Tải bản đầy đủ (.docx) (31 trang)

LỊCH sử HÌNH THÀNH, CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC, QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG, GIÁ TRỊ DU LỊCH, của NHÀ THỜ PHỦ CAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.7 MB, 31 trang )

ĐẠI HỌC HUẾ
KHOA DU LỊCH
------------

BÀI TẬP NHÓM
MÔN: VĂN HÓA DU LỊCH
ĐỀ TÀI: NHÀ THỜ PHÚ CAM
Lớp: K49-QLLH3

Sinh viên thực hiện:

Giảng viên

1. Hoàng Thị Nhung

Quản Bá Chính

2. Lê Ngọc
3. Lê Thị Thảo
4. Huỳnh Thị Phương
5. Huỳnh Thị Thùy Nhiên
6. Nguyễn Thị Thúy Hằng
7. Nguyễn Thị Thảo
8. Nguyễn Thị Vân
9. Trần Như Quỳnh
10. Hồ Thị My

Huế, tháng 04 năm 2018


MỤC LỤC


I.SƠ LƯỢC VỀ CÁC NHÀ THỜ Ở HUẾ..................................................................2
1.Các nhà thờ ở Huế......................................................................................................2
2.Những điểm đặc sắc và độc đáo của nhà thờ Phủ Cam...............................................2
II.LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC, QUÁ TRÌNH
HOẠT ĐỘNG, GIÁ TRỊ DU LỊCH, CỦA NHÀ THỜ PHỦ CAM..............2
1. Lịch sử hình thành nhà thờ Phủ Cam.........................................................................2
2.Công trình kiến trúc lịch sử........................................................................................2
1.Nhà Thờ Tranh đầu tiên (1682)...............................................................................2
2.Nhà thờ thứ 2 (1688)...............................................................................................2
3.Nhà Thờ thứ 3 (1715-1719).....................................................................................2
4.Có đến 4 nhà thờ tại Phủ Cam (1719-1730)............................................................2
5.Nhà thờ thứ 8 (1805-1806)......................................................................................2
6.Nhà thứ thứ 9 (1866)...............................................................................................2
7.Nhà thờ hiện nay (1963-1967), nhà thờ thứ 10........................................................2
4.Thánh Đường........................................................................................................... 2
5. Khuôn viên.............................................................................................................2
6. Quá trình hoạt động................................................................................................2
7. Lễ nghi...................................................................................................................2
8. Nhà thờ Phủ Cam gắn liền với du lịch như thế nào?...............................................2
III. VIDEO NHÀ THỜ PHÚ CAM............................................................................2
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................2


I.SƠ LƯỢC VỀ CÁC NHÀ THỜ Ở HUẾ
1.Các nhà thờ ở Huế
Huế nổi tiếng không chỉ vì là nơi tập trung những đền đài lăng tẩm của các vua
chúa triều Nguyễn, những ngôi chùa, những thắng cảnh đẹp ...mà nơi đây còn có các
nhà thờ với các kiểu kiến trúc rất đặc sắc và độc đáo.
Ở huế có rất nhiều nhà thờ lớn như: nhà thờ dòng chúa cứu thế ở đường Nguyễn
Huệ, nhà thờ Phanxico nằm trên đường Nguyễn Tri Phương,nhà thờ giáo xứ Gia

Hội,nhà thờ giáo xứ Bến Ngự, nhà thờ giáo xứ An Tuyền,.. và một trong những nhà
thờ lớn nhất của Huế đó là nhà thờ Phủ Cam nằm ở phường Vĩnh Ninh hay còn được
gọi là giáo xứ chính tòa Phủ Cam.

Nhà thờ dòng chúa cứu thế

Nhà thờ Phanxico
1


Nhà thờ giáo xứ Gia Hội

Nhà thờ giáo xứ An Tuyền
“Sinh ra” trên mảnh đất được xem là trung tâm văn hóa Phật giáo, cổ kính, thâm
trầm, dường như nhà thờ Chính tòa Phủ Cam (thường gọi tắt là nhà thờ Phủ Cam/Phú
Cam) đã mang trong mình chút lạc lõng và nổi bật với vị trí ngay giữa lòng thành phố
Huế. Cũng chính sự khác biệt đó là nguồn cội cho những trắc trở trong hành trình gìn
giữ và kiếm tìm diện mạo của nhà thờ.
Nhà thờ chính tòa Phủ Cam là nhà thờ chính tòa của Tổng Giáo phận Huế, tọa
lạc trên đồi Phước Quả, thuộc địa phận phường Phước Vĩnh, thành phố Huế. Đây là
một trong những nhà thờ to lớn, nổi tiếng và lâu đời nhất tại Huế. Ngôi nhà thờ ngày
nay được xây theo lối kiến trúc hiện đại, do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế.
Công trình này có lịch sử xây dựng từ lâu đời và đến nay trải qua bao thăng trầm
biến động vẫn giữ được vẻ cổ kính của nó.Tọa lạc trên ngọn đồi Phước Quả tạo nên
một không gian yên lành và bình dị cho người dân Công giáo khi đến làm lễ tại nơi
2


đây.Mặt bằng xây dựng nên nhà thờ được thiết kế theo dạng cây thánh giá, có mặt tiền
hướng về phía Bắc, đuôi hướng về phía Nam.Công trình này được xây dựng hết sức

độc đáo, kết hợp giữa phong cách kiến trúc hiện đại và lối trang trí nghệ thuật đậm
chất cổ điển truyền thống của Công giáo phương Tây.Là một công trình quy mô, quy
tụ hành nghìn giáo dân đến đây hàng năm. Lòng của nhà thờ rất rộng, sức chức 2500
dự lễ.Hai bên nội thất nhà thờ được xây dựng với các tâm kính hai màu, chính là
nguồn cung cấp ánh sáng chính.
Kiến trúc nhà thờ chính đại diện cho Tổng giáo phận tại thành phố Huế khá đặc
trưng của thời kỳ lịch sử, nó có sự kết hợp rất hòa quyện giữa kiến trúc cổ điển phương
Tây và kiến trúc hiện đại.
Trước mặt nhà thờ bố trí hai bức tượng đối xứng nhau được cho là mang bổn
mạng nhà thờ Phủ Cam, đó là thánh Phero và Phaolo.
Nhìn tổng thể, đây là một công trình khá độc đáo và nhẹ nhàng, nó khiến cho
người ta cảm nhận được sự yên bình và nhẹ dịu, hơn hết nó mang truyền thống, nghệ
thuật thẩm mỹ nhưng không làm mất đi vẻ uy nghiêm vốn có. Không chỉ là địa điểm
tập trung của giáo dân ngày lễ hay hằng ngày cầu nguyện, mà đây chính là một địa
điểm thu hút khách du lịch khi đến với vùng đất Huế cổ kính, yên bình và thơ mộng.

Nhà thờ giáo xứ Phủ Cam

3


2.Những điểm đặc sắc và độc đáo của nhà thờ Phủ Cam
- Đây là những nhà thờ đã được hình thành từ rất lâu đời và theo kiến trúc hiện
đại phương Tây.
- Điểm nhấn của nhung ngôi nhà thờ này là phần mặt tiền với hai tháp chuông
vươn thẳng lên trời cao như một cuốn Kinh Thánh mở ra, nhưng đồng thời cũng mang
dáng dấp của một đầu rồng đang há miệng.
- Sự phối hợp hài hòa về màu sắc của hệ thống kính màu gợi sự liên tưởng đến hệ
ngũ sắc truyền thống được sử dụng trong ô hộc pháp lam và những trang trí thường
gặp ở các công trình cung điện đền đài trong kinh thành Huế.

II.LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC, QUÁ TRÌNH
HOẠT ĐỘNG, GIÁ TRỊ DU LỊCH,… CỦA NHÀ THỜ PHỦ CAM
1. Lịch sử hình thành nhà thờ Phủ Cam

Vào thế kỷ 17, dưới thời các chúa Nguyễn, "Phủ Cam" vốn là một phủ, là chỗ ở
của các hoàng tử.Thời gian đó, đa số các nhà thờ Công giáo ở Huế chỉ là những nhà
nguyện đơn giản với sườn gỗ, mái tranh. Khi các vua chúa Việt Nam hạ lệnh cấm đạo
gay gắt thì chúng bị triệt hạ đi. Dưới thời Pháp thuộc, các nhà thờ được xây dựng trở
lại và dần được nâng cấp thêm khang trang, bề thế. Nhà thờ Phủ Cam là một trường
hợp như vậy.
Năm 1682, linh mục Langlois cho xây dựng nhà nguyện Phủ Cam bằng tranh tre
tại xóm Đá, sát bờ sông An Cựu.

4


Hai năm sau, linh mục đã cho triệt giải nhà nguyện này và mua đất trên đồi
Phước Quả để xây dựng một nhà thờ to lớn hơn và kiên cố bằng đá, lúc đó nhà thờ
quay về hướng Tây. Đó là một công trình to lớn, chắc chắn và được chúa Nguyễn Phúc
Tần thán phục. Nhưng đến thời chúa Nguyễn Phúc Chu, vào năm 1698, ngôi nhà thờ
ấy bị triệt giải hoàn toàn.
Sau đó 2 thế kỷ, vào năm 1898, Giám mục Eugène Marie Allys (Giám mục Lý)
đã cho xây mới Nhà thờ Phủ Cam bằng gạch, mái lợp ngói khá đồ sộ ở vị trí cũ nhưng
mặt quay về hướng Bắc. Công trình này do chính Giám mục thiết kế và giám sát thi
công đã hoàn thành vào năm 1902.
Năm 1960, sau khi Giáo phận Huế được nâng lên hàng Tổng giáo phận và Tổng
Giám mục Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục từ Vĩnh Long về nhận chức Tổng Giám
mục Huế, ông đã cho phá hủy toàn bộ nhà thờ Phủ Cam cũ và khởi công xây cất Nhà
thờ chính tòa mới với đồ án do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thực hiện.
Ðầu năm 1963, nhà thờ bắt đầu được khởi công xây dựng. Trong khi việc xây

dựng đang tiến hành thì xảy ra cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, tổng
thống Ngô Đình Diệm bị sát hại và Tổng Giám mục Ngô Đình Thục lúc đó đang đi
họp Công đồng Vatican IIbên Roma, vì hoàn cảnh chính trị không trở về Việt Nam,
việc xây dựng cũng bị chững lại.
Tuy việc xây dựng vẫn được tiến hành song tiến độ rất chậm chạp, tới năm 1967
nhà thờ mới lên được phần cung thánh..Trong sự kiện Tết Mậu Thân (1968), bom đạn
đã làm hư hại phần lớn công trình kiến thiết nhà thờ và việc xây dựng đã gặp nhiều trở
ngại mãi cho đến trước 1975 vẫn chưa hoàn thành..Sau thống nhất đất nước, do hoàn
cảnh, mọi công tác xây dựng đều tiến hành chậm chạp, và đến năm 1995, phần thân
nhà thờ về cơ bản được hoàn thành.
Năm 1999, để chuẩn bị cho hai ngày 28 và 29 tháng 6 năm 2000, là ngày Tổng
Giáo phận Huế cung hiến nhà thờ chính tòa Phủ Cam nhân dịp kỷ niệm 150 năm ngày
thành lập Giáo phận Huế (kể từ khi tách rời khỏi Giáo phận Đàng Trong), Tổng Giám
mục Stêphanô Nguyễn Như Thể hạ quyết tâm bằng đủ mọi cách phải hoàn thành các
trang trí bên trong nhà thờ và hai tháp chuông trước tiền đường. Công trình xây cất đã
hoàn tất vào tháng 5 năm 2000.
2.Công trình kiến trúc lịch sử
Đạo Chúa được truyền giảng tại vùng đất Thuận Hóa khoảng năm 1626, khi chúa
Nguyễn Phúc Nguyên dời đô về Kim Long, sát bờ sông Hương. Trước những năm đó,
5


đạo Chúa được các cha dòng Tên rao truyền tại Ái Tử, Dinh Cát và rồi đi theo chân
các vua chúa quan lại vào vùng đất Thuận Hóa. Nhiều vùng quanh phủ Chúa như Thợ
Đúc, Đốc Sơ, Kim Long đã có các cha Dòng Tên ở. Lúc đó, ở Thuận Hóa có sự kiện
đặc biệt, bà Minh Đức Vương Thái Phi theo đạo, được cha Francesco de Pina rửa tội.
Bà có nguyện đường ngay trong phủ chúa. Các quan lớn trong triều theo đạo rất đông.
Năm 1675, Đức cha Lambert de La Motte đến vùng đất Thuận Hóa lần đầu tiên,
được chúa Hiền cho tự do viếng thăm các bổn đạo. Trong khoảng 15 ngày, Đức cha đã
ban phép Thêm Sức cho gần 4500 người.

1.Nhà Thờ Tranh đầu tiên (1682)
Đến năm 1680, cha Langlois từ Thái Lan được phái đến vùng đất Thuận Hóa, yết
kiến chúa Hiền. Cha dâng lên vật quý thay Đức cha Lambert, vì ngài đã qua đời vào
năm trước. Cha Langlois được đón tiếp nồng hậu tại phủ chúa. Cha được quan trong
triều mời ở lại kinh đô, để giúp đỡ các quan về khoa học, kỹ thuật và y học. Rất thông
thạo tiếng Việt, nên cha đồng ý ở lại phủ chúa để giúp các quan lại, hoàng tử như một
ngự y triều đình, vì cha là một bác sĩ phẫu thuật rất giỏi. Do vậy, hoàng tử Nguyễn
Phúc Trăn rất muốn có cha Langlois bên mình. Bên kia bờ hói Phủ Cam, có phủ
Nguyễn Phúc Hiệp, em thứ tư của chúa Hiền, ông này có công trong trận đánh chúa
Trịnh tại sông Gianh (1672). Nơi phủ chúa Hiệp năm 1680, có người con của chúa
Hiệp là Nguyễn Phúc Lễ, đã chịu phép Rửa tội tại Dinh Cát do cha Mahô vào năm
1674 mang tên thánh là Tôma, thường gọi là cậu Tôma Lễ. Thấy mọi sự êm đẹp, nên
cha Langlois quyết định ở lại kinh đô Đàng Trong để giảng đạo. Phủ cậu Tôma Lễ đã
dành cho cha một căn phòng để tạm trú và dâng lễ. Công việc mục vụ không công
khai, cha chỉ âm thầm gặp gỡ các giáo dân ở những nơi khác nhau, và dành ít thời giờ
để chữa bệnh và thăm người liệt tại nhà. Ông hoàng Nguyễn Nguyễn Phúc Trăn rất
mến mộ cha nên đề nghị và giúp cha mua một hòn độn bên kia hói, thẳng trước phủ
chúa, để xây nhà thờ, bệnh xá và tập trung dân lại lập ấp. Vì vậy, cha mua được một
vùng gò đồi rộng từ Bằng Sơn chạy xuống đến bờ hói. Cha quy tụ nhiều người có đạo
từ nhiều nơi ở Thuận Hóa, đến gò đồi này để lập ấp, mà người ta thường gọi ấp ấy là
xóm Đá hay xóm Nón. Hiện nay, tên xóm Đá vẫn còn, là một khu dân cư ở tại Khu
vực La Vang thuộc Giáo xứ Phủ Cam. Cha dùng một khoảng đất khá rộng ở giữa ấp để
làm nhà thờ bằng tranh tre, rất đơn sơ và tạm bợ. Đó là nhà thờ đầu tiên mang thánh
hiệu Phêrô (để mừng kính bổn mạng Phêrô của cha hay vì tên của ấp là xóm Đá).
Tháng 11 năm 1682, nhân chuyến đi kinh lược Đàng Trong, Đức cha Lanneau đã cử
6


hành thánh lễ long trọng ban phép thêm sức cho người dân kinh đô, có cậu Tôma Lễ,
tại nhà thờ đầu tiên của Phủ Cam.


Đến năm 1685, chúa Hiền qua đời, chúa Nguyễn Phúc Trăn lên kế vị lấy tên chúa
Nghĩa. Năm 1687, chúa Nghĩa dời đô từ Kim Long đến Phú Xuân, lấy núi Ngự làm
áng phía trước như bức bình phong. Khi đó, bổn đạo xóm Đá mỗi ngày một tăng, mỗi
năm cha Langlois rửa tội có đến 2000 người. Đức cha Lanneau và chúa Sãi khuyến
khích cha Langlois xây nhà thờ thật lớn, kiên cố và rộng rãi hơn. Vào năm 1688, cha
đã khởi công xây ngôi nhà thờ thứ 2, mãi đến 3 năm sau, mới hoàn thành. Tài chính
cho việc xây nhà thờ, cha xin từ quê nhà của cha, phần còn lại thì giáo dân đóng góp.
Ngôi nhà thờ này dài 45 thước, rộng 15 thước, cao 4 thước. Mặt tiền nhà thờ có 3 cửa
lớn, mặt hậu có 2 cửa thông, hai bên tả hữu có 2 cửa hông và mười cửa sổ, vách dài 1
thước 2. Trong thư của cha Langlois viết gửi Đức cha Lanneau để báo cáo về việc xây
dựng nhà thờ có viết: “Thánh đường mà con thông báo với Đức cha năm ngoái đã xây
được gần nửa, các vách đều bằng đá cao 6 cút (1 cút = 50 phân), bề dày đo được 3
cút, dài 90 cút và rộng 30 cút… Toàn bộ cửa dều bằng gỗ quý, bố trí cân đối, móng
đào đến gặp đá cứng, đây là công trình chưa từng có ở xứ này, được nhà vua và quan
lại thán phục. Thực vậy, khi ấy ở vùng đất Thuận Hóa không có nhà nào lớn hơn nhà
thờ này, chúa Sãi và các quan lại điều khen ngợi. Nhà thờ lấy thánh hiệu là Đức Bà
Xuống Tuyết. Nhà thờ cũ được sửa lại làm 2 nhà bệnh xá được 300 giường. Tôi thiết
nghĩ, công khó dể xây dựng được ngôi nhà thờ như thế lúc bấy giờ, là nhờ sự hy sinh
và chịu khó của cha Langlois. Thiên Chúa đã nhìn đến và thương những con người nơi
7


đây, giúp họ có ngôi thánh đường rộng lớn và kiên vững như thế. Thật xứng đáng là
nơi gặp gỡ Thiên Chúa và giáo dân xóm Đá.
2.Nhà thờ thứ 2 (1688)

Giai đoạn bình an và thịnh vượng của họ đạo xóm Đá kéo dài tới năm 1698. Khi
ấy, một số người vu cáo người công giáo phá tượng Phật. Do vậy, các quan kiện lên
Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), nên chúa ra lệnh cấm đạo, triệt hạ nhà

thờ Đức Mẹ Xuống Tuyết và một nhà thờ khác trong nội thành. Quân lính đến bắt trói
cha Langlois, xé áo cha ra và dẫn đến cho quan Lãnh Binh, Quan lãnh binh nói với cha
Langlois:Ta được lệnh vua đến triệt hạ giáo đường của ông, đốt sách đạo của ông, các
ảnh tượng, và cấm ông không còn được giảng đạo cho ai trong nước này nữa. Một âm
mưu nhỏ nhen của các chưa sắc và quan lại đã phá hủy nhà thờ do cha Langlois xây
dựng, thật oan ức và đau khổ cho giáo dân họ xóm Đá. Nhưng khi ấy, có nhiều tai
ương gián xuống trên kinh đô Thuận Hóa như nhà cửa chùa chiền sụp đổ gần một
nửa, người chết rất nhiều, những thây ma trôi dạt trên sông… nên chúa Quốc cho
ngưng việc bắt đạo dữ dội ấy lại.[4] Thấy tình hình như vậy, họ đạo xóm Đá tiếp tục
thờ phượng Thiên Chúa trong một nhà thờ tranh tạm và lòng sốt sắng lại gia tăng
thêm. Năm 1699, tưởng chừng sóng gió đã qua, nhưng khốn thay những mưu toan
thâm độc và những kẻ ghét đạo vẫn rình chờ sẵn. Họ lại vu khống cho bổn đạo xóm
Đá, phá hủy tượng Phật mà dân chúng sùng bái nhất. Ngày 17/03/1700, Minh Vương
chúa Quốc ra chỉ dụ cấm đạo nghiêm ngặt hơn trước, triệt hạ tất cả các nhà thờ ở đàng
Trong và bắt giam các đạo trưởng Gia-tô. Xứ đạo trên đồi Đá hưmg thịnh ngày nào,
giờ lại mất nhà thờ, mất cha sở, giáo dân bỏ chạy tan tát, một số bị hăm dọa phải chối
8


đạo… cơ nghiệp xây dựng giáo hội Đàng Trong đã bị trì trệ và gián đoạn trong một
khoảng thời gian năm 1700 đến năm 1717.
3.Nhà Thờ thứ 3 (1715-1719)
Một giai đoạn khó khăn, gián đoạn của xứ họ đạo xóm Đá, không có nhà thờ,
không có linh mục coi sóc, giáo dân thờ phượng Thiên Chúa bằng những việc đạo đức
bình dân, nhưng chỉ với số giáo dân trung thành vẫn thường xuyên họp nhau lại đọc
kinh, duy trì một vài sinh hoạt nhỏ của họ đạo. Sử có ghi tên một người gọi là cai lý,
đã nhường lại nhà của ông bên vườn cũ của nhà thờ để anh em bổn đạo đọc kinh. Mùa
đông năm 1715, cơn bão ngoài khơi Nha Trang đã đánh chìm một tàu ngoại quốc, 17
người chết , 87 người còn sống. Cha Huette đang làm việc gần bãi biển Nha Trang,
nên cha dẫn đoàn tị nạn ra kinh đô Bác Vọng. Triều đình muốn giao thương buôn bán

với người Tây Ban Nha, nên đã giúp đỡ đoàn tị nạn và cung cấp tàu để cho họ về lại
xứ Tây Ban Nha. Sau khi giúp đoàn tị nạn xong, thì cha về lại Huế, tại đây chỉ có một
linh mục Thừa Sai Balê, cha Sennemand. Vì thiếu linh mục nên giáo dân kinh đô liên
lạc với Đức cha Perez để xin cha Huette ở lại Thuận Hóa. Được Đức cha chấp nhận,
cha Huette ở lại kinh đô và làm việc tại Phủ Cam. Cha xây dựng lại một nhà thờ bằng
tranh tre trên nền cũ và một nhà ở bằng tranh. Cha tổ chức lại họ đạo, dạy Giáo lý,
củng cố đức tin lại cho giáo dân sau cơn bắt đạo. Ngôi nhà thờ thứ 3 bằng tranh tre do
cha Huette xây dựng không lớn và rộng như ngôi nhà thờ thứ 2 của cha Langlois.
Nhưng ngôi nhà thờ này là bước khởi đầu xây dựng lại họ đạo Phủ Cam. Sau bao năm
chẳng có nhà thờ, linh mục, thì nay Chúa thương gửi cha Huette đến cho họ đạo Phủ
Cam. Họ đạo hết lòng biết ơn cha Huette đã giúp xây dựng lại ngôi nhà thờ bằng tranh
tre, giúp có nơi để giáo dân gặp gỡ Thiên Chúa và thờ phượng Ngài.
4.Có đến 4 nhà thờ tại Phủ Cam (1719-1730)
Vào những năm 1719 đến 1730, những linh mục trực thuộc hội dòng Thừa Sai
Balê, dòng Phanxicô và dòng Banabit hoạt động trên vùng đất Phủ Cam, có đến 4 nhà
thờ được xây dựng, như nhà thờ tranh tre của cha Huette (Thừa Sai Balê), một nhà thờ
do cha Giuse và Giêrônimô (dòng Phanxicô) lập nên, một nhà thờ khác do các cha
Banabit xây dựng, các cha hội Thừa Sai Balê lập một cơ sở mới tại Cồn Mồ (làng Hòa
Bình hiện nay) xây dựng lên một nhà thờ khác nữa. Thời gian ấy, vùng đất Phủ Cam là
nơi ngọa hổ tàng long, qui tụ nhiều dòng tu lại. Đời sống đạo ở Phủ Cam, lúc bấy giờ
phát triển rất mạnh, cực thịnh, nhưng lịch sử đã cho thấy chỗ nào cực thịnh, nơi ấy dễ
xảy ra tranh chấp, xung đột. Thật vậy, các linh mục với mục đích đến Phủ Cam để
truyền giáo nhưng ganh đua nhau, ghen ăn tức ở, nên đã tranh chấp đấu đá lẫn nhau.
Làm gương mù gương xấu cho giáo dân, thật đáng buồn và đáng trách, vì các linh mục
9


không nên làm những điều cấm kỵ như thế. Thật khó để xác định vị trí của những nhà
thờ trên, ngoài trừ nhà thờ do cha Huette xây dựng.
5.Nhà thờ thứ 8 (1805-1806)

Năm 1802, khi Nguyễn Ánh lên ngôi lấy hiệu Gia Long, thống nhất giang sơn,
nhờ sự giúp đỡ của Đức cha Béhaine. Đức cha Béhaine giúp đỡ vua Gia Long với mục
đích, muốn bành trướng đạo Kitô thành quốc giáo như biến cố tại Milanô năm 394.
Sau thời gian ẩn trú, chạy trốn sự bắt đạo dữ dội của các chúa, một số giáo dân thấy
đất nước được thái bình, nên ra công khai giữ đạo, một số khác hồi hương trở về họ
đạo Phủ Cam. Số giáo dân cũng khá lớn nhưng không ước tính được bao nhiêu. Hồi
đó, vì muốn kiến thiết một ngôi nhà thờ mới, nên cha Phaolô Nguyễn Phước Kim đã
mua thêm 3 sào đất của bà Nguyễn Thị Trong và con để xây dựng, một văn tự mua
đất, đề niên hiệu Gia Long tứ niên, có ấn hiệu của linh mục quản xứ hồi đó, tên là
Nguyễn Phước Kim có thánh hiệu là Bảo Lộc cho biết đã mua thêm 3 sào đất của bà
Nguyễn Thị Trong và con để cấu tạo thánh đường…[6]. và sau đó cha Phaolô Kim đã
cho xây dựng nhà thờ, ngôi nhà thờ hướng về phía tây gần đường lớn và bàn thờ cung
thánh hướng về phía đông, giáp vườn một vị quan lớn Tín Trung Hầu, có thể là người
công giáo. Nhà thờ được tái thiết công phu hoành tráng, với kiểu dáng văn hóa Việt
Nam, rộng lớn, có một bộ giàn trạm trổ công phu, bằng gỗ mít. Đạo Chúa dưới thời
Gia Long lớn mạnh và thịnh vượng. Ngôi nhà thờ Phủ Cam do cha Nguyễn Phước
Kim xây dựng (1805-1806), như dấu son cho việc phát triển đời sống đạo tại đây. Qua
việc tái thiết nhà thờ cho thấy giáo dân bổn đạo nhà càng đông và đời sống thiêng
liêng ngày càng được nâng lên. Đức cha Gioan thỉnh thoảng đến Phủ Cam, ban phép
Thêm Sức và làm phép Hôn phối cho 2 cặp thuộc giới thượng lưu, quý phái.
Sau thời gian dài sống yên bình, ngày 06/01/1833, vua Minh Mạng ra chỉ dụ cấm
đạo dữ dội, người nào theo đạo Gia-tô, phải thật lòng bỏ nếu không sẽ bị xử tử. Năm
ấy, nhà thờ và nhà xứ Phủ Cam bị triệt hạ, chẳng còn nơi để thờ phượng, chẳng còn
nơi ở của cha sở bổn đạo. Giai đoạn khó khăn nhất đã xảy đến cho họ đạo, chẳng ai
dám công khai giữ đạo, trừ những người bị bắt, bị xử tử, là những hoa trái cho nước
Chúa, những người được phúc tử đạo. Nhà thờ rộng lớn do cha Nguyễn Phước Kim
xây dựng đã bị tàn phá thành bình địa. Công sức cao dày của cha Kim đổ xuống sông
xuống biển, bộ sườn nhà thờ bị đem đi làm nhà lục bộ, những cột nhà và bộ khung
sườn trần nhà được trạm trổ rất công phu.


10


Từ năm 1833 đến 1863, Phủ Cam không có nhà thờ, không có linh mục coi sóc,
nhưng được diễm phúc, vườn nhà thờ là nơi chôn cất các thánh tử đạo Việt Nam như
Gagelin, Phaolô Bường, Hồ Đình Hy, Lê Đăng Thị, Anrê Trần Văn Trông.
6.Nhà thứ thứ 9 (1866)
Năm 1863, Đức cha Sohier Bình lập tòa Giám mục tại Kim Long, ngài đi kinh lý
đến Phủ Cam, Ngài thăm những nơi bị tàn phá và những nơi chôn cất các thánh tử đạo,
lúc đó Phủ Cam chưa có nhà thờ, và là nơi bị tàn phá nặng nề. Đức cha chỉ làm các
nghi lễ trong rạp che tạm nơi nền cũ nhà thờ. Năm 1866, sau chuyến kinh lý địa phận,
Đức cha gửi bài sai cho cha Ignatiô Tuyên về làm quản xứ Phủ Cam, sau gần 33 năm
vắng bóng linh mục quản xứ. Ngài kiêm luôn họ Thợ Đúc, Đá Hàn, Ngọc Hồ và
Buông Tằm. Khi về làm cha sở Phủ Cam, cha Tuyên xem việc xây dựng lại nhà thờ là
việc nặng nề và khó khăn nhất. Vì sau khoảng thời gian bị bắt đạo, đất đai đã bị người
dân chiếm lấn, nhà thờ bị phá nặng nề. Lúc bấy giờ, cha Tuyên phải mua đất lại, trong
đất vườn nhà thờ, có một khoảng đất 3 sào 7 thước do Nguyễn Phận bán lại ngày 28
tháng 10 năm Tự Đức 20 tức năm 1866…[7] Hiện nay, miếng đất này là nhà cha quản
xứ (xây dựng 1925-1926). Lần này, cha Tuyên xây dựng nhà thờ không lớn và rộng rãi
như nhà thờ trước, nhà thờ này mang tính tạm thời, nên chưa đáp ứng được lời Đức
cha Bình khuyến khích các họ đạo xây dựng nhà thờ trở thành nơi thờ phượng xứng
đáng. Năm 1876, cha Tuyên được triều Huế yêu cầu đi làm thượng thư tham biện ở
Hải Phòng. Vì vậy, từ năm 1876 đên 1884, họ đạo Phủ Cam không có cha sở, dưới sự
coi sóc của cha sở Kim long, rồi đến cha sở Thợ Đúc coi sóc.
Nhà thờ thứ 6 (1898-1902)
Năm 1885, Đức cha Caspar Lộc gửi bài sai cho cha Allys Lý làm cha sở Phủ
Cam, ngài là linh mục tài giỏi, năng động và khéo léo trong việc tổ chức lại giáo xứ
trong 10 năm. Sau đó, cha nhận thấy ngôi nhà thờ cha Tuyên xây dựng đã trở nên quá
chật hẹp, mà Giáo xứ càng ngày càng phát triển và giáo dân càng ngày càng đông lên.
Vì vậy, cha quyết định tái thiết lại ngôi nhà thờ lớn hơn và rộng rãi hơn. Để chuẩn bị

cho công việc tái thiết ấy, cha phải cần đến số tiền khá lớn. Trước tiên, cha xin cha mẹ
ngài giúp đỡ một số tiền lớn và ngài cũng xin địa phận quê hương của ngài giúp đỡ,
địa phận Rennes. Sau đó, ngài mua thêm đất ở hai bên vườn nhà thờ, năm Đồng

11


Khánh 2 của Nguyễn Văn Hi (1887), năm Thành Thái 4 (1892) của mẹ con Lê Thị
Tuyết, năm Thành Thái 5 (1893) của Bùi Văn Quý[8].

Năm 1898, khởi công xây dựng nhà thờ, công việc đào móng vất vả và công phu,
cha Allys Lý đã huy động hết số thanh niên trai tráng trong giáo xứ đến phụ giúp làm
nhà thờ, xây dựng hết 4 năm. Ngày 27/08/1902, nhà thờ được khánh thành và dâng
cho Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ, nhưng vẫn tiếp tục trang trí phần cung thánh, bàn thờ
được làm bàn đá cẩm thạch…nhưng mãi tới ngày 15/11/1931, Đức cha Giáo mới đến
xức dầu thánh hiến.
Công trình nhà thờ do cha Allýs Lý khá đồ sộ và rộng lớn. Ngôi nhà thờ dài 60
thước, rộng 14 thước, có 3 lòng căn chính, căn giữa 6 thước, hai căn hai bên mỗi căn
3 mét, hai hiên phụ, để có đường đi và đặt các bàn thờ cạnh. Nhà thờ hướng về phía
bắc, tiền đường hai tầng và hai bên có hai tháp chuông cao 25 mét, treo 3 quả chuông
tây còn cho đến ngày nay. Giữa hai lầu là tượng Đức Mẹ bằng gang được đúc từ Balê,
cao đến 1,9 mét[9]. Người nào thấy nhà thờ cha Allys Lý xây dựng đều thán phục và
khen ngợi vì công trình cân đối, nằm ở vị trí quan trọng đẹp đẽ trong thành phố. Nhà
thờ nổi bât có nét kiến trúc “Gothique”, nổi bật với hai tháp chuông hai bên có cạnh
vuông và cao vừa phải [10]
Năm 1904, trận bão dữ dội phá sập cầu Tràng Tiền và nhiều dinh thự ở nội thành,
nhưng ngôi nhà thờ Phủ Cam tuy đứng trên đồi cao, áng gió, nhưng chẳng bị gì. Người
ta nói: “Trận bão đến ghê gớm trong buổi sáng chúa nhật, có người bị gió cuốn xoay
tròn và lăn đi như vụ đến mấy chục thước trước sân nhà thờ và cố Lý quỳ giữa lòng
12



nhà thờ và giang tay cầu nguyện, xin Chúa tha thứ, xin Chúa cho con cái an toàn, xin
cho nhà thờ không sụp ngã…”
Ngày 30/01/1908, cha Allys Lý được tòa thánh phong làm Giám mục Đại diện
Tông tòa, coi sóc giáo phận Bắc Đàng Trong. Cha vẫn ở Phủ Cam cho đến ngày được
thụ phong Giám mục và ngài muốn được thụ phong tại nhà thờ Phủ Cam. Ngài đã nhận
chức Giám mục tại Phủ Cam ngày 24/05/1908. Người ta nghĩ rằng khi lên làm Giám
mục, ngài sẽ về ở tại tòa Giám mục Kim Long, nhưng ngài vẫn ở luôn tại Phủ Cam. Sau
đó, ngài lập tòa Giám mục bên cạnh bờ hói Phủ Cam. Khi xây dựng xong tòa Giám
mục, ngài mới rời khỏi Phủ Cam, để về tòa Giám mục. Ngài chọn nhà thờ Phủ Cam làm
nhà thờ Chính tòa, ngài luôn coi sóc họ đạo Phủ Cam với tình cảm ưu ái đặt biệt của
ngài. Giáo xứ Phủ Cam ghi nhớ công ơn hy sinh cao dày của Đức cha Allys Lý đã xây
dựng nhà thờ Phủ Cam rộng lớn, đồ sộ nhất từ trước đến nay. Ngài đã giúp cho họ đạo
Phủ Cam phát triển lớn mạnh, với biến cố quan trọng, ngài chọn Phủ Cam làm giáo xứ
chính tòa của địa phận. Người ta tưởng chừng ngôi nhà thờ, Đức cha Allys Lý xây dựng
là ngôi nhà thờ cuối cùng rộng lớn nhất trong lịch sử họ đạo Phủ Cam.
7.Nhà thờ hiện nay (1963-1967), nhà thờ thứ 10
Năm 1963, sau 3 năm thành lập hàng Giáo Phẩm Việt Nam và sự kiện Đức cha
Phêrô Ngô Đình Thục được chọn làm tổng Giám mục của Tổng Giáo Phận Huế, chính
Đức cha Phêrô nhận thấy ngôi thánh đường Phủ Cam vẫn chật hẹp so với số giáo dân
của Giáo xứ Phủ Cam (năm 1962, gần 12000 giáo dân). Do vậy, ngài đã cho triệt hạ
ngôi thánh đường rộng lớn do cố Lý xây, và khởi công xây dựng một ngôi thánh
đường khác vào năm 1963, nhưng đến năm 1967 mới hoàn thành phần cung thánh. Vì
trong giai đoạn này, có nhiều biến cố xảy ra nên việc xây dựng bị trì trệ. Biến cố Đức
Tổng Giám mục Phêrô đi dự Công đồng Vaticanô II (1962-1965) và cuộc đảo chính,
mưu sát tổng thống Ngô Đình Diệm (1963), do vậy Đức cha Phêrô ở luôn bên Rôma.
Nhà thờ Phủ Cam hiện nay là một công trình kiến trúc đồ sộ và quy mô, xứng đáng với
tầm vóc một nhà thờ Chính tòa của Tổng Giáo Phận Huế. Nhà thờ do kiến trúc sư Ngô
Viết Thụ thiết kế với hình thánh giá nằm ngang, đầu thánh giá hướng về nam và đuôi

hướng về bắc.

13


Năm 1995, phần thân nhà thờ cơ bản hoàn thành, nhưng dưới sự quyết tâm của
Đức Tổng Stêphanô Nguyễn Như Thể phải hoàn thành công việc xây dựng nhà thờ
chính tòa với hai tháp chuông. Ngày 01/05/1999, khởi công xây dựng hai tháp
chuông. Ngày 29/06/2000, sau 37 năm, nhà thờ Chính tòa Phủ Cam mới được khánh
thành, trở thành nhà thờ rộng lớn vào bậc nhất tại thành phố Huế.[11]
Mặt tiền nhà thờ có hệ thống cửa chính phụ được thiết kế theo kiểu kiến trúc
“Ngọ Môn” ở hoàng thành Huế, 3 cửa thẳng và 2 cửa quanh, hai bên nhà thờ có 10
cửa phụ cho người ta ra vào[12]. Diện tích nhà thờ dài 80 mét, rộng 24 mét. Trong
lòng nhà thờ có sức chứa khoảng 2500 người.
Phần cung thánh được thiết kế theo kiểu Á Đông, bàn thờ vuông dựng trên nền
tròn. Bàn thờ được đặt tại vị trí trung tâm giao nhau của cây thánh, được dựng trên nền
cao 7 bậc cấp(khoảng 1 mét) từ lòng nhà thờ, rất nổi bật và giáo dân ở vị trí nào cũng
nhìn thấy được bàn thờ. Phía trên cung thánh, đặt cây thánh giá có tượng chúa Cứu
Thế chịu đóng đinh, phía trên thánh giá có tượng Chúa Giêsu giang tay trong bữa
Tiệc Ly với hàng chữ: Chúc Tụng Thiên Chúa Đến muôn Đời[13]. Trước kia, tượng
Chúa Giêsu giang tay và hàng chữ được làm bằng giấy carton, sau được đúc bằng
đồng rất đắt tiền.
Phía trên băng công tầng lầu có hệ thống cửa kính với gam màu nhẹ, màu trắng
và màu xanh lục nhạt thiết kế theo hình thánh giá. Tầng lầu phía trên được đúc bao
14


quanh sát tường, chạy theo hình thánh giá của nhà thờ, rộng 2 mét và tầng lầu phía
cuối nhà thờ với diện tích 300 mét. Mỗi dịp lễ lớn, giáo dân có thể lên trên tầng lầu
này để dự lễ.

Hai bên nhà thờ, hai tháp chuông cao 43,5 mét với 12 tầng lầu nhỏ bên trong.
Nếu có dịp thuận tiện, người ta có thể đi lên phía trên đỉnh tháp chuông ngắm phong
cảnh ở Huế rất đẹp, đặc biệt cảnh sông Hương, núi Ngự thơ mộng và rất lãng mạng.
Hai bức tượng thánh Phêrô và Phaolô phía trước tiền đường, do nghệ nhân Đinh Văn
Lương đúc bằng xi-măng. Hai tượng được đúc tại Sài Gòn, chia làm 3 đoạn, sau đó di
chuyển bằng đường Biển ra Đà Nẵng, rồi chở bằng ôtô ra Huế.
Khuôn viên nhà thờ thoáng và rộng, với những hàng cây Hoàng Hậu, gần đến mùa hè
hoa Hoàng Hậu nở màu tím thơm và rất đẹp. Tổng diện tích đất đai nhà thờ là 10.804 m2.
Đứng xa xa nhìn, nhà thờ hiện ra trên đồi đá rất thanh thoát và tuyệt đẹp. Hiện
nay, sân trước tiền đường được cải tạo lại một khuôn viên cỏ xanh tươi và có những
hòn đá non bộ lớn rất tự nhiên. Hiện nay, phía sau bên phải nhà thờ, công trình nhà
Mục Vụ Địa phận và Giáo xứ đang được xây dựng công phu với những thiết kế phù
hợp với kiến trúc nhà thờ, những hình tượng thánh giá phía ngoài tòa nhà.
Nhờ bàn tay che chở của Mẹ Maria, giáo xứ Phủ Cam đã đứng vững qua biến cố
Mậu Thân 1968. Bây giờ, Giáo xứ không ngừng đổi mới về việc đạo cũng như đời, đời
sống thiêng liêng ngày càng vững mạnh, sốt sắng và đạo đức hơn. Nhìn lại lịch sử gần
350 năm thành lập và xây dựng Giáo xứ, nếu không có bàn tay Thiên Chúa che chở và
dẫn dắt, chắc hẳn Giáo xứ không có những phát triển rực rỡ như hôm nay. Qua đó, mỗi
con dân giáo xứ phải biết cậy trông và tin tưởng vào Thiên Chúa hơn nữa, để cuối
cùng nghiệm ra rằng mọi thời, mọi công trình, mọi thụ tạo trên trái đất này đều thuộc
về Thiên Chúa, ngay cả lịch sử cũng thuộc về Ngài. Giáo dân phủ Cam cũng không
quên ơn các vị Thừa Sai Paris, các ngài đã không quản ngại khó khăn vất vả, để đến
sống, giúp đỡ, xây dựng nhà thờ và coi sóc Giáo xứ Phủ Cam. Xin Thiên Chúa trả
công bội hậu cho những công đức cao dày của các ngài, thưởng các mgài sớm hưởng
phúc thiên đàng, vì những công khó các ngài xây dựng nhà thờ, nhà Chúa ngay trên
vùng đất Phủ Cam này.
3.Mặt trước tháp nhà thờ Phủ Cam
Nhìn từ xa, ấn tượng đầu tiên về ngôi thánh đường tráng lệ nguy nga kiểu truyền
thống cổ điển có hình thánh giá La tinh này, là một khối đá hoa cương đồ sộ, được
khai thác từ Phú Lộc - Thừa Thiên Huế.

15


Mặt bằng xây dựng nhà thờ mang dạng thánh giá, đầu hướng về phía Nam đuôi
hướng Bắc. Nhà thờ có kết cấu theo kĩ thuật tư vấn thiết kế xây dựng hiện đại nhưng
phần trang trí vẫn theo nghệ thuật cổ điển của phương Tây. Các trụ đỡ được đúc sát
vào tường, chạy uốn cong dần về phía trước, mềm mại. Bốn góc mỗi góc có ba trụ đỡ
vươn dần ra, tạo thành một không gian đủ rộng ôm kín Cung Thánh và bàn thờ.

Hình ảnh Đức mẹ Đồng trinh và Chúa hài đồng đơn giản nhưng nổi bật nhìn từ bên
ngoài Thánh đường.
Đặc biệt mặt tiền nhà thờ có một hệ thống cửa chính và phụ được thiết kế theo kiểu
kiến trúc “Ngọ Môn” ở Hoàng thành Huế với 5 cửa: 3 cửa thẳng - 2 cửa quanh, hai bên có
10 cửa phụ cho người ra vào.
Nhà thờ có hai ngọn tháp chuông cao 43.5m (với 12 tầng mỗi tháp), chiều dài và
chiều rộng của nhà thờ là 80m x 24m, phía trước sân nhà thờ có hai pho tượng thánh
Phêrô và thánh Phaolô bằng xi-măng trắng do nghệ nhân Đinh Văn Lương (TP. Hồ Chí
Minh) đúc. Tượng được di chuyển bằng đường thủy từ Sài Gòn ra cảng Đà Nẵng, và đưa
bằng ôtô ra Huế. Tượng được đúc làm ba đoạn, sau đó, được đổ xi-măng vào ráp lại.
Đặt trên bệ cao, ngay chính giữa vừa dễ nhìn vừa trang nghiêm, là Cây Thánh
Giá (một cây thông lấy từ đồi Thiên An - Huế), có tượng Chúa Cứu Thế chịu đóng
16


đinh, bên trên là bức hoạ Đức Chúa Giêsu dang tay ra trong bữa tiệc ly với dòng chữ:
“CHÚC TỤNG THIÊN CHÚA ĐẾN MUÔN ĐỜI”

4.Thánh Đường
Thánh đường Phủ Cam được xây theo quan niệm vật lý kết cấu mới. Các trụ đỡ
được đúc sát vào tường, chạy uốn cong dần về phía trước, mềm mại. Bốn góc mỗi góc có

ba trụ đỡ vươn dần ra, tạo thành một không gian đủ rộng ôm kín cung thánh và bàn thờ.
Lòng nhà thờ được xây theo truyền thống cổ điển có hình thánh giá Latin cộng với
lòng căn hai cánh mở rộng. Có hai dãy cửa gương màu nằm ở phần trên bên trong lòng
nhà thờ, phía giữa có hình thánh giá bằng xi măng cốt sắt.

Hình 1:Bên trong thánh đường
Nhà tạm, được xây sát vào phần hậu thân nhà thờ, nằm gọn vào phần lõm phía
sau và được đặt trên một bệ cao ngay chính giữa.
17


Hai bên cánh hình thánh giá nhà thờ, cánh trái là phần mộ Ðức cố Tổng giám mục
Philipphê Nguyễn Kim Ðiền (1921 – 1988), cánh phải đối diện là bàn thờ kính thánh.
Trong lòng nhà thờ, đặt những dãy ghế có sức chứa khoảng 2.500 người và phía
trên cung thánh, có các bậc đi lên với các vòm trụ đỡ hình parabol ôm trùm lên phần
lòng, tạo cảm giác hiện đại nhưng vẫn gợi nhớ đến kiến trúc vòm cổ điển của các ngôi
nhà thờ phương Tây. Hai dãy cửa sổ được lắp kính màu ở hai mặt bên, giúp cho ngôi
nhà thờ luôn tràn ngập ánh sáng.
Cung thánh là một hình tròn có các cấp đi lên, trên cung là một hình tròn nhưng
nhỏ hơn với bàn thờ. Bàn thờ bằng đá cẩm thạch nguyên khối lấy từ Non Nước – Đà
Nẵng, đặt trên một viên đàn (hình tròn) có ba cấp tượng trưng cho tam tài: Thiên – Địa –
Nhân, nơi đặt bục giảng của các linh mục… và các ghế ngồi cho những người hành lễ.

Hình 2:Cung Thánh
Đặt trên bệ cao, ngay chính giữa vừa dễ nhìn vừa trang nghiêm, là Cây Thánh
Giá (một cây thông lấy từ đồi Thiên An – Huế), có tượng Chúa Cứu Thế chịu đóng
đinh, bên trên là bức hoạ Đức Chúa Giêsu dang tay ra trong bữa tiệc ly với dòng chữ:
18



“CHÚC TỤNG THIÊN CHÚA ĐẾN MUÔN ĐỜI”. Mỗi năm, đến lễ Giáng Sinh, hàng
ngàn con chiên đến dự lễ cũng như khách tham quan đông nghẹt trước và trong nhà
thờ.

Hình 3:Bên trong nhà thờ
Với những đường nét thanh thoát, với đỉnh nhà thờ vươn thẳng lên trời, với hai
đường lượn phía trước tiền đường được xây bằng đá uốn cong xuống như hai vạt áo
dài lớn hoặc như chiếc khăn quàng khổng lồ ai vắt ngang trời, cùng với những chi tiết
kiến trúc đặc sắc khác, Nhà Thờ Phủ Cam tạo nên một không gian kiến trúc hoành
tráng, vừa gần gủi .
Có thể nói, nhà thờ Phủ Cam là một trong những tuyệt tác kiến trúc Công giáo
với thời gian xây dựng kỷ lục trong lịch sử xây dựng nhà thờ ở Việt Nam. Công trình
này cũng là một trong những nét son trong sự nghiệp của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ
bên cạnh các công trình nổi tiếng khác của ông như Dinh Độc Lập, Viện Nguyên tử Đà
Lạt… gợi cảm, vừa thánh thiện tôn nghiêm.
5. Khuôn viên
Khuôn viên của nhà thờ Phủ cam :mặt bằng xây dựng mang dạng thánh giá, đầu
hướng nam, đuôi hướng bắc. Nhà thờ có kết cấu theo kĩ thuật mới me, tân kì nhưng
phần trang trí vẫn theo nghệ thuật cổ điển của Phương tây. Các trụ đỡ được đúc sát vào
tường, chạy uốn cong dần về phía trước mềm mại. Bốn góc mỗi góc có ba trụ đỡ vươn
dần ra, tạo thành một không gian đủ rộng ôm kín cung thánh và bàn thờ. Phía trước
nhà thờ có hai tượng Đúc, bên phải là thánh Phêrô, bên trái thánh Phaolô cũng là
những bổn mạng của giáo xứ phủ cam. Nhà thờ có vườn hoa phía trước đất đào sâu
xuống với hai la thành chạy lượn lên cao dần, mềm mại, duyên dáng có 16 bậc cấp
19


bằng gạch ở phía trước tiền đường. Đặc biệt mặt tiền nhà thờ có một hệ thống cửa
chính và phụ được thiết kế theo kiểu kiến trúc Ngọ môn ở Hoàng thành Huế với 5 cửa,
3 cửa thẳng 2 cửa quanh, hai bên có 10 cửa phụ cho người ra vào.


20


6. Quá trình hoạt động
Trải qua 3 đời Tổng Giám Mục từ 1962 đến 2000:
-Trải qua 3 đời Giám Mục từ Đức Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục đến Tổng
Giám Mục Nguyễn Kim Điền và Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Như Thể, gần 40 năm
Nhà Thờ Chính Tòa Phủ Cam mới hoàn thành. Thật là một chuyện hy hữu trong thế
giới ngày nay khi mà kỹ thuật xây dựng của những thập niên của thế kỷ XX đã đạt đến
trình độ cao tốc hoàn hảo.
-Nhà thờ chính tòa Phủ Cam được xây cất từ thời Đức Giám Mục Eugene Marie
Allys (Đức Cha Lý, 1908-1931). Ngày 8-02-1960, Đức Thánh Cha Gioan XXIII ban săc
lệnh nâng Giáo Phận Huế lên hàng Tổng Giáo Phận và Đức Tổng Giám Mục Pheerro
Martino Ngô Đình Thục từ Vĩnh Long về nhận chức Tổng Giám Mục Huế (12-4-1961)
thì sau đó đã phá hủy toàn bộ nhà thờ Phủ Cam cũ và khởi công xây cất nhà thờ Chính
tòa mới với đò án do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thực hiện.
-Trong khi việc xây dựng đàn tiến hành thì xảy ra cuộc đảo chánh 1-11-1963,
Tổng thống Ngô Đình Diệm bị sát hại và Đức Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục lúc đó
đang họp công đồng tại Roma, vì hoàn cảnh chính trị không thể trở về Việt Nam nữa.
Sau đó, Tòa thánh đã cử Đức cha Philippe Nguyễn Kim Điền từ Cần Thơ ra Huế làm
Tổng Giám Mục Giám Quản Tổng Giáo Phận Huế. Năm 1968, Đức Tổng Giám Mục
Ngô Đình Thục Từ chức TGM Huế và Đức TGM Nguyễn Kim Điền chính thức lên
làm Tổng Giám Mục Huế.
-Trong Tết Mậu Thân 1968, bom đạn đã làm hư hại phần lớn công trình kiến thiết
nhà thờ này và việc xây dựng đã gặp nhiều trở ngại Mĩ cho đến 1975 vẫn chưa hoàn
thành. Sau ngày 30-4-1975, do hoàn cảnh đất nước, mọi công tác tại đây phải tạm
ngưng. Để kịp Thánh Hiến nhà thờ Chính tòa váo dịp kỷ niệm 150 năm thành lập Giáo
Phận Huế, Đức TGM Stephano Nguyễn Như Thể, bằng đủ mọi cách phải hoàn thành
trang trí bên trong nhà thờ và hai tháp chuông trước tiền đường.Công trình xây cất đã

hoàn thành 100% vào tháng 5-2000 và sẽ Thánh Hiến vào dịp Lễ Hai Thánh Pheero và
Phaolo và 29-6-2000 sắp đến.
-Tại Hải Ngoại, Hội Bảo Trợ Giáo Phận Huế sẽ tổ chức tại Trung Tâm Công
Giáo VN/Gp Orange vào ngày 6-8-2000 Lễ Đức Kính Đức Mẹ La Vang (nằm trong
tuần lễ Đức Mẹ Hồn và Xác Lên Trời) và kỷ niệm 150 năm thành lập Giáo Phận Huế.
Thánh lễ sẽ do các đấng tuộc Giáo Phận Huế đang phục vụ Giáo Hội tại Hải Ngoại
đồng tế, có phép lành Tòa Thánh vad Ơn Toàn Xá đặc biệt dành cho những ai tham dự
lễ này. Xin mời anh chị em giáo hữu đến thật đông đủ.
21


- Ngày 18 tháng 6 cũng là ngày gỗ thứ 12 của Đức TGM Nguyễn Kim Điền và
ngày 19-6 kỷ niệm 12 năm 117 vị tử Đạo Việt Nam đươc Đức Thánh Cha Gioa Phaolo
II tôn phong lên bậc hiển thánh.
Các ngày lễ Công Giáo:
-Từ rất sớm Giáo hội Công giáo đã xây dựng cho mình một hệ thống các luật lệ,
lễ nghi rất chi tiết, cụ thể và được thực hiện trên toàn thế giới. Cũng như vậy, để xây
dựng đức tin và nuôi dưỡng đức tin cho các tín hữu, Công giáo đã có rất nhiều ngày lễ
trong một năm, các ngày lễ trong Công giáo được tính theo ngày dương lịch.Mỗi ngày
lễ có ý nghĩa riêng và được thực hiện với những ghi thức khác nhau, có thể chia làm
hai loại khác nhau như:
**Các ngày lễ quan trọng:
Những ngày lễ trọng trong Công giáo được hiểu là những ngày lễ bắt buộc tín đồ
phải tham dự và giữ lễ:
-Lễ Thiên Chúa giáng sinh hay còn gọi là lễ Giáng sinh (Noel) vào ngày 25 tháng
12: đây là một trong những ngày lễ được coi là quan trọng nhất của những người Kitô
hữu, là ngày kỷ niệm Chúa Giêsu sinh ra tại Bethlehem thuộc Irael ngày nay, lúc bấy
giờ đang dưới quyền thống trị của Đế Quốc La Mã. Tuy nhiên, theo quan niệm của
mỗi nước thì có lễ kỷ niệm ngày Thiên Chúa giáng sinh khác nhau, có một số nước kỷ
niệm ngày Noel vào đêm ngày 24 tháng 12, bởi theo lịch Công giáo ngày mới bắt đầu

vào lúc hoàng hôn. Còn theo lịch Công giáo Rôma, lễ chính thức vào ngày 25 tháng 12
hay còn gọi là “lễ chính ngày”, còn lễ đêm 24 được gọi là “lễ vọng”.
Ngày nay, ở Việt Nam dù không chính thức nhưng Giáng sinh dần dần được coi
như ngày lễ không chỉ của riêng những người theo Kitô giáo (Công giáo và Tin Lành),
và được tổ chức vào đêm ngày 24 và sáng ngày 25 của tháng 12, thu hút rất nhiều tín đồ
theo Công giáo, Tin Lành và những người không theo đạo Ki tô giáo tham gia.
-Lễ phục sinh, kỷ niệm Chúa Giêsu sống lại, vào một ngày của tháng 4 (chủ nhật
đầu tiên sau ngày trăng tròn – Rằm của tháng sau xuân phân). Đây là lễ kỷ niệm ngày
Chúa Giêsu sống lại sau 3 ngày bị đóng đinh và chết trên cây thập giá. Theo luận giải
của giáo lý Ba ngôi trong Tân ước, Chúa Giêsu là con Thiên Chúa và là người, do đó
người có quyền năng phó mạng sống mình để cứu nhân loại cũng như phục hồi sự
sống ấy. Vì vậy, sau khi chết Chúa Giêsu đã sống lại, sự kiện này được đề cập trong
thuật ngữ Cơ Đốc là sự phục sinh của Chúa Giêsu, trở thành ngày lễ tôn giáo quan
trọng của người Ki tô hữu, được cử hành vào các Chủ nhật phục sinh.
22


Giáo thuyết Chúa Giêsu phục sinh nhấn mạnh Thiên Chúa là đấng phán xét cuối
cùng, nhưng sự kiện phục sinh không gì khác hơn là một biểu tượng tôn giáo về niềm
hi vọng, và có tác dụng nuôi dưỡng tâm linh .
-Lễ Chúa Giêsu lên trời, một số nơi còn gọi là lễ Thăng Thiên: là ngày lễ trọng
của người Kitô giáo, được diễn ra 40 ngày sau lễ phục sinh do đó ngày lễ Chúa Giêsu
lên trời luôn rơi vào ngày thứ năm, nhưng thường được rời vào ngày chủ nhật kế tiếp.
Theo Tân ước, khi Chúa Giêsu sống lại, ngài ở lại cùng các môn đệ trong 40 ngày, sau
đó lên trời để kết thúc sự hiện diện của ngài giữa loài người trần thế.
-Lễ Chúa Thánh thần hiện xuống (có một số nơi gọi là lễ Hiện xuống, Giáng
xuống, hạ trần, Lễ Ngũ Tuần ): đây là một ngày lễ trọng của người theo Công giáo
được cử hành vào ngày thứ năm mươi bắt đầu ngày lễ phục sinh, và sau mười ngày kể
từ ngày lễ Chúa Giêsu lên trời.
Người ta kỷ niệm ngày lễ này với ý nghĩa rằng đây là dịp Chúa Thánh thần hiện

xuống, ngày này người Ki tô giáo tin là mang đến những tín hiệu tốt lành về niềm tin
vào sự sống.
Lễ Đức bà Maria hồn và xác lên trời: đây là ngày lễ cổ xưa nhất trong các ngày lễ
kính Đức mẹ của người Ki tô giáo. Trong những thế kỷ đầu ngày lễ Đức bà hồn xác
lên trời được gọi là lễ Đức mẹ an giấc. Kể từ năm 1950 khi Giáo hoàng Piô XII định
tín việc Đức mẹ được cân nhắc về trời cả về trời cả hồn lẫn xác. Lễ Đức bà Maria hồn
và xác lên trời được cử hành vào ngày 15 tháng 8, nhưng theo truyền thống của Giáo
hội Phương Đông sẽ dành 15 ngày đầu của tháng để chuẩn bị cuộc lễ và 15 ngày cuối
để tạ ơn. Ở Việt Nam ngày lễ kỷ niệm Đức bà hồn và xác lên trời thường chỉ được tổ
chức trong ngày 15 tháng 8 mà thôi và được các tín hữu tham gia đông đảo.
- Lễ các Thánh, là một lễ trọng được tổ chức vào ngày 01 tháng 11 hàng năm.
Trong Ki tô giáo Tây phương hoặc chủ nhật đầu tiên sau Lễ Ngũ Tuần, trong Ki tô giáo
Phương Đông, nhằm tôn vinh tất cả các vị Thánh Kitô giáo đang hưởng phúc trên thiên
đàng. Ở nhiều quốc gia có truyền thống Công giáo Lễ các Thánh là một ngày lễ nghỉ.
Sáu lễ quan trọng nói trên là những ngày lễ bắt buộc phải giữ và dự lễ của những
người theo Kitô giáo nói chung, và các ngày lễ chủ nhật hàng tuần cũng là những ngày
lễ bắt buộc, tất cả các tín đồ phải nghỉ phần xác để tham dự.
Do là các lễ bắt buộc và theo quy định chung của Giáo hội công giáo, nên những
ngày có diễn ra các lễ này, thường có rất đông tín hữu tham gia để cũng cố đức tin, giữ
đạo, với mong muốn nhận được nhiều ân sủng. Do đó, theo quan điểm của tín hữu
Công giáo mỗi dịp lễ là một dịp để các tín hữu nhìn nhận, xét mình.
23


×