Chuyên đề:
CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN GIA SÚC MANG THAI SỚM
I. Ý nghĩa của việc chẩn đoán mang thai sớm
Chẩn đoán gia súc mang thai sớm là một trong những công tác cần
thiết của ngành thú y.
+ Sau một thời gian phối giống ta phải kiểm tra để xác định gia súc có thai
hay không.
- Nếu có thai: phải có chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, sử dụng và khai thác
hợp lý để đảm bảo sức khỏe cho gia súc mẹ và bào thai phát triển bình
thường, tránh tình trạng phát sinh quá trình bệnh lý cho cả mẹ lẫn con.
- Nếu gia súc không có thai: phải tìm nguyên nhân dựa vào tình trạng của
cơ quan sinh dục, hiện tượng động dục, rụng trứng, thời gian và phương
pháp phối giống. Trên cơ sở đó tìm biện pháp thích hợp, phục hồi và nâng
cao chức năng sinh sản và đề phòng hiện tượng vô sinh.
+ Chẩn đoán sự có thai cần tiến hành sớm chính xác. Từ đó mới có thể phát
hiện và điều trị kịp thời các quá trình bệnh lý ở cơ quan sinh dục và các bộ
phận khác.
Khám thai sớm ở giai đoạn đầu là một thao tác khó và phức tạp.
Trong thời gian đầu của quá trình mang thai, bào thai còn quá nhỏ, toàn bộ
cơ quan sinh dục biến đổi còn chưa nhiều nên rất khó chẩn đoán. Mặt khác
có thể nhầm với triệu chứng của một số bệnh ở cơ quan sinh dục càng khó
khăn hơn. Ngoài ra do mối liên quan giữa hệ thống màng nhung của nhau
thai và niêm mạc tử cung chưa chặt chẽ, dễ gây ra tình trạng sẩy thai cho
gia súc. Vì vậy, để tránh tình trạng trên và có kết luận chính xác, cần phải
tiến hành thận trọng và thao tác thành thạo.
II. Những phương pháp chẩn đoán chủ yếu
Khi gia súc có thai sẽ xuất hiện những thay đổi sinh lý. Căn cứ vào
những thay đổi này để có phương pháp chẩn đoán nhanh và chính xác nhất.
- Gia súc không động dục sau 3 – 4 tuần phối giống.
- Gia súc ăn khỏe, béo hơn, lông mượt hơn. Nhu cầu trong việc thu nhận
thức ăn cao hơn.
- Sự máy động của bào thai ở thành bụng (cuối kỳ II), đặc biệt thấy rõ sau
khi con vật uống nước.
- Cơ quan sinh dục cũng xuất hiện những thay đổi về hình thái.
- Con vật trở nên yên tĩnh, đi lại, vận động chậm chạp và thận trọng.
- Khi làm việc con vật chóng tỏ ra mệt mỏi.
- Phù thũng ở tứ chi, dưới thành bụng và tuyến vú.
- Sự thay đổi trạng thái cân bằng, đối xứng hai bên thành bụng và độ lớn,
thể tích của chúng.
-Chức năng tiết sữa giảm hay ngừng hoàn toàn (gia súc sản xuất sữa).
Thành phần, tính chất và trạng thái của sữa thay đổi.
Những dấu hiệu trên, trong thực tế còn có thể gặp ở những gia súc
không có thai. Ví dụ hiện tượng mất chu kỳ sinh dục là biểu hiện của gia
súc có thai. Nhưng nó thể xuất hiện ở gia súc không mang thai khi bị bệnh
hay nuôi dưỡng kém, khi ở cuối mùa sinh sản hay trường hợp động dục giả
gia súc đã có thai.
Trước khi chẩn đoán cụ thể, cần phải hỏi chủ gia súc hay cán bộ kỹ
thuật cơ sở về:
+ Số lần phối giống, thời gian phối giống lần cuối.
+ Tình hình phối giống và quá trình sinh đẻ của những lần trước.
+ Về tiền sử, gia súc đã bị bệnh gì? Nhất là bệnh đường sinh dục.
+ Tình hình nuôi dưỡng, quản lý, sử dụng và khai thác.
1. Phương pháp chẩn đoán trên lâm sàng
Phương pháp này cơ bản là dựa vào biểu hiện nói chung của gia súc
khi có thai và những thay đổi về cấu tạo, hình thái học của cơ quan sinh
dục.
a.Phương pháp chẩn đoán bên ngoài:
Phương pháp này áp dụng đối với gia súc nhỏ. Ở gia súc lớn (ĐGS)
cho kết quả tương đối chính xác ở tháng thứ 5 – 6 trở đi.
-Phương pháp quan sát: Xem sự mất cân bằng đối xứng hai bên thành
bụng, trạng thái phù thũng, tuyến sữa phát triển, sự máy động của bào thai
qua thành bụng
-Phương pháp sờ nắn: dùng lòng bàn tay ấn vào phía trong và phía dưới
thành bụng để kiểm tra sự máy động của bào thai
-Phương pháp gõ ghe: dùng ống nghe để nghe hoạt động của tim thai (áp
dụng đối với đại gia súc)
b. Phương pháp chẩn đoán bên trong
Phương pháp này chỉ áp dụng cho gia súc lớn, có hai phương pháp đó
là phương pháp chẩn đoán qua âm đạo và phương pháp chẩn đoán qua trực
tràng.
*) Phương pháp chẩn đoán qua âm đạo:
+ phát hiện những thay đổi trong âm đạo, tử cung, quan sát mầu sắc, nếp
nhăn, chất tiết trong âm đạo và tử cung.
+ Phương pháp này ít được áp dụng vì: độ chính xác thấp, không biết được
tuổi của thai. Khi thao tác không cẩn thận và đúng phương pháp dễ gây sẩy
thai hay viêm nhiễm âm đạo.
-Phương pháp chẩn đoán qua trực tràng:
+ Phương pháp này xác định đặc điểm, tính chất và sự thay đổi của các bộ
phận: cổ, thân, sừng tử cung, buồng trứng, núm nhau, động mạch giữa tử
cung, độ lớn và vị trí của bào thai.
+ Phương pháp này được áp dụng rộng rãi, chẩn đoán được gia súc có thai
hay không và có thai ở tháng thứ mấy.
+ Chủ yếu áp dụng chẩn đoán có thai cho trâu, bò, ngựa.
2. Phương pháp chẩn đoán trong phòng thí nghiệm
Phương pháp này đòi hỏi tiến hành nhiều phản ứng thí nghiệm. Điều
cơ bản của những phản ứng đó là để phát hiện sự thay đổi tính chất sinh
hóa của các chất tiết chủ yếu như sữa, niêm dịch âm đạo hay là sự xuất hiện
các loại kích tố sinh dục khi có thai ở trong máu và nước tiểu.
+ Progesterone: Hormon này thấy trong sữa, máu, phân và dịch nước
bọt dùng để chẩn đoán có thai sớm khoảng 20-24 ngày sau khi phối tinh ở
tất cả các loài.
+ Estrone sulfate: Có thể thấy trong sữa, máu, phân và dịch nước bọt.
Nó là chỉ thị có chửa ở tất cả các động vật nuôi
+Đối với ngựa, kiểm tra PMSG (hormone nhau thai) trong máu ở 40
ngày trở đi cũng được sử dụng để chẩn đoán có thai.
Phương pháp này ít được áp dụng trong thực tế sản xuất, bởi vì nó đòi
hỏi nhiều phản ứng phức tạp, áp dụng khó khăn khi chẩn đoán và mức độ
chính xác lại thấp.
3. Chẩn đoán bằng máy siêu âm
Máy siêu âm cho phép ta thấy hình ảnh mặt cắt tại thời điểm thực xác
định bất kì bộ phận, cơ quan nào.
Trong lĩnh vực nghiên cứu sinh lý sinh sản:
+ siêu âm giúp chẩn đoán có thai sớm và chắc chắn;
+ Chẩn đoán tuổi thai, theo dõi phát triển của thai;
+ Phát hiện những bệnh lý khi mang thai như: thai ngoài tử cung,
thai chết lưu, nhau bong non.
+ Giúp chẩn đoán di tật bẩm sinh của thai.
III. Ứng dụng trong chẩn đoán bò mang thai sớm
Có nhiều phương pháp chẩn đoán bò mang thai. Tuy nhiên khám thai
qua trực tràng là một trong các phương pháp có thể áp dụng để chẩn đoán
sớm thời gian có thai, bắt đầu 4-5 tuần tuổi sau khi cho bò phối giống.
1. Phương pháp chẩn đoán qua trực tràng bò
Điều cơ bản của phương pháp này là phát hiện sự thay đổi về hình thái,
đặc điểm, tính chất và vị trí của các bộ phận: buồng trứng, các phần của tử
cung, rãnh giữa tử cung, động mạch tử cung, thai và nhau thai…. Ngoài ra
còn xác định được các tình trạng khác nhau của cơ quan sinh dục và của
bào thai như:
Viêm tử cung, tử cung tích mủ, tích nước, khối u tử cung, thai sống hay
chết….
Sự thay đổi cơ quan sinh dục khi có thai hoàn toàn phụ thuộc vào từng
giai đoạn phát triển của bào thai, vào giống bò và từng lứa thai khác nhau.
Cùng một thời gian mang thai như nhau nhưng vị trí và kích thước của tử
cung ở những bò có chửa lần đầu bao giờ cũng khác và nhỏ hơn những bò
đã sinh đẻ nhiều lần.
Cách tiến hành:
-Cố định gia súc: đóng gióng để cố định gia súc
-Cắt móng tay, sát trùng tay người khám thai
-Chuẩn bị nước sạch, xà phòng, khăn lau và sổ ghi chép
-Buộc đuôi gia súc sang một bên, thụt nước ấm vào trực tràng để gia
súc thải phân ra ngoài, bôi trơn găng tay sản khoa, chờ khi trực tràng
hết cơn co bóp đưa tay vào, sau đó nhẹ nhàng xác định các bộ phận của
cơ quan sinh dục
+ Buồng trứng: nằm ở phía trước sừng tử cung, hình bầu dục hay hình
tròn. Xác định buồng trứng có noãm bao chín hay không, có thể vàng hay
không (thể vàng tồn tại gia súc có thai)
+ Động mạch giữa tử cung: Đường kính động mạch khi không có thai: 4 –
4,5 mm , khi có thai 10 – 15 mm. Kích thước và hoạt động của động mạch
giữa tử cung là điều kiện để xác định tuổi của thai
+ Tử cung: bình thường tử cung nằm xoang chậu, khi có thai thì tử cung
roi dần vào xoang bụng.
Chẩn đoán tháng thai bò căn cứ vào những biểu hiện sau:
-Thai 1 tháng tuổi: cổ tử cung nằm trong xoang chậu, rãnh giữa tử cung rõ
ràng, sừng tử cung co bóp yếu. Sừng tử cung bên có thai lớn gấp 1,5 lần
bên không có thai. Dịch thai trong tử cung 100 ml, sờ thấy thể vàng.
-Thai 2 tháng tuổi: Sừng tử cung bên có thai lớn gấp 2 lần bên không có
thai. Dịch thai trong tử cung 300 ml, sừng tử cung có chuyển động sóng,
rãnh giữa tử cung phẳng dần. Cổ tử cung di chuyển dần xuống cuối xoang
chậu, sờ thấy thể vàng.
-Thai 3 tháng: Sừng tử cung bên có thai lớn gấp 3 - 4 lần bên không có
thai, Dịch thai trong tử cung 1 – 1,5 lit, hai phần ba sừng tử cung rơi xuống
xoang bụng, rãnh giữa tử cung rộng và phẳng. Sừng tử cung bên có thai
chuyển động sóng, buồng trứng rơi xuống xoang bụng.
- Thai 4 tháng tuổi: sừng và cổ tử cung rơi hoàn toàn vào xoang xoang
bụng, các núm nhau phát triển, dịch thai 3 – 4 lít, động mạch giữa tử cung
phát triển và đập rõ. Có thể sờ thấy rõ bào thai.
- Thai 5 tháng tuổi: toàn bộ tử cung đã rơi xuống xoang bụng, cổ tử cung to
và dễ phát hiện, khi khám thai chỉ sờ thấy 1/3 tử cung, động mạch giữa tử
cung hoạt động rõ. Thời kỳ này có thể sờ thấy các bộ phận của thai.
- Thai 6 tháng tuổi: bào thai phát triển nhanh nên tử cung rất lớn, toàn bộ tử
cung sa xuống xoang bụng, những núm nhau phát triển lớn, động mạch
giữa tử cung cũng phát triển lớn.
- Thai 7 tháng tuổi: các biểu hiện gần giống tháng thứ 6, tìm được nhiều
núm nhau khi khám thai, động mạch giữa tử cung phát triển to và đập
mạnh.
- Thai 8 tháng tuổi: Bào thai phát triển rất lớn, các núm nhau dễ phát hiện,
động mạch giữa tử cung phát triển to và đập mạnh. Khi khám có thể thấy
một số bộ phận của thai ở cửa vào xoang chậu.
- Thai 9 tháng tuổi: Cổ tử cung và một phần của bào thai đã trở vào xoang
chậu, các núm nhau to, động mạch giữa đập mạnh.
2. Chẩn đoán mang thai bằng cách kéo màng thai
Kéo màng thai là phương pháp chẩn đoán thai trên 30 ngày tuổi. Để
tiến hành phương pháp này cho thai 30-40 ngày tuổi, tử cung phải được
nâng lên và lật ngược lại.
Hình vẽ phác thảo mặt cắt sừng tử cung bò mang thai bằng phương
pháp kéo màng thai để chẩn đoán mang thai sớm. Chú ý đến nếp gấp
đôi được hình thành bởi tử cung (a) và thành màng đệm túi niệu (b);
phần dầy lên (c) đại diện cho mặt cắt của dải mô liên kết, nơi bao lấy
các mạch máu.( Hafez, E.S.E., 1968).
Với phương pháp này vị trí sờ khám là rất khác nhau, phụ thuộc vào
tuổi của thai. Khi thai nhỏ hơn 40 ngày tuổi, màng thai được thấy ở bên
sừng chứa thai, nhưng khi thai lớn hơn 40-45 ngày tuổi, màng thai có thể
thấy ở cả bên sừng không mang thai.
Ngày mang thai
Vị trí sờ khám
30-40 ngày
Đầu sừng tử cung
>40-45 ngày Ngay sau chỗ phân nhánh trong sừng tử cung không
chứa thai
Các vị trí sờ khám trong kéo màng thai để chẩn đoán mang thai
sớm
(1)Ngón cái và ngón trỏ nắm quanh sừng tử cung
(2),(3) Di chuyển dần dần các ngón tay đến sừng tử cung
(4) Màng thai được kéo ra bằng các ngón tay
3. Chẩn đoán mang thai sớm bằng máy siêu âm
Có nhiều loại máy siêu âm khác nhau được dùng, nhưng phổ biến nhất
hiện nay là loại máy B-mode real-time. Loại máy này cho âm thanh và hình
ảnh thực của bào thai. Tần số 3,5-7,5 MHz, với tần số cao hơn có thể quan
sát được chi tiết hơn.
+ Siêu âm bên ngoài: Đây là loại máy cũ sử dụng tần số 3,5 MHz. Độ
chính xác của máy là 97% nhưng trong thực tế có một số trường hợp chẩn
đoán dương tính giả.
+ Siêu âm bên trong: Chẩn đoán sự mang thai 12-14 ngày sau khi phối
giống, trung bình 28 ngày. Có thể xác định được số bào thai và tình trạng
của bào thai cũng như tuổi thai và giới tính( ngày thứ 55-56 của thai kỳ).
Máy siêu âm
Hình ảnh Chẩn đoán mang thai bằng siêu âm