Tải bản đầy đủ (.docx) (40 trang)

Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại công ty vinamilk

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (708.81 KB, 40 trang )

Đà N ẵ ng, tháng 11
năm 2014

ĐỀ ÁN MÔN HỌC
Đề tài: Thực trạng thực hiện
trách nhiệm xã hội tại công ty Vinamilk
trong giai đoạn 2010-2013

VƯƠN CAO VIỆT NAM
GVHD

: Th.S Văn Ngọc Đàn

Lớp

: 37K08


Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Vinamilk trong giai đoạn 2010-2013
MỤC LỤC

Trang 2


Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Vinamilk trong giai đoạn 2010-2013
A. Giới thiệu đề tài
Trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập toàn cầu hiện nay, các doanh nghiệp, dù
quy mô lớn hay nhỏ đều quan tâm và coi trọng hàng đầu việc tạo lập và phát triển hiệu
quả lợi thế cạnh tranh của mình. Các doanh nghiệp trong thời gian gần đây đã lựa chọn
một giải pháp tạo lợi thế cho mình, và đạt được hiệu quả ở mọi góc độ, đó là việc thực
hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp – Corporate Social Responsibility (viết tắt là


CSR).
TNXHDN trong thời đại ngày nay đã trở thành triết lý kinh doanh cơ bản của
doanh nghiệp ở hầu hết các nước trên thế giới, góp phần vào sự phát triển bền vững
của các doanh nghiệp. Tuy nhiên ở Việt Nam vấn đề này vẫn còn khá mới mẻ và chưa
được các doanh nghiệp quan tâm đúng mức. Hàng loạt các vụ việc vi phạm môi
trường, vi phạm quyền lợi người lao động, xâm phạm lợi ích người tiêu dùng …
nghiêm trọng đã và đang khiến cộng đồng bức xúc và mất dần lòng tin vào các doanh
nghiệp, điển hình là vụ xả nước thải trực tiếp không qua xử lý ra sông Thị Vải của
công ty Vedan. Từ đó, các doanh nghiệp Việt Nam phải nhận thức sâu sắc hơn về lợi
ích thực hiện Trách nhiệm xã hội mang lại cho các doanh nghiệp trong bối cảnh đất
nước ta hiện nay. Doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội là góp phần nâng cao lợi
nhuận cho doanh nghiệp, và cũng là biện pháp quảng cáo cho thương hiệu của doanh
nghiệp đó, tạo sự ổn định lâu dài cho hoạt động của công ty.
Ý thức được vấn đề này công ty Vinamilk đã chú trọng tới việc đưa CSR vào
hoạt động kinh doanh của mình. Vinamlik luôn hiểu để thành công thì công ty không
thể chỉ hướng đến mục tiêu lợi nhuận mà còn mục tiêu phát triển bền vững, thực hiện
trách nhiệm xã hội thông qua việc phát triển sản phẩm có ích cho cộng đồng, tạo môi
trường làm việc tốt cho nhân viên, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế địa phương và
giúp đỡ cho cộng đồng. Đây là một trong số ít doanh nghiệp tại Việt Nam chú trọng
đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội. Chính vì thế, em xin chọn đề tài phân tích “
Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại công ty cổ phần sữa Việt Nam –
Vinamilk từ năm 2010 đến 2013”.

Trang 3


Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Vinamilk trong giai đoạn 2010-2013
B. Nội dung đề tài
PHẦN 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
1.1. Trách nhiệm xã hội là gì?

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility)
(CSR) là cam kết của doanh nghiệp đối với đạo đức kinh doanh và đóng góp vào phát
triển kinh tế bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động và gia đình
họ, cộng đồng địa phương và xã hội nói chung.
CSR được coi là 1 yếu tố quan trọng như những yếu tố truyền thống khác như
chi phí, chất lượng và giao hàng trong kinh doanh. CSR được lồng ghép vào chiến
lược của DN và trở thành điều kiện bắt buộc để doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
1.2. Lợi ích của việc thực hiện trách nhiệm xã hội
1.2.1. Giảm chi phí và tăng năng suất
Doanh nghiệp có thể tiết kiệm chi phí bằng cách sản xuất sạch hơn. Ví dụ, một
doanh nghiệp sản xuất bao bì lớn của Ba Lan đã tiết kiệm được 12 triệu Đô la Mỹ
trong vòng 5 năm nhờ việc lắp đặt thiết bị mới, nhờ đó làm giảm 7% lượng nước sử
dụng, 70% lượng chất thải nước và 87% chất thải khí. Công ty sản xuất gốm sứ Giang
Tây Trung Quốc khi lắp đặt công nghệ thân thiện môi trường đã tiết kiệm gần 10 triệu
USD mỗi năm, tiết kiệm được lượng nước sử dụng, giảm được lượng lớn các chất thải
và chi phí xử lý chất thải đó.
Một hệ thống quản lý nhân sự hiệu quả cũng giúp cắt giảm chi phí và tăng năng
suất lao động đáng kể. Lương thưởng hợp lý, môi trường lao động sạch sẽ và an toàn,
các cơ hội đào tạo và chế độ bảo hiểm y tế và giáo dục đều góp phần tăng lợi nhuận
cho DN bằng cách tăng năng suất lao động, giảm tỷ lệ nhân viên nghỉ, bỏ việc, và
giảm chi phí tuyển dụng và đào tạo nhân viên mới.
1.2.2. Tăng doanh thu
Đầu tư hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương có thể tạo ra một nguồn lao động tốt
hơn, nguồn cung ứng rẻ và đáng tin cậy hơn, và nhờ đó tăng doanh thu. Hindustan
Lever, một chi nhánh của tập đoàn Unilever tại ấn Độ, vào đầu những năm 1970 chỉ
hoạt động được với 50% công suất do thiếu nguồn cung ứng sữa bò từ địa phương, và
Trang 4


Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Vinamilk trong giai đoạn 2010-2013

do vậy đã lỗ trầm trọng. Để giải quyết vấn đề này, công ty đã thiết lập một chương
trình tổng thể giúp nông dân tăng sản lượng sữa bò. Chương trình này bao gồm đào tạo
nông dân cách chăn nuôi, cải thiện cơ sở hạ tầng cơ bản và thành lập một ủy ban điều
phối những nhà cung cấp địa phương. Nhờ chương trình này, số lượng làng cung cấp
sữa bò đã tăng từ 6 tới hơn 400, giúp cho công ty hoạt động hết công suất và đã trở
thành một trong những chi nhánh kinh doanh lãi nhất tập đoàn.
Rất nhiều công ty sau khi có được chứng chỉ về CSR đã tăng được doanh thu
đáng kể. Ví dụ, Aserradero San Martin, một công ty sản xuất đồ gỗ ở Bolivia, sau khi
có chứng chỉ bảo vệ rừng bền vững (FSC) đã tiếp cận được thị trường Bắc Mỹ và bán
sản phẩm với giá cao hơn từ 10-15%.
1.2.3. Tăng tỉ lệ các hợp đồng quốc tế
Trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, các công ty Việt Nam
muốn tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu thì CSR thực sự chính là một giải pháp. Các
tập đoàn đa quốc gia thường yêu cầu khắt khe về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp,
vì họ đứng trước sức ép rất lớn từ phía khách hàng, sự cạnh tranh gay gắt của dối thủ
cạnh tranh hoặc do chính quy định của công ty là như vậy. Vì vậy, các doanh nghiệp
Việt Nam cần phải thực sự lao vào cuộc cách mạng trách nhiệm xã hội thì mới có thể
tham gia cuộc chơi toàn cầu này.
1.2.4. Nâng cao giá trị thương hiệu và uy tín của công ty
CSR có thể giúp doanh nghiệp gia tăng giá trị thương hiệu và uy tín đáng kể.
Uy tín giúp doanh nghiệp tăng doanh thu, hấp dẫn các đối tác, nhà đầu tư, và người lao
động. Những tập đoàn đa quốc gia như The Body Shop (tập đoàn của Anh chuyên sản
xuất các sản phẩm dưỡng da và tóc) và IKEA (tập đoàn kinh doanh đồ dùng nội thất
của Thụy Điển) là những ví dụ điển hình. Cả hai công ty này đều nổi tiếng không chỉ
vì các sản phẩm có chất lượng và giá cả hợp lý của mình mà còn nổi tiếng là các DN
có trách nhiệm đối với môi trường và xã hội.
1.2.5. Thu hút nguồn lao động giỏi
Nguồn lao động có năng lực là yếu tố quyết định năng suất và chất lượng sản
phẩm. ở các nước đang phát triển, số lượng lao động lớn nhưng đội ngũ lao động đạt
chất lượng cao lại không nhiều; do vậy việc thu hút và giữ được nhân viên có chuyên

Trang 5


Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Vinamilk trong giai đoạn 2010-2013
môn tốt và có sự cam kết cao là một thách thức đối với các doanh nghiệp. Những doanh
nghiệp trả lương thỏa đáng và công bằng, tạo cho nhân viên cơ hội đào tạo, bảo hiểm y tế
và môi trường làm việc sạch sẽ có khả năng thu hút và giữ được nhân viên tốt.
1.2.6. Trách nhiệm xã hội góp phần nâng cao hình ảnh quốc gia.
Trách nhiệm xã hội là xu thế tất yếu và mang tính toàn cầu, thực hiện trách
nhiệm xã hội là tăng khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế, không mâu thuẫn với
lợi ích kinh tế của doanh nghiệp. Vai trò của Chính phủ trong việc thúc đẩy trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp là phải tạo ra môi trường pháp luật hoàn chỉnh, một
sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp; cung cấp thông tin, tư vấn, hướng dẫn và
ban hành các cơ chế, chính sách khuyến khích đối với doanh nghiệp.
1.3. Các khía cạnh của trách nhiệm xã hội
1.3.1. Khía cạnh kinh tế
Khía cạnh kinh tế trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là phải sản
xuất hàng hóa và dịch vụ mà xã hội cần và muốn với một mức giá có thể duy trì doanh
nghiệp ấy và làm thỏa mãn nghĩa vụ của doanh nghiệp với các nhà đầu tư; là tìm kiếm
nguồn cung ứng lao động, phát hiện những nguồn tài nguyên mới, thúc đẩy tiến bộ
công nghệ, phát triển sản phẩm; là phân phối các nguồn sản xuất như hàng hoá và dịch
vụ như thế nào trong hệ thống xã hội. Trong khi thực hiện các công việc này, các
doanh nghiệp thực sự góp phần vào tăng thêm phúc lợi cho xã hội, đảm bảo sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp.
Đối với người lao động, khía cạnh kinh tế của doanh nghiệp là tạo công ăn việc
làm với mức thù lao xứng đáng, cơ hội việc làm như nhau, cơ hội phát triển nghề và
chuyên môn, hưởng thù lao tương xứng, hưởng môi trường lao động an toàn, vệ sinh
và đảm bảo quyền riêng tư, cá nhân ở nơi làm việc.
Đối với người tiêu dùng, trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp là cung cấp
hàng hoá và dịch vụ, trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp còn liên quan đến vấn đề

về chất lượng, an toàn sản phẩm, định giá, thông tin về sản phẩm (quảng cáo), phân
phối, bán hàng và cạnh tranh.

Trang 6


Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Vinamilk trong giai đoạn 2010-2013
Khía cạnh kinh tế trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là cơ sở cho
các hoạt động của doanh nghiệp. Phần lớn các nghĩa vụ kinh tế trong kinh doanh đều
được thể chế hoá thành các nghĩa vụ pháp lý.
1.3.2. Khía cạnh pháp luật
Khía cạnh pháp lý trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là doanh
nghiệp phải thực hiện đầy đủ những quy định về pháp luật đối với các bên hữu quan.
Những điều luật như thế này sẽ điều tiết được cạnh tranh, bảo vệ khách hàng, bảo vệ
môi trường, thúc đẩy sự công bằng và an toàn và cung cấp những sáng kiến chống lại
những hành vi sai trái. Các nghĩa vụ pháp lý được thể hiện trong luật dân sự và hình
sự. Về cơ bản, nghĩa vụ pháp lý bao gồm:






Điều tiết cạnh tranh
Bảo vệ người tiêu dùng
Bảo vệ môi trường
An toàn và bình đẳng
Khuyến khích phát hiện và ngăn chặn hành vi sai trái.
Thông qua trách nhiệm pháp lý, xã hội buộc các thành viên phải thực thi các


hành vi được chấp nhận. Các tổ chức không thể tồn tại lâu dài nếu họ không thực hiện
trách nhiệm pháp lý của mình
1.3.3. Khía cạnh đạo đức
Khía cạnh đạo đức trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là những
hành vi và hoạt động mà xã hội mong đợi ở doanh nghiệp nhưng không được quy định
trong hệ thống luật pháp, không được thể chế hóa thành luật.
Khía cạnh này liên quan tới những gì các công ty quyết định là đúng, công bằng
vượt qua cả những yêu cầu pháp lý khắc nghiệt, nó chỉ những hành vi và hoạt động mà
các thành viên của tổ chức, cộng đồng và xã hội mong đợi từ phía các doanh nghiệp dù
cho chúng không được viết thành luật.
Khía cạnh đạo đức của một doanh nghiệp thường được thể hiện thông qua
những nguyên tắc, giá trị đạo đức được tôn trọng trình bày trong bản sứ mệnh và chiến
lược của công ty. Thông qua các công bố này, nguyên tắc và giá trị đạo đức trở thành

Trang 7


Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Vinamilk trong giai đoạn 2010-2013
kim chỉ nam cho sự phối hợp hành động của mỗi thành viên trong công ty và với các
bên hữu quan.
1.3.4. Khía cạnh nhân văn:
Khía cạnh nhân văn của một doanh nghiệp thể hiện qua những hành vi của doah
nghiệp vượt ra ngoài sự trông đợi của xã hội, như là quyên góp ủng hộ người khó
khăn, tài trợ học bổng, đóng góp cho các dự án cộng đồng... Điểm khác biệt giữa khía
cạnh đạo đức và nhân văn chính là sự tự nguyện của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp
không thực hiện trách nhiệm xã hội đến mức độ này thì vẫn được coi là đáp ứng đủ các
chuẩn mực mà xã hội mong đợi.
1.4. Mối quan hệ giữa đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp
Đạo đức kinh doanh gồm những nguyên tắc và chuẩn mực có tác dụng hướng

dẫn hành vi trong mối quan hệ kinh doanh; chúng được những bên hữu quan (như
người đầu tư, khách hàng, người quản lí, người lao động, đại diện cơ quan pháp lí,
cộng đồng dân cư, đối tác, đối thủ …) sử dụng để phán xét một hành động cụ thể là
đúng hay sai, hợp đạo đức hay phi đạo đức. Mặc dù các đối tượng hữu quan không
phải lúc nào cũng đúng, những phán xét của họ luôn tác động đến sự chấp thuận của
xã hội đối với doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong thực tế, khái niệm trách nhiệm xã hội được nhiều người sử dụng đồng
nghĩa với đạo đức kinh doanh. Tuy nhiên, về bản chất đây là hai khái niệm khác nhau.
Nếu trách nhiệm xã hội là những nghĩa vụ một doanh nghiệp hay cá nhân phải thực
hiện đối với xã hội nhằm đạt được nhiều nhất những tác động tích cực và giảm tối
thiểu các tác động tiêu cực đối với xã hội thì đạo đức kinh doanh lại bao gồm những
quy định và các tiêu chuẩn chỉ đạo hành vi trong thế giới kinh doanh. Trách nhiệm xã
hội được xem như một cam kết với xã hội trong khi đạo đức kinh doanh lại bao gồm
các quy định rõ ràng về các phẩm chất đạo đức của tổ chức kinh doanh, mà chính
những phẩm chất này sẽ chỉ đạo quá trình đưa ra quyết định của những tổ chức ấy.
Nếu đạo đức kinh doanh thể hiện những mong muốn, kỳ vọng xuất phát từ bên trong
thì trách nhiệm xã hội thể hiện những mong muốn, kỳ vọng xuất phát từ bên ngoài.

Trang 8


Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Vinamilk trong giai đoạn 2010-2013
Tuy khác nhau nhưng đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội có quan hệ
chặt chẽ với nhau. Đạo đức kinh doanh là sức mạnh trong trách nhiệm xã hội vì tính
liêm chính và sự tuân thủ đạo đức của các tổ chức phải vượt xa cả sự tuân thủ các luật
lệ và quy định. Có nhiều bằng chứng cho thấy trách nhiệm xã hội bao gồm đạo đức
kinh doanh liên quan tới việc tăng lợi nhuận.
PHẦN 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TẠI VIỆT
NAM
2.1. Tổng quan thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Việt Nam

Những năm trước khi Việt Nam gia nhập WTO, khái niệm về “trách nhiệm xã
hội (CSR) là khá xa vời đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Sau khi gia nhập WTO
thách thức lớn nhất là sức ép cạnh tranh gia tăng do nước ta phải từng bước mở cửa thị
trường cho các doanh nghiệp nước ngoài, ngoài những nhân tố về sản phẩm, giá cả…
doanh nghiệp còn được đánh giá là có thực hiện tốt CSR hay không. Nội dung CSR
được các công ty nước ngoài thực hiện có bài bản và đạt hiệu quả cao. Có thể lấy một
số ví dụ điển hình như chương trình “Tôi yêu Việt Nam” của công ty Honda – Việt
Nam, chương trình giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ em tại các tỉnh miền núi của
Unilever, chương trình khôi phục nghị lực cho trẻ em nghèo của Western Union,…
Các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã bắt đầu nhận ra được tầm quan trọng của
CSR và quan tâm đến nó. Đặc biệt là trong khoảng mấy năm trở lại đây, khái niệm
“trách nhiệm xã hội” (CSR) đã bắt đầu được các phương tiện thông tin đại chúng đề
cập đến và cũng đã có một số doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp lớn hay các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Tổng Công ty thăm dò khai thác dầu khí (PVEP) và Tập đoàn Viễn thông quân
đội (VIETTEL) là những đơn vị luôn tích cực gắn kết trách nhiệm xã hội với các hoạt
động sản xuất. PVEP đặc biệt chú trọng hệ thống chính sách đối với người lao động,
ưu tiên sử dụng các nguyên/nhiên liệu thân thiện hơn với môi trường; xây dựng
chương trình quản lý chất thải, PVEP cũng đã dành trên 350 tỷ đồng cho các hoạt động
an sinh xã hội. Còn Viettel lại gắn trách nhiệm xã hội của mình với cuộc sống người
dân bằng việc phủ sóng di động đến một trong những huyện nghèo cũng như những
miền biển đảo giúp cuộc sống của người dân mở mang rất nhiều; thực hiện chương
trình "Trái tim cho em" …
Trang 9


Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Vinamilk trong giai đoạn 2010-2013
Công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk: hỗ trợ 500 triệu đồng cho trẻ em mổ
tim (2011), 8000 ly sữa cho trẻ em đảo Lý Sơn (2012), chương trình “Quỹ sữa vươn
cao Việt Nam” (2012)…; tập đoàn TH với thương hiệu sữa tươi sạch TH true MILK đã

trao tặng khoảng 600.000 ly sữa (trị giá gần 4 tỷ đồng) cho trẻ em ở khắp mọi miền Tổ
quốc (2013) và nhiều chương trình, hoạt động CSR của nhiều doanh nghiệp khác.
Giải thưởng CSR: Để khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện hoạt động
CSR, vừa qua VCCI phối hợp với các cơ quan chức năng và các đối tác quốc tế phát
động “Giải thưởng Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp năm 2012 – CSR Award 2012”
cho giai đoạn 2010-2012. Đây là lần thứ 5 giải thưởng được phát động.
Có thể thấy, các hoạt động CSR đang dần được các doanh nghiệp Việt Nam
cũng như các cơ quan chức năng quan tâm nhiều hơn. Bởi lẽ, các hoạt động CSR đang
là xu hướng tất yếu trong kinh doanh ngày nay và ảnh hưởng lớn đến thành công của
một công ty.
2.2. Một số vấn đề còn tồn tại trong thực hiện trách nhiệm xã hội tại Việt
Nam
Những năm trước đây, vấn đề CSR ở hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam vẫn
còn khá mới mẻ và chưa được quan tâm đúng mức. Hàng loạt các vụ việc vi phạm môi
trường, vi phạm quyền lợi người lao động, xâm phạm lợi ích người tiêu dùng. Trên
thực tế, đa số doanh nghiệp hiểu việc thực hiện trách nhiệm xã hội theo nghĩa “truyền
thống” tức là chỉ tham gia một số hoạt động xã hội mang tính nhân đạo, từ thiện chứ
chưa thực sự thực hiện trách nhiệm xã hội trong doanh nghiệp của mình trên tất cả các
khía cạnh. Sau đây là một số vấn đề còn hạn chế trong việc thực hiện trách nhiệm xã
hội tại Việt Nam:
• Hạn chế về chất lượng thực phẩm
Thực tế, nhiều sự kiện sử dụng những hoá chất cấm dùng trong nuôi trồng, chế
biến nông thủy sản, thực phẩm, việc sản xuất một số sản phẩm kém chất lượng hoặc
do quy trình chế biến hoặc do nhiễm độc từ môi trường, đang gây ảnh hưởng xấu đến
xuất khẩu và tiêu dùng của Việt Nam như là sự kiện năm 2007 về việc 90% doanh
nghiệp sản xuất nước tương của Việt Nam bị cơ quan chức năng tuyên bố vi phạm vệ
sinh an toàn thực phẩm do hàm lượng chất 3-MCPD vượt quá mức cho phép, vụ sữa bị
Trang 10



Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Vinamilk trong giai đoạn 2010-2013
nhiễm melamine gây hại đến sức khỏe người tiêu dùng vào năm 2008, thịt lợn siêu
nạc, rau quả có chứa thuốc tăng trưởng, …
• Hạn chế trong vấn đề lao động
Tình hình thực hiện CSR ở các doanh nghiệp Việt Nam trong vấn đề lao động
đang còn khá nhiều hạn chế. Vấn đề sử dụng lao động trẻ em, lao động vị thành niên
vẫn còn xảy ra ở một số doanh nghiệp; tiền lương, thu nhập trung bình của người lao
động nhìn chung còn ở mức thấp, chưa thoả đáng, chưa đáp ứng được nhu cầu thiết
yếu của cuộc sống, và chưa là động lực để người lao động hứng thú với công việc.
• Hạn chế trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng:
Quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam hiện nay đang bị nhiều doanh nghiệp vi
phạm. Vì lợi nhuận các doanh nghiệp đã đưa ra thị trường những sản phẩm không đảm
bảo chất lượng, và người tiêu dùng là những người chịu hậu quả. Thế nhưng, ý thức
của cộng đồng và ý thức bảo vệ quyền lợi của người dân rất thấp nên quyền lợi của
người tiêu dùng đã không được đề cao.
Khi lạm phát tăng cao là chi phí đầu vào tăng mạnh, các doanh nghiệp thường
có xu hướng tăng giá các mặt hàng để bảo toàn lợi nhuận, việc này lại khiến lạm phát
ngày càng trầm trọng hơn. Không những thế, nhiều doanh nghiệp nhân lúc thiên tai,
ngập úng… tăng giá hoặc mặc dù người tiêu dùng phản ứng mạnh liệt vẫn không chịu
giảm giá, gây khó khăn cho những người tiêu dùng có thu nhập thấp và trung bình.
• Hạn chế về vấn đề môi trường, cộng đồng
Điển hình cho việc xâm phạm nặng nề đến môi trường là vụ việc vào năm 2008
của công ty Vedan xả nước thải chưa qua xử lý xuống sông Thị Vải trong nhiều năm
đã “giết chết” sông Thị Vải hay vụ việc xảy ra năm 2013 của công ty Nicotex Thanh
Thái, công ty này đã chôn lấp hóa chất, chất thải xuống đất trong nhiều năm liền,
những hành động này không chỉ gây ô nhiễm môi trường mà còn tác động xấu đến sức
khỏe của người dân trong khu vực. Và còn nhiều trường hợp vi phạm khác của các
doanh nghiệp gây hại đến môi trường, người lao động và người tiêu dùng, những sự
việc này đã bị cộng đồng lên án rất dữ dội.


Trang 11


Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Vinamilk trong giai đoạn 2010-2013
2.3. Một số nguyên nhân của những tồn tại trong việc thực hiện trách
nhiệm xã hội tại Việt Nam trong thời gian qua.
Thứ nhất, hiểu biết của các doanh nghiệpViệt Nam hiện nay về các vấn đề đạo
đức kinh doanh hay trách nhiệm xã hội còn mơ hồ và hạn chế. Đa số các doanh nghiệp
chưa nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của CSR đối với khách hàng, xã hội
và chính bản thân doanh nghiệp.
Thứ hai, Quản lý Nhà nước còn lỏng lẻo, các văn bản pháp luật không sát với
tình hình thực tế đã dẫn tới tình trạng các doanh nghiệp dễ dàng lách luật, chối bỏ
những trách nhiệm của mình.
Thứ ba, Công đoàn Việt Nam là tổ chức có vai trò quan trọng trong việc hòa
giải, ký kết thỏa ước lao động tập thể, là đại diện bảo vệ quyền lợi cho người lao động.
Thế nhưng hiện tại, các tổ chức công đoàn vẫn còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu
thực tế.
Thứ tư, tai nạn lao động, đình công đang có xu hướng gia tăng, đòi hỏi công tác
thanh tra lao động phải được thực hiện thường xuyên. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế
ILO thì với các nước kém phát triển như Việt Nam thì trung bình 40.000 lao động phải
có một thanh tra lao động. Nếu theo chuẩn này thì với trên 50 triệu lao động thì Việt
Nam cần tới hơn 1000 thanh tra.
Thứ năm, Pháp lệnh Bảo vệ Người tiêu dùng Việt Nam có quy định người tiêu
dùng có quyền được cung cấp thông tin về hàng hoá, dịch vụ, được quyền lựa chọn,
được quyền khiếu nại, tố cáo… Nhưng kết quả tổng điều tra ý kiến người tiêu dùng
trên phạm vi cả nước năm 2008 của Hội Tiêu chuẩn – Bảo vệ NTD Việt Nam, có đến
41% người tiêu dùng Việt Nam không biết mình có quyền lợi gì, số còn lại có biết
nhưng cũng không sử dụng các quyền lợi mình đáng được hưởng.
2.4. Một số giải pháp cho việc thực hiện trách nhiệm xã hội tại Việt Nam
Thứ nhất, cần tuyên truyền, giáo dục cho tất cả các doanh nghiệp, trước hết là

các chủ doanh nghiệp về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, phải làm cho họ hiểu
rằng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không phải chỉ bó gọn trong công tác từ
thiện. Truyền thông cho các doanh nghiệp hiểu được lợi ích dài hạn của các cổ đông và
công ty khi danh tiếng công ty ngày càng được nâng cao trong công tác thức hiện trách
nhiệm xã hội. Vô trách nhiệm xã hội chỉ đem lại lợi ích ngắn hạn cho các công ty,
trong dài hạn các công ty không thực hiện tốt trách nhiệm xã hội sẽ dần bị người tiêu
dùng loại bỏ và dẫn đến làm ăn suy giảm. Công tác tuyên truyền, giáo dục rất quan
Trang 12


Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Vinamilk trong giai đoạn 2010-2013
trọng, bởi tất cả những hành vi của con người đều thông qua ý thức của con người, đều
do ý thức của họ điều khiển. Do đó, vấn đề đặt ra là, phải làm sao cho việc thực hiện
trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trở thành động cơ bên trong của các chủ doanh
nghiệp. Việc thực hiện trách nhiệm xã hội trước hết cần được xem là một hành vi đạo
đức và được điều khiển bằng động cơ đạo đức. Đây chính là giải pháp bên trong đạo
đức.
Thứ hai, cần xây dựng một hành lang pháp lý bắt buộc các doanh nghiệp phải
thực thi trách nhiệm xã hội một cách đầy đủ và nghiêm túc. Điều này liên quan đến
trách nhiệm của nhà nước trong việc tạo môi trường và khung pháp lý cho doanh
nghiệp hoạt động. Khung pháp lý chính là biện pháp có hiệu lực nhất đối với việc thực
hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; đồng thời, là giải pháp hỗ trợ đắc lực cho
giải pháp về đạo đức, làm cho các động cơ đạo đức thường xuyên được củng cố và
ngày càng có hiệu lực trên thực tế. Cái khó khăn cho Việt Nam và các nước đang phát
triển nói chung là trong bối cảnh cần phải thu hút đầu tư nước ngoài, nếu đặt nặng các
mục tiêu về môi trường và xã hội thì các doanh nghiệp khó có thể thu hút đầu tư nước
ngoài. Nhưng, nếu không đặt mạnh vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thì
những hậu quả về môi trường và xã hội sẽ không thể bù đắp được bằng các kết quả của
sự tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu phát triển bền vững, do vậy, cũng không thể thực hiện
được.

Thứ ba, tác động đến bộ phận Công đoàn trong mỗi doanh nghiệp có các hoạt
động tuyên truyền, gây ảnh hưởng đến đại bộ phận các nhân viên trong tổ chức về ý
thức và lợi ích trách nhiệm xã hội. Từ đó mỗi doanh nghiệp sẽ chú trọng hơn đến công
tác trách nhiệm xã hội.
Thứ tư, thiết lập các hội đồng, liên kết các tổ chức thực hiện tốt về trách nhiệm
xã hội nhằm chia sẽ kinh nghiệm, kiến thức lẫn nhau, tăng cường mối quan hệ hợp tác
hiểu biết xây dựng xã hội tốt đẹp hơn. Mở ra các diễn đàn chia sẽ những lợi ích thiết
thực khi thực hiện trách nhiệm xã hội.
Thứ năm, tăng cường mức độ đầu tư vào các chương trình tôn vinh những
doanh nghiệp thực hiện tốt công tác trách nhiệm xã hội. Đề nhiều doanh nghiệp thấy
được tầm quan trọng và sức ảnh hưởng đến danh tiếng công ty khi tham gia thực hiện
tốt các công tác trách nhiệm xã hội.
Người tiêu dùng ngày càng ý thức được và trở nên thông minh hơn trong quá
trình quyết định sản phẩm tiêu dùng. Họ sẽ chú ý đến những sản phẩm không chỉ có
thể thỏa mãn nhu cầu bản thân mà còn đem đến lợi ích cho cộng đồng xã hội. Một
Trang 13


Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Vinamilk trong giai đoạn 2010-2013
doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội tốt sẽ góp phần vào việc kích thích tiêu
dùng của khách hàng, điển hình như Vinamilk, với những chương trình như Một triệu
ly sữa, Uống sữa giúp trẻ em nghèo…Vinamilk ngày càng chiếm giữ niềm tin của
khách hàng mạnh mẽ, khách hàng không ngần ngại khi mua một sản phẩm của
Vinamilk, bởi nó đem đến cho khách hàng không chỉ giá trị từ sản phẩm mà còn giá trị
tinh thần là đã giúp được những trẻ em nghèo được uống sữa. Vinamilk đã làm rất tốt
công tác trách nhiệm xã hội của mình. Và kết quả đạt được như ngày nay không ai có
thể phủ nhận. còn những doanh nghiệp vô trách nhiệm xã hội mắc dù đem lại lợi
nhuận trong ngắn hạn cho mình nhưng nó sẽ đánh mất cơ hội phát triển dài hạn. Điển
hình như vụ bê bối thải nước ra sông Thị Vải của công ty Vedan, người tiêu dùng
dường như tẩy chay sản phẩm của công ty sau đó, cho đến bây giờ Vedan vẫn không

thể nào lấy lại được niềm tin từ khách hàng. Từ hai ví dụ điển hình trên đây chúng ta
có thể thấy được vô trách nhiệm xã hội cua các doanh nghiệp là một tầm nhìn ngắn
hạn và thiếu hiểu biết, hoạt động có trách nhiệm xã hội sẽ đem lại phúc lợi cho xã hội
và lợi nhuận dài hạn cho công ty trong tương lai.
PHẦN 3. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM_VINAMILK
3.1. Giới thiệu tổng quan về công ty sữa Vinamilk
3.1.1. Giới thiệu tổng quan
Công ty cổ phần sữa Việt Nam tiền thân là công ty Sữa, cà phê miền Nam, trực
thuộc tổng cục Công nghiệp thực phẩm, được thành lập vào năm 1976. Trải qua nhiều
thời kỳ phát triển, năm 2003, Công ty thực hiện cổ phần hóa và chính thức đổi tên
thành Công ty cổ phần Sữa Việt Nam. Năm 2006, Vinamilk chính thức trở thành công
ty niêm yết tại sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh. Hiện nay Vinamilk là một
trong những công ty đại chúng có quy mô lớn nhất Việt Nam.
3.1.2. Các lĩnh vực kinh doanh chính:
 Sản xuất, kinh doanh sữa và các sản phẩm từ sữa.
 Sản xuất và kinh doanh nước giải khát.
 Hoạt động chăn nuôi bò sữa, sản xuất sữa tươi nguyên liệu ( thông qua công ty
con bò sỡ hữu 100% vốn )

Trang 14


Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Vinamilk trong giai đoạn 2010-2013
3.1.3. Các sản phẩm nhãn hiệu chủ yếu:







Vinamilk có hơn 200 sản phẩm được chia thành 5 nhóm chính:
Sữa bột và bột dinh dưỡng
Sữa đăc
Sữa nước
Sữa chua, kem, phô mai.
Sữa đậu nành, nước giải khát.
3.1.4. Thị trường

 Sản phẩm của Vinamilk phục vụ chủ yếu cho thị trường Việt Nam với tất cả các
dòng sản phẩm. Thị trường nội địa thường chiếm tỷ trọng cao hơm 80 % tổng
doanh thu của Vinamilk.
 Đối với thị trường ở nước ngoài, các thị trường chủ yếu của Vinamilk là các
nước ở khu vực Trung Đông, Campuchia, Thái Lan, Philipines. Các sản phẩm
xuất khẩu chủ yếu là sữa bột và sữa đặc. Trong năm 2012, doanh thu xuất khẩu
của công ty chiếm khoảng 14% doanh thu của Vinamilk.
3.1.5. Đối tượng khách hàng
Tại thị trường Việt Nam, các sản phẩm của Vinammilk đến tay người tiêu dùng
thông qua hệ thống các đối tác phân phối và các kênh phân phối trực tiếp từ Vinamilk.
 Hệ thống các đối tác phân phối ( kênh General Trade _ GT) gồm hơn 250 nhà
phân phối và hớm 196000 điểm bán lẻ.
 Các chuỗi hệ thống siêu thị trên toàn quốc ( kênh Modern Trade-MT)
 Hệ thống cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm Vinamilk.
 Phân phối trực tiếp đến các khách hàng là các xí nghiệp, trường học, khu vui
chơi giải trí. (Kênh KA )
Tại thị trường nước ngoài, khách hàng của Vinamilk là các nhà phân phối sản phẩm.
3.1.6. Sứ mệnh, viễn cảnh, giá trị cốt lõi
Viễn cảnh
“Trở thành biểu tượng niềm tin số một Việt Nam về sản phẩm dinh dưỡng và sức khỏe
phục vụ cuộc sống con người”

Sứ mệnh
“Vinamilk cam kết mang đến cho cộng đồng nguồn dinh dưỡng tốt nhất, chất lượng
nhất bằng chính sự trân trọng, tình yêu và trách nhiệm của mình với cuộc sống con
người và xã hội”
Giá trị cốt lõi
Chính trực, tôn trọng, công bằng, tuân thủ.
Trang 15


Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Vinamilk trong giai đoạn 2010-2013
3.2. Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại công ty cổ phần sữa Việt
Nam – Vinamilk từ năm 2010 đến năm 2013
Công ty cổ phần sữa Việt Nam – Vinamilk là một doanh nghiệp quan tâm nhiều
đến các hoạt động CSR, ngoài việc chú trọng vào việc đầu tư cho hoạt động kinh
doanh để tạo ra những sản phẩm chất lượng, tươi sạch nhất phục vụ người tiêu dùng,
không khi nào Vinamilk quên vai trò của mình đối với cộng đồng, xã hội. Với phương
châm “Vinamlik phát triển bền vững, thân thiện với môi trường và có trách nhiệm
đối với xã hội”, ngay từ khi mới bắt đầu hoạt động, công ty đã xây dựng định hướng
môi trường, phấn đấu đạt được sự hài hòa giữa hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty với việc bảo vệ liên tục, cải thiện môi trường nhằm mang đến sự phát triển bền
vững cho môi trường và xã hội. Sau đây sẽ là thực trạng thực hiện CSR tại Vinamilk.
Định hướng phát triển của Vinamilk sẽ tập trung vào 5 nội dung:

Trang 16


Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Vinamilk trong giai đoạn 2010-2013
Cam kết của Vinamilk với các bên liên quan:

3.2.1. Trách nhiệm kinh tế

3.2.1.1. Trách nhiệm phát triển sản phẩm
Vinamilk với phương châm đặt yếu tố chất lượng lên hàng đầu, công ty luôn
đảm bảo cung cấp cho người tiêu dùng, xã hội những sản phẩm luôn đảm bảo chất
lượng, an toàn và góp phần vào sự phát triển thể chất và trí tuệ của con người.
Trách nhiệm sản phẩm của Vinamilk được thể hiện thông qua các khía cạnh:
• Sản phẩm có công thức, thành phần an toàn:
Mọi sản phẩm của Vinamilk đảm bảo phải đáp ứng các yêu cầu:
• Thành phần nguyên liệu được lựa chọn nghiêm ngặt, tuyệt đối không sử dụng
các chất có khả năng tác động xấu đến sức khỏe.
• Mọi thành phần tạo nên sản phẩm từ nguyên liệu cho tới bao bì đều phải được
đánh giá và kiểm nghiệm để đánh giá tác động đến sức khỏe.
• Việc kiểm tra, kiểm định sự ổn định, an toàn của sản phẩm được thực hiện tại
từng công đoạn.
Các hoạt động về nghiên cứu thành phần nguyên liệu, cải tiến và chuẩn hóa
phương pháp kiểm nghiệm là các hoạt động thường xuyên được Trung tâm Nghiên
cứu phát triển, Bộ phận an toàn thực phẩm và tác nghiệp sản xuất của Vinamilk triển
khai thực hiện.
• Sử dụng nguyên vật liệu an toàn:
Để có được những sản phẩm an toàn, chất lượng nguồn nguyên liệu đầu vào
chính là yếu tố chủ đạo. Việc kiểm soát chất lượng nguyên liệu được thực hiện theo
các bước:

Trang 17


Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Vinamilk trong giai đoạn 2010-2013

Việc lựa chọn nguồn nguyên vật liệu cũng là yếu tố quan trọng đển đảm bảo
chất lượng sản phẩm. Vinamilk ưu tiên lựa chọn những nguồn cung cấp nguyên liệu từ
những khu vực có nền nông nghiệp tiên tiến, có tiêu chuẩn và yêu cầu về đảm bảo chất

lượng, an toàn thực phẩm cao như Mỹ, New Zealand, Đức …
Năm 2013, Vinamilk đã đẩy mạnh nhiều hoạt động với mục tiêu nâng cao chất
lượng sữa tươi nguyên liệu trong thu mua.
- Đối với các hộ nông dân:
• Khép kín quá trình chăn nuôi – khai thác – bảo quản: Vinamilk ngưng áp
dụng việc thu mua với đối tượng hộ vắt sữa thuê mà hoàn toàn chuyển
sang thu mua từ các hộ nông dân trực tiếp chăn nuôi. Việc này giúp kiểm
soát tốt hơn chất lượng sữa tươi nguyên liệu thông qua việc nâng cao
trách nhiệm của người chăn nuôi và khép kín quá trình chăn nuôi - khai
thác và bảo quản sữa.
• Nâng cao chất lượng bảo quản: Vinamilk cũng bắt đầu áp dụng việc thay
thế giao sữa bằng can nhựa sang giao sữa bằng can nhôm/can inox đạt
tiêu chuẩn để giúp cho sữa tươi được bảo quản và bảo toàn chất lượng

-

được tốt hơn.
• Tổ chức chương trình hỗ trợ, tập huấn và vận động người chăn nuôi.
Đối với các trạm trung chuyển:
Trang 18


Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Vinamilk trong giai đoạn 2010-2013
Việc nâng cao chất lượng bảo quản và quản lý của các Trạm trung chuyển là
một bước rất quan trọng trong chương trình nâng cấp hệ thống thu mua sữa tươi
nguyên liệu Vinamilk giai đoạn 2012 – 2016.
Trong năm 2013, Vinamilk đã nâng cấp được 18 trạm trung chuyển. Các trạm
sau khi nâng cấp sử dụng hoàn toàn các đường ống là Inox 304/316, bồn làm lạnh
được chuẩn hóa, vệ sinh thiết bị khép kín bằng hóa chất và nước nóng…, lắp đặt
camera quan sát cho 56/56 trạm trung chuyển tại khu vực TP. Hồ Chí Minh, Tiền

Giang, Long An và Tây Ninh.
- Cải tiến phương pháp kiểm tra chất lượng sữa tươi trong thu mua
Năm 2013, Vinamilk triển khai áp dụng phương pháp kiểm tra vi sinh vật trong
sữa theo phương pháp Resazurin. Với phương pháp này, người chăn nuôi sẽ có kết quả
kiểm tra chất lượng trong vòng 10 phút để trực tiếp đọc kết quả chỉ tiêu vi sinh trong
sữa.
Vinamilk cũng đã đưa chỉ tiêu vật chất khô không béo vào chỉ tiêu tính giá sữa cho
nông dân (thay cho chỉ tiêu vật chất khô tổng số trước đây).
• Kiểm soát chất lượng an toàn
Tại Vinamilk, tất cả các sản phẩm được sản xuất đều phải trải qua việc kiểm tra
chất lượng nghiêm ngặt, chỉ những sản phẩm đáp ứng tất cả các yêu cầu về an toàn,
yêu cầu kỹ thuật mới được chuyển sang quá trình lưu thông và phân phối. Hệ thống
các phòng thử nghiệm, kiểm tra chất lượng (QA) được thiết lập ở tất cả các đơn vị sản
xuất, đáp ứng các mục tiêu:
• Cơ sở vật chất, trang thiết bị đầy đủ, hiện đại.
• Phương pháp kiểm nghiệm được chuẩn hóa để đảm bảo sản phẩm được kiểm
soát nhất quán về chất lượng.
Vinamilk cam kết hệ thống các phòng thử nghiệm của mình đáp ứng đầy đủ các
yêu cầu của tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2005.
• Truy vét, thu hồi sản phẩm.
Với trách nhiệm cao nhất của nhà sản xuất đối với người tiêu dùng, bên cạnh
việc xây dựng hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm chặt chẽ, Vinamilk còn thiết lập
hệ thống quy trình để truy vét và thu hồi sản phẩm. Việc thiết lập các biện pháp, cách
thức truy vét và thu hồi sản phẩm trên thị trường nhằm mục đích hạn chế đến mức tối
đa các nguy cơ có thể ảnh hưởng đến người tiêu dùng khi có sự cố về sản phẩm phát
sinh. Vinamilk đã cam kết các mục tiêu:
• Thu hồi một cách triệt để và nhanh chóng các sản phẩm không đảm bảo an
toàn.

Trang 19



Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Vinamilk trong giai đoạn 2010-2013
• Thông tin đến người tiêu dùng nhanh chóng và thuận tiện nhất để người tiêu
dùng nhận biết thông tin khi có sự cố.
• Xác định được nguyên nhân cốt lõi để khác phục và phòng ngừa việc xảy ra
trong tương lai.
• Nâng cao giá trị sản phẩm đối với sức khỏe con người.
Chiến lược phát triển sản phẩm của Vinamilk luôn hướng đến mục tiêu gia tăng
lợi ích của sản phẩm đến con người, cả về thể chất, trí lực, sức khỏe con người. Để
thực hiện được chiến lược đó, Vinmilk đã hợp tác với các tập đoàn nghiên cứu về dinh
dưỡng, y tế, sức khỏe con người như ARLA, CHR, ….để phát triển công nghệ, thành
phần, phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dinh dưỡng sản phẩm; đa dạng hóa sản
phẩm nhằm hướng đến nhiều đối tượng và phù hợp với các đặc đính sức khỏe của mỗi
đối tượng; sản xuất ra những sản phẩm giúp cho việc ngăn ngừa và gia tăng khả năng
chống chịu với các nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe trong môi trường hiện đại.
Năm 2013, Vinamilk đã tiếp tục nghiên cứu và đưa ra thị trường những sản
phẩm với những tính năng được tối ưu hóa:
• Sản phẩm dinh dưỡng dành cho bà mẹ mang thai và cho con bú nhãn hiệu
Dielac Optimum Mama hỗ trợ dưỡng chất cho bà mẹ mang thai và cho con bú,
mang lại hiệu quả dinh dưỡng tốt cho cả bà mẹ và trẻ nhỏ.
• Sản phẩm dinh dưỡng dành cho trẻ từ 4 -6 tuổi nhãn hiệu Dielac Optimum step
4 tăng cường hỗ trợ dinh dưỡng cho trẻ sau giai đoạn bú sữa mẹ.
• Sữa tươi tiệt trùng hỗ trợ miễn dịch giúp bảo vệ sức khỏe bổ sung vitamin D và
các dưỡng chất khác ( Vitamin A, C, Selen).
• Sữa tiệt trùng không Lactoza dành cho các đối tượng người tiêu dùng sữa tươi
nhưng có trạng thái cơ thể gặp hiện tượng sôi bụng & khó tiêu do cơ thể không
dung nạp lactoza.
• Sữa đậu nành GoldSoy CaD từ hạt đậu nành không biến đổi gen, bổ sung Canxi
và Vitamin D hỗ trợ hệ xương.

• Nước trái cây Juki dành cho trẻ em bổ sung vitamin và chất xơ hòa tan giúp
tăng cường sức đề kháng, hỗ trợ hệ tiêu hóa.
• Trà nấm linh chi Lincha hỗ trợ đào thải các gốc tự do và các độc tố trong cơ thể,
ổn định huyết áp, phục hồi sức khỏe.
• Cung cấp thông tin về sản phẩm đầy đủ và trung thực
Vinamilk cung cấp thông tin về sản phẩm cho người tiêu dùng đầy đủ và trung
thực những thông tin cần thiết để người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm một cách tối ưu
nhất. Cung cấp thông tin trên bao bì, nhãn của sản phẩm là hình thức cung cấp trực
Trang 20


Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Vinamilk trong giai đoạn 2010-2013
tiếp và dễ dàng tiếp cận nhất đến người tiêu dùng . Các thông tin bao gồm: đặc tính
của sản phẩm: loại sản phẩm, thành phần, thông tin dinh dưỡng của sản phẩm, hướng
dẫn liên quan đến sử dụng sản phẩm, bảo quản, lưu trữ, ngày sản xuất và hạn sử dụng,
thông tin về quản lý chất lượng sản phẩm, về công ty và đơn vị sản xuất, cách thức mà
người tiêu dùng có thể liên hệ với nhà sản xuất. Những thông tin này không chỉ nhằm
mục đích cung cấp thông tin mà còn để Vinamilk kiểm soát chất lượng, hạn sản sử
dụng để thực hiện truy vét khi cần thiết.
Ngoài ra, để hỗ trợ thông tin cho người tiêu dùng, Vinamilk cũng thường xuyên
tổ cức các cuộc hội thảo về sản phẩm, tư vấn dinh dưỡng nhằm mục đích những thông
tin một cách cụ thể, đầy đủ về các sản phẩm, cũng như những tiến bộ dinh dưỡng trên
thế giới cùng với việc tư vấn dinh dưỡng cho người tiêu dùng.
• Một số chỉ số đo lường về trách nhiệm sản phẩm của Vinmilk trong năm 2012:
ST
T
1
2
3
4

5
6
7

Tiêu chí

Mức độ

Tỷ lệ các sản phẩm không sử dụng chất
bảo quản/ tổng sản phẩm
Tỷ lệ các sản phẩm mới được đánh giá
chất lượng thông qua thử nghiệm trước
khi sản xuất đại trà
Tỷ lệ nhà máy có chứng nhận về
HACCP và ISO 9001:2008
Tỷ lệ dòng sản phẩm được sản xuất theo
tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2005 về lĩnh
vực Hóa Sinh
Số vụ vi phạm về an toàn vệ sinh thực
phẩm
Số vụ vi phạm về nhãn hiệu, công bố
thông tin sản phẩm
Số vụ phải thu hồi sản phẩm do không
đảm bảo chất lượng

Trang 21

Ghi chú

100%

11/11
100%
10/11
0
0
0

Nhà máy Lam Sơn
có quy mô nhỏ nên
chưa đánh giá chứng
nhận ISO 17015


Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Vinamilk trong giai đoạn 2010-2013
3.2.1.2. Trách nhiệm đối với nhân viên
Các cam kết của Vinamilk đối với nhân viên:

• Tôn trọng, công bằng đối với nhân viên
Trong bộ quy tắc ứng xử của mình, Vinamilk đã đưa ra quy tắc là phải tôn trọng
và công bằng với tất các nhân viên của mình.
Tôn trọng: Vinamilk tôn trọng nhân quyền, phẩm giá của tất cả nhân viên cũng
như tin rằng tính Chính trực luôn sẵn có trong mỗi cá nhân.Tôn trọng có nghĩa là coi
trọng sự khác biệt của nhau, tôn trọng các quan điểm xuất phát từ chính những khác
biệt đó. Vinamilk sẽ luôn tạo một môi trường trao đổi thông tin nội bộ cởi mở nhằm
cung cấp cho nhân viên những thông tin kịp thời về công việc, các mối quan hệ và
thành tích của nhân viên. Quan trọng hơn, Vinamilk luôn tôn trọng những ý kiến có
tính chất đóng góp, xây dựng trên nhiều phương diện từ nhấn viên, không phân biệt
cấp bậc. Đặc biệt là những đóng góp cho việc cải thiện môi trường làm việc hoặc
những vấn đề liên quan đến công việc cụ thể. Vinamilk tôn trọng sự riêng tư cá
nhân.Việc thu thập, xử lý, lưu giữ và sử dụng thông tin cá nhân của nhân viên chỉ được

thực hiện trong những trường hợp thật cần thiết và được cho phép bởi luật pháp.
Công bằng: Vinamilk cam kết đối xử công bằng với nhân viên, điều đó có
nghĩa la: Công bằng trong việc đánh giá năng lực của nhân viên cho dù tồn tại những
quan điểm, ý kiến khác nhau trong công việc. Việc tuyển dụng, sắp xếp công việc và
xác định mức lương, lợi ích khác cho tất cả nhân viên của Vinamilk được dựa trên cơ
sở phù hợp về trách nhiệm, khả năng và thể hiện bản thân, kinh nghiệm cũng như kết
Trang 22


Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Vinamilk trong giai đoạn 2010-2013
quả đánh giá của từng nhân viên. Vinamilk cung cấp cơ hội bình đẳng cho nhân viên
về khía cạnh lao động khác nhau: cam kết xác lập mục tiêu công việc phù hợp, luôn
mang lại sự thỏa đáng và thách thức với khả năng của từng nhân viên, cam kết cung
cấp những cơ hội đào tạo, huấn luyện và thăng tiến nhằm tạo điều kiện để nhân viên
khẳng định và phát triển, thực hiện đánh giá kết quả công việc để thu được những ý
kiến phản hồi thẳng thắn và chính xác trên cơ sở có sự trao đổi.
• Điều kiện làm việc an toàn và chăm sóc sức khỏe
Vinamilk cam kết cung cấp cho nhân viên của mình điều kiện làm việc tốt, cơ
sở vật chất đầy đủ, tiện nghi và những hoạt động hỗ trợ để chăm sóc sức khỏe cho
nhân viên.
• An toàn lao động:
 Cơ sở vật chất đầy đủ tiện nghi phục vụ cho quá trình làm việc.
 Trang bị đầy đủ và tiến hành nâng cấp các phương tiện, công cụ lao
động.
 Các hoạt động tập huấn, đào tạo được diễn ra hằng năm, trang bị đầy đủ
kiến thức, nghiệp vụ về an toàn lao động cho nhân viên.
 Bộ phận y tế tại các đơn vị được thiết lập để cung cấp các biện pháp
phòng ngừa, sơ cứu và và khắc phục các sự cố phát sinh đối với người
lao động.
• Các chính sách hỗ trợ cho nhân viên:

 Vinamilk áp dụng chính sách mua bảo hiểm tai nạn 24/24 cho toàn bộ
nhân viên. Chương trình bảo hiểm này bao gồm cả việc hỗ trợ chi phí
chữa trị và đảm bảo cho nhân viên trong thời gian xảy ra tai nạn với mức
tương đương thu nhập khi làm việc bình thường.
 Cung cấp các bữa ăn đảm bảo dinh dưỡng và vệ sinh thực phẩm, thực
phẩm phải có nguồn gốc xuất sứ được cung cấp từ những đơn vị có uy
tín.
 Thực hiện các chương trình khám sức khỏe định kỳ cho nhân viên, tổ
chức tiêm phòng vắc xin ngừa bệnh cúm cho tất cả nhân viên.
• Mối quan hệ lao động được xác lập trên cơ sở tự nguyện và tuân thủ pháp
luật
Tất cả các nhân viên được xác lập hợp đồng lao động một cách tự nguyện, theo
đúng quy định của pháp luật và yêu cầu của vị trí công việc. Mọi quyền lợi của người
lao động theo Bộ Luật lao động đều được đảm bảo, Vinamilk tuyệt đối không sử dụng
lao động trẻ em và lao động cưỡng bức.
Trang 23


Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Vinamilk trong giai đoạn 2010-2013
• Phát triển nhân viên
• Đào tạo
Là một trong các hoạt động thường xuyên của Vinamilk, được thực hiện theo
yêu cầu công việc, định hướng phát triển nghề nghiệp, xây dựng kế hoạch đào tạo,
thực hiện đào tạo, đánh giá sau đào tạo. Nội dung và hình thức được tổ chức và thiết
kế đa dạng từ các khóa đào tạo bên ngoài về kiến thức chuyên môn cho đến việc đào
tạo nội bộ về quy định, quy trình nội bộ để giúp cho nhân viên thực hiện tốt công việc
của mình.

Trang 24



Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại Vinamilk trong giai đoạn 2010-2013
• Lương thưởng

Chính sách tiền lương, thu nhập của Vinamilk được xây dựng dựa trên giá trị tại
ra của từng vị trí công việc cụ thể, không có sự phân biệt chính sách lương thưởng
giữa nam và nữ.
• Thăng tiến nhân viên
Năm
Số lượng nhân viên được đề bạt
thăng tiến( không bao gồm công ty
con)
Tỷ lệ

2011
38

2012
42

1,22%

0,98%

Đây là số nhân viên được đề bạt thăng tiến lên cấp bậc nhân viên cao hơn trong hệ
thống cấp bậc của Vinamilk: chuyên viên-> quản lý-> giám đốc-> giám đốc điều hành.
3.2.1.3. Trách nhiệm đối với đối tác, cổ đông, nhà đầu tư
Trong bộ quy tắc ứng xử riêng của Vinamilk, công ty đã đưa ra các chính sách
đối với các đối tác, nhà đầu tư, cổ đông. “Tôn trọng lợi ích lẫn nhau” là phương châm
quan trọng và thiết yêu trong mối quan hệ của Vinamilk với các bên giới hữu quan của

mình.
Đối với đối tác, Vinamilk cam kết tôn trọng lợi ích của đối tác, nỗ lực trong
việc bảo vệ tài sản, nhân lực, tham gia hợp tác, liên doanh liên kết.
Đối với nhà đầu tư, Vinamilk cam kết tạo cơ hội đầu tư nganh bằng cho mọi
nhà đầu tư trong việc trao đổi, tiết lộ thông tin và tạo dựng môi trường kinh doanh
minh bạch bằng việc công khai quy trình chọn lựa nhà đầu tư.
Đối với các cổ đông, tôn chỉ của Vinamilk là xem lợi ích của các cổ đông như
chính lơi ích của mình.
Vinamilk cam kết sòng phẳng, trung thực với các bên, đảm bảo giữ kín bí mật
thông tin riêng tư trừ những yêu cầu của cơ quan Luật pháp. Vinamilk đảm bảo thực
Trang 25


×