Tải bản đầy đủ (.doc) (51 trang)

SÁCH THAM KHẢO hỏi đáp về 36 PHỐ PHƯỜNG của hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (740.52 KB, 51 trang )

HỎI ĐÁP VỀ 36 PHỐ PHƯỜNG CỦA HÀ NỘI
Câu hỏi : Hiểu thế nào về 36 phố cổ Hà Nội?
Trả lời:
Khác với cửa ô, khi mở rộng hoặc tu sửa xây đắp lại La Thành, cửa ô có thể mở thêm
hoặc bỏ bớt. Phường phố thì khác, hình thành và phát triển không thể mất đi, chỉ có thể
thay đổi địa danh, địa giới rộng hẹp là tùy thuộc theo quy định hành chính của chính
quyền đương thời. Ví như cùng một phố phường nhưng lại có tên gọi khác nhau, ở các
thời đại khác nhau, hoặc ranh giới có khi rộng, hẹp, song khuynh hướng chung là mở
rộng. Đó là nói chung, còn ở đây chỉ tìm hiểu về khu phố cổ của Thăng Long - Hà Nội từ
thế kỷ XV đến thế kỷ XIX.
Thăng Long Hà Nội là một vùng văn hóa truyền thống đặc biệt, bởi vì đến hết thế kỷ
XVI Thăng Long - Đông Đô - Đông Kinh (thời Hậu Lê) vẫn là đô thị độc nhất của nhà
nước Đại Việt thuở ấy. "Kẻ Chợ" tên gọi khác của Thăng Long Hà Nội xưa có thành, có
thị, có bến, có 36 phường buôn bán và thợ thủ công, có chợ ô ở ven đô, có các làng nghề
chuyên canh và chế biến nông sản. Từ đó, trải bao thăng trầm của lịch sử, phố cổ Hà Nội
vận động và phát triển cho đến thời kỳ đổi mới hôm nay vẫn chiếm được vị trí quan trọng
trong lịch sử phát triển của Thủ đô, vẫn là niềm tự hào, với tình cảm say mê và sự quan
tâm sâu sắc trong lòng nhân dân cả nước, bởi vì trong phố cổ Hà Nội đã và đang chứa
đựng một hệ thống giá trị di sản, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc… to lớn và hiếm
có.
Câu hỏi: Quá trình hình thành và phát triển khu phố cổ Hà Nội như thế nào? Hãy
cho biết vị trí, địa giới, diện tích khu phố cổ Hà Nội?


Trả lời:
Theo Quyết định số 70/BXD/KT-QH ngày 30 tháng 3 năm 1995 của Bộ Xây dựng,
khu phố cổ Hà Nội có phạm vi được xác định:
- Phía bắc: Phố Hàng Đậu.
- Phía tây: Phố Phùng Hưng.
- Phía nam: Các phố Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu Gỗ và Hàng Thùng.
Phía đông: Các phố Trần Quang Khải và Trần Nhật Duật.


Toàn bộ khu vực trong địa giới nói trên thuộc địa bàn quận Hoàn Kiếm, gồm 10
phường, 76 tuyến phố.
- Tổng diện tích quy hoạch khu phố cổ khoảng 100ha.
Mười phường có phạm vi thuộc khu phố cổ Hà Nội là: Phường Hàng Bạc, Hàng
Buồm, Hàng Bồ, Hàng Đào, Hàng Bông, Hàng Gai, Hàng Mã, Đồng Xuân, Cửa Đông và
Lý Thái Tổ.
Qua sử sách, tư liệu, thư tịch cũ để lại thì khu vực đông vui, sầm uất nhất của Hà Nội
xưa là huyện Thọ Xương (tức quận Hoàn Kiếm và Hai Bà Trưng hiện nay).
Phố cổ có mật độ dân số rất cao (1000 người/ha, nằm ở trung tâm thành phố).
Câu hỏi: Có bao nhiêu phố cổ Hà Nội, vị trí và tên gọi?
Trả lời:
Phố cổ thường gồm những cửa hàng, cửa hiệu buôn bán hay sản xuất hàng thủ công,
xây dựng sát vách nhau tạo thành những dãy phố, mỗi phố sản xuất hay buôn bán một
mặt hàng, hay hành một nghề riêng biệt và thường lấy luôn tên sản phẩm để đặt tên cho
phố. Để dễ nhớ, dễ hiểu ta hãy đọc bài thơ khuyết danh sau đây:
Ba mươi sáu phố Hà Nội
Rủ nhau chơi khắp Long Thành,
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai:
Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai,
Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Bài, Hàng Khay,
Mã Vĩ, Hàng Điếu, Hàng Giày,
Hàng Lờ, Hàng Cót, Hàng Mây, Hàng Đàn,
Phố Mới, Phúc Kiến, Hàng Ngang,


Hàng Mã, Hàng Mắm, Hàng Than, Hàng Đồng,
Hàng Muối, Hàng Nón, Cầu Đông1,
Hàng Hòm, Hàng Đậu, Hàng Bông, Hàng Bè,
Hàng Thùng, Hàng Bát, Hàng Tre,
Hàng Vôi, Hàng Giấy, Hàng The2, Hàng Gà,

Quanh đi đến phố Hàng Da,
Trải xem phường phố thật là cũng xinh.
Phồn hoa thứ nhất Long Thành.
Phố giăng mắc cửi, giăng quanh bàn cờ.
Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ
Bút hoa xin chép nên thơ lưu truyền.
Khuyết danh3
Qua bài thơ trên cho thấy tên phố trong khu phố cổ đa số đầu tiên là chữ "Hàng", sau
đó là tên sản phẩm. Ngoài ra có một số phố không theo quy tắc đó và một số mới đặt sau
này mang tên người. Trong khu phố cổ có phố không có chữ "Hàng", ngược lại có phố có
chữ "Hàng" nhưng lại không nằm trong khu phố cổ theo quy định:
- Các phố có chữ "Hàng" trong khu phố cổ. Dấu ** tương ứng với những tên phố hiện
không còn dùng.

1

. Nay là khu phố Hàng Đường, Hà Nội.

2
3

. Phố Hàng Đào bán the, lụa…
. Cũng có sách chép là ca dao.


Hàng Bút; Hàng Chĩnh; Hàng Đậu; Hàng Giày, Hàng Lam**; Hàng Muối; Hàng
Sơn**; Hàng áo cũ**; Hàng Bừa; Hàng Chuối; Hàng Điếu; Hàng Giò; Hàng Lược; Hàng
Nâu**; Hàng Than; Hàng Bạc; Hàng Cá; Hàng Cót; Hàng Đồng; Hàng Hài**; Hàng Mã;
Hàng Ngang; Hàng Thiếc; Hàng Bè; Hàng Cân; Hàng Cuốc; Hàng Đường; Hàng Hòm;
Hàng Màn**; Hàng Nón; Hàng Thùng; Hàng Bông; Hàng Cau**; Hàng Da; Hàng Gà;

Hàng Kèn; Hàng Mành; Hàng Phèn; Hàng Tre; Hàng Bồ; Hàng Chai; Hàng Dầu; Hàng
Gai; Hàng Khay; Hàng Mắm; Hàng Quạt; Hàng Trống; Hàng Buồm; Hàng Chè**; Hàng
Đào; Hàng Gạo**; Hàng Khóa**; Hàng Mây**; Hàng Rươi; Hàng Trứng**; Hàng
Chiếu; Hàng Đàn**; Hàng Giấy; Hàng Khoai; Hàng Mụn**; Hàng Sắt**; Hàng Vải.
- Các phố không có chữ "Hàng" trong khu phổ cổ:
Bát Đàn; Bát Sứ; Cầu Gỗ; Cầu Đông; Chả Cá; Chân Cầm; Chợ Gạo; Đồng Xuân;
Gầm Cầu; Gia Ngư; Hà Trung; Hài Tượng; Lãn Ông; Lò Rèn; Mã Mây; Mã Vĩ, Nhà Hỏa,
Ngõ Gạch; Ngõ Trạm; Ngõ Tạm Thương; Thuốc Bắc; Tô Tịch; Yên Thái; Cao Thắng;
Đào Duy Từ; Đinh Liệt; Lương Ngọc Quyến; Lương Văn Can; Nguyễn Siêu; Nguyễn
Thiện Thuật; Phùng Hưng; Tạ Hiện; Trần Nhật Duật; Trần Quang Khải.
- Các phố có chữ "Hàng" không nằm trong khu phố cổ theo quy định:
Hàng Bột**; Hàng Bún; Hàng Cháo; Hàng Cỏ**; Hàng Lọng**; Hàng Cơm**; Hàng
Đẫy**; Hàng Đũa**; Hàng Bông Thợ Nhuộm; Hàng Vôi; Hàng Chuối**.
- Các ngõ có chữ "Hàng":
Hàng Bông; Hàng Bột; Hàng Chỉ; Hàng Cỏ; Hàng Hành; Hàng Hương.
Câu hỏi : Nguồn gốc hình thành phố phường, phố nghề?
Trả lời:
Từ

các

làng

mạc

vùng

châu

thổ


đã

xây

dựng

từ

thế

kỷ XV, những khu vực bán hàng trong vùng các làng cổ. Những người làm chung một
nghề tập trung lại một chỗ và lập ra một phường riêng. Vào thế kỷ XV, thành phố có 36
phường. Phần lớn các phố trong khu phố cổ đều là những nơi kinh doanh nhộn nhịp.


Đặc trưng nổi tiếng nhất của khu phố cổ là các phố nghề. Thợ thủ công từ các làng
nghề quanh Thăng Long xưa tụ tập về đây, tập trung theo từng khu vực chuyên làm nghề
của mình. Các thuyền buôn có thể vào giữa phố để buôn bán trao đổi, khiến các phố nghề
càng phát triển. Chính sản phẩm được buôn bán trở thành tên phố, với chữ "Hàng" đằng
trước mỗi phố chuyên môn buôn bán một loại mặt hàng (Hàng Bạc, Hàng Buồm, Hàng
Cót, Hàng Mây, Hàng Mã, v.v…).
Hiện nay, một số phố vẫn còn giữ được sản phẩm truyền thống như Hàng Mã, Hàng
Tre, Hàng Thiếc, phố Thuốc Bắc… Ngoài ra một số phố tuy không giữ nghề truyền thống
nhưng cũng tập trung chuyên bán một loại hàng hóa như phố Hàng Quạt bán đồ thờ, phố
Hàng Buồm bán bánh kẹo, phố Mã Mây chuyên dịch vụ du lịch1.
Trong số các nghề mà sau đó phát triển ở Hà Nội là nghề nhuộm, dệt, làm giấy, đúc
đồng, rèn và gốm. ở đây còn có nghề đúc tiền (sắt và đồng), đóng thuyền làm vũ khí và
xe kiệu.
Câu hỏi : Quá trình hình thành và phát triển khu phố cổ Hà Nội từ thế kỷ XV đến

nay?
Trả lời:
Từ thuở xa xưa, dọc theo hai bờ sông Hồng đã hình thành những khu vực dân cư sinh
sống, quần tụ thành những làng nhỏ. Trong hơn 1000 năm Bắc thuộc, bọn quan lại Trung
Quốc cũng đã xây dựng thành trì tại nhiều nơi để làm phủ trị đô hộ, trong đó có Tống
Bình (tức Hà Nội). Cũng trong thời kỳ Bắc thuộc, vào thế kỷ thứ V (454-456), có một
trong những điểm dân cư nói trên phát triển thành một quận nhỏ có tên là Tống Bình.
Trải hàng ngàn năm, từ một đô thị sơ khai của người Việt với quy mô nhỏ bé, Tống Bình
đã trở thành một thành phố và là trung tâm đầu não về mọi mặt của đất nước. Tuy nhiên
trước đó phủ thành Tống Bình chỉ là một thành lũy quân sự chưa phải là thành thị, chưa
có quy mô rộng lớn của một kinh thành. Từ đô thị Tống Bình đến Hà Nội ngày nay là cả
một quá trình đô thị hóa phức tạp diễn ra trong một không gian rộng với quy mô lớn.
1

. Phố Mã Mây xưa bao gồm 2 phố: phố Hàng Mã và phố Hàng Mây. Đoạn phố Hàng Mây nằm giáp phố
Hàng Buồm trên bờ sông Nhị, nơi tập trung truyền bè miền ngược chở các mặt hàng lâm sản như song, mây, tre
nứa…
Phố Hàng Đào, nơi buôn bán tơ lụa vải vóc (vải điều chỉ màu đỏ, đọc chệch chữ điều thành đào).
Phố Hàng Chai không phải là nơi sản xuất, buôn bán chai lọ, phố là một đoạn ngõ nhỏ, nơi tập trung dân
nghèo làm nghề "ve chai".


Trong thời kỳ phong kiến, Hà Nội sớm trở thành trung tâm chính trị của đất nước, khi
viên đô hộ Cao Biền cho mở rộng Đại La Thành vào năm 866 và đặt tại đây đại bản
doanh của chính quyền đô hộ Trung Hoa. Nhưng Hà Nội chỉ trở thành Thủ đô của nước
Đại Việt vào năm 1010, khi Lý Công Uẩn tức Lý Thái Tổ, vị vua đầu tiên của triều đại
Lý, quyết định cho dời đô từ Hoa Lư ra Đại La.
Khu phố cổ Hà Nội là một quần thể kiến trúc độc đáo mang đậm bản sắc dân tộc Việt,
có sắc thái đặc trưng của một khu dân cư sản xuất chủ yếu là nghề thủ công truyền thống.
Tại đây diễn ra đồng thời nhiều hoạt động trong đời sống hàng ngày của cư dân đô thị

sinh sống, bán hàng sản xuất, lễ hội, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, tạo nên một sức sống
mãnh liệt, để khu phố cổ tồn tại mãi mãi và phát triển không ngừng.
Dưới thời Lý - Trần, phố cổ Hà Nội bao gồm nhiều phường trong tổng số 61 phường
nằm hai bên tả, hữu hoàng thành thời đó. Dưới thời Lê, đầu thế kỷ XVI, Hà Nội trở thành
Đông Kinh, khắp nơi đổ về buôn bán làm ăn trong 36 phường lúc bấy giờ và dần dần nơi
đây chính là khu phố cổ ngày nay. Vì vậy, cùng với quá trình lịch sử khác, khu phố cổ
cũng xuất hiện và để lại dấu ấn một thời không thể phai mờ về một cuộc sống đô thị khá
toàn diện về kinh tế, xã hội, tập quán, truyền thống…
Phường là tổ chức nghề nghiệp (chỉ có ở Kinh thành Thăng Long), về tổ chức đơn vị
phường tương đương với làng xã ở nông thôn. Phường ở thế kỷ XV là phỏng theo hình
thức làng truyền thống của quê hương những người dân đến lập nghiệp. Đây là nơi sống
và làm việc của những người làm cùng một nghề thủ công. Mỗi phường có các hoạt động
riêng và ở dọc theo các bờ đê tạo thành các xóm có cửa đóng lại. Hiện nay ta còn thấy
những dấu vết thông qua tên phố, mà mỗi phố sản xuất và bán một loại hàng. Mỗi
phường đều có một ngôi đình và những đền miếu riêng của mình. Từ thế kỷ XV khu kinh
thành gọi là Phủ Trung Đô gồm 2 huyện với tổng số 36 phường. Trong thời kỳ này đa
phần huyện Thọ Xương, hầu hết các phố đều là nơi buôn bán. Rất nhiều đền và chùa
cũng được xây vào thời kỳ này.


Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, do sự vận động, phát triển nhu cầu của buôn bán,
thành phố hình thành những khu chợ chuyên biệt. ở phía đông là khu dân chúng, khu phố
buôn bán là nơi tập trung các phường thủ công. Tại đây họ sản xuất các mặt hàng cao
cấp; việc kinh doanh hết sức thuận lợi và thịnh vượng. ở phía bắc và phía tây là các làng
thủ công sản xuất các hàng cần dùng thường ngày. Cũng như các làng nông nghiệp, khu
36 phố phường đã phát triển trong một khu vực nằm giữa nhiều ao, hồ. Phía bắc là sông
Tô Lịch, phía đông là sông Hồng và phía nam là hồ Hoàn Kiếm. Chợ đầu tiên cũng như
khu
đầu


dân
tiên

được

hình

thành


giữa

chỗ

sông



Lịch



sông Hồng gặp nhau. Cửa sông Tô Lịch làm cảng và có rất nhiều kênh rạch nhỏ nằm rải
rác trong khu phố cổ.
Đến thế kỷ XIX, mạng lưới đô thị được củng cố và phát triển hơn. Cuối thế kỷ XIX và
nửa đầu thế kỷ XX, khu buôn bán này đã hình thành một dáng vẻ riêng với sự phát triển
vào bên trong các ô phố. Khu phố cổ bắt đầu được xây dựng với cơ cấu đô thị trở nên dày
đặc hơn. Và cũng đến cuối thế kỷ XIX, từ đó kiểu xây dựng truyền thống Việt Nam hay
Trung Quốc đã bắt đầu nhường chỗ cho kiểu kiến trúc thuộc địa Pháp. Đến những năm
50, kiểu hỗn hợp nghệ thuật - trang trí lại là nét chủ đạo được biết đến như một sự dung

hòa của những tòa nhà mới. Khu phố cổ đang bị xuống cấp nhưng nó vẫn giữ được
nguyên vẹn dáng vẻ mà chưa phải trải qua sự trùng tu nào đáng kể.
Trong quá trình phát triển, vào thế kỷ XVII, Hà Nội đã đón các du khách và thương
gia nước ngoài đến giao lưu buôn bán, kể cả cư trú, như người Hà Lan, Bồ Đào Nha và
Anh… Nhưng trong số đông người nước ngoài đó, phần lớn là các thương gia Trung
Quốc nên phố Hoa Kiều ở Hà Nội ngày một đông.
Sau khi thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội, quy hoạch Hà Nội bắt đầu có sự thay đổi,
khu phố cổ cũng thay đổi mạnh mẽ: Đường phố được nắn lại, có hệ thống thoát nước, có
hè phố, đường được lát trải nhựa và có hệ thống chiếu sáng. Nhà cửa hai bên đường phố
xây gạch lợp ngói và bên cạnh những ngôi nhà cổ, xuất hiện các ngôi nhà có mặt tiền
được làm theo kiểu cách châu Âu.


Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược thành công và kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, tính từ 1954 đến 1985, khu phố cổ Hà Nội nhìn chung
không có thay đổi gì nhiều, chỉ có dân số ngày một tăng với tốc độ nhanh. Đặc biệt là từ
năm 1986 đến nay với đường lối đổi mới, từ nền kinh tế bao cấp chuyển sang kinh tế thị
trường: Hội nhập kinh tế thế giới, mở rộng giao lưu kinh tế và quan hệ với quốc tế, mở
rộng và khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước phát triển, khích lệ mọi tầng lớp
nhân dân xây dựng mở mang phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội… Nhờ đó việc buôn bán
ở khu phố cổ được phục hồi, phát triển và sầm uất hơn xưa. Các hoạt động khác cũng
được xây dựng, trở lại không khí sôi nổi, tấp nập và đông vui trong khu phố cổ.
Tuy nhiên, đến nay khu phố cổ đang chứa đựng một di sản đô thị phồn thịnh, nhưng
gần 20 năm nay nó chịu sự ảnh hưởng của nền kinh tế phát triển mạnh mẽ và kiểu xây
dựng dày đặc không theo một phong cách nào. Hình dáng đô thị của khu phố cổ ngày xưa
đồng đều và được xây dựng thấp1 (kiểu nhà một tầng hoặc hai tầng), còn ngày nay là kiểu
xây dựng hỗn tạp, phát triển không theo một lối thống nhất.
Khu phố cổ Hà Nội là tên gọi thông thường của một khu vực đô thị có từ lâu đời của
Hà Nội, nằm ở ngoài hoàng thành Thăng Long. Khu đô thị này tập trung dân cư hoạt
động tiểu thủ công nghiệp và buôn bán giao thương, hình thành nên những phố nghề đặc

trưng, mang những nét truyền thống riêng biệt của cư dân thành thị, kinh đô trung tâm
đất nước.
Với một diện tích khoảng 100ha, nhưng khu phố cổ Hà Nội đã tích tụ dồn nén rất
nhiều những yếu tố kinh tế, xã hội, tập quán, truyền thống… Và nổi bật lên là cảnh quan,
vẻ đẹp vừa rất giản dị, mộc mạc, vừa rất đặc thù về bản sắc của một dân tộc có nền văn
hóa, kiến trúc, tâm linh… độc đáo, riêng biệt mà ta dễ nhận biết thông qua một không
gian tổng thể với cái tên rất ấn tượng: "Khu phố cổ Hà Nội". Đó là cái tên mà cho đến
ngày nay và mãi đến mai sau (nếu ta bảo tồn được khu phố cổ), mỗi khi nhắc tới, dù là
người trong nước hay nước ngoài đều nghĩ đến một cái gì đó rất thiêng liêng, rất đáng
trân trọng. Bởi vì tại đây đã chứa đựng và phản ảnh khá đầy đủ về các loại hình kiến trúc
như nhà ở, chợ búa, đình, chùa, đền, miếu, đường đi lối lại, đại diện cho một thời kỳ hình
thành và xây dựng Thủ đô của chúng ta - Thủ đô Hà Nội.
1

. Cho đến cuối thập niên 80, phố cổ còn giữ được nguyên vẹn.


Câu hỏi : Phân biệt thế nào về phố cổ; khu phố cổ và khu "36 phố phường Hà Nội"?
Trả lời:
Phố cổ là phố của khu phố cổ, hay còn gọi là phố của "36 phố phường Hà Nội", hoặc
là phố của khu đô thị nằm ngoài hoàng thành của Kinh thành Thăng Long - Hà Nội.
Gọi là khu "36 phố phường Hà Nội" là một cách gọi không chính xác của khu phố cổ,
vì "36 phố phường" là một cách gọi ước lệ khu vực đô thị cổ nằm bên trong và bên ngoài
của khu phố cổ.
Câu hỏi: Phân biệt phố và phường, nêu đặc điểm của đường phố và nhà ở trong khu
phố cổ?
Trả lời:
Phố xuất hiện sau phường, do nhu cầu giao thương buôn bán tăng dần. Phố là một bộ
phận của phường, trực tiếp thuộc phường và là bộ mặt của phường. Mặt khác, phố là
thành phần liên kết các phường khác nhau, trong mối quan hệ tương hỗ và tạo nên một

mạng lưới, đó là cấu trúc đô thị. Từ hình thành tuyến phố mà quyết định sự hình thành ô
phố. Đặc điểm của đường phố và ô phố trong khu "36 phố phường" là kích thước nhỏ và
không đồng đều về hình dạng, bởi vì quá trình hình thành và phát triển phường, phố là
quá trình mang tính tự phát, phát triển theo nhu cầu, dường như không dự kiến được
trước và hoàn toàn bị chi phối bởi điều kiện địa hình tự nhiên (chỗ nhiều, chỗ ít ao, hồ,
kênh rạch, đường đê, con sông, v.v… Các tuyến phố hình thành từ chính những con
đường nhỏ, vốn kiêm cả chức năng thủy lợi nên thường có hình dáng tự nhiên, quanh co.
Việc hình thành các đơn vị phường đã tác động tới kiến trúc của khu phố cổ. Ta có thể
thấy điều đó qua sự phát triển của các nhà hình ống, đó là nhà dài có mặt tiền hẹp gọi là
nhà ở hàng phố, phòng quay ra phố, dùng làm cửa hàng và làm hàng.
Nhà ở trong khu "36 phố phường" có đặc trưng là mặt tiền hẹp và chiều sâu nhà rất
dài, vì thế mới có tên gọi phổ biến là "nhà hình ống". Phần lớn các kiểu nhà truyền thống,
mà ngày nay vào trong khu vực phố cổ ta vẫn còn thấy, được xây từ cuối thế kỷ XIX
hoặc xây lại vào đầu thế kỷ XX.
Câu hỏi : Hai câu đầu của bài thơ khuyết danh:
Rủ nhau chơi khắp Long Thành
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai


Vậy tại sao trong thực tế phố cổ nhiều hơn con số 36?
Trả lời:
Khu đô thị của Kinh thành Thăng Long - Hà Nội, thủa ban đầu vào thế kỷ XV, XVI đã
hình thành phát triển với 36 phố phường (trong bài thơ khuyết danh). Nhưng quá trình
xây dựng và phát triển, do nhu cầu giao thương buôn bán, nhu cầu phát triển kinh tế, văn
hóa xã hội, các công trình xây dựng nhà ở, đình, chùa, đường phố… phát triển sâu vào
bên trong các ô, san lấp các ao hồ, lấp kín các khoảng trống của không gian đô thị, hình
thành các phố, phường của khu đô thị như ngày nay. Tuy vậy lịch sử Thủ đô Hà Nội vẫn
ghi chép và người dân Hà thành vẫn lưu truyền và quen gọi khu đô thị lịch sử yêu quý
của mình là khu "36 phố phường" Hà Nội, hay là "khu phố cổ" Hà Nội. Vì thế trong thực tế
phố cổ Hà Nội có con số nhiều gấp hơn hai lần con số 36 và đúng như Quyết định số

70/BXD/KT-QH ngày 30 tháng 3 năm 1995 của Bộ Xây dựng, khu phố cổ Hà Nội có 76
tuyến phố. Đó là:
Phố Hàng Buồm, Mã Mây, Hàng Bạc, Hàng Đào, phố Chả Cá, Hàng Lược, Hàng
Chai, Phùng Hưng, Nhà Hỏa, Hàng Gà, Lương Ngọc Quyến, Hàng Chĩnh, Hàng Đồng,
Hàng Rươi, phố Hàng Cá, Hàng Mành, Hàng Bè, Đường Thành, Ngõ Trạm, Thanh Hà,
phố Hàng Bông, Cầu Đông, Hàng Ngang, Hàng Đường, Hàng Cân, Lãn Ông, Tạ Hiện,
Hàng Giấy, Hàng Giầy, Hàng Mã, Gầm Cầu, Nguyễn Thiện Thuật, Hàng Chiếu, Hàng
Da, Hà Trung, Cửa Đông, Hàng Bồ, Cầu Gỗ, Nguyễn Huy Bích, Hàng Điếu, Hàng Nón,
Trần Nhật Duật, Hàng Thiếc, Nguyễn Văn Tố, Hàng Hòm, Hàng Cót, Lò Rèn, Hàng
Khoai, Bát Đàn, Đông Thái, Đào Duy Từ, Hàng Đậu, Nguyễn Thiếp, Chợ Gạo, Hàng
Mắm, Ngõ Gạch, Nguyễn Siêu, Ô Quan Chưởng, Bát Sứ, Đồng Xuân, Thuốc Bắc, Hàng
Phèn, Hàng Bút, Hàng Vải, Gia Ngư, Yên Thái, Hàng Muối, Nguyễn Hữu Huân, Hàng
Thùng, Hàng Tre, Hàng Gai, Tô Tịch, Lương Văn Can, Hàng Quạt, phố Cao Thắng, Đinh
Liệt.
Câu hỏi : Quá trình hình thành xây dựng và phát triển hệ thống phố của khu phố cổ
như ngày nay là không đồng đều. Hãy kể mốc thời gian, thời điểm và khu
vực hình thành các phố của khu phố cổ Hà Nội?
Trả lời:


Như trên đã nói "Hà Nội 36 phố phường" là cách gọi ước lệ, còn thực tế hiện nay số
tên phố lớn hơn cả hai lần con số 36 (theo thống kê trên), là do nhu cầu phát triển tất yếu
của khu phố cổ qua từng giai đoạn lịch sử.
Thông thường người ta chia Hà Nội ra làm ba khu vực, ba mốc thời gian:
- Khu phố cổ có từ thế kỷ trước còn lại.
- Các phố - khu phố cũ được xây dựng từ đầu thế kỷ XX.
- Các phố - khu phố mới bắt đầu từ năm 1954 sau ngày giải phóng.
Tên gọi ta đã từng quen thuộc với các phố có tên chữ "Hàng" và tên các danh nhân.
Qua những dòng tên ấy, ta càng hiểu thêm, càng tự hào và yêu quý hơn Hà Nội 36 phố
phường, trải qua 10 thế kỷ.

Để tìm hiểu kỹ hơn từng phố cổ Hà Nội cần phải đi sâu nghiên cứu vị trí địa lý lịch sử
hình thành và phát triển của từng phố cổ.
Vị trí địa lý và quá trình hình thành, phát triển của 76 tuyến phố
trong và quanh khu phố cổ Hà Nội
Câu hỏi: Hãy cho biết nguồn gốc, địa giới phố Hàng Buồm?
Trả lời:
Phố Hàng Buồm, đất phường cũ Hà Khẩu, tại đây người xưa có nhiều gia đình làm
nghề dệt mành buồm, chiếu buồm bằng cói. Phố Hàng Buồm trước đây là phố Hoa Kiều,
đó là phường Diên Hưng, sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi gọi là phường Đường Nhân
(phố người Tàu) bán áo diệp. Sách Đại Nam nhất thống chí gọi là phố Việt Đông (nay là
Hàng Ngang). Như vậy là ban đầu Hàng Buồm chưa phải là nơi tập trung của Hoa Kiều,
mà họ ở phố Hàng Ngang rồi mới ở lan sang mấy phố xung quanh, như Hàng Bồ, phố
Phúc Kiến (Lãn Ông) rồi đến Hàng Buồm. Nghề sở trường của họ là buôn bán mà ở đó
(Hà Khẩu - tên cũ là Giang Khẩu) lại có vị trí trên bến dưới thuyền thuận lợi cho việc
trao đổi hàng hóa, buôn bán với các địa phương, nên đã thành khu vực cư trú chính của
họ.
Có nhiều lý do cho thấy Hoa Thương có mặt ở Hàng Buồm rất sớm, ít ra từ thế kỷ XIX
phố này đã thành phố Tàu.


Phường Hà Khẩu khởi thủy là thôn xã Việt Nam, cư dân ở đây sát bên sông Nhị và
trên bờ sông Tô Lịch, hầu hết sống bằng nghề liên quan đến sông nước. Người phố Hàng
Buồm mua nhiều nguyên liệu cói của thuyền buôn ở Sơn Nam Hạ1. Họ có nghề làm và
bán các hàng cói đan như bị, giỏ, chiếu, buồm và một thứ mành mành buồm cũng đan
bằng cói có nẹp tre, những nhà có người mắc bệnh đậu mùa thường mua về che vào cửa.
Khi người Pháp đặt chân lên đất Bắc Kỳ (năm 1872), tên lái buôn Jean Dupuis, một
tên lái buôn cơ hội, đem lính thổ phỉ cờ vàng và lính Tàu Vân Nam vào Hà Nội làm việc
buôn bán trái phép, thì Hàng Buồm đã đông nhà buôn Hoa Kiều, họ buôn bán lớn đã có
nhà Hội Quán. Nhiều lái buôn người Hoa bất chấp luật pháp của triều đình Việt Nam, lén
lút cung cấp hàng hóa, lương thực cho Jean Dupuis; rồi từ giao dịch trái phép đến giúp đỡ

làm gián điệp tiếp tay cho quân xâm lược. Mặt khác, một số quan lại Hà Nội lại dùng
đám Hoa thương làm trung gian để thương lượng với địch. Hội Quán Hàng Buồm là nơi
gặp mặt của đại biểu hai bên.
Vì thế mà những năm biến động (1873 và 1882), Hà Nội trải nhiều phen binh lửa,
quân Pháp hai lần hạ thành2 chúng đánh nhau với quân cờ đen của tướng Lưu Vĩnh Phúc
ngay trong thành phố Hà Nội. Sau vụ Cầu Giấy1 tháng 5 năm 1882, các phố của người
Việt Nam, ít nhiều đều bị đốt phá cướp bóc, riêng chỉ có mấy phố của người Hoa Kiều
vẫn được yên ổn nguyên vẹn. Hoa Kiều được quan Pháp bảo vệ để làm chỗ dựa, được
quân cờ đen nể nang vì cùng người Tàu; bọn giặc cướp phá đều nhằm vào phố xá Việt
Nam, ở đó dân chúng đã chạy loạn, bỏ nhà về quê. Khu người Tàu ở Hàng Ngang - Hàng
Buồm vẫn giữ được cảnh đông vui ồn ào. Họ có cổng dựng chắc chắn ở đầu phố, có
người canh gác ban đêm.
Những năm đầu thời kỳ người châu Âu mới đến Hà Nội họ chưa xây được gì, thì nhà
Hội Quán, Hàng Buồm thường được bọn quan chức Pháp mượn làm chỗ hội họp, tiếp tân
khi có đại lễ; còn khi cần họ thuê rạp hát ở Hàng Cót của người Tàu để diễn kịch.
1

. Vùng biển Kim Sơn - Phát Diệm, Nam Định, Ninh Bình giáp Thanh Hóa.

2

. Thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhất ngày 20 tháng 11 năm 1873 và lần thứ hai ngày 3 tháng 4 năm
1882.
1

. Nơi diễn ra hai trận đánh quyết liệt, quân Pháp thất bại đau đớn, tổn thất nặng nề. Trận thứ nhất ngày 21 tháng
12 năm 1873 quân Pháp bị quân cờ đen phục kích ở khu vực Cầu Giấy, giết chết tên Phơ-răng-xi Gác-nhi-ê, tên chỉ huy
quân và chiến hạm đánh thành Hà Nội. Trận Cầu Giấy diễn ra vô cùng ác liệt vào ngày 18 tháng 5 năm 1882, quân
Pháp thua đau, rút chạy, bỏ lại trên cầu cả xác chết lẫn người bị thương, trong số xác chết có cả tên Hăng-ri Ri-vi-e,
tổng chỉ huy quân đội thực dân Pháp ở Bắc Kỳ.



Hoa thương lợi dụng tình hình chính trị và xã hội, làm giàu nhanh chóng; họ ở chật cả
Hàng Buồm, họ biến Hàng Buồm thành một "phố khách". Người Việt Nam gốc trong
phố, phải dọn đi dần sang phố khác ở, nhượng lại cho Hoa Kiều có nhiều điều kiện kinh
tế hơn.
Câu hỏi: Hãy cho biết địa giới và tên gọi phố Mã Mây?
Trả lời:
Phố Mã Mây thời xưa là hai phố tên gọi khác nhau: Hàng Mây và Hàng Mã.
Hàng Mây là đất của giáp Hương Tượng, thuộc phường Hà Khẩu cũ, tức là phần đất
giáp Hàng Buồm; Đình Hương Tượng ở số 64 phố Mã Mây thờ Nguyễn Trung Ngạn, còn
có tên là Tử ý Đại Vương. Gọi là Hàng Mây vì ở gần bến sông, nơi thuyền bè đậu, chở từ
miền ngược về các thứ lâm sản: song, mây, tre nứa bán cho Hàng Mây và Hàng Mã; gỗ
đem lên Bè Thượng; vỏ gió củ nâu đưa lên phố Thanh Hà.
Hàng Mã giáp với Hàng Bạc, là đất thôn cũ Dũng Thọ, dân trong phố có nghề làm đồ
mã dùng cho các đám tang và cúng mã, cúng cầu mát, cùng với nghề làm vàng gộp dùng
trong ngày giỗ, ngày tết và các đám cúng (khác với Hàng Mã gần Hàng Đồng là nơi làm
đồ mã nhỏ và hoa giấy bày bàn thờ, Hàng Gai bán đồ chơi tết Trung Thu bằng giấy).
Thời thuộc Pháp, phố còn có tên là phố "Quân cờ đen", vì năm 1883 có một đơn vị
quân Cờ Đen đóng ở phố này.
Giai đoạn đầu sau khi chiếm Hà Nội (thập niên cuối thế kỷ XIX) người Pháp đã có ý
định mở mang khu vực này thành nơi kinh doanh của chúng. Chính quyền Pháp đặt nhiều
công sở trong khu vực bến sông: Sở Thuế quan ở bờ sông ngoài cửa Ô Quan Chưởng
(sau nhà đó dùng làm trường học: Trường Ke); Sở Xen đầm ở Hàng Bè (số 55); Tòa án ở
Hàng Tre. Tại phố Mã Mây có nhiều di tích của sự mở mang đó là: nhà ngục (một dãy
nhiều gian từ số 19 đến số 33 thuê của tư nhân; nhà chủ ngục người Pháp ở bên kia
đường nhà số (20, 21), trụ sở Hội Tam Điểm Bắc Kỳ (nhà số 37, sau dùng làm trường
học: Trường Hàng Mã). Bọn con buôn Pháp cũng có đôi ba cửa hàng ở phố
Mã Mây.
Người Pháp có ý định mở mang khu vực này vì tiện có bến sông, lại gần phố người

Tàu có nhiều cửa hiệu lớn.


Thời kỳ đầu thế kỷ XIX, những thập niên trước và sau chiến tranh thế giới 1941-1918,
quang cảnh phố Mã Mây vẫn giữ các hình ảnh một phố cổ của Hà Nội.
Đoạn phố Hàng Mây có những cửa hàng nhỏ bán đồ gia dụng bằng song mây tre như
quang, thừng; họ bán những sợi mây sợi song làm nguyên liệu. Sau năm 1920 có một số
ít nhà làm đồ hàng như ghế mây, bàn mây, ghế xích đu theo kiểu đặt hàng của khách
nước ngoài. Thợ là người làng Sơn Đồng học lại được nghề làm ghế mây theo kiểu hàng
Nhật có bày bán ở Bảo tàng khu Maurice Long, khu Đấu Xảo.
Những năm cuối thế kỷ XIX, tại đoạn phố này vì ở giáp Hàng Buồm - Chợ Gạo nên
vẫn còn một số tàn quân cờ đen không theo chủ tướng về nước. Đoạn phố Hàng Mã,
giáp với Hàng Bạc, thì có nghề làm và bán đồ mã. Ngày nay, phố Mã Mây vẫn còn tồn
tại với: tên gọi cũ nhưng một số mặt hàng thì có thay đổi.
Câu hỏi: Hãy cho biết địa giới và tên gọi phố Hàng Bạc?
Trả lời:
Phố cổ Hàng Bạc, nằm giữa trung tâm khu phố cổ Hà Nội, dài gần 300 mét, nổi tiếng
nghề kim hoàn truyền thống. Phố Hàng Bạc đã được hình thành từ thế kỷ XVIII. Đời Hậu
Lê chỗ này là đất thuộc giáp Nỗ Hạ phường Đông Các; đến nửa đầu thế kỷ XIX là đất
các thôn Đông Thọ và Dũng Hãn, thuộc tổng Hữu Túc; sang giữa thế kỷ XIX thì hai thôn
sát nhập với nhau làm một gọi là thôn Dũng Thọ, thuộc tổng Đông Thọ.
Đoạn đầu từ ngã ba phố Mã Mây và ngã ba Hàng Bè đến ngã tư Tạ Hiện - Đinh Liệt.
Khúc này đa số là nhà cổ, nhà nào có gác thì là gác "chồng diêm", tức nhà thấp, gác xép,
cửa sổ nhỏ trông xuống đường; nhiều nhà kiến trúc theo lối ta xưa còn tồn tại, lác đác xen
lẫn những nhà được cải tạo lại theo kiểu mới hơn; có nhà được xây mới, cao ráo, có gác.
Dân ở đoạn đầu phía đông Hàng Bạc một phần là người bản địa, một số làm nghề bán
hàng cơm, chứa trọ (họ ở lan cả sang đầu phố Mã Mây và ngõ Phất Lộc). Vì chỗ đó ngày
xưa giáp bến sông, thuyền mành cập bến dỡ hoặc ăn hàng, chủ mành ở lại lâu phải có chỗ
trọ và một phần dân phố là người làng Châu Khê (huyện Bình Giang - Hải Dương) ra
Thăng Long làm nghề đúc bạc và đổi tiền.



Nghề vàng bạc ở đây do Lưu Xuân Tín, người làng Châu Khê, làm Thượng thư triều Lê
Thánh Tông (thế kỷ XVI) được nhà vua cho phép mở lò đúc bạc thành nén cho triều đình;
ông đem người trong họ hàng và người làng ra Thăng Long mở phường đúc bạc. Trường
đúc ở số nhà 58 Hàng Bạc.
Có hai nơi là chỗ tiếp các quan trên đến giao bạc để đúc và nhận bạc nén, đó là
Trương

Đình

(đình

trên)

nay



số nhà 58 Hàng Bạc và Kim Ngân Đình (đình dưới) ở số nhà 42; đình thờ thần Hiên Viên
là "ông tổ bách nghệ".
Người làng Châu Khê ra Thăng Long khá đông, họ cần có nơi sinh hoạt chung, nên đã
mua đất thờ vọng Thành hoàng làng, đất ấy ở thôn Hài Tượng. Trong ngõ Hài Tượng
hiện còn một ngôi đền mang chữ "Châu Khê vọng từ", còn gọi là Nội Miếu. Người Châu
Khê giữ tập quán tổ chức phe giáp phỏng theo phe giáp làng gốc (tên giáp là: Giáp Nhất Giáp Nhị - Giáp Đông - Giáp Tây Xuyên và Giáp Trung), hàng năm mở hội hè đình đám.
Người Châu Khê làm nghề đúc bạc và kiêm cả nghề đổi tiền. Đoạn phố này ở gần bến
sông, tiện cho thuyền bè xuôi ngược buôn bán; họ đổi tiền kẽm lấy bạc nén, bạc vụn tiện
mang đi xa, nhất là những lái buôn đem vốn đi cất hàng hoặc đổi bạc nén lấy đồng tiền
kẽm cho những người đi mua vặt.
Đầu đời Nguyễn, trường đúc bạc bị giải thể, việc đúc bạc nén triều đình giao cho

trường đúc Huế; Hàng Bạc vẫn còn giữ nghề đổi bạc. Đến khi người Pháp chiếm Hà Nội,
theo nghề nghiệp từng phường, đã gọi phố này là phố những người đổi bạc.
Đoạn cuối phố ở phía tây, từ ngã tư Tạ Hiện - Đinh Liệt đến ngã tư Hàng Đào - Hàng
Bồ là nơi tập trung của người làng Định Công di cư ra Thăng Long cũng làm nghề vàng
bạc. Họ là những người thợ kim hoàn, tức là nhận đặt làm những đồ nữ trang như khuyên
vàng, xà tích bạc, vòng xuyến, hoa, hột bằng vàng khánh, vòng bạc cho trẻ con. Những
người nhiều vốn vừa làm vừa bán ra các đồ vàng, bạc; người không có vốn nhận làm thuê
lấy tiền công.
Câu hỏi: Hãy cho biết địa giới và tên gọi phố Hàng Đào? Nơi đây diễn ra các hoạt
động buôn bán hàng hóa nào?
Trả lời:


Hàng Đào chuyên buôn bán vải vóc tơ lụa, nhưng lại kèm thêm nghề nhuộm mà chỉ
nhuộm màu tươi như: đỏ, vàng, hồng; vì thế mới có tên Hàng Đào. Nối với Hàng Đào là
Hàng Ngang, có tên cũ cũng gọi theo nghề nhuộm, chuyên nhuộm các màu thanh nhẹ
như xanh lam, da trời, hồ thủy, vì thế Hàng Ngang còn có tên là Hàng Lam. Những màu
khác lại phải nhuộm ở nơi khác. Vải đen nhuộm ở phố Hàng Vải gần đó. Vải nâu nhuộm
ở làng Đồng Lầm (ô Đồng Lầm quãng làng Kim Liên ngày nay, nổi tiếng về vải màu nâu
may áo dài phụ nữ Hà Thành nhiều thế kỷ.
Phường Đại Lợi tập trung người làng Đan Loan chuyên nghề nhuộm tơ lụa có từ thời
Trần - Hồ, qua thời Hậu Lê thì đã sầm uất (theo Địa dư chí của Nguyễn Trãi). Phố Hàng
Đào tất nhiên cũng hình thành rất sớm dọc trên con đê gần Hồ Gươm.
Cho đến thế kỷ XX, phố Hàng Đào vẫn thua kém phố Hàng Ngang (phố của người
Minh Hương và khách trú Quảng Đông), mặc dù Hàng Đào là phố giàu nhất Việt Nam.
Tại đây không có nhà nào xây dựng to lớn, nhà ngói vẫn còn lẫn nhà tranh. Một số ít nhà
có gác thấp, cửa sổ nhỏ trông xuống phố kín đáo. Một phố dài chừng 250 mét mà hai bên
mặt phố có tới dăm chục nóc nhà, tức là đổ đồng bề rộng của mỗi cửa hàng trung bình
chỉ có dăm thước. Bên phía tây là dãy số chẵn, bên phía Đông là dãy số lẻ, cửa ngoài thì
ngang với mặt đường, nhưng càng đi sâu vào trong nhà, mặt đất càng thấp xuống, lý do là

phía bên đó nguyên là dải hồ rộng cũ được lấp đi, mặt hồ so với mặt đê, tất nhiên thấp
hơn. Phía bên phải (số chẵn) không có cống thoát nước thải, hay bị ứ đọng nước. Cũng
như tất cả các phố thời ấy, trên cao thì có những mái nhà nhấp nhô mái cao, mái thấp
không đều, phía ngoài cửa thì so le, nhà nhô ra thụt vào; phố chưa có vỉa hè, lát đá lổn
nhổn. Nhiều nhà cổ vẫn còn sót lại đến ngày nay.
Hàng Đào vẫn được coi là phố chính của Hà Nội. Phố Hàng Đào là nơi buôn bán lụa
là vóc nhiễu với nhiều màu sắc đẹp đẽ và người Hàng Đào vẫn được tiếng là người thanh
lịch, con người của "kinh kỳ" kiểu cách đến thành cầu kỳ hào nhoáng.


Nơi đây là phố buôn bán có từ lâu đời và buôn bán những thứ hàng đắt tiền. Phố Hàng
Đào có nhiều nhà giàu, vốn liếng to. Có những gia đình sinh sống qua nhiều thế hệ ở phố
Hàng Đào, số đông là người gốc làng Đan Loan (họ Phạm, họ Lê), làng Đình Loan (họ
Nguyễn), làng Đông Cao (Bắc ninh); họ Vũ Đông Cao ít ra cũng đã có tới bốn năm đời.
Những gia đình nhà nho quan lại quý tộc thường thông gia với nhau; nhà giàu kén rể làm
quan để thêm danh giá.
Hàng Đào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX còn là phố chỉ buôn tơ bán hàng tấm. Nghề
buôn tơ sống cốt tinh mắt đánh giá được chất lượng khi tơ chưa khô, mua thế nào để có
lãi; các bà buôn mới giàu kinh nghiệm. Những nhà buôn thuần tơ không mở của hàng.
Hàng mua cất trong nhà, người các làng Hà Đông mua về dệt, vào tận trong nhà xem
hàng ăn giá. Cửa hàng tấm cũng đơn giản: ngả cánh cửa lùa kê lên mễ, bên ngoài bày vài
cái thạp chè cũ, trên treo những dải lụa màu sặc sỡ. Bên trên cửa có chiếc màn vải che
nắng. Quanh tường là tủ đựng hàng, trong xếp những cuốn vải nhiễu giả (chỉ có lượt
ngoài trong là lõi giấy) làm quảng cáo, còn hàng thật thì đựng trong những bao sơn để ở
trong cùng, có khách hỏi mua mới lấy ra. Các bà, các cô bán hàng ngồi trên bục bên
trong; cạnh cửa là "cô ngồi hàng", tức là những cô gái làm công chào khách, ngày đến
làm, tối về nhà mình.
Câu hỏi: Hãy cho biết địa giới và tên gọi phố Chả Cá?
Trả lời:
Phố Chả Cá, đất thôn cũ Đồng Thuận. Trước được gọi là phố Hàng Sơn, phố Hàng

Sơn ban đầu là một ngõ hẹp, trước năm 1910 đường phố đó vẫn chỉ là một lối đi vừa một
chiếc xe tay, bên cạnh đầu ngõ lại là một cái cống nhỏ choán cả lối ra vào. Bên trong ngõ
có độ dăm bảy ngôi nhà đều chuyên nghề buôn sơn sống đưa từ mạn Phú Thọ về. Sau khi
vạch thành đường phố, con đường đó được đặt tên là phố Hàng Sơn, song vẫn bị xếp vào
loại phố xép. Ngay cả khi mở mang rồi phố Hàng Sơn cũng chỉ dài 180 mét.


Đoạn đầu phố từ ngã năm Hàng Mã - Hàng Lược đến ngã tư Hàng Cá, hai bên mặt
đường đi chỉ là tường bên và cổng hậu của những nhà quay mặt ra mấy phố Hàng Mã,
Hàng Cá và Hàng Đường. Qua ngã tư Hàng Cá, một bên dãy nhà số chẵn, mặt phố vẫn
được giữ nguyên, nhà cửa đều cũ kỹ, kiểu cổ, diện tích hẹp, nền cao, gác thấp, cửa ván
gỗ, làm đã từ lâu đời; một bên, phía bên trái, dãy số lẻ, là mặt phố được xây lại sau khi
mở rộng mặt đường đi, xen lẫn vào phía sau Hàng Đường nên có những ngôi nhà mới
làm, cao hai ba tầng kiểu hiện đại. Đầu phố giáp phố Phúc Kiến (Lãn Ông) là lớp nhà sau
kho hàng của hãng Alim Macca.
Phố Hàng Sơn được đổi tên là phố Chả Cá là do trong phố có người họ Đoàn (gia đình
bà Trưởng Mền, con là Cả Hy) có tài làm món đặc sản là chả cá nướng. Cửa hàng đó có
từ lâu năm, được nhiều người tìm đến thưởng thức món cá nướng. Cho đến nay vẫn ngôi
nhà cổ thấp hẹp ấy, vẫn chiếc cầu thang gỗ thấp ngược ấy, trên gác có sập gụ tủ chè, các
cụ thường ngồi ăn trên sập. Cửa hàng bán chả cá trước đây không nhiều; cũng có đôi ba
nhà thấy đông khách ăn chả cá, cũng mở cửa hàng ở trong phố này, song không bền lâu;
riêng có hiệu Sơn Hải, cũng là người họ Đoàn, vừa bán chả cá vừa làm hoa giấy, rồi sau
cũng chỉ làm hoa giấy.
Từ sau năm 1945, trong phố Hàng Sơn không còn nhà nào buôn bán sơn nữa, mà
người ta chỉ tìm đến đây ăn chả cá nên mới thành tên gọi phố Chả Cá, mặc dù cả phố chỉ
có một hàng chả cá (hiệu Lã Vọng).
Những ngôi nhà nhỏ cũ bên số chẵn lại là những cửa hàng nhỏ bán và sửa chữa đồ
điện gia dụng.
Phố



Chả

Con,


một


đảng

nơi
viên

sinh
nổi

của
tiếng

Đoàn
của

Trần
Việt

Nghiệp
Nam

dân Đảng năm 1929-1930 về những hoạt động mưu trí và táo bạo.

Câu hỏi : Hãy cho biết địa giới và mặt hàng buôn bán ở phố Hàng Lược?
Trả lời:

tức
Quốc


Phố Hàng Lược thuộc đất thôn Phủ Từ, thôn Vĩnh Trù. Trước đây gọi là phố sông Tô
Lịch vì chỗ này là một đoạn của sông Tô Lịch. Phố Hàng Lược phía bắc giáp với phố
Hàng Cót, từ cầu Sắt xe lửa đi xuống đầu ngã năm Hàng Mã - Chả Cá - Hàng Đồng Thuốc Bắc, dọc theo bờ sông Tô Lịch cũ ở phía Bắc. Vì thế mà thời thuộc Pháp, chính
quyền thành phố đặt tên phố đó là phố Sông Tô Lịch. Dòng sông Tô Lịch từ chỗ cửa sông
thông với sông Hồng theo hướng đông tây, tới phố Hàng Cá thì quặt lên hướng tây bắc
đến sát tường thành Hà Nội để làm thành con hào thiên nhiên bảo vệ thành trì; chỗ quặt
đó ở ngang số nhà 14 Hàng Lược, những năm thập niên 10, trước kia người bên Hàng
Đồng (phố cũ) sang chợ vẫn phải qua chiếc cầu tre, cầu đó được thay thế bằng một chiếc
cổng lớn vì lòng sông đã cạn chỉ còn như một lạch thoát nước, do đó mà đường phố này còn
một tên nữa là phố Cống Chéo Hàng Lược.
Phố Hàng Lược có những nhà buôn và bán lược chải đầu. Lược gỗ, lược sừng làm ở
nơi khác, người trong phố mua buôn, có người khác đến cất lại, hoặc bày bán lẻ trong các
cửa hàng xén và các chợ. Những năm sau trong phố vẫn còn mấy nhà bán lược ở cạnh
đình Vĩnh Trù; những cửa hàng bán lược đó (số 61 và 63 Hàng Lược) đến năm 1936 là
cửa hàng bán thịt chó và bán phở.
Hàng Lược là một đường phố cũ, khu vực thừa hưởng cái cảnh trên bến dưới thuyền
khi còn con sông Tô Lịch; có một số người Pháp đã thử lập nghiệp ở chỗ này: nhà
Passignat một hiệu buôn xuất nhập khẩu lớn ở 18 Hàng Lược. Sau vì địa thế hẹp không
thể phát triển được, người Pháp bỏ đi ở chỗ khác thì chỗ này trở lại khu phố hoàn toàn
Việt Nam.
Dân phố Hàng Lược khi không còn bến sông, sống nhờ cả vào chợ Đồng Xuân; họ là
những người buôn bán nhỏ, thợ thủ công. Trong phố cũng có một số gia đình công chức
và nhân viên sở tư, những gia đình công chức nhỏ thì thường chồng đi làm ở công sở, vợ

buôn bán trong chợ, ở nhà bày bán loại chọn riêng, thứ xấu bán lẻ cho người qua đường.


Ngày trước Hàng Lược còn là nơi mà những gia đình trong thành phố có việc hiếu hỷ
thường đến đấy để lo công việc. Trong phố có ba bốn nhà cho thuê "quả phù trang", tức
là những đồ dùng cần thiết cho các đám ăn hỏi, dẫn cưới và đòn kiệu rước đám ma; nhà
Chưởng Quỳnh ở số 7 và nhà Chưởng Định ở số 15 được nhiều người tín nhiệm. Đến khi
Loui Chức ra đời ở Hàng Cót với xe tang song mã, tứ mã thì nhà đám không ai thuê đòn
nữa, nhà Chưởng Quỳnh vẫn cho thuê quả phù trang và đứng ra trương bọn phu khiêng
đồ rước đám ma, cầm đối trướng và đàn bà khóc mướn.
Đặc biệt Hàng Lược còn có chợ hoa. Hàng năm cứ đến ngày hai mươi đến ba mươi
tháng Chạp là người dân từ các làng ven đô mang đào, quất, cúc, mai, mai hồng, hướng
dương, cẩm chướng, hải đường… cùng với chim lồng, cá cảnh, chậu cây tụ hội về đây
lập nên chợ Hoa Hàng Lược, tạo nên cảnh sắc mùa xuân tràn đầy sức sống trên đất Thăng
Long - Hà Nội.
Câu hỏi : Hãy cho biết địa giới và tên gọi phố Hàng Chai?
Trả lời:
Phố Hàng Chai nhỏ bé, ở giữa khu phố cổ đất cũ thôn Vĩnh Trù. Cạnh trường nữ học
Hàng Cót có một ngõ nhỏ thông sang chỗ ngã năm Hàng Lược - Hàng Khoai - Hàng
Rươi; thời thuộc Pháp có tên là Ngõ Ngang, nay gọi là phố Hàng Chai. Đó là một ngõ
nhỏ dài chưa đầy 500 mét, mặt đường nhỏ hẹp trải đá lổn nhổn, gần như không có vỉa hè
vì những nhà làm ở phố này lấn ra đến sát mặt đường. Cả phố chỉ có dăm ngôi nhà nhỏ vì
hai đầu phố là tường bên của những ngôi nhà to lòng sâu của hai khu phố Hàng Cót và
Hàng Rươi, lại thêm khu trường Hàng Cót chiếm gần nửa mặt phố bên số chẵn.
Ngõ Ngang có tên là Hàng Chai vì trước kia - vào khoảng những năm thập niên 20, 30
dân trong ngõ đa số là dân nghèo sinh sống về nghề "chè chai", tức là những người quang
gánh đi rong mua bán các thứ chai lọ và bao chè cũ bằng thiếc, cùng nhiều thứ phế bỏ
khác.
Trước nữa, trong ngõ này là nơi hàng năm những nhà hát ả đào cử đại biểu về đây làm
lễ giỗ tổ và tổ chức hát thơ thi vào ngày 13 tháng 11 âm lịch. Ngôi đình thờ tổ sư nghề

hát ả đào ở số 17 Hàng Chai. Khu vực đình Ca Công trước kia đất khá rộng, trên tường
cao còn đắp chữ "Lạc Thiên Đình" và đôi câu đối; nay thì bên ngoài cửa đình đã bị nhiều
nhà mới làm lấn che mất hậu cung.


Tổ sư nghề hát ả đào có đền thờ chính ở làng Lỗ Khê (huyện Đông Anh). Theo thần
phả thì tổ sư là vợ chồng Đinh Dự, con Đinh Lễ - một danh tướng của nghĩa quân Lam
Sơn. Đinh Lễ ra Bắc phá quân Minh, có đóng quân ở Lỗ Khê và Đinh Dự lấy nơi đây làm
trú quán, vợ chồng truyền bá nghệ thuật hát ả đào. Lỗ Khê giữ được truyền thống của
nghề này và có đình Ca Công thờ vợ chồng Đinh Dự làm Thành hoàng có sắc phong của
triều Lê đời Hồng Đức (thế kỷ XV).
Câu hỏi : Hãy cho biết địa giới và tên gọi phố Phùng Hưng?
Trả lời:
Phố Phùng Hưng mở trên con hào và tường thành Cửa Đông cũ sau khi phá thành lấp
hào. Phố dài 1.250 mét, đi từ bắc xuống nam theo vết tường thành và con hào phía đông
thành trì Hà Nội cũ; tường thành đã bị phá và hào bị lấp năm 1896-1897. Khi làm đường
xe lửa thì cầu dẫn xe lửa được xây trên nền tường thành cũ và phố Phùng Hưng là chỗ
con hào đã bị lấp bằng. Phần đất làm nền bên phía đông dãy số lẻ là đất thôn Tân Khai
cũ.
Sau khi phá tường thành lấp hào và quy hoạch khu vực này thành đường phố đi dọc
theo cầu xây đặt tên là đại lộ Henrid' Orleans, nhưng đường phố đó hàng chục năm tiếp
theo vẫn chưa được thiết kế hoàn chỉnh.
Trong thời gian những năm thập niên 10 và 20, phố Phùng Hưng mới chỉ có hai đoạn
ngắn ở hai đầu phố phía bắc và phía nam tức là đã có nhà cửa và có cả ở hai bên mặt
đường.
Đầu phố phía bắc giáp vườn hoa Hàng Đậu đến chỗ cầu xây thì bên phải mặt đường,
dãy số chẵn, có ba ngôi nhà gác lớn kiểu villa, xây vuông hai tầng nhiều phòng, chung
quanh nhà có sân và vườn, có hàng rào sắt. Tiếp đến ba nhà kiểu villa nữa, nhỏ hơn, một
tầng nhưng gọn gẽ xinh xắn, cây cối râm mát. Từ đây đến hết đoạn phố tức là gặp phố Lê
Văn Linh luồn dưới gầm cầu sắt, chỉ là mặt sau của một cơ quan quân sự. Những ngôi

nhà nói trên của đoạn phố này đều là người Pháp hoặc Hoa Kiều buôn bán giàu có hoặc
làm mại bản cho các hãng buôn lớn.


Bên số lẻ, mé bên trái đường, quang cảnh xây dựng có khác với bên số chẵn. Chỗ đất
đó giáp lưng với bên phố Hàng Cót là những nhà của người Việt Nam, diện tích không
rộng lắm, xây ra đến sát hè phố. Những ngôi nhà hai tầng xây liền dãy, cao ráo theo kiểu
nhà tây, chủ là nhà buôn hoặc quan lại làm để ở hoặc cho thuê, người thuê nhà cũng là
người lương cao. Tại dãy phố đó có mấy nhà mở quán cà phê và phòng cho thuê phục vụ
khách nhà binh trong Thành.
Phố Phùng Hưng qua gầm cầu sắt rồi quay về hướng nam, đoạn đầu dọc theo cầu xây
mang một tên khác là Gầm Cầu.
Đầu phía nam phố Phùng Hưng ban đầu có tên gọi thông thường là phố bà đầm Đơ
Măng giáp với phố Hàng Bông Lờ và Cửa Nam. Đây cũng là một đoạn của phố Phùng
Hưng, có nhà cả ở hai bên mặt đường, xây dựng từ những năm đầu thế kỷ. Lớn nhất là
ngôi nhà của hãng Demange, một hãng xuất nhập khẩu chủ yếu là vải bông. Vì đây là
phố cũ nên đa số nhà cửa mang cùng tính chất như ở bên phố Hàng Bông Lờ: nhà làm từ
xưa, kiểu cũ, thấp nhỏ và hẹp, lợp ngói ta, đó là nhà của người Việt Nam để ở hoặc có
cửa hàng buôn bán nhỏ. Những nhà hai tầng bên số lẻ, kiến trúc mới hơn, cao ráo và lợp
ngói tây, và làm những năm sau (tức từ 1920 trở đi).
Câu hỏi : Hãy cho biết địa giới và tên gọi phố Nhà Hỏa?
Trả lời:
Phố Nhà Hỏa, thời thuộc Pháp có tên Pháp là Rue Feitshamel, ở sau hai phố lớn là phố
Cửa Đông và phố Bát Đàn. Sở dĩ có tên Nhà Hỏa là vì đoạn phố giáp với đầu Hàng Điếu
là đất thôn Yên Nội và đoạn phố giáp với Đường Thành là đất thôn Tân Khai. Thôn Yên
Nội có đền thờ Hỏa Thần ở số nhà 30 Hàng Điếu nên khu vực hai đầu phố Hàng Điếu và
Feitshamel thời Pháp thuộc, người ở đây gọi tên chung là phố Nhà Hỏa. Có đền thờ Hỏa
Thần là vì Hà Nội từ trước đến thế kỷ XIX, nhà cửa đều làm bằng nguyên vật liệu thô sơ,
dễ cháy như tre gỗ nên hỏa hoạn xảy ra thường xuyên. Nơi đây, có những đám cháy lớn
thiêu trụi hàng ngàn nóc nhà trong chớp nhoáng, người ta mới phải lập miếu thờ thần

hỏa, mong thần phù hộ dân chúng không để hỏa hoạn xảy ra.


Phố Nhà Hỏa nằm hơi chéo trục Bắc Nam dài 128 mét, ở lọt vào phía sau hai đường
phố lớn, lại là một phố nhỏ, phố xép nên ở hai bên mặt đường phố này có nhiều quãng
chỉ là cổng sau của những ngôi nhà lớn của mấy phố Cửa Đông, Hàng Điếu, Bát Đàn.
Nhà chính thức treo biển số quay ra mặt đường phố Nhà Hỏa, bên số lẻ có hai ngôi nhà
gác nhỏ (số 3 và số 5) và một nhà một tầng (số 11 bên số chẵn độc nhất có ngôi nhà hai
tầng cao rộng: (số 6). Phố Nhà Hỏa có hai ngõ nhỏ ở bên số lẻ, đi sâu vào trong có nhiều
căn hộ nhỏ là những nhà phụ thuộc của nhà bên phố Cửa Đông.
Có lẽ vì nó một phố xép nên mặt đường và hè phố không rộng, hai bên đường không
có cây cối, lại thêm cống rãnh ở những nhà bếp chảy ra, cửa nhà xí làm quay ra mặt
đường đã làm mất vẻ mỹ quan của phố này.
Câu hỏi 27: Hãy cho biết địa giới và tên gọi phố Hàng Gà?
Trả lời:
Phố Hàng Gà là đất hai thôn cũ Tân Lập và Tân Khai. Khi tường thành chưa bị phá,
hào chưa lấp, đã có một con đường thông từ khu vực Cửa Bắc xuống chợ Đông Thành,
con đường đi sát bên ngoài thôn Tân Khai, nay gồm hai phố Hàng Cót và Hàng Gà. Về
tên phố, ban đầu gọi là phố Tân Khai, vì con đường đi qua đất thôn này, nhưng nhân dân
lại quen gọi tách riêng đoạn giáp Bát Đàn và Cửa Đông là phố Thuốc Nam và đoạn bên
trên tiếp với Hàng Cót là phố Hàng Gà. Thời thuộc Pháp và đến nay, Hàng Gà và Thuốc
Nam đều gọi tên Chung là Hàng Gà, cả phố dài 230 mét
Gọi là phố Thuốc Nam vì trong phố có nhiều nhà bán thuốc Nam, tập trung ở quãng từ
Nhà Hỏa đến Bát Đàn. Cửa hàng bán thuốc Nam cũng sơ sài; gần cửa bày những thúng
đựng các vị thuốc sản xuất ở trong nước, có cả một số vị thuốc nhập của Tàu chưa hòa
chế. Nhà hàng nhận cân hộ thuốc cho khách hàng ở tỉnh xa về, nhận đơn rồi lên, Hàng
Buồm hoặc sang phố Phúc Kiến cân giao cho khách lấy hỏa hồng. Vì trong phố bán vị
thuốc nên có mấy ông lang đông y cũng mở hàng xem mạch bốc thuốc.



Còn tên Hàng Gà là vì ở đoạn phố này có những nhà chuyên buôn bán gia cầm: gà vịt,
ngan ngỗng, gà tây, chim bồ câu, họ tập trung ở bên trên chùa Thái Cam (tiện lối ra chợ
Đông Thành, Cầu Đông). Những nhà bán gà không mở cửa hàng; họ bán hàng ở trong
nhà, có những chiếc lồng to nhốt hàng năm sáu chục con gà vịt. Khách quen đến mua tận
nhà và hàng còn đem bán trong các chợ khu Cửa Đông; còn một cách nữa là xách đi bán
rong các phố, vào các nhà, các tiệm ăn là khách hàng quen. Hồi quân Pháp mới sang và
đóng ở trong Thành, có nhiều người buôn gà làm ăn khá do cung cấp thực phẩm cho nhà
binh khi ấy bị ta chống cự ráo riết, có kẻ giúp chúng được nhiều việc, được chúng cho
làm quan.
Phố Hàng Gà ở trên một con đường vốn có từ lâu nên nhà cửa đa số diện tích hẹp, nhà
làm kiểu cổ, mái thấp, một tầng hoặc thêm nhiều gác xép. Từ những năm sau 1920, nghề
buôn thuốc Nam tàn tạ dần, còn nghề buôn gà vịt chủ yếu là đem vào bán trong các chợ;
phố Hàng Gà không còn vẻ là một phố buôn bán. Những người dân trong phố này phần
đông là công chức bậc trung và nhân viên sở tư, họ là những người đi ở thuê. Chủ nhà đất
số đông là những nhà buôn bán lớn ở phố khác.
Phố Thuốc Nam còn sót lại một số gia đình nho cũ sống chật vật sau khi nghề bán
thuốc không còn đông khách nữa. Nguyễn Phan Lãng, một nhà nho tham gia tích cực
phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1908, bị thực dân kết án đày ra Côn Đảo; những
năm hai mươi, mãn hạn tù về ở phố Thuốc Nam, viết câu đối thuê kiếm ăn; ông có làm
bài thơ nói tâm sự một nhà nho thất thế.
Tuy thuộc phố Hàng Gà, nhưng chỗ ngã tư góc đường vào Cổng Tỉnh là nơi buôn bán
khách hàng đi lại đông đúc, có những tiệm ăn uống của Pháp, Hoa Kiều và Nhật coi như
thuộc về sinh hoạt của phố Cửa Đông.
Hàng Gà ở sát khu quân sự Cửa Đông, chiến sự cuối năm 1946 đầu 1947 không làm
cho nhà cửa trong phố này thiệt hại mấy. Đường phố cổ mà có những ngôi nhà kiểu mới
là làm trong thời kỳ tạm chiến của những nhà buôn làm giàu nhờ đầu cơ tình hình chiến
tranh.
Câu hỏi : Hãy cho biết địa giới và mặt hàng buôn bán trên phố Lương Ngọc Quyến?
Trả lời:



Phố Lương Ngọc Quyến là đất cũ phường Ngư Võng, thôn Hàng Chài. Thời thuộc
Pháp là hai phố: Phố Galet và phố Nguyễn Khuyến. Phố Nguyễn Khuyến ở đoạn đầu phố
Lương Ngọc Quyến ngày nay, đi từ Hàng Giấy đến ngã tư Tạ Hiện nằm trong khu tứ giác
Hàng Buồm - Hàng Giầy - Tạ Hiện, thuộc đất phường Hà Khẩu, đồng thời mang tính
chất chung của khu vực cửa hàng ăn uống của Hà Nội.
Từ chỗ rẽ Hàng Giầy, đầu phố chỗ bẻ thước thợ đến ngã tư Tạ Hiện, dãy phía bắc bên
số chẵn, bắt đầu từ một dãy chín gian hai tầng của một chủ làm thuê (từ số 36 đến số 52) đều
là những gia đình khách trú, gần như tất cả tầng dưới nhà gian ngoài là cửa hàng bán phở,
cháo, quẩy, bánh bao, xen kẽ có vài ba nhà làm nghề thợ may, chữa máy móc nhỏ. Tiếp
đến là dãy tường bên của nhà ngõ Quảng Lạc (Tạ Hiện), bên trong là nhà ngang, nhà phụ
thuộc có cửa mở phố, nhưng cũng có những mẹt hàng, chõng hàng bán xôi chả, bánh
cuốn, bánh rán, chè vừng, chè khoai.
Dãy bên phía nam, số lẻ, chỗ giáp với ngõ Nội Miếu là một kho hàng lớn bên trên có
kẻ hàng chữ "Chi Long y trạm" (Kho thuốc hãng Chi Long); cạnh đó có một cơ sở nấu xì
dầu - nay là xưởng sản xuất đậu phụ - chiếm một khoảng khá rộng. Rồi đến hai dãy gồm
bốn năm nhà hai tầng, ba tầng và một nhà khá rộng (số 55) - nay là cơ sở của mậu dịch
quốc doanh. Tiếp theo còn lại là những nhà một tầng nhỏ cũ kỹ một hoặc hai gian, mở
cửa hàng điểm tâm nhỏ như cà phê, cháo, phở, xôi chả, bánh cuốn, quán nước chè.
Qua ngã tư phố Lương Ngọc Quyến bây giờ, phân làm hai đoạn mang tính chất khác
nhau rõ rệt: một bên là phố Nguyễn Khuyến (thời Pháp) thuộc khu vực cửa hàng ăn uống
Hàng Buồm; một bên là phố Galet (thời Pháp) thuộc khu cư dân Ngư Võng, nơi trú ngụ
của dân lao động và dân nghèo thành thị.
Khu vực Lương Ngọc Quyến - Mã Mây ngày nay ở trên đất trước kia là thôn cũ Ngư
Võng, một thôn của tổng Hữu Túc, ở trên bờ phía đông bắc phố Hàng Buồm. Cho đến
những năm đầu thế kỷ XX, khu này vẫn còn dấu vết nhiều ao hồ đất trũng đầy bèo tây,
dân làng còn gọi là làng chài (và sau thành phố xá rồi còn mang tên phố Chài). Dân ở đó
sống một phần nhờ vào nghề đánh bắt tôm cá; một số người Tàu nghèo cũng sinh sống ở
quanh đây bằng nhiều nghề mọn. Trong xóm nhà tranh lụp xụp, ngõ nhỏ quanh co, có
mấy

xì dầu.

chỗ

người

Tàu

bên

Hàng

Buồm

đặt

chàn

nấu


×