TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
TỪ THỊ TUYẾT TRINH
TIỂU THUYẾT LẶNG YÊN DƯỚI VỰC SÂU
CỦA ĐỖ BÍCH THÚY NHÌN TỪ
PHẠM TRÙ THẨM MỸ CÁI BI KỊCH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
HÀ NỘI - 2018
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
TỪ THỊ TUYẾT TRINH
TIỂU THUYẾT LẶNG YÊN DƯỚI VỰC SÂU
CỦA ĐỖ BÍCH THÚY NHÌN TỪ
PHẠM TRÙ THẨM MỸ CÁI BI KỊCH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN THỊ VÂN ANH
HÀ NỘI - 2018
LỜI CẢM ƠN
Tác giả khóa luận xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ Văn Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Lí luận văn
học đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận!
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với TS. Nguyễn Thị Vân Anh người đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập và
nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã giúp
đỡ, động viên, chia sẻ trong suốt thời gian tôi thực hiện khóa luận tốt nghiệp!
Hà Nội, Ngày 10 tháng 5 năm 2018
Tác giả khóa luận
Từ Thị Tuyết Trinh
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Tiểu thuyết Lặng yên dưới vực
sâu của Đỗ Bích Thúy nhìn từ phạm trù thẩm mỹ cái bi kịch” là công trình
nghiên cứu của riêng tôi. Kết quả nghiên cứu được trình bày trong khóa luận
là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào. Tác giả
khóa luận chịu trách nhiệm trước lời cam đoan trên.
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2018
Tác giả khóa luận
Từ Thị Tuyết Trinh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................................ 1
1. Lí do chọn đề tài ......................................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................................ 3
3. Mục tiêu, nhiệm vụ của khóa luận ........................................................................... 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................ 5
5. Phương pháp nghiên cứu........................................................................................... 5
6. Đóng góp của khóa luận............................................................................................ 5
7. Bố cục của khóa luận ................................................................................................. 5
NỘI DUNG.................................................................................................................... 7
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ CÁI BI KỊCH.......................................................... 7
1.1. Khái niệm cái bi kịch.............................................................................................. 7
1.2. Phân loại bi kịch...................................................................................................... 7
1.3. Đặc trưng thẩm mĩ của cái bi kịch ........................................................................ 9
1.4. Cái bi kịch trong văn học .....................................................................................14
Chƣơng 2: CÁC DẠNG THỨC BI KỊCH TRONG TIỂU THUYẾT LẶNG
YÊN DƯỚI VỰC SÂU ...............................................................................................16
2.1. Bi kịch từ hủ tục cướp vợ .....................................................................................16
2.2. Bi kịch bởi hoàn cảnh ...........................................................................................19
2.2.1. Cuộc sống nghèo khổ, thiếu túng .....................................................................19
2.2.2. Sinh ra đã kém may mắn...................................................................................22
2.3. Bi kịch của những khát vọng không thực hiện được.........................................28
2.3.1. Khát vọng yêu và được yêu ..............................................................................28
2.3.2. Khát vọng một cuộc hôn nhân hạnh phúc .......................................................31
2.4. Bi kịch của sự mông muội ...................................................................................36
2.4.1. Bi kịch do nhận thức lệch lạc về vấn đề giới tính ...........................................36
2.4.2. Bi kịch bởi mê tín dị đoan.................................................................................39
2.4.4. Bi kịch của hủ tục tảo hôn.................................................................................40
2.5. Bi kịch của kẻ bản năng .......................................................................................41
Chƣơng 3: Ý NGHĨA GIÁO DỤC THẨM MĨ TỪ CÁI BI KỊCH TRONG
LẶNG YÊN DƯỚI VỰC SÂU ..................................................................................46
3.1. Bồi đắp và phát triển ý thức thẩm mỹ .................................................................46
3.1.1. Trau dồi và phát triển tình cảm thẩm mỹ ........................................................46
3.1.2. Thỏa mãn và phát triển nhu cầu thẩm mỹ .......................................................49
3.1.3. Nâng cao thị hiếu thẩm mỹ ...............................................................................51
3.1.4. Định hướng và phát triển lý tưởng thẩm mỹ...................................................53
3.2. Bồi đắp các năng lực thẩm mỹ ............................................................................54
3.2.1. Phát triển năng lực nhận thức ...........................................................................54
3.2.2. Phát triển năng lực đánh giá thẩm mỹ .............................................................55
3.2.3. Phát triển năng lực sáng tạo thẩm mỹ ..............................................................56
KẾT LUẬN .................................................................................................................58
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Văn học Việt Nam hiện đại phát triển qua nhiều giai đoạn. Mỗi giai
đoạn để lại những thành tựu riêng. Văn học thời kì đổi mới, hòa trong công
cuộc đổi mới đất nước, đã có những đổi mới về tư duy nghệ thuật, đạt được
những thành tựu bước đầu. Trên con đường đổi mới văn học ấy, đặc biệt là
đổi mới về đề tài, Đỗ Bích Thúy là một trong những tác giả đặt chân nhiều
nhất về đề tài miền núi, gặt hái nhiều thành công bằng cái nhìn mới mẻ và để
lại những dấu ấn trong lòng người đọc.Tính đến nay, nhà văn Đỗ Bích Thúy
đã sở hữu gia tài 13 tập sách phong phú về thể loại: Truyện ngắn, tiểu thuyết,
tản văn… Cùng nhiều giải thưởng giá trị: Giải Nhất truyện ngắn Văn nghệ
quân đội 1999; Giải Nhất tiểu thuyết Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc
thiểu số Việt Nam 2013; Giải Nhất Văn học Nghệ thuật Thủ đô 2014. Trong
số những sáng tác thành công đó, những cuốn tiểu thuyết của nữ nhà văn
thành công hơn cả. Đọc những tiểu thuyết ấy của Đỗ Bích Thúy, qua giọng kể
khi hài hước bông lơn, khi xót xa thương cảm, khi khắc khoải yêu thương, khi
chìm sâu trong suy ngẫm, triết lý của nhà văn, người đọc không khỏi băn
khoăn trước số phận con người, trước tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc của con
người. Tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu là cuốn tiểu thuyết thứ năm và
cuốn sách thứ 17 của Đỗ Bích Thúy nhưng Lặng yên dưới vực sâu ngay khi
mới ra đời đã gây được tiếng vang mạnh mẽ trong giới văn chương và chuyển
thể thành phim sau hai truyện ngắn xuất sắc Tiếng đàn môi sau bờ rào
đá và Sau những mùa trăng. Lặng yên dưới vực sâu vốn là một truyện dài
được đăng nhiều kỳ trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội cách đây vài năm. Đây
là câu chuyện về một cộng đồng thiểu số gai góc, dữ đội, đầy rẫy bất hạnh
nhưng luôn kiêu hãnh làm người.
1
Từ nền văn học mang cảm hứng sử thi, văn học đã chuyển sự quan tâm
chủ yếu sang vấn đề thời sự và đời tư. Sự thức tỉnh ý thức cá nhân đã mở ra
cho văn học nhiều đề tài và chủ đề mới mẻ. Thời kì này, văn học đã đi tới một
quan niệm toàn vẹn sâu sắc về con người, về những suy nghĩ trăn trở trước
cuộc sống. Con người vừa là xuất phát điểm, là đối tượng khám phá chủ yếu,
vừa là cái đích cuối cùng của văn học. Con người trong văn học hôm nay
khác với con người trong văn học trước đây, vì nó được nhìn ở nhiều vị thế, ở
mối quan hệ đa chiều: con người với xã hội, con người với gia đình, và với
chính mình, bên cạnh đó mặt trái của cơ chế thị trường với bao ngổn ngang,
hỗn độn đã đẩy cuộc sống, số phận của con người đến trước những bi kịch
không ai giống ai. Đây là những vấn đề cần nghiên cứu một cách toàn diện và
sâu sắc.
Đỗ Bích Thúy là một trong những nhà văn khai thác một cách toàn diện
và sâu sắc về những bi kịch của con người trên những vùng núi cao. Ngay từ
những sáng tác đầu tay, Đỗ Bích Thúy đã rất thành công, thể hiện sâu sắc
trong nhiều tác phẩm của mình là bi kịch trong tình yêu và hôn nhân, bi kịch
hoàn cảnh, bi kịch của những khát vọng không thực hiện được hay bi kịch của
sự mông muội...
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Lặng yên dưới
vực sâu của Đỗ Bích Thúy nhìn từ phạm trù thẩm mĩ cái bi kịch”. Có thể nói,
đây là một hướng tiếp cận mới đối với tác phẩm này đồng thời cũng hứa hẹn
mang lại kết quả nghiên cứu thực sự có ý nghĩa. Sở dĩ như vậy là bởi, mối
quan hệ giữa văn học với hiện thực là mối quan hệ thẩm mĩ. Văn học tác động
đến cộng đồng văn hóa bằng con đường thẩm mĩ. Do đó, tiếp nhận văn học từ
các phạm trù thẩm mĩ là một phương thức tiếp nhận, lí giải văn học mang cả ý
nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn. Chúng tôi hy vọng, qua góc nhìn này, Lặng
yên dưới vực sâu của Đỗ Bích Thúy sẽ có thêm một diện mạo mới, góp phần
làm phong phú thêm đời sống văn học đương đại Việt Nam.
2
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhìn chung, các bài viết về tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu mới chủ
yếu được in trên các bài báo, các tạp chí, trên các diễn đàn và báo mạng như:
Bài viết “Lặng yên dưới vực sâu - Bi kịch hôn nhân không tình yêu” trên tờ
báo mạng www.vanhocquenha.vn. Ở bài viết này, tác giả khái quát về mối
tình tay ba của ba nhân vật Vừ, Súa, Phống với hành động cướp vợ của Phống
đã dẫn đến một cuộc hôn nhân không có tình yêu. Hay trên trang báo Thế giới
điện ảnh của tác giả Kim Anh đã có đăng tải một bài viết “Lặng yên dưới vực
sâu: Bi kịch tình yêu trên cao nguyên đá”. Bài viết tóm gọn một cách khái
quát về nội dung của tiểu thuyết, trong đó có nêu bật được mối tình đẹp giữa
Vừ và Súa trên cao nguyên đá. Họ yêu nhau nhưng không đến được với nhau.
Chuyện tình đó tuy đẹp nhưng đầy bi kịch. Hay một bài viết trên diễn đàn
Dân trí Việt Nam của tác giả Hà Tùng Long có tựa đề: “Những biến tướng
của tục bắt vợ”. Bài viết xoay quanh về phong tục của dân tộc vùng cao “bắt
vợ” vốn dĩ nó là nét văn hóa đẹp nhưng một số người lợi dụng nét đẹp đó để
đạt những mục đích không lành mạnh. Tác giả cũng dẫn dắt phong tục ấy để
đưa vào tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu: “Tình yêu của đôi trai tài gái sắc
người H’Mông này bị ngăn trở bởi nhà Vừ nghèo, không có tiền cưới vợ. Còn
Súa - bị Phống- một thanh niên nhà giàu lêu lổng cướp về làm vợ”. Hay một
bài viết ở báo Tuổi trẻ online của tác giả Hoàng Thu Phố có giới thiệu đôi nét
về tiểu thuyết: “Sau Chúa đất, nhà văn Đỗ Bích Thúy vừa ra mắt tiểu thuyết
Lặng yên dưới vực sâu. Hơn 200 trang sách dẫn người đọc dõi theo câu
chuyện của những chàng trai, cô gái Mông ở U Khố Sủ của mảnh đất địa đầu
Tổ quốc: Hà Giang”. Bên cạnh các bài viết được đăng tải trên các bài báo
mạng, các diễn đàn thì còn có một số nhận định của các nhà phê bình viết về
tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu. Theo nhà văn Phạm Ngọc Tiến, đó là “một
câu chuyện hấp dẫn, lạ lẫm, đầy hình ảnh về người Mông lạ kỳ, kiêu hãnh.
Viết được như Đỗ Bích Thúy về dân tộc Mông giờ hiếm người theo kịp”. Hay
3
lời nhận định của nhà phê bình Nguyễn Hải Nam: “Xung đột trong tác phẩm
khởi đi từ một vụ cướp vợ. Nhưng tác giả không có ý lên án, phá bỏ một cổ
tục. Chị chỉ mượn nó như cái cớ để nói về những quẩn quanh bế tắc mang
tính phổ quát của thanh niên nam nữ người miền núi. Lặng yên dưới vực sâu,
đó là một nỗ lực “giải miền núi” trong cái viết của chính tác giả đã thành danh
ở mảng đề tài này.” Hay nhà phê bình Phùng Gia Thế đã nhận định: “Một thế
giới nhân vật ám ảnh, một cộng đồng thiểu số gai góc, dữ dội, đầy rẫy bất
hạnh khổ đau nhưng luôn kiêu hãnh làm người. Lặng yên dưới vực sâu như
một điệu khèn hoang dã, u sầu nhưng chất chứa khát khao yêu thương nhân
bản.” Đa số các bài viết về tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu chưa thực sự
phong phú về số lượng và chiều sâu về mức độ khảo sát. Các bài viết mới chỉ
nghiên cứu nhìn nhận một cách tổng quát tiểu thuyết mà chưa có công trình
nghiên nào đi sâu vào các bi kịch của tác phẩm, nhìn nhận tiểu thuyết từ phạm
trù thẩm mỹ của cái bi kịch. Do vậy, tôi mạnh dạn đặt bút nghiên cứu về
mảng đề tài này, hi vọng sẽ mở ra một hướng tiếp cận mới cho tác phẩm.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ của khóa luận
3.1. Mục tiêu của khóa luận
Mục đích nghiên cứu chủ yếu của khóa luận được tác giả xác định như sau:
- Chỉ ra các dạng thức bi kịch trong tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu
của Đỗ Bích Thúy.
- Trên cơ sở phân tích, khái quát các kiểu loại bi kịch trong tiểu thuyết
Lặng yên dưới vực sâu, chúng tôi nêu lên ý nghĩa giáo dục thẩm mĩ của tác
phẩm đối với người đọc.
3.2. Nhiệm vụ của khóa luận
- Xác định các vấn đề lí thuyết nền tảng về phạm thẩm mĩ cái bi kịch,
xem đó như là công cụ quan trọng giúp tác giả khóa luận giải quyết vấn đề đặt
ra trong đề tài nghiên cứu.
4
- Vận dụng lý thuyết mỹ học về cái bi kịch vào việc phân tích, lí giải
tác phẩm nói trên nhằm thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là phạm trù thẩm mĩ cái bi kịch
được nhà văn kiến tạo thông qua thế giới nhân vật trong tác phẩm Lặng yên
dưới vực sâu.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu chính của khóa luận là tập trung khảo sát tiểu
thuyết Lặng yên dưới vực sâu của Đỗ Bích Thúy. Bên cạnh đó, chúng tôi
cũng bao quát thêm một số tác phẩm văn học hiện đại khác, phục vụ cho thao
tác so sánh nhằm làm nổi bật vấn đề nghiên cứu ở một phương diện nào đó.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp phân tích đối tượng theo quan điểm hệ thống.
- Phương pháp đối chiếu, so sánh.
- Vận dụng kiến thức mỹ học, đặc biệt là lí thuyết về phạm trù thẩm mỹ
cái bi kịch để phân tích, lí giải tác phẩm Lặng yên dưới vực sâu.
6. Đóng góp của khóa luận
Đề tài nghiên cứu đi sâu khám phá tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu
từ phương diện phạm trù thẩm mỹ cái bi kịch. Qua đó, chúng tôi mong muốn
góp thêm một cách đọc, một lối diễn giải mới về tác phẩm. Từ đó, chỉ ra các
dạng thức bi kịch đồng thời nêu lên ý nghĩa giáo dục thẩm mỹ của tác phẩm
đối với đời sống.
7. Bố cục của khóa luận
Khóa luận bao gồm các phần: mở đầu, nội dung và kết luận.
Phần nội dung của khóa luận được chia thành ba chương:
5
Chương 1: Khái quát về cái bi kịch
Chương 2: Các dạng thức bi kịch trong Lặng yên dưới vực sâu.
Chương 3: Ý nghĩa giáo dục thẩm mỹ từ phạm trù cái bi kịch trong tiểu
thuyết Lặng yên dưới vực sâu.
6
NỘI DUNG
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ CÁI BI KỊCH
1.1. Khái niệm cái bi kịch
Cái bi trong tiếng Anh là the tragic, tiếng Pháp là La tragicque, tiếng
Đức là Das Tragisch, đều có nghĩa là cái chết, nỗi thống khổ.[23]
Cái bi là phạm trù mỹ học cơ bản chỉ sự thất bại hay cái chết của cái
đẹp trong cuộc đấu tranh không khoan nhượng với lực lượng đối lập; là thắng
lợi của lực lượng phản động, lạc hậu trước các lực lượng cách mạng, tiến bộ;
là những hy sinh, tổn thất mà phía cách mạng phải gánh chịu trong cuộc đấu
tranh với giai cấp lạc hậu. [12, tr.13]
1.2. Phân loại bi kịch
Theo các nhà Mỹ học, bi kịch được chia thành các loại chủ yếu sau đây:
1.2.1. Bi kịch cái mới trong thế yếu
Ðây là loại bi kịch có tính chất lịch sử. “Bản chất thẩm mĩ của cái bi
trong loại bi kịch này là sự xung đột giữa yêu cầu tất yếu về mặt lịch sử và
tình trạng không thể thực hiện được trong thực tế” (C. Mác). Cái mới, cái
cách mạng đang trong thế yếu, chết, hoặc thất bại. Nhân vật của cái bi này
chết một cách vĩ đại vì họ đang đại diện cho trào lưu lịch sử. Họ trở nên anh
hùng vì động cơ, hành động, do trách nhiệm trước lịch sử. Lịch sử mãi mãi ca
ngợi sự thất bại của nghĩa quân Yên Thế với cái chết của Hoàng Hoa Thám.
Hoặc lịch sử sẽ ghi nhớ mãi mãi Phạm Hồng Thái với tiếng bom Sa Ðiện.
1.2.2. Bi kịch của cái mới trong hoàn cảnh trớ trêu
Ðây cũng là cái bi lịch sử, bi kịch lịch sử. Cái mới cách mạng đã ở thế
thắng trên toàn cục. Nhưng một bộ phận nào đó lâm vào hoàn cảnh trớ trêu,
khiến người anh hùng sa cơ. Chẳng hạn, Chiến bại, Ðội cận vệ thanh niên của
Phađêép; Hùng & Rin trong Bài ca con chim Chơrao; Võ Thị Sáu trong Mùa
hoa lêkima...
7
1.2.3. Bi kịch sự lầm lạc của cái cũ
Cái cũ muốn trở thành cái bi, theo Mác, phải xét theo 3 tiêu chí: 1, Cái
cũ chưa mất hết vai trò lịch sử, chưa trở thành cái xấu. 2, Bản thân cái cũ còn
tin vào tính chất hợp lý của mình. 3, Những con người đứng về phía chế độ cũ
không phải là sự lầm lạc có tính chất cá nhân, mà là sự lầm lạc có tính chất
lịch sử toàn thế giới. Chính vì vậy, cái chết của nó là bi kịch (Mác). Bản chất
cái bi của sự lầm lạc của cái cũ là do chưa nhận ra được tính tất yếu về mặt
lịch sử. Chẳng hạn, Ðônkihôtê. Ông ta có lý tưởng nhưng lý tưởng lạc hậu,
đấu tranh cho lí tưởng nhưng không ý thức được rõ ràng nó mà chỉ hành động
theo thói quen. Nhưng người như Ðônkihôtê thất bại là tất yếu. Vì, đơn
phương độc mã. Sự thất bại của vua Duy Tân và việc bị Pháp bắt đày đến trọn
đời, cũng là một ví dụ.
1.2.4. Bi kịch của cái xấu
Ðây là bi kịch của chính tội ác, chứ không phải bi kịch của cái đẹp, cái
tốt hay sự lầm lạc. Ở đây người ta không lấy nước mắt răn đời, không lấy xót
thương làm luyến tiếc. Mà lấy sự khủng khiếp để nhắc nhở con người chớ làm
điều khủng khiếp. Aristốt nói về đặc trưng thẩm mĩ của loại bi kịch này: Bi
kịch làm trong sạch hóa những cảm xúc tương tự qua cách khêu gợi sự
thương xót và khủng khiếp. Chẳng hạn bi kịch của cái xấu qua vở kịch
Macbét. Ở bi kịch này, lòng tham và tội ác bị trừng trị. Ðây là một bi kịch
chính trị- xã hội. Tác giả lên án chế độ tập quyền chuyên chế triều Giêm I, tên
vua bạo tàn Anh quốc đầu TK XVII.
1.2.5. Bi kịch của sự lầm lạc, kém hiểu biết, ngu dốt
Bi kịch này được nêu ra như là bài học xương máu trên đường đời để
nhắc nhở cảnh tỉnh. Bi kịch về sự kém hiểu biết liên quan đến sự ngu dốt của
con người. Sự ngu dốt là con quỷ mà chúng ta e rằng nó còn gây ra nhiều bi
kịch. Chẳng hạn, câu chuyện An Dương Vương; bi kịch Othello; bi kịch Êđíp
làm vua; Truyện Người con gái Nam Xương.
8
Thuộc về cái bi này còn có bi kịch do tai nạn, sức mạnh mù quáng của
tự nhiên. Ví dụ, cái chết của người đi thám hiểm.
1.2.6. Bi kịch của những khát vọng cá nhân chính đáng
Ðây là bi kịch những nỗi đau đời thường tình (lẽ sống, tình yêu, sứ
mệnh con người, nói chung). Ở bi kịch này, xung đột gay gắt giữa khát vọng
chính đáng của con người và khả năng của bản thân không thể thực hiện
được. Ví dụ bi kịch của Thị Kính trong chèo Quan âm Thị Kính; của Maxlôva
trong tiểu thuyết Phục sinh của L.Tônxtôi, của Thúy Kiều trong Truyện Kiều
của Nguyễn Du...
1.3. Đặc trƣng thẩm mĩ của cái bi kịch
1.3.1. Cái bi là sự xung đột giữa yêu cầu tất yếu về mặt lịch sử với
việc không đủ khả năng thực hiện được yêu cầu đó trong thực tiễn
Bản chất thẩm mĩ của cái bi là sự xung đột dẫn đến mất mát đau
thương. Song, không phải mọi sự xung đột dẫn đến mất mát đau thương đều
là cái bi. Cơ sở để xem xét việc nảy sinh cái bi là sự xung đột giữa yêu cầu tất
yếu về mặt lịch sử với việc không đủ khả năng thực hiện được yêu cầu đó
trong thực tiễn (C. Mác). Như vậy, những xung đột thông thường của đời
sống không phải cơ sở nảy sinh cái bi. Chẳng hạn, những xung đột giữa
những anh chàng nghiện rượu, tranh giành đất đai để rồi chém giết nhau. Do
đó, những chết chóc đau khổ thường tình không nằm trong phạm trù cái bi
của mỹ học. Nghệ sĩ Anh thế kỷ XIX, John Ruskin phân biệt: “Thơ chỉ có thể
lên tiếng với nỗi buồn của cô gái khóc cho tình yêu trong trắng bị tan vỡ, chứ
không thể viết về giọt nước mắt của kẻ hà tiện đánh mất tiền”. Ở đây có hai
loại nước mắt, nước mắt cúa cái bi (nước mắt của cô gái) và nước mắt của cái
hài (nước mắt của anh chàng hà tiện). Chỉ thuộc về cái bi những hy sinh tổn
thất có ý nghĩa xã hội mang tính quy luật trong sự phát triển lịch sử.
Bi kịch cá nhân xảy ra trong tình yêu, trong gia đình, ngoài xã hội cũng
có thể là cái bi, nếu đằng sau nó cũng chứa những xung đột xã hội, mang tầm
9
vóc lịch sử. Chẳng hạn bi kịch số phận Chí Phèo (trong Chí Phèo), Hămlét
(trong Hămlét), Mácbet (trong Mácbét), Lỗ Thị Phượng (trong Lôi vũ)... Các
bi kịch xã hội như thoái trào cách mạng, tổn thất lớn lao của cuộc chiến đấu
của quần chúng cách mạng cũng thuộc về cái bi. Chẳng hạn, phong trào Công
xã Pari, 1871 ở Pháp.
1.3.2. Bi kịch làm trong sạch hóa những cảm xúc
Bi kịch có tác dụng to lớn trong việc thanh khiết hóa tâm hồn con
người. Aristốt, nhà triết học, mĩ học thời Hy Lạp cổ đại cho rằng: Bi kịch là sự
bắt chước các hành động nghiêm túc và cao thượng, hành động này có một quy
mô nhất định, Bi kịch nhằm miêu tả những con người tốt nhất. Nhân vật và lực
lượng bi kịch có sức mạnh lớn lao, có ý chí mạnh mẽ, có lý tưởng đẹp đẽ, có
khát vọng chân chính. Nhân vật bi kịch thất bại thậm chí bị tiêu diệt. Nhưng
đặc trưng thẩm mĩ của cái bi lại không bi. Aristốt cũng đã từng khẳng định: “Bi
kịch làm trong sạch hóa những cảm xúc thông qua sự khêu gợi sự xót thương
và khủng khiếp. Cảm xúc thẩm mĩ đối với cái bi vẫn là tình cảm tích cực, vẫn
là vui, phấn chấn... Chứ không phải là cảm xúc bi quan, tiêu cực”.
Mỹ học tôn giáo nhấn mạnh tính chất công bằng của việc trừng phạt
con người và những tội lỗi muốn mưu toan chống lại thế giới. Cách giải thích
này tạo ra ở con người trạng thái nhẫn nhục, chịu đựng, phục tùng số mệnh,
định mệnh. Mỹ học tư sản quan niệm cái bi như là sự bi đát của con người
trước cuộc đời; như là sự xung đột vĩnh hằng giữa thân phận nhỏ nhoi của con
người và sự vĩnh hằng bất tận của tạo hóa. Mĩ học phong kiến phương Ðông,
cũng bị chi phối khá nặng nề của tư tưởng định mệnh. Ôn Như Hầu Nguyễn
Gia Thiều từng giải thích về tiếng khóc chào đời của con người lúc sơ sinh:
Thảo nào khi mới chôn rau
Ðã mang tiếng khóc ban đầu mà ra
Thực ra, xung đột bi kịch dấy lên ở con người những rung động thẩm
mĩ sâu sắc. Nó khơi dậy ở con người tình cảm cao cả, lành mạnh, kích thích
10
những hành động mãnh liệt, thúc đẩy con người đấu tranh vì hạnh phúc, tôi
luyện con người.
1.3.3. Cảm xúc thẩm mĩ của cái bi là cảm xúc vui
Tại sao cảm xúc thẩm mĩ trong bi kịch lại là cảm xúc vui? Khi nhìn
những diễn viên trình diễn những bi kịch, ta nhỏ lệ biểu lộ sự đồng tình hay
lòng trắc ẩn, mà mặt mày như tươi tỉnh sáng lạn, tâm tư dàn trải thoải mái.
Máu và nước mắt thường đem lại cho ta những ý nghĩ ngọt ngào tươi mát hơn
là những nụ cười hoan hỉ. Vậy cảm xúc vui tươi trong bi kịch do đâu mà có?
Phương Tây có nhiều cách giải thích khác nhau.
Platon, với quan điểm của mình là xuất phát điểm cho thuyết Vui cười
trước tai họa của thiên hạ, ông cho rằng nỗi sầu muộn là những đức tính yếu kém
của con người, cần phải vứt bỏ. Ấy vậy mà bi kịch lại kích thích nó lên. Như thế
là không đạo đức. J. J. Rousseau tiếp tục thuyết này, cho rằng bi kịch là biểu lộ
niềm hân hoan khoái lạc trước tai họa. Cho nên, ông khuyến cáo người ta chớ
nên mở kịch trường. Sau này E. Faguet khai triển tư tưởng của J. J. Rousseau,
cho rằng: con người là một mãnh thú, tìm khóai lạc trước đau khổ của kẻ khác.
Ông chứng minh điều đó ơ: những cuộc thi đấu giữa người và thú trong thời
Lamã; những cuộc đấu bò rừng ở Tâyban nha, những vụ hành hình tàn khốc đối
với kẻ khác tôn giáo thời Trung cổ; người ta thích đọc báo về những tin tức các
vụ đâm chém nhau... Thực ra, nếu đúng như vậy thì việc gì phải bỏ tiền ra xem
những cảnh tưởng tượng mà không tìm đến những cảnh thực.
E. Burker (Anh quốc thế kỉ XVIII) đưa ra thuyết ngược lại với thuyết
tính ác, là thuyết tính thiện. Cảm giác vui trong bi kịch là do lòng trắc ẩn, hay
đồng tình tâm. Chính những sự rủi ro bất hạnh ấy cũng khiến ta cảm thấy
khoan khoái. Con người ta thích pháp trường hơn kịch trường. Nghĩa là,
chúng ta thương xót cho Hămlét, nên rất vui khi thấy nhân vật này chết một
cách bi thảm.
11
Dubos (Pháp quốc, thế kỉ XVII), Thomas (đại học Colombia) lại giải
thích bằng nguyên nhân tâm lí. Theo họ, bản tính con người vốn hiếu
động, thích những cảm giác mạnh. Sự kích thích càng mạnh thì cảm xúc vui
càng đậm. Bi kịch là liều thuốc công hiệu giúp con người vui. Bi kịch lấy chết
chóc làm đề tài. Mà, chết là tai họa khủng khiếp. Do đó, bi kịch là đá nam
châm mạnh nhất gây kích động cho óc tưởng tượng. Nhưng thế thì, tại sao tai
họa thực ngoài đời không làm cho con người thích. Nhưng tai họa tưởng
tượng trong nghệ thuật lại làm người ta thích. Fontenelle cho rằng khoái lạc
và đau khổ tuy khác nhau nhưng nguyên nhân chỉ là một. Giống như sự gãi
cào ngoài da, gãi cào mạnh thì đau, nhẹ thì thích thú. Bi kịch là đem những sự
đau khổ thực lên sân khấu. Tuy đó là thực tại, nhưng lại không phải là thực
tại. Những cảm giác đau khổ khi đứng trước những nạn nhân vô cớ bị tai họa
giảm bớt đi, thành ra những nỗi vui thích.
Schiller & Hegel (Ðức quốc thế kỉ XVIII) dùng quan điểm triết học để
giải thích. Sự xung đột vũ trụ là điều tất yếu. Có xung đột thì có đấu tranh,
đấu tranh mới có ý thức đạo đức, có ý thức đạo đức mới tìm thấy khoái lạc.
Nguồn vui lớn nhất sẽ đạt được từ sự phấn đấu cam go với nghịch
cảnh, trong đó chứa đựng đau khổ. Vũ trụ là một khối lý tính vừa xung đột,
vừa hài hòa. Ví dụ sự xung đột của con người vừa muốn làm trung thần, vừa
muốn làm người con hiếu thảo. Mâu thuẫn này không thể dung hoà, trở thành
bi kịch. Ðứng trên quan điểm vũ trụ thì bi kịch là luật của tạo hóa, là công lý
vĩnh cửu. Khi xem kịch ta thấy được tính chất công lý vĩnh cửu, do đó ta
khoái. Những người này viện dẫn vở bi kịch Ăngtigôn của Sôphốcl: Polinice
con của quốc vương xứ Thèbes sau khi cha chết, mượn lính nước địch để
giành ngôi vua. Tân vương Créon giết kẻ phản bội, cho cho phơi thây, cấm
mai táng. Antigon, em ruột của Polinice, cháu ruột Créon không nỡ nhìn thi
hài anh ruột phơi, nên tìm cách che đậy. Nàng đính hôn với con trai Creon là
12
Hemon. Antigon bi xử chém. Hemon tự treo cổ cho vẹn tình. Theo Hegel,
Créon đại diện cho lý tưởng pháp luật, Antigon đại diện cho lí tưởng anh em.
Hai lý tưởng đều chính đáng nhưng trên quan điểm vũ trụ thì mâu thuẫn.
Schopenhauer lại cho rằng đời là bể khổ, con người ngụp lặn trong tai họa
nghiệp chướng nhưng không chịu khước từ bởi doý dục sinh tồn kiềm chế. Bi
kịch dạy cho con người biết ý thức tất cả đều hư không để thoạt nhiên đại
ngộ. Nhân vật bi kịch khác người ta ở chỗ biết rõ tình thế mà buông tay đầu
hàng, biết khước từ. (Còn ta bị dục vọng kìm hãm). Nhưng chính khước từ là
thắng lợi. Quả là nhiều nhân vật bi kịch trước khi hấp hối đã khước từ. Nhưng
không phải mọi nhân vật bi kịch đều khước từ. Macbeth chết than trời,
Othello trong khi tự sát cũng hận người (không khước từ). Triết gia Ðức thế
kỉ XIX, Nietzsche cho rằng thế giới đầy tai họa nghiệp chướng nhưng nếu ta
vứt bỏ được những ràng buộc, bủa vây của thế giới thực tại đầy hẹp hòi để
đứng trên cao nhìn lại, thì lại thấy nó là một bức tranh kỳ vĩ, đẹp lạ lùng.
Cũng như Thượng đế sau khi sáng tạo ra vũ trụ, tự mình nhìn lại, nó như một
tác phẩm nghệ thuật.
Freud với lí luận về mặc cảm Oedipus, cho rằng văn minh là cái vỏ che
đậy tâm địa dã man của con người. Tâm địa chứa chất dục vọng, mà mãnh liệt
nhất là tính dục. Nhưng dục vọng và đạo đức, pháp luật mâu thuẫn dẫn đến
dục vọng bị dồn ép thành mặc cảm. Mặc cảm không phát tiết được có thể phát
sinh bệnh thần kinh hay thác loạn. Có lúc dục vọng có thể hóa trang để có thể
vượt khỏi sự kiểm soát của ý thức. Bi kịch là một hiện tượng, một biểu hiện.
Mặc cảm này được gọi mặc cảm Oedipus. Mỗi người đều có mặc cảm
Oedipus. Khi xem vở kịch này dục vọng ta được thỏa mãn một cách gián tiếp,
cho nên ta phát sinh niềm vui trong khi xem kịch.
Tất cả những kiến giải vừa nêu đều không giả thích được một cách
đúng đắn nguyên nhân cái vui trong bi kịch. Vậy nguyên nhân đúng đắn là ở
13
đâu? Bi kịch là một thứ tác phẩm nghệ thuật, xem bi kịch là một thứ kinh
nghiệm mĩ cảm. Kinh nghiệm mĩ cảm xuất hiện khi ta trực giác hình tướng sự
vật. Trong lúc thưởng ngoạn ta quên hẳn lợi hại của thực tế mà đứng ở địa vị
khách quan để quan sát, coi vũ trụ và đời sống là một bức tranh. Tai họa thực
trong đời sống khiến ta thương xót và lo sợ, nhưng tai họa trong kịch, sau
giây phút lo sợ là nguồn vui. Sở dĩ như vậy là vì, khoảng cách tâm ly.ï Giữa
người xem và những cảnh trên sân khấu có một khoảng cách không quá xa,
không quá gần. Không quá xa, để thấy rằng sự kiện trên sân khấu là hợp lý,
hợp tình. Không quá gần, để xem không ngộ nhận bi kịch trên sân khấu là
cuộc sống thực tế. Phàm bi kịch chân chính thì không được tả thực. Phàm
khán giả kịch chân chính thì không cho tình cảm thực dụng xen lấn vào mĩ
cảm. Những tình cảm phát tán trong bi kịch khác tình cảm phát tiết trong thực
tế. Trong tâm tư khán giả, thế giới kịch là biệt lập, không liên can đến lợi hại
thực tế. Khi thưởng ngoạn kịch, khán giả hội tụ tinh thần, bị sức lôi cuốn của
sân khấu, do đó cũng sống hăng say, cũng hoạt động phát tán tình cảm.
Nhưng phát tán này kèm theo sự sảng khoái, khác kinh nghiệm thường nhật là
đèo bòng phiền lụy, bực bội, lo âu.
Hơn nữa, cảm xúc vui trong bi kịch, xuất phát từ chỗ, không phải cái
chất, hay sự thất bại của con người. Mà là, ở chỗ con người dám chấp nhận
thất bại, dám hi sinh vì những lí tưởng cao cả.
1.4. Cái bi kịch trong văn học
Cái bi tạo ra một cảm xúc thẩm mĩ phức hợp bao hàm cả nỗi xót đau,
niềm hân hoan lẫn nỗi sợ hãi khủng khiếp. Cái bi thường đi liền với nỗi đau
và cái chết, song bản thân nỗi đau và cái chết chưa phải là cái bi. Chúng chỉ
trở thành cái bi khi hướng tới và khẳng định cái bất tử về mặt tinh thần của
con người. Cái bi là cơ sở quy định đặc trưng của xung đột nghệ thuật trong
thể loại bi kịch. Đó là loại xung đột được tạo nên bởi hành động tự do của
14
nhân vật trong việc thực hiện cái tất yếu mà nó tự thấy trước là không tránh
khỏi bị giết chết như nhân vật trong bi kịch anh hùng hoặc không thấy trước
như trong bi kịch về sự lầm lạc.
Bi kịch, về bản chất ca ngợi, khẳng định sự bất tử của con người và
phát hiện những phẩm chất cao đẹp, anh hùng của nó. Hê-ghen cho rằng,
trong bi kịch cái chết không chỉ là sự hủy diệt. Nó còn có nghĩa là sự bảo tồn
dưới hình thức biến dạng cái mà trong hình thức có sẵn cần phải bị tiêu vong.
Ăng-ghen thì cho rằng cội nguồn của cái bi là “xung đột giữa đòi hỏi tất yếu
về mặt lịch sử với tình trạng không thể thực hiện được nó trong thực tiễn”.
Trong văn học - nghệ thuật, cái bi qua mỗi thời đại vừa không thay đổi
(ví dụ cảm hứng duy nhất về mặt loại hình), lại vừa dễ thay đổi (về mặt bản
chất xã hội - lịch sử thể hiện ở tính chất, hình thái xung đột).
Chẳng hạn trong bi kịch của Sếch-xpia, cái bi là cái xung đột giữa ý
thức cá nhân của con người với thời đại và thiết chế xã hội cũng như chính
bản thân mình. Còn trong bi kịch của chủ nghĩa cổ điển thì nó lại là xung đột
giữa dục vọng, khát vọng cá nhân với tinh thần nghĩa vụ quốc gia.
Trong văn học - nghệ thuật ngày nay, cái bi được khám phá và thể hiện
trên nhiều khía cạnh và từ trong cội nguồn lịch sử - xã hội của nó. Ở đây, cái
bất tử của nhân vật được thực hiện trong cái bất tử của nhân dân, vì thế cái bi
mang tính chất lạc quan lịch sử.
15
Chƣơng 2: CÁC DẠNG THỨC BI KỊCH
TRONG TIỂU THUYẾT LẶNG YÊN DƯỚI VỰC SÂU
Trong cuộc sống, ẩn chứa muôn vàn những điều hay, những điều tốt
đẹp. Nhưng song song với nó lại là những điều tồi tệ, những bi ai, sầu muộn.
Cũng giống như một bức tranh cuộc sống, có mảng tối, mảng sáng, có những
mảng loang lổ cả sáng cả tối, nó tạo nên bức tranh cuộc sống muôn màu
muôn vẻ. Có tốt, có xấu, có vui, có hạnh phúc, có bi kịch. Con người trong
bức tranh cuộc sống cũng không tránh khỏi những lẽ tự nhiên ấy, khi con
người tác động vào lẽ tự nhiên cũng tạo nên bi kịch. Trong các loại bi kịch,
hầu hết lại bắt nguồn từ các mâu thuẫn, đối kháng giai cấp, đấu tranh giai cấp
đối kháng về lí tưởng xã hội, dẫn đến những cuộc cách mạng do điều kiện về
mọi mặt chưa chín muồi đã rơi vào tình huống bi kịch. Đôi khi bi kịch lại nối
tiếp bi kịch, bi kịch của cá nhân, bi kịch của xã hội, bi kịch của xung đột, bi
kịch của mâu thuẫn trong các mối quan hệ giữa người và người, giữa tự nhiên
và xã hội. Cái bi với tư cách là một phạm trù mỹ học cũng tồn tại trong cuộc
sống và trong nghệ thuật, song chúng tồn tại dưới các dạng thức khác nhau.
Trong tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu của nhà văn Đỗ Bích Thúy cũng
được chia thành các dạng thức khác nhau nhìn từ phạm trù mỹ học.
2.1. Bi kịch từ hủ tục cƣớp vợ
Cộng đồng người H’Mông có rất nhiều phong tục tập quán đẹp như lễ
hội, tang ma, cưới xin, đặc biệt là tục “bắt vợ”. Phong tục đó được nhắc đến
trong tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu của nhà văn Đỗ Bích Thúy. Để tạo
được “chất miền núi”như vậy là nhờ nhà văn Đỗ Bích Thúy sinh ra ở Hà
Giang, đã từng làm việc nhiều năm ở đây và phần lớn tác phẩm viết về người
H'Mông cho biết: "Người H'Mông không gọi là "cướp vợ", đó là ngôn ngữ
của người Kinh, mà họ gọi là "kéo vợ". Đây là một phong tục đẹp, xuất phát
16
từ thực tế có những chú rể nghèo không thể đáp ứng được yêu cầu thách cưới.
Gia đình hai bên bàn cách chọn một ngày nào đó cho chú rể "kéo" cô dâu về.
Tục kéo vợ này không chỉ người H'Mông mới có mà còn có nhiều dân tộc
khác. Theo thời gian phong tục đã bị biến tướng, ở một số nơi lợi dụng điều
này để cướp vợ. Tiểu thuyết này có đề cập đến chuyện đó".
Bắt vợ trong đời sống của người Mông vốn là một tục lệ mang ý nghĩa
nhân văn khi nó là một giải pháp để những đôi trai gái yêu nhau mà bị ngăn
trở bởi gia đình và những thủ tục thách cưới đắt đỏ có thể đến được với nhau.
Nhưng khi tập tục ấy bị lợi dụng sẽ trở thành hủ tục gây những hệ lụy không
hề nhỏ, đặc biệt là với thân phận người phụ nữ. Vừ và Súa, đôi trai gái có một
mối tình đẹp đẽ nhất U Khố Sủ nhưng hoàn cảnh ngăn cản họ đến với nhau.
Nhà Súa nghèo, nhà Vừ còn nghèo hơn, bố Vừ mất sớm, mẹ đi lấy chồng, Vừ
ở với ông bà nội làm nghề rèn. Tính ra cái nghề đó cũng sống tốt được nhưng
vì cái nợ hai con bò từ đám ma bố Vừ để lại nặng quá trả mãi không hết. Súa
thương Vừ đồng ý cho Vừ bắt về và đỡ cho Vừ một ít bạc trắng, chỉ còn cách
đó để hai người có thể thành vợ chồng đó là thực hiện thủ tục bắt vợ. Nhưng
dưới đêm trăng hẹn hò ấy, người cõng Súa về giường của mình không phải là
Vừ mà là Phống. Trong thời khắc quan trọng khi Vừ đang trên đường đến chỗ
hẹn với Súa thì một bóng người lạ mặt thông báo là ông nội có chuyện, không
suy nghĩ gì Vừ chạy một mạch về thẳng nhà nhưng về đến nhà mới biết mình
đã bị lừa. Mặc cho tiếng gọi thất thanh của ông bà, Vừ băng băng đến chỗ hẹn
nhưng Súa không ở đó để đợi Vừ nữa rồi, Súa đã bị bắt về nhà Tráng A
Phống. Phống đã dùng thủ đoạn, sơ hở của Vừ để cướp Súa.
Cũng từ biến cố này các nhân vật của Lặng yên dưới vực sâu như
những tảng đá trên cao nguyên lăn lông lốc vào một vòng yêu hận tình thù
đầy bi ai. Hai con người yêu nhau có mối tình đẹp nhất khu cao nguyên
nhưng lại không có một cái kết viên mãn. Rào cản của hủ tục, của sự bóp méo
17
cái văn hóa tưởng chừng là đặc trưng đẹp nơi xứ sở Đồng Văn đã khiến
những kiếp người đi vào những bi kịch, ngày một lún dưới vực sâu.
Phống là người lên kế hoạch hoàn hảo cho việc cướp vợ, và Phống đã
đạt được mục đích ấy. Tưởng chừng Phống sẽ hạnh phúc nhưng cuộc hôn
nhân ép buộc đó khiến một con người làm mưa làm gió ở khu U Khố Sủ,
không sợ một ai mà giờ đây Phống đã rơi nước mắt vì người con gái mà
Phống đã cướp về. Suy cho cùng, hủ tục “cướp vợ” là phương tiện để Phống
có được Súa nhưng cũng vì nó mà cuộc đời chàng trai ấy từ đó về sau cứ luẩn
quẩn trong cái khổ, và dần dần đến gần hơn bên vực thẳm.
Bằng sự nhạy cảm và lòng trắc ẩn của một người nghệ sĩ, Đỗ Bích
Thúy muốn người đọc, người xem cảm nhận phong tục này dưới một góc
nhìn khác, đầy nhân văn. Có nhiều đôi nam nữ Mông yêu nhau nhưng vì tiền
thách cưới quá cao mà họ có thể sẽ chẳng thành vợ, thành chồng. Nên để
được ở bên nhau trọn đời, các chàng trai Mông đành phải cướp vợ. Như vậy,
cướp vợ không chỉ là một hủ tục như mọi người vẫn nghĩ. Tục lệ này đã gián
tiếp tác thành cho nhiều đôi lứa nên duyên. Lặng yên dưới vực sâu cũng đem
tới cho công chúng bức tranh hoàn toàn mới về cuộc sống của đồng bào dân
tộc trong thời buổi kinh tế thị trường. Sức mạnh của đồng tiền đã làm những
tâm hồn vốn hoang sơ, hồn nhiên như cây tam giác mạch chịu nhiều chấn
động. Xung đột trong tác phẩm được khởi lên bởi một vụ cướp vợ trong đêm
khuya, phá vỡ tất cả hi vọng và cuộc đời tươi đẹp của đôi bạn trẻ người Mông
Vừ và Súa. Thay vào đó là cuộc hôn nhân cưỡng bức và tăm tối của Phống và
Súa để kiếm tìm hạnh phúc và sự thừa nhận. Xây dựng xung đột này, Đỗ Bích
Thúy không cố ý lên án, phá bỏ một hủ tục. Nữ nhà văn chỉ mượn nó như là
cái cớ để nói về những quẩn quanh, bế tắc mang tính phổ quát của thanh niên
nam nữ miền núi.
18
2.2. Bi kịch bởi hoàn cảnh
2.2.1. Cuộc sống nghèo khổ, thiếu túng
Lặng yên dưới vực sâu cho người đọc tìm đến chốn núi rừng phía Bắc
Người đọc cảm thấy mình như đi lạc vào một thế giới khác với những đỉnh
núi sương giăng cao chót vót, những vực sâu hun hút gió gào, những nương
rẫy đầy đá tai mèo,... Tuy nhiên, bên cạnh những điều tươi đẹp như cuộc sống
hài hòa với thiên nhiên, giản dị chất phác đôn hậu là sự đói nghèo thiếu thốn
về vật chất khiến con người phải lao động quần quật suốt ngày, nhất là những
người phụ nữ, làm họ luẩn quẩn trong tăm tối của cuộc đời không tìm được
lối thoát khi vướng vào những rắc rối chấp nhất.
Vừ - chàng trai người Mông tài giỏi, tốt bụng đem lòng yêu Súa - cô
gái Mông xinh đẹp, mạnh mẽ. Nhưng tình yêu của họ bị ngăn trở bởi nhà Vừ
nghèo, không có tiền cưới vợ. Vừ sống với ông bà nội đã già yếu trong căn
nhà nhỏ đơn sơ, tạm bợ trên vách núi cao. Cả gia đình tài sản lớn nhất là cái
búa gia truyền làm nghề rèn. Tính ra cái nghề đó cũng sống tốt được ở khu
rừng U Khố Sủ nhưng vì cái nợ hai con bò từ đám ma bố Vừ để lại nặng quá
trả mãi không hết, lãi mẹ sinh lãi con. Nợ từ lúc Vừ còn bé tí nay Vừ đã thành
một chàng trai cường tráng vẫn chưa trả hết nợ. Cái nghèo cái khổ từ gia cảnh
của Vừ khiến chàng trai ấy tuột mất người con gái mà chàng yêu bằng cả trái
tim mình. Nếu có chút tiền thì Vừ đã đường đường chính chính đến hỏi Súa
thì đã không có chuyện thằng Phống nó cướp mất vợ và hàng loạt bi kịch đau
khổ cho cả ba đằng sau đó.
Cuộc sống nghèo khổ nơi núi rừng hẻo lánh khiến con người nơi đây
nhận thức còn kém cỏi, trong đó có Vừ. Về nhân vật Vừ thì điều ấn tượng
nhất là tình cảm của Vừ với ông bà nội và chất “hoang dã” đã ăn sâu trong
bản chất không thể xóa bỏ, cho dù được gửi đến trường nội trú cho học hành
tử tế. “Không chỉ Vừ mà cả ông cũng nhận thấy, đây không phải là nơi dành
19