MỤC LỤC
Phân công công việc
TÌM HIỂU VÀ TRÌNH BÀY NHỮNG NỘI DUNG ĐÃ TÌM HIỂU VỀ CƠ
CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP:
I. Khái niệm quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp
1. Đơn vị sự nghiệp: (Điều 9 Luật Viên chức năm 2010)
- Đơn vị sự nghiệp là các cơ quan thừa hành, hưởng lương ngân sách nhà
nước, không có chức năng kinh doanh. Cán bộ của đơn vị do nhà nước tuyển dụng
hay bổ nhiệm.
- Đơn vị sự nghiệp công lập gồm:
+ Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện
nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công
lập được giao quyền tự chủ);
+ Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực
hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp
công lập chưa được giao quyền tự chủ).
2. Phân loại đơn vị sự nghiệp: (Điều 4 NĐ số 55/2012 NĐ – CP Quy định
về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập)
Việc phân loại đơn vị sự nghiệp công lập dựa trên các căn cứ sau:
a)
Ngành, lĩnh vực hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập;
Ví dụ:
Trong lĩnh vực y tế có Bệnh viện 115 trực thuộc Sở Y tế Thành phốHồ Chí
Minh là đơn vị sự nghiệp công lập.
Trong lĩnh vực giáo dục có Trường Đại học Kinh tế Luật trực thuộc Đại học
Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị sự nghiệp công lập.
b) Chức năng, nhiệm vụ phục vụ quản lý nhà nước hoặc thực hiện nhiệm vụ
được giao và cung cấp dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp công lập;
Ví dụ:
2
Theo chức năng, nhiệm vụ được giao, Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Thiết
bị Y tế là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc thẩm quyền quyết định của Bộ Lao
động-Thương binh và Xã hội, với nhiệm vụ đào tạo phát triển nguồn nhân lực
chuyên ngành trang thiết bị y tế,…
c) Tính chất, đặc điểm về chuyên môn, nghiệp vụ của đơn vị sự nghiệp công
lập;
d) Cơ chế hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập.
3. Quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp:
Quản lý tài chính là một bộ phận, một khâu của quản lý kinh tế xã hội và là
khâu quản lý mang tính tổng hợp.
Quản lý tài chính được coi là hợp lý, có hiệu quả nếu nó tạo ra được một cơ
chế quản lý thích hợp, có tác động tích cực tới các quá trình kinh tế xã hội theo các
phương hướng phát triển đã được hoạch định. Việc quản lý, sử dụng nguồn tài
chính ở các đơn vị sự nghiệp có liên quan trực tiếp đến hiệu quả kinh tế xã hội do
đó phải có sự quản lý, giám sát, kiểm tra nhằm hạn chế, ngăn ngừa các hiện tượng
tiêu cực, tham nhũng trong khai thác và sử dụng nguồn lực tài chính đồng thời nâng
cao hiệu quả việc sử dụng các nguồn tài chính.
Trong đơn vị sự nghiệp, Nhà nước là chủ thể quản lý, đối tượng quản lý là tài
chính đơn vị sự nghiệp. Tài chính đơn vị sự nghiệp bao gồm các hoạt động và quan
hệ tài chính liên quan đến quản lý, điều hành của Nhà nước trong lĩnh vực sự
nghiệp.
=> Quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập là việc nhà nước Nhà
nước sử dụng tổng thể các phương pháp, các hình thức và công cụ để quản lý hoạt
động tài chính của các đơn vị sự nghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt
được những mục tiêu nhất định. Để đạt được những mục tiêu đề ra, công tác quản
lý tài chính đơn vị sự nghiệp bao gồm ba khâu công việc: Thứ nhất, lập dự toán thu,
chi ngân sách nhà nước trong phạm vi được cấp có thẩm quyền giao hàng năm;
3
Thứ hai, tổ chức chấp hành dự toán thu, chi tài chính hàng năm theo chế độ, chính
sách của Nhà nước; Thứ ba, quyết toán thu, chi ngân sách Nhà nước.
II. Cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công:
Căn cứ theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 14
tháng 02 năm 2015 quy định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập.
1. Quy định về tự chủ tài chính như sau:
Tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp theo 4 mức độ chính:
Thứ nhất,tự chủ tài chính đối với đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi
đầu tư;
Thứ hai,tự chủ tài chính đối với đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên;
Thứ ba,tự chủ tài chính đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường
xuyên (do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cấu đủ chi phí, được Nhà nước
đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá, phí chưa tính đủ
chi phí);
Thứ tư,tự chủ tài chính đối với đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường
xuyên (theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, không có nguồn
thu hoặc nguồn thu thấp).
Phân chia nguồn vốn
- Căn cứ vào nhiệm vụ và khả năng nguồn tài chính, đối với các khoản chi
thường xuyên, Thủ trưởng đơn vị được quyết định một số mức chi phí quản lý, chi
phí họat động nghiệp vụ, nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quy định.
- căn cứ tính chất công việc, Thủ trưởng đơn vị được quyết định phương thức
khoán chi phí cho từng bộ phận, đơn vị trực thuộc.
- quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm mới và sửa chữa lớn tài sản thực hiện
theo quy định của pháp luật và quy định tại Nghị định này.
4
2. Tự chủ trong giao dịch tài chính
* Mở tài khoản giao dịch
Đơn vị sự nghiệp công được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng thương mại
hoặc Kho bạc Nhà nước để phản ánh các khoản thu, chi hoạt động dịch vụ sự
nghiệp công không sử dụng ngân sách nhà nước. Lãi tiền gửi là nguồn thu của đơn
vị và được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp hoặc bổ sung vào quỹ
khác theo quy định của pháp luật, không được bổ sung vào Quỹ bổ sung thu nhập;
Các khoản kinh phí thuộc ngân sách nhà nước, các khoản thu dịch vụ sự nghiệp
công sử dụng ngân sách nhà nước, các khoản thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí,
đơn vị mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để phản ánh.
* Vay vốn, huy động vốn
Đơn vị sự nghiệp công có hoạt động dịch vụ được vay vốn của các tổ chức
tín dụng, huy động vốn của cán bộ, viên chức trong đơn vị để đầu tư mở rộng và
nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với
chức năng, nhiệm vụ. Riêng các đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường
xuyên và chi đầu tư được vay vốn, huy động vốn để đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất
theo quy. Khi thực hiện vay vốn, huy động vốn, đơn vị sự nghiệp công phải có
phương án tài chính khả thi, tự chịu trách nhiệm trả nợ vay, lãi vay theo quy định;
chịu trách nhiệm trước pháp luật về hiệu quả của việc vay vốn, huy động vốn.
3. Ưu điểm và hạn chế:
Ưu điểm:
- Thực hiện được quyền tự chủ, không phụ thuộc về nhiệm vụ, tổ chức, biên
chế, tài chính.
- Phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chât lượng cao
cho xã hội, tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao
động.
5
- Huy động mọi đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các họat động
sự nghiệp, hạn chế ngân sách nhà nước.
- Bảo đảm cho các đối tượng chính sách- xã hội, đồng bào dân tộc thiểu số,
vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn được cung cấp các dịch vụ tốt hơn.
Nhược điểm
- Vì tự chủ nguồn tài chính nên đôi khi đơn vị sử dụng vào những vấn đề
không cần thiết hoặc chi tiêu quá nhiều, vượt quá khả năng tài chính của đơn vị.
- Hay gặp tình trạng phải giải ngân ồ ạt vào cuối năm.
- Tự chủ về nguồn chi và nguồn thu là không tương xứng.
(vd: thu chi của các trường đại học,…
4. Đổi mới cơ chế quản lý tài chính:
Trong giai đoạn hiện nay, công tác quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công ở
Việt Nam đã từng bước được cải cách và đổi mới trên nhiều phương diện. Mọi
người dân Việt Nam đều được hưởng những dịch vụ công với chất lượng tốt hơn và
công bằng hơn. Quản lý chi tiêu tài chính hiệu quả; Huy động được sự đóng góp
của cộng đồng xã hội cho phát triển hoạt động sự nghiệp; Thúc đẩy các đơn vị chủ
động năng động và sáng tạo hơn trong các hoạt động quản lý và cung cấp dịch vụ
công; đa dạng hóa các loại hình dịch vụ công và nâng cao chất lượng dịch vụ công.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, Chính phủ vẫn còn một số mặt hạn chế, tồn tại, đòi hỏi cần
sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Và cơ chế đã được Chính
phủ kiến nghị đổi mới như sau:
- Tăng cường phân cấp và thực hiện trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
cho các đơn vị sự nghiệp công lập. Đồng bộ về tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhân
lực, tài chính trên cơ sở có tính đến đặc điểm từng loại hình đơn vị, khả năng và
nhu cầu thị trường, trình độ quản lý. Các đơn vị phải chịu trách nhiệm giải trình với
xã hội, Nhà nước về việc thực hiện tự chủ và có cơ chế giám sát, kiểm tra các đơn
vị tự chủ bảo đảm thực hiện đúng nhiệm vụ được giao.
6
- Đổi mới phương thức giao dự toán kinh phí đối với các đơn vị cung cấp
dịch vụ công cơ bản, phục vụ đối tượng chính sách theo hướng Nhà nước đặt hàng
cung cấp sản phẩm, dịch vụ; Trong đó, có sự gắn kết tương xứng giữa số lượng,
chất lượng dịch vụ công cung cấp và kinh phí Nhà nước đặt hàng. Từng bước tính
đúng, tính đủ các khoản chi phí hợp lý cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, phù hợp
với thị trường và khả năng của ngân sách Nhà nước. Các đơn vị tự chủ sử dụng
kinh phí được Nhà nước đặt hàng, nhưng phải đáp ứng tốt yêu cầu về số lượng,
chất lượng dịch vụ công cung cấp. Nhà nước xây dựng và ban hành cơ chế kiểm
định độc lập về chất lượng dịch vụ công cung cấp trên các lĩnh vực hoạt động.
- Đổi mới cơ chế tài chính công đối với nhóm các đơn vị sự nghiệp công lập,
cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công có khả năng xã hội hóa cao, tự bảo đảm toàn
bộ chi phí hoạt động (như trung tâm văn hóa - thể thao, trường đại học, cơ sở dạy
nghề, cơ sở y tế). Cách làm trên sẽ dẫn đến thay đổi một cách cơ bản về phương
thức quản trị nội bộ đối với các cơ sở cung cấp dịch vụ công. Các đơn vị sẽ phải
tiếp cận dần với các phương thức quản trị hiện đại, tiên tiến của doanh nghiệp, phải
nâng cao chất lượng dịch vụ để thu hút người sử dụng và tăng nguồn thu cho đơn
vị, phải cạnh tranh bình đẳng về chất lượng dịch vụ và về mức thu phí. Cơ chế này
sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các đơn vị công lập, ngoài công lập,
theo hướng giảm mức thu phí, nâng cao chất lượng dịch vụ công, có lợi cho người
sử dụng dịch vụ và cho toàn thể xã hội.
- Thực hiện minh bạch hóa các hoạt động liên doanh, liên kết của các đơn vị
sự nghiệp công lập. Hoàn thiện chính sánh thu hút nguồn vốn đầu tư từ các thành
phần kinh tế.
- Từ nay đến năm 2020, Chính phủ cần tổ chức thực hiện thí điểm cổ phần
hóa đối với một số đơn vị sự nghiệp công lập mới thành lập, các đơn vị thuộc các
tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Theo Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015
của Bộ Chính trị đối với đơn vị sự nghiệp công lập có nguồn thu sự nghiệp, Nhà
7
nước khuyến khích đẩy mạnh chuyển đổi thêm 10% số lượng viên chức sang cơ
chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và xã hội hóa, thay thế nguồn trả lương từ ngân
sách Nhà nước bằng việc trả lương từ nguồn thu sự nghiệp.
III. Thực trạng:
- Những cái đã đạt được:
+ Hầu hết các đơn vị thực hiện cơ chế tự chủ đều chú trọng các giải pháp
tăng thu, đặc biệt là thu các hoạt động dịch vụ, tiết kiệm chi phí đầu vào, chi
thường xuyên để từng bước cải thiện thu nhập cán bộ, tích lũy để tăng cường cơ sở
vật chất.
+ Về giải pháp tăng thu: Có sự thảo luận, bàn bạc công khai, dân chủ, trong
đơn vị; xây dựng kế hoạch và các phương án thực hiện nhằm mở rộng hoạt động,
phát triển nguồn thu sự nghiệp; chú trọng đến giải pháp tài chính để động viên
CBVC; tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tham gia vào dịch vụ;…
+ Về giải pháp tiết kiệm chi: Lãnh đạo các đơn vị đều có sự quyết tâm cao,
quán triệt của lãnh đạo đối với cán bộ viên chức; tuyên truyền và vận động CBVC
quán triệt tốt việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí bằng các biện pháp, giải pháp
cụ thể, thiết thực tùy tình hình thực tế và tính chất công việc của mỗi các nhân, mỗi
bộ phận, mỗi tổ chức…
+ Các đơn vị đã chủ động trong việc rà soát, xắp sếp lại bộ máy hoạt động
của đơn vị mình tinh gọn, tiết kiệm chi phí…
- Khó khăn, hạn chế:
+ Nhận thức của người dân, xã hội về đổi mới hoạt động của các đơn vị sự
nghiệp công lập còn hạn chế, chưa đầy đủ, vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự
bao cấp của Nhà nước. Trình độ và tư duy của một bộ phận không nhỏ đội ngũ cán
bộ về công tác quản lý, quản trị nội bộ ở nhiều đơn vị sự nghiệp công lập chậm đổi
8
mới, còn quan liêu, hách dịch, đặc biệt là các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động
trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ mang tính độc quyền, ít có cạnh tranh.
+ Cơ chế quản lý và phương thức hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công
lập chưa được đổi mới đồng bộ dẫn đến chất lượng và hiệu quả cung ứng các dịch
vụ sự nghiệp còn hạn chế. Một số đơn vị sự nghiệp công lập trong quản lý tài chính
chưa đảm bảo theo các nguyên tắc hạch toán kinh tế đầy đủ. Quy chế chi tiêu nội
bộ, phân phối thu nhập còn mang tính bình quân, chưa thật sự khuyến khích người
lao động. Một số đơn vị sự nghiệp công lập khi mở rộng hoạt động dịch vụ còn
chạy theo số lượng mà không quan tâm đến chất lượng hoạt động, lạm dụng kỹ
thuật để tăng thu...
+ Hệ thống các tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật làm cơ sở để các đơn vị
sự nghiệp công lập thực hiện chưa đồng bộ, chậm sửa đổi như: định mức giờ giảng,
định mức biên chế theo lĩnh vực, theo ngành, nghề, các định mức kinh tế-kỹ thuật
của một số lĩnh vực đã làm hạn chế tính tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự
nghiệp công lập. Chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu còn thiếu tính
thực tiễn, còn nhiều bất cập nhưng chưa được kịp thời bổ sung, sửa đổi cho phù
hợp.
+ Chất lượng xây dựng và thực hiện Quy chế chi tiêu nội bộ một số đơn vị
chưa thực sự xem Quy chế chi tiêu nội bộ là công cụ để điều hành chi tiêu của đơn
vị mình, một số thủ trưởng đơn vị và lãnh đạo Công đoàn cơ quan chưa chú trọng
giáo dục và động viên cán bộ công chức, viên chức thực hiện theo Quy chế; ý thức
của cán bộ công chức, viên chức một số đơn vị vẫn chưa cao trong thực hiện Quy
chế chi tiêu nội bộ của đơn vị mình,….
+ Các đơn vị phải sử dụng 40% nguồn thu để thực hiện cải cách tiền lương
nên gặp khó khăn khi thực hiện cơ chế tự chủ. Một số đơn vị mặt dù đã huy động
40% nguồn thu đã đảm bảo trang trải cho việc thực hiện cải cách tiền lương nhưng
vẫn còn dư, theo quy định phải để lại tiếp tục thực hiện tiền lương các năm tiếp
9
theo nên khó khăn về nguồn vốn để phát triển các nhiệm vụ sự nghiệp, mở hoạt
động dịch vụ, mặt khác các đơn vị sự nhiệp tự bảo đảm 100% kinh phí hoạt động
thì khi thay đổi mức tiền lương thì nhà nước cũng không bổ sung khoản kinh phí
này mà đơn vị phải tự cân đối, do đó việc bắt buộc các đơn vị này huy động nguồn
làm lương sẽ không phù hợp thực tế; Việc huy động 40% nguồn làm lương từ
chênh lệch hoạt động dịch vụ tại các đơn vị sự nghiệp là chưa thực sự hợp lý, vì các
đơn vị sự nghiệp có hoạt động dịch vụ đều thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm
như doanh nghiệp, vì vậy nếu huy động nguồn làm lương từ hoạt động dịch vụ sẽ
không kích thích, động viên các đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực này.
IV. Giải pháp:
Để quản lý hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập đạt hiệu quả cao,
thời gian tới, Nhà nước cần tiếp tục tạo hành lang, pháp lý thông thoáng cũng như
có cơ chế chính sách tài chính đối với loại hình dịch vụ này.
- Một là, giải pháp về cơ chế quản lý tài chính:
+ Đưa ra các giải pháp tăng nguồn thu: Tăng nguồn thu là một trong những
nhiệm vụ trọng tâm của các trung tâm khuyến nông. Do vậy, trong thời gian tới,
cần phát huy thành công một số dự án như: Dự án khí sinh học, dự án nông nghiệp
thông minh... và các hợp đồng trách nhiệm ký kết với các dự án ODA nhằm tăng
cường hợp tác quốc tế để có được thêm nguồn thu từ các dự án tài trợ. Ngoài ra,
các trung tâm cần mở rộng và phát triển các dịch vụ, tư vấn khuyến nông để mang
lại nguồn thu cho đơn vị, từ đó góp phần cung cấp cho nông dân các loại giống cây,
giống con, vật tư, phân bón có chất lượng tốt; cung cấp cho các doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực nông nghiệp một dịch vụ tư vấn có chất lượng cao.
+ Đổi mới cơ chế tự chủ trong công tác quản lý, sử dụng nguồn tài chính và
tài sản: Cần tăng cường quản lý việc sử dụng nguồn tài chính để nâng cao năng lực
tự chủ tài chính cho trung tâm. Ngoài ra, cần tập trung quản lý chi tiêu nhằm đảm
10
bảo tiết kiệm, hiệu quả, đảm bảo thực hiện chủ trương đẩy mạnh tiết kiệm chống
lãng phí của Nhà nước. Trung tâm cần tiếp tục rà soát, chỉnh sửa, hoàn thiện Quy
chế chi tiêu nội bộ cho phù hợp với tình hình thay đổi cơ chế chính sách và thực
tế...
+ Đổi mới cơ chế phân phối kết quả hoạt động tài chính và chi tiền lương
tăng thêm: Để nâng cao tinh thần trách nhiệm, tạo động lực và tạo niềm tin cho cán
bộ viên chức và người lao động, các trung tâm cần nâng cao mức chi tiền lương
tăng thêm vì thu nhập của người lao động sẽ quyết định đến hiệu quả công việc.
Bên cạnh đó, các trung tâm cần tăng trích lập Quỹ dự phòng ổn định thu nhập để
tạo sự chủ động trong chi tiêu tiền lương, tiền công; tạo niềm tin cho cán bộ viên
chức và người lao động khi nền kinh tế của cả nước đang gặp khó khăn.
- Hai là, hoàn thiện công tác quản lý tài chính, tài sản:
+ Hoàn thiện công tác xét duyệt phân bổ kinh phí: Đối với việc xây dựng mô
hình khuyến nông, dựa trên quá trình theo dõi, giám sát, chọn lọc qua các năm, các
trung tâm cần lựa chọn và đề xuất danh mục mô hình khuyến nông trình Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt. Trên cơ sở danh mục các mô hình lựa
chọn, căn cứ định mức kinh tế kỹ thuật, tỷ lệ hỗ trợ và chế độ của nhà nước, Trung
tâm xây dựng dự toán kinh phí chi tiết cho từng mô hình, trình cơ quan quản lý
phân bổ và phê duyệt... Tranh thủ nguồn kinh phí khuyến nông trung ương hỗ trợ
công tác thông tin, tuyên truyền ở địa phương để xây dựng và nâng cao chất lượng
các bản tin khuyến nông, kết nối mạng và trao đổi thông tin với Trung tâm Khuyến
nông Quốc gia…
+ Hoàn thiện công tác tổ chức hạch toán kế toán: các Trung tâm và các trạm
trực thuộc cần rà soát để hoàn thiện quy chế chi tiêu nội bộ, bổ sung, cập nhật
những văn bản tài chính mới, sửa đổi những quy định chưa phù hợp, thay thế
những văn bản đã bị bãi bỏ. Bổ sung, chỉnh sửa các văn bản quy định tiêu chí đánh
giá mức độ hoàn thành và chất lượng công việc của cán bộ viên chức và người lao
11
động. Hàng năm sau khi kiểm tra, xét duyệt quyết toán tài chính năm cho đơn vị
cần phải ra thông báo kết quả kiểm tra, xét duyệt theo đúng tinh thần Thông tư số
01/2007/TT-BTC ngày 02/01/2007 của Bộ Tài chính.
+ Hoàn thiện công tác quản lý và sử dụng tài sản: Tăng cường hơn nữa việc
sử dụng và khai thác tài sản đúng mục đích được giao, đảm bảo tiết kiệm, có hiệu
quả đồng thời phải chịu trách nhiệm nếu có sai phạm trong quản lý, sử dụng tài sản.
Tăng cường đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất của các phòng ban chuyên môn, các
trạm trực thuộc nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ và hoạt động dịch vụ,
sản xuất kinh doanh nhưng tránh đầu tư dàn trải, không đồng bộ gây lãng phí
nguồn vốn...
- Ba là, hoàn thiện thể chế về cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp
công lập.
Tăng cường phân cấp và thực hiện trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao
hơn cho các đơn vị Sự nghiệp công lập đồng bộ cả về tổ chức, thực hiện nhiệm vụ
và tài chính. Trước mắt thực hiện thí điểm đối với nhóm các đơn vị sự nghiệp công
lập có khả năng xã hội hóa cao, tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động như các
trường đại học, dạy nghề, bệnh viện. Thực hiện minh bạch các hoạt động liên
doanh, liên kết; khắc phục tình trạng công - tư lẫn lộn.
- Bốn là, hoàn thiện thể chế về cơ chế đặt hàng, mua hàng, giao nhiệm vụ
cung ứng dịch vụ công. Xây dựng, hoàn thiện và ban hành hệ thống định mức kinh
tế - kỹ thuật và tiêu chí, tiêu chuẩn của từng loại hình dịch vụ sự nghiệp công.
Cùng với đó, đổi mới cơ chế tính giá đặt hàng sản phẩm, dịch vụ sự nghiệp công.
Từng bước tính đúng, tính đủ các chi phí hợp lý trong giá dịch vụ sự nghiệp, phù
hợp với thị trường và khả năng của NSNN.
12
V. Báo cáo tài chính tại đơn vị sự nghiệp:
Căn cứ Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC về việc ban hành chế độ kế toán
hành chính sự nghiệp.
1.Khái niệm
Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách dùng để tổng hợp tình hình
về tài sản, tiếp nhận và sử dụng kinh phí ngân sách của Nhà nước; tình hình thu, chi
và kết quả hoạt động của đơn vị hành chính sự nghiệp trong kỳ kế toán, cung cấp
thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá tình hình và thực trạng của
đơn vị, là căn cứ quan trọng giúp cơ quan nhà nước, lãnh đạo đơn vị kiểm tra, giám
sát điều hành hoạt động của đơn vị.
1.1. Yêu cầu
Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách phải lập đúng theo mẫu
biểu quy định, phản ánh đầy đủ các chỉ tiêu đã quy định, phải lập đúng kỳ hạn, nộp
đúng thời hạn và đầy đủ báo cáo tới từng nơi nhận báo cáo.
Hệ thống chỉ tiêu báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách phải phù
hợp và thống nhất với chỉ tiêu dự toán năm tài chính và Mục lục ngân sách nhà
nước, đảm bảo có thể so sánh được giữa số thực hiện với số dự toán và giữa các kỳ
kế toán với nhau. Trường hợp lập báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách
có nội dung và phương pháp trình bày khác với các chỉ tiêu trong dự toán hoặc
khác với báo cáo tài chính kỳ kế toán năm trước thì phải giải trình trong phần
thuyết minh báo cáo tài chính.
Phương pháp tổng hợp số liệu và lập các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính, báo
cáo quyết toán ngân sách phải được thực hiện thống nhất ở các đơn vị hành chính
sự nghiệp, tạo điều kiện cho việc tổng hợp, phân tích, kiểm tra, đánh giá tình hình
thực hiện dự toán ngân sách Nhà nước của cấp trên và các cơ quan quản lý nhà
nước.
13
Số liệu trên báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách phải chính xác,
trung thực, khách quan và phải được tổng hợp từ các số liệu của sổ kế toán .
1.2. Mục đích sử dụng:
- Đối với cơ quan chủ quản:
+ Báo cáo tài chính cung cấp các thông tin kinh tế - tài chính cần thiết cho
việc kiểm tra , kiểm soát các khoản chi theo từng nguồn kinh phí, cung cấp thông
tin cho việc quản lý tài sản của Nhà nước, tổng hợp, phân tích, đánh giá các hoạt
động của mỗi đơn vị nói riêng và toàn xã hội nói chung.
+ Từ đó giúp cho Chính phủ có cơ sở để khai thác các nguồn thu, điều chỉnh
các khoản chi một cách hợp lý, từ đó định ra được đường lối phát triển lành mạnh
và đúng đắn.
- Đối với đơn vị hành chính sự nghiệp:
+ Báo cáo tài chính là nguồn thông tin tin cậy để lập kế hoạch kinh phí cho
mỗi kỳ hoạt động một cách hợp lý.
+ Đồng thời phân tích được xu hướng phát triển, từ đó định ra chiến lược
phát triển và biện pháp quản lý tài chính của đơn vị.
2. Trách nhiệm của các đơn vị trong việc lập, nộp báo cáo tài chính
2.1. Trách nhiệm của đơn vị kế toán
Các đơn vị hành chính sự nghiệp tổ chức bộ máy kế toán theo quy định tại
Điều 48 Nghị định số 128/2004/NĐ-CP ngày 31/5/2004, các đơn vị kế toán cấp I, II
gọi là đơn vị kế toán cấp trên, các đơn vị kế toán cấp II, III gọi là đơn vị kế toán
cấp dưới, đơn vị kế toán dưới đơn vị kế toán cấp III (nếu có) gọi là đơn vị kế toán
trực thuộc. Danh mục, mẫu và phương pháp lập báo cáo tài chính quý, năm của đơn
vị kế toán trực thuộc do đơn vị kế toán cấp I quy định. Các đơn vị kế toán có trách
nhiệm lập, nộp báo cáo tài chính và duyệt báo cáo quyết toán ngân sách như sau:
- Các đơn vị kế toán cấp dưới phải lập, nộp báo cáo tài chính quý, năm và
nộp báo cáo quyết toán cho đơn vị kế toán cấp trên, cơ quan Tài chính và cơ quan
14
Thống kê đồng cấp, Kho bạc Nhà nước nơi đơn vị giao dịch để phối hợp kiểm tra,
đối chiếu, điều chỉnh số liệu kế toán liên quan đến thu, chi ngân sách nhà nước và
hoạt động nghiệp vụ chuyên môn của đơn vị.
- Các đơn vị kế toán cấp trên có trách nhiệm kiểm tra, xét duyệt báo cáo
quyết toán cho đơn vị kế toán cấp dưới và lập báo cáo tài chính tổng hợp từ các báo
cáo tài chính năm của các đơn vị kế toán cấp dưới và các đơn vị kế toán trực thuộc
2.2. Trách nhiệm của cơ quan Tài chính, Kho bạc Nhà nước, Thuế
Các cơ quan Tài chính, Kho bạc Nhà nước, Thuế và các đơn vị khác có liên
quan, có trách nhiệm phối hợp trong việc kiểm tra, đối chiếu, điều chỉnh, cung cấp
và khai thác số liệu về kinh phí và sử dụng kinh phí, quản lý và sử dụng tài sản và
các hoạt động khác có liên quan đến tình hình thu, chi ngân sách nhà nước và các
hoạt động nghiệp vụ chuyên môn của đơn vị hành chính sự nghiệp.
2.3. Yêu cầu lập và trình bày báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân
sách
Việc lập báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách phải bảo đảm sự
trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, phản ánh đúng tình hình tài sản, thu, chi
và sử dụng các nguồn kinh phí của đơn vị.
Việc lập báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách phải căn cứ vào số
liệu sau khi khoá sổ kế toán. Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách phải
được lập đúng nội dung, phương pháp và trình bày nhất quán giữa các kỳ báo cáo.
Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách phải được người lập, kế toán
trưởng và Thủ trưởng đơn vị ký, đóng dấu trước khi nộp hoặc công khai.
3. Kỳ hạn lập báo cáo tài chính
- Báo cáo tài chính của các đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức có sử dụng
kinh phí ngân sách nhà nước được lập vào cuối kỳ kế toán quý, năm .
- Báo cáo tài chính của các đơn vị, tổ chức không sử dụng kinh phí ngân sách
được lập vào cuối kỳ kế toán năm;
15
- Các đơn vị kế toán khi bị chia, tách, sáp nhập, chấm dứt hoạt động phải lập
báo cáo tài chính tại thời điểm quyết định chia, tách, sáp nhập, chấm dứt hoạt động;
4. Kỳ hạn lập báo cáo quyết toán ngân sách
Báo cáo quyết toán ngân sách lập theo năm tài chính là báo cáo tài chính kỳ
kế toán năm sau khi đã được chỉnh lý, sửa đổi, bổ sung trong thời gian chỉnh lý
quyết toán theo qui định của pháp luật.
5. Thời hạn nộp báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách
5.1- Thời hạn nộp báo cáo tài chính
5.1.1- Thời hạn nộp báo cáo tài chính quý
- Đơn vị kế toán trực thuộc (nếu có) nộp báo cáo tài chính quí cho đơn vị kế
toán cấp III, thời hạn nộp báo cáo tài chính do đơn vị kế toán cấp trên cấp III quy
định;
- Đơn vị kế toán cấp III nộp báo cáo tài chính cho đơn vị kế toán cấp II và
cơ quan Tài chính, Kho bạc đồng cấp chậm nhất 10 ngày, sau ngày kết thúc kỳ kế
toán quý;
- Đơn vị kế toán cấp II nộp báo cáo tài chính cho đơn vị kế toán cấp I hoặc
cho cơ quan Tài chính, Kho bạc đồng cấp chậm nhất 20 ngày, sau ngày kết thúc kỳ
kế toán quý;
- Đơn vị kế toán cấp I nộp báo cáo tài chính cho cơ quan Tài chính, Kho
bạc đồng cấp chậm nhất 25 ngày, sau ngày kết thúc kỳ kế toán quý;
5.1.2- Thời hạn nộp báo cáo tài chính năm
a)Đối với đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức có sử dụng kinh phí NSNN
Báo cáo tài chính năm của đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức có sử dụng
kinh phí NSNN sau khi đã được chỉnh lý sửa đổi, bổ sung số liệu trong thời gian
chỉnh lý quyết toán theo quy định của pháp luật thời hạn nộp cho cơ quan có thẩm
quyền theo quy định tại tiết 6.2, điểm 6, mục I phần thứ tư.
16
b) Đối với đơn vị, tổ chức không sử dụng kinh phí NSNN: thời hạn nộp báo
cáo tài chính năm cho cơ quan cấp trên và cơ quan Tài chính, Thống kê đồng cấp
chậm nhất là 45 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm.
5.2. Thời hạn nộp báo cáo quyết toán ngân sách năm
5.2.1- Thời hạn nộp báo cáo quyết toán ngân sách năm của đơn vị dự toán
cấp I của ngân sách trung ương nộp cho cơ quan cấp trên, cơ quan tài chính và cơ
quan thống kế đồng cấp chậm nhất vào cuối ngày 01 tháng 10 năm sau; Thời hạn
nộp báo cáo quyết toán ngân sách năm của đơn vị dự toán cấp II, cấp III do đơn vị
dự toán cấp I qui định cụ thể.
5.2.2- Thời hạn nộp báo cáo quyết toán ngân sách năm của đơn vị dự toán
cấp I của ngân sách địa phương do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương qui định cụ thể; Thời hạn nộp báo cáo quyết toán ngân sách năm của
đơn vị dự toán cấp II, cấp III do đơn vị dự toán cấp I quy định cụ thể.
6. Thiết lập báo cáo tài chính:
- Bảng cân đối tài khoản (B01-H)
- Bảng tổng hợp tình hình kinh phí và quyết toán kinh phí đã sử dụng (B02-H)
- Báo cáo thu chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động sản xuất, kinh doanh (B03-H)
- Báo cáo tình hình tăng giảm TSCĐ (B04-H)
- Thuyết minh báo cáo tài chính (B06-H)
- Nội dung
- Cơ sở số liệu
- Thiết lập công thức báo cáo trên phần mềm
- Xem báo cáo
Để đáp ứng mục tiêu của tổng KTNN, hệ thống BCTC tại các đơn vị hành
chính, sự nghiệp vẫn còn những hạn chế và cần phải bổ sung và hoàn thiện. Cụ thể:
a) Bảng cân đối tài khoản (Mẫu số B01-H): Phản ánh tổng quát số hiện có
đầu kỳ, tăng, giảm trong kỳ và số cuối kỳ về tình hình kinh phí và sử dụng kinh phí,
17
tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản, kết quả hoạt động sự nghiệp của đơn
vị hành chính, sự nghiệp trong kỳ báo cáo. Báo cáo này mới chỉ liệt kê số liệu trên
các tài khoản phát sinh tại đơn vị; dùng để kiểm tra tính cân đối của các tài khoản
trong quá trình ghi sổ kép.
Cách thức phân loại hệ thống tài khoản hành chính sự nghiệp “dựa trên bản
chất và nội dung nghiệp vụ”, trong đó các tài khoản hỗn hợp như 342 “Thanh toán
nội bộ” với số dư bên nợ hoặc bên có, các tài khoản trung gian loại 5 và loại 6 với
số dư cuối kỳ sẽ khiến người đọc khó xác định được khoản mục nào là tài sản và
khoản mục nào là nguồn hình thành tài sản.
Hơn nữa qua Bảng cân đối tài khoản, người đọc cũng không thể phân loại
được các khoản mục ngắn hạn và dài hạn để đưa ra những nhận định thích hợp về
tình hình tài chính của đơn vị. Vì vậy, chưa phân tích được tình hình tài chính của
đơn vị theo đúng yêu cầu thông tin đầu vào của tổng KTNN.
b) Tổng hợp tình hình kinh phí và quyết toán kinh phí đã sử dụng (Mẫu số
B02-H): Phản ánh tổng quát tình hình tiếp nhận và sử dụng các nguồn kinh phí hiện
có và số kinh phí sử dụng đề nghị quyết toán theo từng nguồn kinh phí. Báo cáo
này chủ yếu phản ánh tình hình tiếp nhận và sử dụng các nguồn kinh phí từ NSNN
nhằm cung cấp thông tin cho các cơ quan cấp trên, cơ quan quản lý nhà nước phục
vụ công tác quyết toán NSNN.
Về góc độ tài chính, mới chỉ phản ánh một phần kết quả hoạt động của đơn
vị (phần thu và chi từ nguồn kinh phí do NSNN đảm bảo); chưa phản ảnh đầy đủ
toàn bộ các hoạt động thu, chi và kết quả hoạt động của đơn vị. Cơ sở ghi nhận,
hạch toán kế toán để lập báo cáo này chưa thực hiện theo cơ sở dồn tích. Do đó,
chưa đáp ứng thông tin đầu vào của tổng KTNN.
c) Báo cáo thu, chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động SXKD (Mẫu B03-H):
Phản ánh tổng quát tình hình thu, chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động
SXKD của đơn vị. Tuy cơ sở kế toán, lập báo cáo này đã tuân thủ theo cơ sở dồn
18
tích, báo cáo này phản ánh chưa đầy đủ toàn bộ thu, chi của đơn vị, và kết quả hoạt
động của đơn vị. Vì vậy, cũng chưa đáp ứng được thông tin đầu vào cho tổng
KTNN.
d) Thuyết minh BCTC (Mẫu B06-H): Giải thích và bổ sung thông tin về tình
hình thực hiện các nhiệm vụ cơ bản của đơn vị, tình hình chấp hành kỷ luật tài
chính về thu, chi NSNN. Báo cáo này mới chỉ chi tiết số liệu của một số chỉ tiêu
trên Bảng cân đối tài khoản, chưa có sự phân tích đánh giá tình hình tăng, giảm tài
sản, kết quả hoạt động, hiệu quả sử dụng nguồn lực tại đơn vị…
Ngoài ra, theo quy định hiện hành, đơn vị hành chính, sự nghiệp chưa lập Báo cáo
lưu chuyển tiền tệ để phản ánh thông tin về các luồng tiền thu vào và chi ra phát
sinh tại đơn vị.
Đây cũng là nguồn thông tin đầu vào rất quan trọng để cung cấp cho tổng
KTNN phục vụ lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ nhà nước, cung cấp cái nhìn tổng
thể về tình hình tài chính của nhà nước bằng việc chỉ ra dòng tiền tệ vào và ra của
các hoạt động: Hoạt động chủ yếu, hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính; kết quả
hoạt động được chuyển thành dòng tiền ra sao.
19