Tải bản đầy đủ (.docx) (15 trang)

trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong BLDS 2015

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (161.22 KB, 15 trang )

Mở đầu
Hiện nay, có những trường hợp gây thiệt hại do người thi hành công vụ gây
ra, ví dụ như: những vụ án oan sai gây thiệt hại cho phạm nhân và người nhà phạm
nhân, cảnh sát giao thông truy đuổi người tham gia giao thông không đội mũ bảo
hiểm dẫn đến tai nạn đáng tiếc xảy ra… Vậy trong những trường hợp như vậy,
trách nhiệm bồi thường thiệt hại là của ai, cách thức bồi thường như thế nào, thiệt
hại như nào thì phải bồi thường cũng như mức bồi thường ra sao… Vì vậy, để tìm
hiểu rõ hơn về vấn đề này em xin lựa chọn đề số 13: “phân tích quy định về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong BLDS 2015.
Sưu tầm một tình huống thực tế về bồi thường thiệt hại do người thi hành công
vụ gây ra và đưa ra cách giải quyết theo quan điểm cá nhân”.

Nội dung
Bảng từ viết tắt
BLDS – Bộ luật dân sự;
BTTH – Bồi thường thiệt hại;
TAND – Tòa án nhân dân;
HĐXX – Hội đồng xét xử;
VKSND – Viện kiểm sát nhân dân
A. Lý luận chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người thi hành
công vụ gây ra (điều 598 BLDS 2015)
I. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ
gây ra
1. Định nghĩa
BLDS năm 2005 quy định trách nhiệm BTTH do cán bộ, công chức gây ra
(Điều 619), do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra (Điều
620). Tuy nhiên trách nhiệm BTTH do cán bộ, công chức và do người có thẩm
quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra là loại trách nhiệm BTTH mang tính
đặc thù, được điều chỉnh bởi Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước. chính vì
vậy Điều 598 BLDS 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do người thi hành công



vụ gây ra như sau: “nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái
pháp luật của người thi hành công vụ gây ra theo quy định của Luật trách nhiệm
bồi thường của nhà nước”. Để hiểu rõ hơn quy định này, chúng ta cần nắm được
các định nghĩa sau:
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân
sự, xác định trách nhiệm của một chủ thể nhất định đối với thiệt hại xảy ra, cụ thể
là trách nhiệm bồi thường.
Định nghĩa người thi hành công vụ: Tại khoản 1 Điều 3 Luật Trách nhiệm bồi
thường nhà nước năm 2009 quy định: “Người thi hành công vụ là người được bầu
cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước
để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến
hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án”.
Trong quá trình thực hiện chức năng của mình, nhà nước không thể tự mình
thực hiện quyền lực mà quyền lực phải được thực hiện thông qua “cánh tay nối
dài” của mình là đội ngũ cán bộ, công chức và ngược lại khi cán bộ, công chức thi
hành công vụ thì họ cũng phải nhân danh nhà nước để thực hiện quyền lực nhà
nước. Vì vậy, khi cán bộ, công chức nhân danh nhà nước thực hiện quyền lực công
mà gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức thì Nhà nước sẽ chịu trách nhiệm bồi thường.
Như vậy ta có thể hiểu trách nhiệm bồi thường thiệt hai do người thi hành công vụ
gây ra như sau: đó là trách nhiệm pháp lý mà theo đó, nhà nước phải bồi thường
những thiệt hại về vật chất và bù đắp tổn hại về tinh thần khi người thi hành công
vụ có hành vi trái pháp luật làm gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức trong quá
trình thực thi quyền lực công.
2. Đặc điểm
Thứ nhất, trách nhiện BTTH do người thi hành công vụ gây ra phát sinh giữa
một bên chủ thể luôn là nhà nước và bên còn lại có thể là các cá nhân, tổ chức mà
giữa họ tồn tại một thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra và nhà nước phải
chịu trách nhiệm về thiệt hại đó. Mặc dù, người thi hành công vụ là người gây ra

thiệt hại, tuy nhiên hành vi thi hành công vụ của họ được coi là hành vi của nhà
nước, các quyết định của họ là quyết định của nhà nước. Do đó, trong trường hợp
người thi hành công vụ có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân,


tổ chức thì nhà nước phải có trách nhiệm về những thiệt hại đó và cơ quan trực tiếp
quản lý người thi hành công vụ thực hiện việc giải quyết bồi thường.
Thứ hai, là trách nhiệm vật chất, hướng tới việc khắc phục, hỗ trợ khi có thiệt
hại do người thi hành công vụ gây ra.
II.

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người thi hành
công vụ gây ra

Theo quy định tại điều 598 BLDS 2015 thì Nhà nước có trách nhiệm BTTH do
hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra , hay nói cách khác trách
nhiệm BTTH do người thi hành công vụ gây ra chính là trách nhiệm BTTH của
Nhà nước. Bản chất trách nhiệm BTTH của Nhà nước chính là trách nhiệm BTTH
ngoài hợp đồng vì vậy mà căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà
nước cũng tương tự giống với căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
đó là: có thiệt hại xảy ra; có hành vi trái pháp luật; có mối quan hệ nhân quả giữa
thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật; lỗi của người gây thiệt hại. Bên cạnh đó,
vì trách nhiệm BTTH của nhà nước là trách nhiệm đặc thù nên căn cứ phát sinh
trách nhiệm cũng sẽ mang những nét đặc thù, cụ thể về các căn cứ như sau:
1. Có thiệt hại thực tế xảy ra
Căn cứ này thì tương tự như căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp
đồng. Thiệt hại xảy ra là tiền đề của trách nhiệm BTTH bởi mục đích của việc áp
dụng trách nhiệm là khôi phục lại tình trạng tài sản cho người bị thiệt hại, do đó,
không có thiệt hại thì sẽ không đặt ra vấn đề bồi thường cho dù có đầy đủ các điều
kiện khác. Thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính thành tiền do việc xâm

phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức.
Thiệt hại về tài sản, biểu hiện cụ thể là mất tài sản, giảm sút tài sản, những chi
phí để ngăn chặn, hạn chế, sửa chữa, thay thế, những lợi ích gắn liền với việc sử
dụng, khai thác công dụng của tài sản.
Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe làm phát sinh thiệt hại về vật chất, bao gồm:
chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc, phục hồi chức năng bị mất, thu nhập thực
tế bị mất, bị giảm sút do thiệt hại về tính mạng, sức khỏe.


Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại bao gồm chi phí hợp lý để
ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do danh dự,
nhân phẩm, uy tín bị xâm hại.
Thiệt hại về tinh thần, đời sống tinh thần là một phạm trù rất rộng và ta không
thể trị giá nó được thành tiền theo nguyên tắc ngang giá trong trao đổi và không thể
phục hồi được. Nhưng với mục đích động viên, an ủi những người bị thiệt hại về
tinh thần, cũng như biện pháp giáo dục nhằm ngăn chặn người có hành vi trái pháp
luật, BLDS quy định người xâm hại phải: “bồi thường một khoản tiền khác để bù
đắp tổn thất về tinh thần” cho người bị thiệt hại, người thân thích gần gũi của
người đó phải gánh chịu.
2. Có hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ
Quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản là một quyền
tuyệt đối của mọi công dân, tổ chức. Mọi người đều phải tôn trọng những quyền đó
của chủ thể khác, không được thực hiện bất cứ hành vi nào xâm phạm đến các
quyền tuyệt đối đó. Theo quy định tại Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước
năm 2009 thì hành vi của người thi hành công vụ xâm phạm đến các quyền tuyệt
đối đó là các hành vi vi phạm pháp luật trong các hoạt động quản lý hành chính, thi
hành án và hoạt động tố tụng. Nhưng không có nghĩa là tất cả các hành vi trái pháp
luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại trong các hoạt động nêu trên đều phát
sinh trách nhiệm BTTH của nhà nước mà trách nhiệm bồi thường của nhà nước chỉ
phát sinh khi những hành vi trái pháp luật đó thuộc phạm vi trách nhiệm bồi

thường của nhà nước mà các Điều 13, 26, 28, 38 và 39 Luật trách nhiệm bồi
thường của nhà nước năm 2009 đã quy định.
Đối với một quan hệ pháp luật về BTTH thông thường thì pháp luật dan sự quy
định khi một cá nhân, tổ chức cho rằng mình bị thiệt hại thì họ có quyền yêu cầu
bồi thường ngay lập tức (khi còn thời hiệu). trong quá trình xem xét, giải quyết yêu
cầu bồi thường, cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét tính hợp pháp của hành vi gây
thiệt hại. Trong khi đó, pháp luật về trách nhiệm BTTH của nhà nước lại quy định
cá nhân, tổ chức chỉ có quyền yêu cầu BTTH khi có văn bản xác định hành vi trái
pháp luật của người thi hành công vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban
hành (điều 4).


Trách nhiệm bồi thường của nhà nước chỉ được đặt ra khi có hành vi thi hành
công vụ.
3. Mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật của
người thi hành công vụ.
Thiệt hại xảy ra cho cá nhân, tổ chức là kết quả của hành vi trái pháp luật của
người thi hành công vụ hay ngược lại hành vi trái pháp luật của người thi hành
công vụ là nguyên nhân của thiệt hại xảy ra. Tại điều 584 BLDS 2015 quy định
dưới dạng: “người nào…xâm phạm…mà gây thiệt hại” thì phải bồi thường. Ở đây
có thể thấy hành vi “xâm phạm” đến tính mạng, tài sản… là nguyên nhân và thiệt
hại là hậu quả của hành vi đó. Việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi
trái pháp luật và thiệt hại xảy ra trong nhiều trường hợp rất khó khăn. Do đó, cần
phải xem xét, phân tích, đánh giá tất cả các sự kiện liên quan một cách thận trọng,
khách quan và toàn diện. Từ đó mới có thể rút ra được kết luận chính xác về
nguyên nhân, xác định đúng trách nhiệm của người gây thiệt hại.
Nhà nước chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường cho thiệt hại xảy ra khi giữa
thiệt hại và hành vi của người thi hành công vụ có quan hệ nhân quả với nhau.
4. Lỗi của người thi hành công vụ
Trong Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Điều 6 về căn cứ xác định

trách nhiệm bồi thường của nhà nước không đề cập đến yếu tố lỗi. Điều này cho
thấy, lỗi của người thi hành công vụ gây thiệt hại không là căn cứ làm phát sinh
trách nhiệm bồi thường của nhà nước. Như vậy, về nguyên tắc, trách nhiệm bồi
thường của nhà nước phát sinh và không cần yếu tố lỗi của người thi hành công vụ
hay nói cách khác Nhà nước phải bồi thường trong cả trường hợp không có lỗi của
người thi hành công vụ. Yếu tố lỗi của người thi hành công vụ gây ra thiệt hại chỉ
nên sử dụng làm căn cứ xác định trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ
đối với nhà nước.
5. Trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường của nhà nước
Khoản 3, Điều 6 luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước quy định: “Nhà
nước không bồi thường đối với thiệt hại xảy ra trong các trường hợp sau đây:
a) Do lỗi của người bị thiệt hại;


b) Người bị thiệt hại che dấu chứng cứ, tài liệu hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật
trong quá trình giải quyết vụ việc;
c) Do sự kiện bất khả kháng, tình thế cấp thiết.”
Như vậy, người thi hành công vụ gây ra thiệt hại trong các trường hợp trên thì
sẽ không làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của nhà nước.
III.

Chủ thể bồi thường thiệt hại và nguyên tắc bồi thường.
1. Chủ thể bồi thường thiệt hại

Tại điều 598 BLDS 2015 cũng đã nêu rõ “nhà nước có trách nhiệm BTTH khi
có hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra…”, như vậy chủ thể
BTTH trong quan hệ pháp luật này luôn là nhà nước. Mặc dù, người thi hành công
vụ là người gây thiệt hại, tuy nhiên hành vi thi hành công vụ của họ được coi là
hành vi của Nhà nước, các quyết định của họ khi thi hành công vụ là quyết định
của Nhà nước. Do đó, trong trường hợp người thi hành công vụ có hành vi vi phạm

pháp luật gây ra thiệt hại cho cá nhân, tổ chức thì Nhà nước là chủ thể BTTH.
Nhưng trách nhiệm BTTH do người thi hành công vụ gây ra nếu chỉ quy định
nhà nước là chủ thể phải bồi thường sẽ dẫn đến hậu quả là các cán bộ, công chức,
những người thi hành công vụ sẽ thực hiện công việc một cách tùy tiện, vô trách
nhiệm. Vì vậy để hậu quả đó không xảy ra Luật trách nhiệm bồi thường của nhà
nước tại chương VII đã quy định trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ.
Cụ thể tại điều 56 quy định nghĩa vụ hoàn trả và xử lý trách nhiệm người thi hành
công vụ:
“1. Người thi hành công vụ có lỗi gây ra thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả cho
ngân sách nhà nước một khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt
hại theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
2. Người thi hành công vụ có lỗi vô ý gây ra thiệt hại quy định tại Điều 26 của
Luật này không phải chịu trách nhiệm hoàn trả.
3.Người thi hành công vụ ngoài việc phải hoàn trả khoản tiền quy định tại
khoản 1 Điều này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm còn phải bị xử lý kỷ luật
hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.”
Theo điều 57 thì mức hoàn trả của người thi hành công vụ được căn cứ vào mức
độ lỗi; mức độ thiệt hại xảy ra và điều kiện kinh tế của người thi hành công vụ.
2. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại


Theo Điều 7 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước quy định về nguyên tắc
bồi thường như sau:
“1. Kịp thời, công khai, đúng pháp luật;
2. Được tiến hành trên cơ sở thương lượng giữa cơ quan có trách nhiệm bồi
thường với người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ;
3. Được trả một lần bằng tiền, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác”.
Bồi thường kịp thời cho người bị thiệt hại nhằm khắc phục tình trạng tài sản của
người bị thiệt hại, tạo điều kiện cho họ khắc phục tình trạng tài sản khi bị thiệt
hại.Điều này có ý nghĩa rất quan trọng khi thiệt hại về tính mạng sức khỏe của cá

nhân bị xâm hại. Việc quyết định bồi thường kịp thời có ý nghĩa to lớn đối với nạn
nhân trong việc cứu chữa, hạn chế thiệt hại, bởi các chi phí cho việc cứu chữa bệnh
nhân trong điều kiện này nhiều khi vượt quá khả năng của nạn nhân.
IV.

Xác định thiệt hại

Thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra có thể là
thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín của cá
nhân,tổ chức. Theo Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước quy định như sau:
1. Thiệt hại về tài sản
“1. Trường hợp tài sản đã bị phát mại, bị mất thì thiệt hại được xác định căn
cứ vào giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu
chuẩn kỹ thuật và mức độ hao mòn của tài sản đã bị phát mại, bị mất trên thị
trường tại thời điểm giải quyết bồi thường.
2. Trường hợp tài sản bị hư hỏng thì thiệt hại được xác định là chi phí có liên
quan theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường để sửa chữa, khôi
phục lại tài sản; nếu tài sản bị hư hỏng không thể sửa chữa, khôi phục thì thiệt hại
được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Trường hợp có thiệt hại phát sinh do việc không sử dụng, khai thác tài sản
thì thiệt hại được xác định là thu nhập thực tế bị mất. Đối với những tài sản trên
thị trường có cho thuê, thu nhập thực tế bị mất được xác định phù hợp với mức giá
thuê của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tiêu chuẩn kỹ thuật, tính năng, tác
dụng và chất lượng tại thời điểm giải quyết bồi thường; đối với những tài sản trên
thị trường không có cho thuê, thu nhập thực tế bị mất được xác định trên cơ sở thu
nhập do tài sản bị thiệt hại mang lại trong điều kiện bình thường trước thời điểm


thiệt hại xảy ra; nếu tài sản bị kê biên được giao cho người bị thiệt hại hoặc người
khác quản lý thì chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại về tài

sản được xác định là những thiệt hại được bồi thường.
4.Các khoản tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước theo quyết định của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền, bị tịch thu, thi hành án, khoản tiền đã đặt để bảo đảm tại
cơ quan có thẩm quyền được nhà nước hoàn trả cho người bị thiệt hại hoặc thân
nhân của họ; trường hợp khoản tiền đó là khoản vay có lãithì phải hoàn trả cả
khoản lãi hợp pháp; trường hợp khoản tiền đó không phải khoản tiền vay có lãi thì
phải hoản trả cho người bị thiệt hại hoặc thân nhân của họ cả khoản lãi theo lãi
suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thòi điểm giải quyết bồi
thường.”
2. Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút.
Tại điều 46 quy định: “ 1. Cá nhân, tổ chức có thu nhập mà xác định được thì
được bồi thường theo thu nhập thực tế bị mất.
2. Trường hợp cá nhân có thu nhập thường xuyên nhưng không ổn định thì mức
bồi thường được xác định căn cứ vào thu nhập trung bình trong ba tháng liền kề
trước thời điểm thiệt hại xảy ra.
3. Cá nhân có thu nhập không ổn định và không có cơ sở xác định cụ thể hoặc thu
nhập có tính chất thời vụ thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng
loại tại địa phương. Trường hợp không xác định được thu nhập trung bình thì tiền
bồi thường được xác định theo mức lương tối thiểu chung đối với cơ quan nhà
nước tại thời điểm giải quyết bồi thường (sau đây gọi chung là lương tối thiểu)”.
3. Thiệt hại về tinh thần
Xác định thiệt hại về tinh thần tại điều 47 quy định cụ thể như sau:
“1. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong thời gian bị tạm giữ hành chính, bị
đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh được xác định là hai
ngày lương tối thiểu cho một ngày bị tạm giữ hành chính, bị đưa vào trường giáo
dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh.
2. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong trường hợp bị tạm giữ, tạm giam, chấp
hành hình phạt tù được xác định là ba ngày lương tối thiểu cho một ngày bị tạm
giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù.



3. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại chết được
xác định là ba trăm sáu mươi tháng lương tối thiểu.
4. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong trường hợp sức khoẻ bị xâm phạm được
xác định căn cứ vào mức độ sức khoẻ bị tổn hại nhưng không quá ba mươi tháng
lương tối thiểu.
5. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong trường hợp bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi
hành án mà không bị tạm giữ, tạm giam được xác định là một ngày lương tối thiểu
cho một ngày bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án cải tạo không giam giữ hoặc
phạt tù cho hưởng án treo. Thời gian để tính bồi thường thiệt hại được xác định kể
từ ngày có quyết định khởi tố bị can cho đến ngày có bản án, quyết định của cơ
quan có thẩm quyền xác định người đó thuộc trường hợp được bồi thường quy
định tại khoản 3 Điều 26 của Luật này.”
4. Thiệt hại về sức khỏe
Xác định thiệt hại về sức khỏe theo quy định tại Điều 49 bao gồm:
“1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng
bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại.
2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại theo quy định
tại Điều 46 của Luật này.
3. Chi phí hợp lý và thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại
trong thời gian điều trị.
4. Trong trường hợp người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người
thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại được bồi thường bao gồm chi phí hợp lý cho
việc chăm sóc người bị thiệt hại và khoản cấp dưỡng cho những người mà người
bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Khoản cấp dưỡng hàng tháng
được xác định là mức lương tối thiểu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
hoặc đã được xác định theo quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền.”
5. Thiệt hại do tính mạng bị xâm hại
Tính mạng con ngời là vô giá không thể tính thành tiền, vì vậy, BTTH về tính

mạng thực chất là bồi thường vật chất phải bỏ ra liên quan đến cái chết của người
bị thiệt hại. Những chi phí phải bỏ ra bao gồm:


Những chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc nạn nhân trước
khi chết, chi phí hợp lý cho việc mai táng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm
xã hội.
Tiền cấp dưỡng cho những người mà người chết có nghĩa vụ cấp dưỡng. Tiền
cấp dưỡng hàng tháng được xác định là mức lương tối thiểu, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác hoặc đã được xác định theo quyết định có hiệu lực của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền.
6. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại
Thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân không thể xác định. Thực
chất là xác định những tổn thất về vật chất do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá
nhân bị xâm phạm, nhằm phục hồi tình trạng ban đầu của người bị xâm hại, những
chi phí đó bao gồm:
Những chi phí phải bỏ ra và thu nhập bị mất (thu thập chứng cứ, thời gian phải
bỏ ra để khiếu nại, đăng báo cải chính…)
Bên cạnh đó, nhà nước còn có trách nhiệm khôi phục danh dự, nhân phẩm, uy
tín cho người bị thiệt hại bằng cách thực hiện việc xin lỗi, cải chính công khai.
B. Tình huống thực tế, giải quyết tình huống theo quan điểm cá nhân.
1. Tình huống thực tế
Theo cáo trạng, vào năm 2003, ông Nguyễn Trần đến làm thuê tại nhà máy xay
xát lúa gạo cho ông L.V.L (Lê Văn Lành- đề nghị viết tắt). Vào tháng 4.2003
(không rõ ngày), ông Trần đạp xe đến nhà ông L chơi thì thấy cháu L.T.M.Y. (13
tuổi, con gái ông L.) (Lê Thị Mỹ Yến- đề nghị viết tắt) đang học bài một mình nên
thực hiện hành vi giao cấu. Vì sợ cha mẹ mắng và xấu hổ với bạn bè nên Y không
dám nói với ai. Từ tháng 11 đến tháng 12 năm 2005, ông Trần còn tiếp tục giao cấu
với cháu Y nhiều lần. Đến ngày 14.3.2006, gia đình thấy cháu Y có dấu hiệu bất
thường nên đưa đi khám thì phát hiện con mình có thai 3 tháng tuổi. Khi cha mẹ tra

hỏi, cháu Y nói bị ông Trần giao cấu nhiều lần dẫn đến có thai liền làm đơn tố cáo.
Ngày 15.3.2006, Cơ quan CSĐT Công an H. Xuân Lộc (Đồng Nai) khởi tố vụ án,
khởi tố bị can và bắt giam ông Nguyễn Trần để điều tra về hành vi “hiếp dâm trẻ
em”. Vụ án được chuyển cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đồng Nai thụ lý điều
tra theo thẩm quyền ngay sau đó.


Tại phiên tòa sơ phẩm được TAND tỉnh Đồng Nai đưa ra xét xử vào cuối năm
2006, bị cáo Nguyễn Trần luôn kêu oan và khai nhận trong quá trình điều tra bị ép
cung, nhục hình nên nhận tội. HĐXX đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Ngày 5.1.2007, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đồng Nai có kết luận điều tra bổ
sung, xác định bị can Nguyễn Trần giao cấu với cháu Y lần đầu tiên khi nạn nhân
mới 12 tuổi, vì vậy, hành vi cấu thành tội "hiếp dâm trẻ em". Cũng trong kết luận
điều tra bổ sung thể hiện kết quả giám định ADN của Viện Khoa học hình sự- Bộ
Công an, ông Nguyễn Trần không phải là cha đẻ của đứa trẻ cháu Y sinh ra nhưng
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đồng Nai cho rằng: “Kết luận giám định ADN của
Viện Khoa học hình sự- Bộ Công an không có giá trị chứng minh bị can không
phạm tội. Bởi bị can Trần giao cấu với Y trước khi nạn nhân thụ thai và khi cháu
đang có thai nên không có khả năng thụ thai tiếp". Còn lý do Nguyễn Trần phản
cung để chối tội vì cho rằng bị nhục hình, ép cung là không có cơ sở. Vì vậy, đề
nghị VKSND cùng cấp truy tố Nguyễn Trần về tội "hiếp dâm trẻ em".
Ngày 16.4.2007, VKSND tỉnh Đồng Nai bất ngờ có quyết định sửa đổi cáo
trạng truy tố ông Nguyễn Trần từ tội "hiếp dâm trẻ em" sang tội “giao cấu với trẻ
em” vì xác định thời điểm nạn nhân đã đủ 13 tuổi.
Trong tháng 5.2007, vụ án nhiều lần được đưa ra xét xử nhưng rồi phải tạm
hoãn vì bị cáo Nguyễn Trần luôn miệng kêu oan, không thừa nhận hành vi giao cấu
với cháu Y.
Ngày 22.12.2007, VKSND tỉnh Đồng Nai ra quyết định hủy bỏ lệnh tạm giam
đối với ông Nguyễn Trần. Đến ngày 30.3.2008, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đồng
Nai ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra bị can đối với ông

Nguyễn Trần do đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được hành vi phạm
tội.
Sau khi được tự do, ông Nguyễn Trần liên tục làm đơn yêu cầu VKSND tỉnh
Đồng Nai bồi thường vì phê chuẩn quyết định bắt tạm giam của Cơ quan CSĐT
làm ông ngồi tù oan hơn 21 tháng nhưng không được hồi âm nên ông làm đơn khởi
kiện ra tòa. Trong suốt 10 năm qua ông Trần đã liên tục kêu oan và yêu cầu bồi
thường thiệt hại.  Đến đầu năm 2016, ông Trần khởi kiện ra TAND huyện Xuân
Lộc và yêu cầu VKSND tỉnh Đồng Nai bồi thường 1 tỷ đồng vì truy tố oan ông.


(ĐN)- Sáng 17-11-2017, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh đã tổ chức xin lỗi và cải
chính công khai, vì đã ban hành quyết định truy tố “tội danh hiếp dâm trẻ em” sau
đổi thành “giao cấu với trẻ em”, dẫn đến oan sai cho ông Nguyễn Trần, ngụ tại ấp
2, xã Xuân Hưng (huyện Xuân Lộc).
Tại buổi xin lỗi, đại diện VKSND tỉnh thừa nhận, việc truy tố oan sai của
VKSND tỉnh đã gây thiệt hại cho ông Nguyễn Trần về vật chất và tinh thần, làm
ảnh hưởng đến uy tín và danh dự của ông.
VKSND tỉnh xin nhận khuyết điểm và thành thật xin lỗi ông Nguyễn Trần và
xem đây là bài học kinh nghiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, không để xảy
ra tình trạng oan sai tương tự.
Riêng việc bồi thường thiệt hại, VKSND tỉnh sẽ thực hiện sau khi có quyết định
xét xử của Tòa án Nhân dân huyện Xuân Lộc, vì trước đó ông Nguyễn Trần đã có
đơn khởi kiện VKSND tỉnh tại Tòa án Nhân dân huyện Xuân Lộc.
2. Giải quyết tình huống
a. Ông Nguyễn Trần có được bồi thường không
Ông trần sẽ được bồi thường khi có quyết định của tòa án nhân dân huyện Xuân
Lộc xác định ông không thực hiện hành vi giao cấu với Y. vì
Thứ nhất, đã có thiệt hại thực tế xảy ra, ông bị ngồi tù oan 21 tháng tù điều đó
gây thiệt hại về tinh thần và thu nhập cá nhân của ông cũng bị mất,suốt hơn 10 năm
ông bị mang trên mình tội hiếp dâm trẻ em gây tổn hại về danh dự, nhân phẩm, uy

tín của ông.
Thứ hai, có hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ đó là VKSND đã
ban hành quyết định truy tố ông Nguyễn Trần “tội danh hiếp dâm trẻ em” sau đổi
thành “giao cấu với trẻ em”
Thứ ba, về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của người thi hành
công vụ và thiệt hại xảy ra. Trong tình huống này, việc mà VKSND ban hành quyết
định truy tố ông Nguyễn Trần “tội hiếp dâm trẻ em” sau đổi thành “giao cấu với trẻ
em” là nguyên nhân trực tiếp khiến ông bị thiệt hại về vật chất, tinh thần và uy tín
danh dự.


Như vậy,chỉ cần có quyết định của tòa án nhân dân huyện Xuân lộc xác định
ông Trần không thực hiện hành vi trái pháp luật thì ông Trần sẽ được BTTH.
b. Ai sẽ bồi thường cho ông Trần
Trong tình huống này VKSND có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông
Trần khi có quyết định của tòa án nhân dân huyện Xuân lộc xác định ông Trần
không thực hiện hành vi trái pháp luật vì:
Tại Điều 31 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước quy định về trách nhiệm
bồi thường của VKSND trong hoạt động tố tụng hình sự, theo đó nêu rõ các trường
hợp mà VKSND phải bồi thường và khoản 4 quy định như sau: “đã có quyết định
truy tố bị can nhưng tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không có tội vì
không thực hiện hành vi phạm tội và bản án sơ thẩm đã có hiệu lực.”
Xét trong tình huống này, VKSND đã có quyết định truy tố ông Trần “tội hiếp
dâm trẻ em” sau đó chuyển thành “giao cấu với trẻ em”. Vì vậy, khi tòa án nhân
dân huyện Xuân Lộc tuyên bố ông Trần không có tội, hay khi có quyết định của
tòa án nhân dân huyện Xuân lộc xác định ông Trần không thực hiện hành vi trái
pháp luật thì tình huống này sẽ rơi vào trường hợp quy định tại khoản 4, Điều 31
vừa nêu trên và VKSND có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại cho ông Trần.
c. Xác định thiệt hại,mức bồi thường
Xác định thiệt hại gây ra cho ông Trần bao gồm:

Thiệt hại do thu nhập bị mất: trước khi bị bắt giam ông Trần là người làm thuê
tại nhà máy xay xát lúa gạo, đây là công việc mang tính chất thời vụ vì vậy mà thu
nhập của ông Trần chỉ mang tính chất thời vụ, không ổn định. Mức bồi thường
được xác định theo thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương, nếu
không xác định được mức thu nhập trung bình thì tiền bồi thường được xác định
theo mức lương tối thiểu chung đối với cơ quan, nhà nước tại thời điểm giải quyết
bồi thường (khoản 3, Điều 46 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước).
Thiệt hại về tinh thần: do ông Trần bị kết án oan nên ông Trần được yếu cầu
BTTH về tinh thần trong suốt thời gian bị tạm giam. Mức bồi thường được xác
định mỗi ngày bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hành phạt tù được tính bằng ba


ngày lương tối thiểu (khoản 2, Điều 47 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà
nước).
Thiệt hại về danh dự, uy tín. Được biết, trong suốt 10 năm qua ông Trần liên tục
kêu oan và yêu cầu bồi thường do vậy, VKSND phải bồi thường cả khoản chi phí
và thu nhập bị mất trong suốt thời gian ông Trần đã bỏ ra để khiếu nại, yêu cầu bồi
thường. Bên cạnh đó VKSND tỉnh Đồng Nai phải tiến hành khôi phục danh dự. uy
tín cho ông Trần bằng cách thực hiện xin lỗi và cải chính công khai.

Kết bài
Trong cuộc sống này không ai là không từng mắc phải những sai sót,nhưng biết
nhạn ra sai sót và chịu trách nhiệm về những sai sót đó mới là điều đáng ghi nhận.
Trên đây là bài làm của em, do năng lực còn hạn chế nên bài làm vẫn còn nhiều
thiếu sót mong thầy cô chỉ bảo thêm cho em. Em xin chân thành cảm ơn!


Danh mục tài liệu tham khảo
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, giáo trình Luật Dân sự Việt Nam tập II, nxb
công an nhân dân;

2. Bộ Luật Dân sự 2015, nxb lao động;
3. />4. />


×