nữa, trong lịch sử Việt Nam, bên cạnh sự thống trị
của các triều đại Trung Quốc, sẽ thật thiếu sót khi không đề cập đến khoảng thời gian
một thế kỷ Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược (1858 – 1954) và ba mươi năm bị đế
quốc Mỹ xâm lược miền Nam. Các cuộc xâm lược này đã góp phần làm pha trộn thêm
nhiều đặc trưng phương Tây vào giá trị văn hóa Việt Nam. Về hệ thống văn hóa của
Hofstede, đặc điểm văn hóa Việt Nam được mô tả như sau:

Chủ nghĩa tập thể: Theo Hofstede, với điểm số thấp trên thang điểm 20 dành cho khía
cạnh chủ nghĩa cá nhân, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tinh thần chủ nghĩa tập
thể tương đối cao (Hofstede, 2001). Đánh giá của Hofstede phù hợp với kết quả nghiên
cứu do Ralston và cộng sự (1999) tiến hành. Kết quả nghiên cứu này cho thấy rằng các
nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam có tinh thần chủ nghĩa tập thể cao hơn đáng kể so
với các nhà quản trị Trung Quốc và Mỹ. Ngoài ra, người Việt Nam cũng có xu hướng
làm việc hòa thuận, có lối suy nghĩ tập thể, ưa thích hoạt động tập thể hơn và đưa ra
quyết định mang lại lợi ích cho cả tập thể thay vì mục tiêu cá nhân (Nguyen và
Mujtaba, 2011).
Khoảng cách quyền lực: Trong khía cạnh văn hóa này, Hofstede tin rằng nền văn hóa
Việt Nam tồn tại khoảng cách quyền lực rất lớn (Sower và Sower, 2005). Có thể chứng
kiến mô hình chung của hệ thống ra quyết định tập trung tại nhiều doanh nghiệp Việt
Nam và hầu hết các quyết định kinh doanh quan trọng đều do các nhà lãnh đạo cấp cao
và các nhà quản trị cấp cao đưa ra (Napier, 2006). Nhiều người lao động Việt Nam
quen thuộc với việc tuân theo mệnh lệnh của cấp trên mà không hề có sự chất vấn hoặc
tranh luận nào. Ngoài ra, cả nhà quản trị và cấp dưới đều chấp nhận khoản chênh lệch
lớn về mức lương giữa người lao động và nhà quản trị trong doanh nghiệp của họ.
Thái độ né tránh rủi ro: Việt Nam nhận được số điểm trung bình về chỉ số thái độ né
tránh rủi ro (Sower và Sower, 2005). Điều này có nghĩa là đôi khi người Việt Nam kể


6

cả các nhà quản trị doanh nghiệp trong nước có thể bị đe dọa bởi các tình huống mơ
hồ, vì vậy, họ thường cố gắng né tránh các trường hợp không chắc chắn này bằng cách
xây dựng một số quy tắc chính thống và kế hoạch hoạt động chi tiết nhằm đề phòng
biến cố có thể xảy ra. Họ có mức e ngại rủi ro nhất định, trì hoãn việc ra quyết định
tạm thời khi cảm thấy không chắc chắn và có xu hướng bác bỏ các ý kiến hoặc hành vi
không có tiền lệ (Duong và Swierczek, 2008). Tuy nhiên, trong cuộc sống hàng ngày,
người Việt Nam khá linh hoạt và dễ dàng thích nghi với tình huống thực tế, thỉnh

thoảng họ tin rằng mọi việc xảy ra đều do số phận an bài.
Tính chất nam tính: Vị trí, tình trạng và giai cấp xã hội đều đóng vai trò quan trọng
trong xã hội Việt Nam. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của Khổng giáo đến nền văn hóa
quốc gia, người Việt Nam có xu hướng chú trọng đến địa vị của nam giới trong nhiều
khía cạnh đời sống. Mặc dù trong những thập kỷ gần đây bất bình đẳng giới đã dần
được xóa bỏ trong thế hệ trẻ người Việt Nam, nhưng vẫn tồn tại sự phân biệt về vai trò
và vị trí của người phụ nữ trong xã hội (Knodel và cộng sự, 2004). Trong nhiều doanh
nghiệp Việt Nam, các vị trí chủ chốt trong ban điều hành phần lớn đều do nam giới
nắm giữ và khoản chênh lệch về mức lương và phúc lợi giữa hai giới vẫn được ngầm
chấp nhận giữa những người lao động với nhau.
Định hướng dài hạn: Trong khía cạnh văn hóa thứ năm, Việt Nam được xếp vào một
trong những xã hội có định hướng dài hạn. Tuy nhiên, với điểm số dành cho Việt Nam
ở khía cạnh này là 57 được xem là thấp hơn nhiều so với các nền văn hóa khác cũng
chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi Khổng giáo bao gồm Trung Quốc là 80, Đài Loan là 93,
Hàn Quốc là 100 và Nhật Bản là 88. Người Việt Nam “có xu hướng tiết kiệm và đầu
tư, tính tằn tiện, tính kiên nhẫn trong việc đạt được kết quả và mối quan tâm hơn cả đó
là đức hạnh” (Sower và Sower, 2005).
2.2.2 Văn hóa vùng miền và hành vi giao tiếp kinh doanh ở miền Bắc


7

Theo Trần Ngọc Thêm (1996), McLeod và cộng sự (2001), Ngô Đức Thịnh (2003) và
Trần Quốc Vượng (2006), Bắc Bộ là nơi ghi dấu ấn lịch sử lâu đời nhất của đại dân tộc
Việt. Vùng đất này được xem là quê hương, là nguồn cội của con người Việt Nam, là
xuất phát điểm của ba nền văn hóa cổ xưa nổi tiếng như văn hóa Đông Sơn, văn hóa
Đại Việt và văn hóa Việt Nam, tiêu biểu là trung tâm Thăng Long – Đông Đô – Hà
Nội. Đây cũng được xem là cái nôi ban đầu tiếp nhận các yếu tố văn hóa mới hình
thành nên vùng văn hóa Trung Bộ và vùng văn hóa Nam Bộ.
Với lịch sử nghìn năm văn hiến, Bắc Bộ chính là trung tâm đời sống văn hóa, chính trị

và xã hội của đất nước, từ đó, mọi khía cạnh trong đời sống vật chất và tinh thần của
người dân nơi đây luôn mang đậm những nét truyền thống văn hóa lâu đời. Nét truyền
thống quý báu ấy tạo nên nét đẹp rất đặc trưng của cư dân miền Bắc nhưng lại trở
thành chướng ngại vật ngăn cản con đường phát triển của chính họ.
Vị trí địa lý cùng hoàn cảnh lịch sử này đã tạo cho con người Bắc Bộ một lối ứng xử
hài hòa sao cho vừa tiếp nhận những ảnh hưởng giao lưu văn hóa vừa lưu giữ những
truyền thống lâu đời, từ đó, hình thành nên những bản sắc văn hóa cũng như những
tính cách rất đặc trưng.
Tính cách thứ nhất là tính căn cơ: Bắc Bộ quanh năm có nhiệt độ tương đối cao và ẩm,
khí hậu ở đây mang tính chất lục địa chịu ảnh hưởng từ lục địa Trung Hoa chuyển qua.
Trong khi đó, khí hậu ở một phần khu vực Duyên hải lại mang tính chất cận nhiệt đới
ẩm chịu ảnh hưởng từ đất liền. Vùng đất này có hai mùa rõ rệt, đó là mùa đông rét căm
và mùa hạ nắng nóng cùng với sự tàn phá nặng nề của thiên tai như lũ lụt, hạn hán,
v.v… gây ra tình trạng mùa màng thất bát. Chính vì thế, người dân miền Bắc phải căn
cơ và tiết kiệm để phòng tránh tình cảnh đói rét có thể xảy ra trong tương lai.
Tính cách thứ hai là tính sĩ diện: Đây là vùng đất của những người mang đậm cốt cách
kẻ sĩ, quan trọng vẻ bề ngoài, phong cách ăn mặc và phong cách lễ nghĩa. Tâm lý sĩ
diện trong đời sống người miền Bắc dẫn đến tính khoa trương, trọng hình thức. Người


8

dân Bắc Bộ tuy có bản tính căn cơ, tiết kiệm nhưng đôi lúc lại hoang phí vì những lý
do bất hợp lý như khoe khoang, tỏ vẻ hơn người, sĩ diện. Họ xem trọng những thứ tao
nhã về tri thức và tinh thần nên học thức cũng là một trong những cái “kiêu ngầm” của
kẻ sĩ.
Tính cách thứ ba là tính bảo thủ: So với hai vùng văn hóa còn lại là Trung Bộ và Nam
Bộ thì vùng văn hóa Bắc Bộ gần sát với Trung Quốc hơn nên cũng chịu sự ảnh hưởng
mạnh mẽ từ nền văn hóa của quốc gia láng giềng này, điển hình là Khổng giáo, vì thế,
tư tưởng của người miền Bắc đến nay vẫn còn nặng tinh thần của trường phái này, đó

chính là trọng nam khinh nữ, trọng quân thần khinh dân đen, trọng lễ nghi hình thức,
gia trưởng và bảo thủ.
Tính cách thứ tư là tính cộng đồng: Tuân theo nguyên tắc truyền thống và chuẩn mực
chung, hành vi ứng xử của người Bắc Bộ cũng mang những nét đặc trưng của xã hội
Việt Nam có bề dày lịch sử phong kiến lâu đời, đó là đề cao tính cộng đồng. Tính cộng
đồng ấy biểu hiện rõ rệt từ cộng đồng về lãnh thổ, đó là các thành viên trong làng cùng
sở hữu chung đất đai, áp dụng chế độ ruộng đất công, chẳng hạn như, vào mỗi định kỳ,
ruộng công sẽ được phân chia cho từng thành viên trong làng, còn người nhận ruộng có
nghĩa vụ đóng góp sức lao động và của cải, v.v… Ngoài ra, tính cộng đồng còn được
thể hiện trong hoạt động tổ chức lao động sản xuất, chẳng hạn như, xây dựng các công
trình thủy lợi, công trình đường bộ, hệ thống cống rãnh, lao động dưới hình thức vần
công, đổi công, v.v…
Với tư cách là cội nguồn hình thành dân tộc Việt, văn hóa vùng Bắc Bộ vừa có những
nét đặc trưng của văn hóa Việt Nam vừa có những nét riêng của vùng này, chính vì
vậy, hành vi ứng xử của người dân nơi đây cũng không giống với người miền Trung và
người miền Nam do bởi hành vi giao tiếp trong đời sống sinh hoạt và đời sống sản xuất
kinh doanh phụ thuộc rất nhiều vào nền tảng văn hóa. Từ đó, hành vi giao tiếp trong
cuộc sống và trong kinh doanh của người Bắc Bộ cũng tồn tại nhiều điểm khác biệt so


9

với hành vi giao tiếp trong cuộc sống và trong kinh doanh của người Trung Bộ và
người Nam Bộ. Từ sự đúc rút của Trần Ngọc Thêm (1996), McLeod và cộng sự
(2001), Ngô Đức Thịnh (2003) và Trần Quốc Vượng (2006) về tính cách người Bắc Bộ
kết hợp với những kiến thức học thuật về hành vi giao tiếp, tâm lý giao tiếp cũng như
kỹ năng giao tiếp và thương lượng trong kinh doanh của Chu Văn Đức (2005), Meyer
và cộng sự (2006), Phan Thanh Lâm (2008), Thái Trí Dũng (2009) và Đoàn Thị Hồng
Vân (2011), hành vi giao tiếp trong kinh doanh của người miền Bắc được mô tả như
sau:

Tính căn cơ: Bề dày văn hóa lịch sử lâu đời đã vô hình chung tạo cho con người Bắc
Bộ định kiến bất di bất dịch rằng những người làm nghề phục vụ là những người hạ lưu
và thấp hèn. Định kiến ấy cũng góp phần làm cho sự phát triển của ngành dịch vụ tại
khu vực này bị hạn chế với văn hóa phục vụ khách hàng còn rất yếu kém.
Tính sĩ diện: Người miền Bắc vốn rất xem trọng thể diện và chú trọng đến vẻ bề ngoài.
Họ luôn muốn chứng tỏ bản thân mình vượt trội hơn so với những người khác. Chính
vì thế, khi tham gia vào bất kỳ lĩnh vực nào, chẳng hạn như, đầu tư, kinh doanh, họ
cũng luôn hướng đến việc giữ gìn hình ảnh tốt đẹp trước công chúng. Mỗi khi đưa ra
quyết định liên quan đến vận mệnh công ty, họ đều cân nhắc rất kỹ lưỡng để không ảnh
hưởng đến hình ảnh công ty đã xây dựng.
Tính bảo thủ: Việc thuyết phục người dân Bắc Bộ chấp nhận cái mới là rất khó khăn
do bởi tính cách bảo thủ của họ. Nếu xét về góc độ doanh nghiệp đến từ khu vực khác
thì họ cần phải tìm tòi và sáng tạo sao cho sản phẩm của mình có thể chinh phục được
người dân nơi đây, có thể khiến họ thay thế sản phẩm quen thuộc bằng sản phẩm mới
của mình. Nhưng lại nghịch lý ở chỗ, họ rất thích những gì gọi là khác biệt. Nên nếu
doanh nghiệp nắm bắt được tâm lý này thì việc tiêu thụ sản phẩm mới ở thị trường
miền Bắc sẽ không trở nên quá khó khăn. Còn nếu xét về góc độ doanh nghiệp miền
Bắc thì với tính cách cố hữu này họ sẽ cảm thấy e ngại với các dự án hay các lĩnh vực


10

mang tính mới lạ và mạo hiểm vốn luôn tồn tại sự không chắc chắn mặc dù nếu thành
công họ có thể đạt được lợi nhuận rất cao.
Tính cộng đồng: Đối với người miền Bắc, mối quan hệ rất quan trọng. Tất cả các vấn
đề phát sinh đều được giải quyết bằng mối quan hệ quen biết giữa những người liên
quan và dĩ nhiên, kinh doanh không phải là trường hợp ngoại lệ. Nếu đã thiết lập được
mối quan hệ tâm giao tốt đẹp và vững chắc thì công việc kinh doanh sẽ thuận lợi hơn.
Nói chung, khi tham gia vào hoạt động kinh doanh ở khu vực miền Bắc, một trong
những điều kiện tiên quyết mà doanh nghiệp cần lưu ý đến là xây dựng mối quan hệ

thân thiết với những người có liên quan đến lĩnh vực mà mình sẽ tham gia hoạt động.
2.2.3 Văn hóa vùng miền và hành vi giao tiếp kinh doanh ở miền Trung
Theo Trần Ngọc Thêm (1996), McLeod và cộng sự (2001), Ngô Đức Thịnh (2003) và
Trần Quốc Vượng (2006), so sánh với vùng văn hóa Bắc Bộ – địa bàn tụ cư cùng với
lịch sử khai thác lâu đời của dân tộc Việt và vùng văn hóa Nam Bộ – vùng đất mới với
những sắc thái văn hóa tiêu biểu và riêng biệt, thì vùng văn hóa Trung Bộ thể hiện rõ
nét là một vùng đệm mang tính trung gian. Vùng chịu sự chi phối của các yếu tố tự
nhiên khác nhau như đồng bằng, sông ngòi, biển cả và núi non. Các yếu tố này đã góp
phần tạo nên các thành tố văn hóa vùng bộc lộ rõ qua các loại hình văn hóa, phong tục
tập quán nói chung và đời sống sinh hoạt của cộng đồng làng xã và đồng bằng ven biển
nói riêng.
Điều kiện tự nhiên quanh năm khắc nghiệt và không được thuận lợi nên tính chất văn
hóa vùng miền cũng vì thế mà chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ. Mặc dù vùng văn hóa
Trung Bộ sở hữu những nét riêng biệt so với hai vùng văn hóa còn lại, nhưng cũng
thuộc về hệ thống địa lý thống nhất cùng với mối quan hệ tương quan với các vùng
miền trong suốt chiều dài lịch sử đất nước nên vẫn tồn tại song song hai đặc tính, đó là
vừa đặc trưng vừa tương đồng với nền văn hóa chính thể.


11

Chính những đặc điểm tự nhiên ấy đã tạo nên một nền văn hóa độc đáo riêng nhưng
vẫn đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Và cũng chính hoàn cảnh ấy đã tạo nên tính
cách riêng của con người Trung Bộ.
Tính cách thứ nhất là tính cần cù, chịu thương, chịu khó: Có lẽ chính sự nghèo khó và
sự khắc nghiệt đã biến người miền Trung trở thành những con người cần cù, chịu
thương, chịu khó. Họ lấy sức mạnh ý chí để chống lại cái khắc nghiệt của thiên nhiên.
Họ ý thức được cái nghèo của bản thân nên họ rất chịu khó. Đằng sau những tai ương,
những bạc bẽo ấy là những ngày bình yên của những con người mang theo vẻ đẹp của
tinh thần hăng say lao động tạo ra của cải vật chất cống hiến cho đời.

Tính cách thứ hai là tính tiết kiệm: Miền Trung không được thiên nhiên ưu ái ban tặng
cho nguồn tài nguyên phong phú hoặc khí hậu thuận lợi. Những gì vùng đất này nhận
được chỉ là những dãy núi cao quanh co hiểm trở và những dòng sông sóng nước cuồn
cuộn cùng thời tiết khắc nghiệt, mùa đông lạnh lẽo, mùa hạ nắng nóng, rồi đến những
trận thiên tai lũ lụt, hạn hán phá hoại biết bao vụ mùa. Có thể thấy rằng, để sinh tồn,
mỗi ngày người dân Trung Bộ phải vật lộn và chống chọi với thiên nhiên gian khổ như
thế nào, và chính vì lẽ đó, đã tạo nên trong họ tính cách chịu đựng gian khó và tiết
kiệm vì nếu không dành dụm, chắt chiu thì khi lũ lụt hay hạn hán kéo đến bất ngờ, họ
biết xoay sở thế nào? Bởi thế, ăn chắc mặc bền là hành vi ứng xử với hoàn cảnh thiên
nhiên không lấy gì gọi là dễ chịu của người dân vùng này.
Tính cách thứ ba là tinh thần hiếu học: Người Trung Bộ luôn nghĩ đến tương lai, điều
họ mong muốn là thời tiết thuận lợi, mùa màng bội thu để thoát khỏi nghịch cảnh
nghèo đói. Nhưng thay vì mỗi ngày phải cầu xin cho mưa thuận gió hòa, họ lại thấm
nhuần tư tưởng phải “đổi đời” bằng con đường học vấn, đây là con đường duy nhất để
chấm dứt cái nghèo khổ đeo đẵng dai dẳng từ ngày này sang ngày khác. Họ cho rằng
họ phải nỗ lực học hành thành đạt thì trong tương lai họ mới có thể tránh khỏi sự trừng
phạt khắc nghiệt của thiên nhiên và thoát khỏi cảnh cơ hàn khốn khó. Vì vậy, tinh thần


12

hiếu học được xem là một trong những đức tính cao quý nhất của con người miền
Trung.
Tính cách thứ tư là tinh thần đoàn kết: Một trong những giá trị cốt lõi trong đời sống
người miền Trung là tình cảm gia đình và tình cảm làng xóm. Chính sự đói nghèo đã
tạo cho người dân Trung Bộ tinh thần đoàn kết rất cao trong công cuộc chung tay
chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt. Trong họ, ý thức tương thân tương ái, nhường
cơm sẻ áo, yêu thương đùm bọc luôn hiện hữu. Họ thấm nhuần được đạo lý rằng trước
điều kiện tự nhiên như thế, nếu họ không chung sức đồng lòng thì sẽ khó tồn tại. Tinh
thần đoàn kết không chỉ giúp họ chia sẻ công việc với nhau, giúp đỡ nhau trong những

lúc khó khăn, hoạn nạn mà còn cùng nhau chống lại sự trừng phạt của thiên nhiên mà
họ phải oằn mình gánh chịu.
Vốn là vùng đất có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, người miền Trung quanh năm phải
đối mặt với gió sương, từ đó hình thành nên hành vi ứng xử rất khác biệt so với người
miền Bắc và người miền Nam. Hành vi giao tiếp trong đời sống sinh hoạt và đời sống
sản xuất kinh doanh phụ thuộc rất nhiều vào nền tảng văn hóa. Và cũng chính bởi sự
khác biệt về văn hóa ấy mà hành vi giao tiếp trong cuộc sống và trong kinh doanh của
người Trung Bộ cũng tồn tại nhiều điểm khác biệt so với hành vi giao tiếp trong cuộc
sống và trong kinh doanh của người Bắc Bộ và người Nam Bộ. Từ sự đúc rút của Trần
Ngọc Thêm (1996), McLeod và cộng sự (2001), Ngô Đức Thịnh (2003) và Trần Quốc
Vượng (2006) về tính cách người Trung Bộ kết hợp với những kiến thức học thuật về
hành vi giao tiếp, tâm lý giao tiếp cũng như kỹ năng giao tiếp và thương lượng trong
kinh doanh của Chu Văn Đức (2005), Meyer và cộng sự (2006), Phan Thanh Lâm
(2008), Thái Trí Dũng (2009) và Đoàn Thị Hồng Vân (2011), hành vi giao tiếp trong
kinh doanh của người miền Trung được mô tả như sau:
Tính cần cù, chịu thương, chịu khó: Nói đến người miền Trung, không thể không nhắc
đến tính cách rất nổi bật, đó là chịu thương, chịu khó. Mặc dù luôn phải sống trong


13

điều kiện tự nhiên bất lợi nhưng người dân nơi đây vẫn kiên nhẫn, chăm chỉ và cần cù
tạo ra của cải làm giàu cho bản thân và cống hiến cho đời.
Tính tiết kiệm: Lẽ đương nhiên, sẽ rất khó khăn khi tạo ra của cải từ điều kiện khắc
nghiệt như thế, do vậy, họ rất quý trọng sức lao động và của cải vật chất tạo ra cũng
như đề cao tinh thần tiết kiệm. Nếu như trong lao động, họ luôn cần mẫn và kiên trì thì
trong sản xuất, họ luôn dựa vào kinh nghiệm lâu đời do người xưa lưu truyền lại. Về
mặt này, họ lại khá giống với người miền Bắc ở chỗ bảo thủ, ngại thay đổi và luôn làm
theo truyền thống. Họ sống theo phương châm ăn chắc mặc bền, sống đơn giản, sử
dụng những thứ do bản thân tự làm ra và hiếm khi tiêu xài vào những món hàng xa xỉ.

Chính vì thế, doanh nghiệp từ các khu vực khác muốn giới thiệu sản phẩm mới với
người dân Trung Bộ thì họ cần xây dựng chiến lược hiệu quả trong việc thuyết phục
người dân trải nghiệm với sản phẩm mang tính khác biệt so với sản phẩm thân quen từ
trước đến nay, còn đối với doanh nghiệp miền Trung, cũng thật khó khăn khi thuyết
phục họ đầu tư vốn vào các dự án mơ hồ không chắc chắn. Họ luôn lo tích cóp, phòng
bị và kỹ tính trong kinh doanh.
Tinh thần hiếu học: Điểm nổi bật của những nhà đầu tư người miền Trung là thận
trọng, không “lướt sóng” và ham học hỏi. Ông Tôn Thất Viên – Trưởng đại diện đại lý
nhận lệnh Chứng khoán An Bình ở Đà Nẵng đưa ra nhận xét rằng: “Bản chất của người
miền Trung là cẩn trọng, xem xét thấu đáo khi làm ăn nên phản ánh rõ nét qua đầu tư
chứng khoán, ít có nhà đầu tư “lướt sóng” để thắng nhanh – bại nhiều mà thường rải
đều các cổ phiếu ở nhiều ngành nghề chắc chắn. Do vậy, họ “được” không nhiều và
mất thì cũng ít”. Ông còn nhận định thêm rằng: “Đặc điểm của người chơi cổ phiếu ở
miền Trung là tính ham học hỏi, tìm hiểu và “săn” thông tin, phần lớn những người đầu
tư cổ phiếu đều đã trang bị kiến thức từ sách vở, trên mạng, báo chí nên rất ít người cần
đến tư vấn”.


14

Tinh thần đoàn kết: Người Trung Bộ luôn đề cao tinh thần chủ nghĩa tập thể và tinh
thần đoàn kết. Trong suy nghĩ của người miền Trung, lợi ích tập thể luôn được đặt lên
trên lợi ích cá nhân. Có thể nói, tinh thần chủ nghĩa tập thể là nét văn hóa truyền thống
từ trước đến nay của người Việt Nam. Nhưng ở người dân Trung Bộ đặc điểm văn hóa
này được thể hiện rất rõ, đặc biệt là trong các doanh nghiệp, văn hóa phục tùng của cấp
dưới đối với cấp trên luôn tồn tại. Cấp dưới luôn tuân theo mệnh lệnh và chỉ đạo của
cấp trên và không bao giờ đưa ra bất cứ sự phàn nàn nào. Họ sống thiên về tình cảm,
kính trọng người cao tuổi và người có địa vị. Đối với họ tình cảm giữa người với người
luôn là mối quan tâm hàng đầu, bởi thế, mọi vấn đề họ đều giải quyết dựa trên mối
quan hệ tình cảm, lấy đạo hiếu, uy tín và lễ nghĩa làm gốc. Trái ngược hoàn toàn với

người miền Bắc, xem trọng thể diện kèm theo sự tế nhị và khéo léo, người miền Trung
cũng xem trọng thể diện nhưng lại thẳng thắn và luôn bộc lộ rõ những suy nghĩ của bản
thân, họ bộc trực và dứt khoát. Bởi cá tính ấy nên ngành dịch vụ nơi đây cũng không
giống với những khu vực khác. Họ không xem thường những người làm trong lĩnh vực
dịch vụ nhưng họ lại không thích sự mời mọc và chèo kéo như người Bắc Bộ và người
Nam Bộ. Phong cách dịch vụ nào càng đon đả và nhiệt thành, họ lại càng tránh xa.
2.2.4 Văn hóa vùng miền và hành vi giao tiếp kinh doanh ở miền Nam
Theo Trần Ngọc Thêm (1996), McLeod và cộng sự (2001), Ngô Đức Thịnh (2003) và
Trần Quốc Vượng (2006), so với sự phát triển liên tục theo chiều dài lịch sử của vùng
văn hóa Bắc Bộ và vùng văn hóa Trung Bộ, thì vùng văn hóa Nam Bộ lại tồn tại sự đứt
đoạn trong quá trình phát triển lịch sử của chính mình do bởi sự biến mất của nền văn
hóa Óc Eo vào cuối thế kỷ XIII. Một nền văn hóa mới với hành trang mang theo là
những tinh hoa được đúc kết từ hàng nghìn năm của đại dân tộc đã góp phần tạo nên
những sắc thái riêng biệt và tiêu biểu cho hệ giá trị văn hóa Nam Bộ.
Một vùng đất giàu sức trẻ vừa lạ lẫm vừa thu hút từ vị thế địa chính trị đến vị thế địa
văn hóa, Nam Bộ đã từng bước trở thành trung tâm giao lưu văn hóa kết hợp giữa


15

truyền thống văn hóa của vùng đất cũ và điều kiện tự nhiên, lịch sử của vùng đất mới.
Vì thế, hệ giá trị văn hóa Nam Bộ vừa có nét giống lại vừa có nét khác so với nền văn
hóa nguồn cội của Việt Nam tạo nên phong cách văn hóa riêng biệt và đặc trưng.
Khi đề cập đến sắc thái riêng của vùng đất Nam Bộ, thì không thể không nhắc đến tính
cách Nam Bộ. Chính bởi cấu trúc mở của vùng đất mới nên ngoài những đặc tính, cốt
cách của người Việt Nam, người miền Nam lại có những tính cách khác biệt so với
người miền Bắc và người miền Trung.
Tính cách thứ nhất là tính vô tư và ít lo nghĩ xa: Nam Bộ vừa là vựa lúa chính của cả
nước vừa là vựa trái cây nổi tiếng với đầy đủ chủng loại hoa quả miền nhiệt đới được
phân bố rộng khắp các địa phương, bởi thế, nghề gốc của người dân miền Nam là làm

ruộng. Thiên nhiên trù phú cùng hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, bưng biền
ngập nước mênh mông được xem là nơi sinh sản lý tưởng của muôn loài như cá, tôm,
chim chóc, v.v… Vùng đất này còn là nơi tập trung nguồn sản vật giàu có nuôi sống
con người, chẳng hạn như, lúa mọc tự nhiên trong vùng nước ngập, thủy hải sản dưới
sông rạch, thú vật trong rừng rậm, v.v… nên hầu như người Nam Bộ không bao giờ bị
rơi vào hoàn cảnh thiếu đói cùng với điều kiện tự nhiên dễ chịu, không có hiện tượng
lũ lụt, hạn hán, mất mùa. Chính vì vậy, người dân hoàn toàn không phải lo nghĩ xa
“phòng cơ, tích cốc” ở vùng đất “làm chơi ăn thật” này.
Tính cách thứ hai là tính rộng rãi và chịu chơi: Nhờ vào sự ưu ái của thiên nhiên với
hai mùa mưa nắng cùng khí hậu dễ chịu tạo điều kiện thuận lợi cho việc làm ăn và sinh
sống, họ còn nổi bật ở tính cách phóng khoáng và cởi mở. Tuy cuộc sống mưu sinh có
phần suôn sẻ và dễ dàng như thế nhưng người Nam Bộ vẫn giữ nếp cần cù và xem
trọng tính cộng đồng. Điển hình là, họ vẫn sống hòa hợp, tôn trọng tín ngưỡng cũng
như phong tục tập quán riêng của các dân tộc khác như Kinh, Hoa, Chăm, Khmer,
v.v… Người Nam Bộ thích kết thân bạn bè cùng nhau nhậu nhẹt say sưa xả láng,
nhưng trong họ luôn có những nỗi buồn man mác, có thể thấy trong các cuộc vui của


16

họ luôn có những câu vọng cổ ngẫu hứng chất chứa nhiều nỗi niềm. Đó là hai mặt tâm
lý tồn tại song song trong tâm khảm con người Nam Bộ. Họ là những người dễ chấp
nhận và hướng về cái mới, chỉ cần nhận thấy có đem lại lợi ích và hiệu quả là chấp
nhận.
Tính cách thứ ba là lòng hiếu khách: Không chỉ là vùng đất “hào sảng”, Nam Bộ còn
nổi tiếng về sự phóng khoáng và lòng hiếu khách của con người. Có lẽ vì là những
người con xa xứ, xa nguồn cội, ở nơi đất khách quê người này họ không có nhiều
người thân thích, vì vậy, họ luôn luôn thấu hiểu và thông cảm cho nhau vì “mọi người
đều cùng chung số phận”. Một câu nói rất quen thuộc của người dân Nam Bộ nói về
tấm lòng luôn sống cho nhau, cho bạn bè, cho những người xung quanh, đó là “bán bà

con xa mua láng giềng gần”. Họ rất mến khách, họ đối xử với những người khách bằng
cả tấm lòng chân phương, không tính toán thiệt hơn. Người miền Nam hào hiệp, phóng
khoáng, sẵn sàng mời khách tá túc tại nhà và đãi khách như người bà con xa lâu ngày
mới về. Khách đến thăm viếng sẽ có cảm giác như được trở về quê nhà bởi thái độ cởi
mở, chan hòa và dễ kết thân của người dân nơi đây.
Tính cách thứ tư là tính xem trọng khí tiết và tấm lòng: Có lẽ do sự thừa hưởng tính
cách của thế hệ cha ông xưa kia đến vùng đất này khai thiên lập địa. Người Nam Bộ
đánh giá cao những con người có khí chất bản lĩnh, dám từ bỏ quê hương đến những
vùng đất mới tha phương cầu thực. Họ là những người xem trọng nghĩa tình, xởi lởi,
trong đó chữ “nghĩa” còn quan trọng hơn cả chữ “tình”, trọng nghĩa khí, coi khinh tiền
tài, danh vọng, không mang cốt cách kẻ sĩ, không đặt nặng vấn đề môn đăng hộ đối. Để
làm trọn đạo nghĩa, họ có thể sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của bản thân mình bởi
trong họ luôn tâm niệm rằng “Nếu thấy việc nghĩa mà không ra tay làm thì không phải
là anh hùng”.
Văn hóa vùng đất mới hình thành nên hành vi ứng xử của con người miền Nam mang
những đặc thù rất khác biệt so với hai vùng miền còn lại của Việt Nam, trong khi đó,


×