Tải bản đầy đủ (.pdf) (59 trang)

Áp dụng chỉ số tổn thương trong nghiên cứu sinh kế tại xã chiềng bằng, huyện quỳnh nhai, tỉnh sơn la

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.3 MB, 59 trang )

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu làm đề tài “Áp dụng chỉ số tổn thương trong nghiên
cứu sinh kế tại xã Chiềng Bằng, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La” nhóm đề tài đã nhận
đƣợc sự giúp đỡ nhiệt tình của các đồng chí trong UBND xã Chiềng Bằng, 4 đồng chí
trƣởng bản (bản Bung, bản Co Trặm, bản Bỉa, bản Pú Ỏ) và 64 hộ dân đã giúp đỡ
nhóm đề tài trong quá trình nhóm nghiên cứu đi khảo sát thực tế.
Với tình cảm chân thành, nhóm nghiên cứu tỏ lòng biết ơn đối với Ban giám
hiệu, phòng Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ, khoa Sử - Địa trƣờng Đại học Tây
Bắc đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ chúng em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn
thiện đề tài nghiên cứu khoa học này. Em xin cảm ơn sâu sắc đến Thạc sĩ Nguyễn Thị
Hồng Nhung ngƣời trực tiếp hƣớng dẫn đề tài nghiên cứu khoa học của nhóm đề tài đã
luôn dành nhiều thời gian, công sức hƣớng dẫn nhóm đề tài trong suốt quá trình thực
hiện nghiên cứu và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học.
Do về mặt kiến thức và về mặt thời gian còn hạn chế đề tài nghiên cứu khoa
học còn nhiều khiếm khuyết sai sót. Nhóm nghiên cứu mong nhận đƣợc sự đóng góp ý
kiến của các thầy cô và các bạn sinh viên để đề tài nghiên cứu khoa học của nhóm
đƣợc hoàn thiện hơn.
Sơn La, ngày....tháng.....năm 2018


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài...............................................................................................1
2. Mục tiêu của đề tài ......................................................................................................2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................................................2
4. Giới hạn nghiên cứu ....................................................................................................3
5. Phƣơng pháp nghiên cứu .............................................................................................3
6. Lịch sử nghiên cứu ......................................................................................................4
6.1. Trên thế giới .............................................................................................................4
6.2. Trong nƣớc ...............................................................................................................8
7. Cấu trúc của đề tài .....................................................................................................10


CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ...........................11
1.1. Cơ sở lý luận ...........................................................................................................11
1.1.1. Các khái niệm liên quan ......................................................................................11
1.1.2. Phƣơng pháp đánh giá chỉ số tổn thƣơng (LVI) ..................................................14
1.2. Cơ sở thực tiễn ........................................................................................................16
1.2.1. Di dân TĐC thủy điện Sơn La .............................................................................16
1.2.2. Di dân tái định cƣ tại xã Chiềng Bằng, huyện Quỳnh Nhai ...............................17
Tiểu kết chƣơng 1 ..........................................................................................................18
CHƢƠNG 2: NGHIÊN CỨU CHỈ SỐ TỔN THƢƠNG CỦA NGƢỜI DÂN TÁI
ĐỊNH CƢ XÃ CHIỀNG BẰNG, HUYỆN QUỲNH NHAI .....................................19
2.1. Khái quát khu vực nghiên cứu ................................................................................19
2.1.1. Vị trí địa lí............................................................................................................19
2.1.2. Đặc điểm tự nhiên................................................................................................ 20
2.1.3. Đặc điểm kinh tế - xã hội ....................................................................................23
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu và cách tính LVI ...........................................................26
2.3. Kết quả và thảo luận ...............................................................................................27
Tiểu kết chƣơng 2 ..........................................................................................................38
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢM TỔN THƢƠNG SINH KẾ CHO
NGƢỜI DÂN TÁI ĐỊNH CƢ XÃ CHIỀNG BẰNG, HUYỆN QUỲNH NHAI ....39
3.1. Đề xuất ....................................................................................................................39
3.2. Giải pháp.................................................................................................................41


3.2.1. Giải pháp chung ...................................................................................................41
3.2.2. Giải pháp cụ thể ...................................................................................................41
Tiểu kết chƣơng 3 ..........................................................................................................46
KẾT LUẬN ..................................................................................................................47
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC



DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CARE: Hợp tác xã cho việc gửi hàng của Mỹ sang châu Âu
DFID: Bộ Phát triển Quốc tế Vƣơng quốc Anh
GIZ: Tổ chức hợp tác Quốc tế Đức
HGĐ: Hộ gia đình
IFAD: Quỹ Quốc tế về phát triển nông nghiệp
IPCC: Ủy ban Liên minh chính phủ về biến đổi khí hậu
ISET: Viện Nghiên cứu chuyển đổi môi trƣờng và xã hội
ISSMGE: Hiệp hội Cơ học đất và Địa kỹ thuật thế giới
KH&CN: Khoa học và Công nghệ
LVI: Chỉ số tổn thƣơng sinh kế
NISTPASS: Viện nghiên cứu chiến lƣợc và Chính sách Khoa học và Công nghệ
OXFAM: là một trong những tổ chức phi chính phủ quốc tế hàng đầu hoạt động
trong các lĩnh vực phát triển nông thôn, hỗ trợ nhân đạo và giảm thiểu rủi ro thiên tai,
phát triển xã hội dân sự và cộng đồng thiểu số, nâng cao vị thế phụ nữ.
PRA: là một phƣơng pháp điều tra để học hỏi và cùng với các thành viên cộng
đồng tìm hiểu, phân tích và đánh giá các khó khăn, thuận lợi đồng thời đƣa ra các giải
pháp, quyết định kịp thời nhằm giải quyết các khó khăn của cộng đồng
PVA: Phân tích tính tổn thƣơng có sự tham gia
SKBV: Sinh kế bền vững
TĐC: Tái định cƣ
UBND: Ủy ban nhân dân
UNDP: Chƣơng trình phát triển của Liên Hợp Quốc


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2. 1: Thông tin về các điểm điều tra .....................................................................26
Bảng 2.2: Giá trị các yếu tố phụ, giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của chỉ số LVI ..............28
Bảng 2.3. Giá trị các yếu tố chính của chỉ số LVI ........................................................31



DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Khung sinh kế bền vững của DFID năm 2001 ...................................................6
Hình 2.1. Biểu đồ thể hiện các yếu tố chính của chỉ số LVI ở xã Chiềng Bằng ...........36


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về sinh kế bền vững
(SKBV), tuy nhiên những nghiên cứu này chủ yếu là ở khu vực vùng ven biển
mà khu vực miền núi và đặc biệt là miền núi phía Bắc thì mới chỉ có một số ít
các công trình nghiên cứu sinh kế bền vững của ngƣời dân.
Miền núi phía Bắc có nhiều những công trình thủy điện với công suất lớn
và một trong những công trình lớn phải kể đến công trình thủy điện Sơn La một
công trình thủy điện lớn nhất Đông Nam Á với công suất lên đến 2.400MW và
diện tích lòng ngập lớn chính vì vậy đã ảnh hƣởng rất lớn khả năng canh tác,
nguồn nƣớc sinh hoạt, đƣờng giao thông đi lại, nhu cầu nhà ở của ngƣời dân tại
vùng lòng hồ ven lòng hồ. Do đó, việc đảm bảo cuộc sống, đảm bảo sinh kế cho
ngƣời dân tái định cƣ (TĐC) và cho đồng bào tại nơi ở mới là nhiệm vụ tối cần
thiết. Có nhƣ vậy mới thực hiện tối ƣu mục tiêu của TĐC, đồng thời giảm thiểu
tối đa những tác động không mong muốn từ công trình thủy điện.
Xã Chiềng Bằng thuộc huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La là một trong những
xã nằm trong diện phải di dân lên khỏi cốt ngập thủy điện Sơn La. Hiện nay, xã
có 1.175 hộ của 15 bản đều nằm dƣới cốt ngập 218m phải di chuyển đến nơi ở
mới. Xã Chiềng Bằng cũng gặp rất nhiều khó khăn về cả tự nhiên và kinh tế - xã
hội nhƣ: nhà ở, diện tích đất canh tác, các nguồn tạo ra thu nhập, đƣờng giao
thông, trƣờng học, cơ sở y tế, các trụ sở của các cơ quan. Do diện tích đất ngập
khá lớn, diện tích đất canh tác bị thu hẹp nên năng suất thấp, gây khó khăn cho
đời sống của bà con nơi sở tại và bà con TĐC. Mặt khác, khu vực này chủ yếu là

đồng bào dân tộc thiểu số, do vậy tập quán canh tác sản xuất còn lạc hậu, cơ bản
là độc canh và quảng canh, kĩ thuật tiên tiến chƣa đƣợc áp dụng, các loại giống
mới chƣa đƣợc nghiên cứu để đƣa vào gieo trồng.
Mặc dù còn nhiều yếu tố hạn chế, song xã Chiềng Bằng đang tận dụng tối
đa những yếu tố thuận lợi về diện tích mặt nƣớc rộng lớn, thuận lợi để nuôi
trồng thủy sản, coi đây là thế mạnh để phát triển kinh tế xã hội của xã, qua đó
giao lƣu trao đổi hàng hóa với các xã khác. Bởi vậy, việc nghiên cứu và đánh giá
1


có chiều sâu những thế mạnh, nguồn lực tự nhiên, nguồn lực xã hội, nguồn
vốn… theo khung SKBV của Bộ Phát triển Quốc tế Vƣơng quốc Anh (DFID) sẽ
là nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn. Trên cơ sở đó, có thể phát huy tối đa nội lực
của địa phƣơng, tận dụng tốt nguồn vốn di dân TĐC thủy điện Sơn La, cộng với
sự hỗ trợ của Nhà nƣớc, để ngƣời dân TĐC có những hoạt động sinh kế phù
hợp, góp phần nâng cao chất lƣợng cuộc sống, đảm bảo mục tiêu TĐC cuộc
sống nơi ở mới bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.
Xuất phát từ những ý nghĩa thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài “ÁP DỤNG CHỈ SỐ TỔN THƯƠNG TRONG NGHIÊN CỨU SINH KẾ
TẠI XÃ CHIỀNG BẰNG, HUYỆN QUỲNH NHAI, TỈNH SƠN LA”.
2. Mục tiêu của đề tài
Áp dụng chỉ số tổn thƣơng sinh kế (LVI) trong nghiên cứu sinh kế đối với
các hộ dân tại xã Chiềng Bằng, huyện Quỳnh Nhai, từ đó đề ra giải pháp nhằm
giảm thiểu tính tổn thƣơng, góp phần ổn định đời sống, sinh kế cho ngƣời dân.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu đã đề ra, đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tổng quan đƣợc các khái niệm có liên quan tới sinh kế, SKBV, khung
sinh kế, và các vấn đề liên quan tới di dân TĐC cho mục đích thủy điện, đặc biệt
là di dân TĐC thủy điện Sơn La tại khu vực xã Chiềng Bằng.
- Xây dựng hệ thống bảng hỏi và tiến hành điều tra về sinh kế của ngƣời

dân tại khu vực xã Chiềng Bằng.
- Khái quát các đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội và thực trạng các mô hình
sinh kế của ngƣời dân tại khu vực nghiên cứu.
- Tính đƣợc chỉ số tổn thƣơng sinh kế (LVI) của ngƣời dân TĐC tại xã
Chiềng Bằng, huyện Quỳnh Nhai.
- Đề xuất một số giải pháp tạo SKBV cho ngƣời dân TĐC tại xã Chiềng
Bằng, huyện Quỳnh Nhai.

2


4. Giới hạn nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu:
+ Đề tài tập trung vào tính toán giá trị các yếu tố của chỉ số LVI tác
động đến sinh kế của ngƣời dân thuộc xã Chiềng Bằng, huyện Quỳnh Nhai,
tỉnh Sơn La.
+ Phân tích mức độ tổn thƣơng trong sinh kế, từ đó có những đề xuất, giải
pháp phát triển kinh tế bền vững cho nhóm ngƣời chịu ảnh hƣởng lớn.
- Phạm vi nghiên cứu: Tiến hành nghiên cứu tại 4 bản di dân TĐC thủy
điện Sơn La thuộc phạm vi xã Chiềng Bằng, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La.
Cụ thể là: bản Bỉa (13 hộ), bản Co Trặm (13 hộ), bản Búng (11 hộ) và bản Pú Ỏ
(27 hộ).
- Thời gian: Từ năm 2017 - 2018 theo số liệu điều tra thực trạng các nguồn
vốn sinh kế thực hiện tại xã Chiềng Bằng.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu: Phƣơng pháp này
giúp tác giả tổng quan đƣợc những kết quả nghiên đã có trƣớc đây liên quan đến
đề tài, đồng thời có thể cho phép cập nhật thêm nguồn tài liệu đảm bảo tính đầy
đủ, chính thống, tin cậy. Các tài liệu đƣợc sắp xếp cụ thể, rõ ràng trên cơ sở đó
tác giả có thể đánh giá thực trạng các nguồn lực ảnh hƣởng đến các yếu tố của

chỉ số LVI (đặc điểm hộ, các chiến lƣợc sinh kế, các mạng lƣới xã hội, sức khỏe,
lƣơng thực và tài chính, nguồn nƣớc, các thảm họa tự nhiên và biến đổi khí hậu)
tại khu vực nghiên cứu, đồng thời đề xuất những giải pháp sinh kế phù hợp cho
ngƣời dân.
- Phƣơng pháp đánh giá: dựa vào chỉ số tổn thƣơng sinh kế (LVILivelihood Vulnerability Index) đƣợc Hahn và cô ̣ng sƣ̣ đ ề xuất, đề tài đƣợc
nhóm tác giả sử dụng chỉ số LVI nhƣ là một chỉ số hỗn hợp, bao gồm 7 yếu tố
chính (đặc điểm hộ, các chiến lƣợc sinh kế, các mạng lƣới xã hội, sức khỏe,
lƣơng thực và tài chính, nguồn nƣớc, các thảm họa tự nhiên và biến đổi khí hậu).
Mỗi yếu tố chính sẽ có các chỉ thị (yếu tố phụ) và có điều chỉnh 1 số nội dung
cho phù hợp với thực tế khu vực nghiên cứu.
3


- Phƣơng pháp điều tra xã hội học: Trên cơ sở mục tiêu đề tài, tác giả xây
dựng hệ thống bảng hỏi để tiến hành điều tra các khu vực thuộc xã Chiềng Bằng.
Sau đó tiến hành tổng hợp, xử lí và phân tích các kết quả nhận đƣợc, từ đó đánh
giá đƣợc mức độ tổn thƣơng trong sinh kế của ngƣời dân theo các yếu tố của chỉ
số LVI.
- Phƣơng pháp thực địa: Đây là phƣơng pháp chính giúp nhóm nghiên cứu
đề tài thu thập các thông tin cho bảng hỏi, đồng thời kiểm chứng, đánh giá đƣợc
những yếu tố thực tế và lý thuyết đã có. Nhóm đề tài đã tiến hành điều tra tại 4
bản từ ngày 4 tháng 2 đến ngày 5 tháng 2 năm 2018.
- Phƣơng pháp thống kê toán học: Nhóm nghiên cứu đề tài sử dụng phƣơng
pháp này nhằm xử lí tốt nhất hệ thống các phiếu điều tra; đảm bảo kết quả chính
xác, khách quan, thể hiện đúng thực tế điều tra ngƣời dân.
6. Lịch sử nghiên cứu
6.1. Trên thế giới
Vào những năm 1980, ý tƣởng về sinh kế (livelihoods) và SKBV
(sustainable livelihoods) đƣợc đề cập đến trong các tác phẩm nghiên cứu của Robert
Chambers. Năm 1986, Chambers, R. với tác phẩm Sustainable livelihoods: An

opportunity for the World commission on Environment and Development, năm 1987
là bài viết Population, resoursers, environment and development: putting poor
people first, đến năm 1988, ông một lần nữa lại đề cập tới vấn đề SKBV trong đó
hƣớng tới khu vực nông thôn với tác phẩm Sustainable rural livelihoods: a strategy
for people, environment and development… Trong các tác phẩm của mình, Robert
Chambers đã luôn khẳng định giá trị của sinh kế đối với ngƣời nghèo, xem đây là
đối tƣợng ƣu tiên chính. Mặt khác, trong định nghĩa về SKBV ông luôn chú trọng
tới 3 cách thức tƣ duy: tƣ duy môi trƣờng, tƣ duy phát triển và tƣ duy sinh kế.
Sau này, các khái niệm này xuất hiện cả trong những nghiên cứu của F.
Ellis, Karim Hussein, John Nelson, Barret, Reardon, Grace Carswell, Morrison,
Doward... Phần lớn các tác giả đều thống nhất với quan điểm khái niệm sinh kế
bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hƣởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ
gia đình (HGĐ).
4


Theo F. Ellis, sinh kế bao gồm: những tài sản (tự nhiên, phƣơng tiện vật
chất, con ngƣời, tài chính và nguồn vốn xã hội), những hoạt động và cơ hội
đƣợc tiếp cận đến các tài sản và hoạt động đó (đạt đƣợc thông qua các thể chế và
quan hệ xã hội), mà theo đó các quyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi cá nhân
hoặc mỗi nông hộ (Ellis, 2000).
Các chính sách để xác định sinh kế cho ngƣời dân theo hƣớng bền vững
đƣợc xác định liên quan chặt chẽ đến bối cảnh kinh tế vĩ mô và tác động của các
yếu tố bên ngoài. Tiêu biểu cho các nghiên cứu này là Barret và Reardon (2000),
Ellis (2004, 2005). Các nghiên cứu này đã chỉ ra mối liên hệ giữa mức độ tăng
trƣởng kinh tế, cơ hội sinh kế và cải thiện đói nghèo của ngƣời dân. Đồng thời
nhấn mạnh vai trò của thể chế, chính sách, mối liên hệ và hỗ trợ xã hội đối với
các giải pháp cải thiện sinh kế. Mặt khác các yếu tố nhƣ nguồn vốn, trình độ
nguồn nhân lực, các mối quan hệ trong cộng đồng, chính sách phát triển… cũng
cho thấy những ảnh hƣởng khá lớn tới sự bền vững trong các hoạt động sinh kế.

Tuy vậy, sự bền vững của tài nguyên thiên nhiên vẫn đƣợc coi là yếu tố nền tảng
trong việc quyết định tính bền vững của sinh kế.
Sự phát triển kinh tế hiện nay của bất kì quốc gia nào luôn đƣợc nhấn mạnh
tới yếu tố bền vững. Trong đó, sự phát triển về mặt kinh tế phải gắn liền với sự
ổn định xã hội, chất lƣợng cuộc sống đƣợc nâng cao và đảm bảo vấn đề môi
trƣờng. Vì thế, các nghiên cứu hiện nay về sinh kế đều cơ bản thực hiện theo
khung phân tích SKBV trên cơ sở 5 yếu tố - 5 nguồn lực cơ bản của HGĐ.
Khung sinh kế là một công cụ đƣợc xây dựng nhằm xem xét những yếu tố
khác nhau ảnh hƣởng đến sinh kế của con ngƣời, đặc biệt là những yếu tố gây
khó khăn hoặc tạo cơ hội trong sinh kế; đồng thời chỉ rõ mối quan hệ giữa các
yếu tố này với nhau. Thông qua một loạt các công trình nghiên cứu của các tổ
chức quốc tế nhƣ Chƣơng trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP - United
Nations Development Programme), OXFAM, Bộ Phát triển Quốc tế Vƣơng
quốc Anh (DFID – Department For International Development), Quỹ Quốc tế về
phát triển nông nghiệp (IFAD - International Fund for Agriculture
Development), Hợp tác xã cho việc gửi hàng của Mỹ sang châu Âu (CARE 5


Cooperative for American Remittances to Europe)… những ngƣời tham gia đã
nhận thức rõ tầm quan trọng của cách thức xây dựng khung logic. Khung SKBV
sẽ bắt đầu bằng chính ngƣời nghèo và các nguồn vốn sinh kế của họ, là điều
thiết yếu quan trọng khi họ tham gia vào việc phân tích lấy “con ngƣời làm trung
tâm”. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng ban đầu việc xây dựng
khung SKBV không khởi nguồn từ cách tiếp cận này. Bởi lẽ, bản thân đối tƣợng
trung tâm của khung là những ngƣời nghèo lại thƣờng có xu hƣớng dễ bị mất 5
nguồn sinh kế trong đời sống. Mặt khác, khi quan sát khung sinh kế, ngƣời tham
gia đôi khi lại quá chú trọng tới nhân tố tài sản và các yếu tố khác, thay vì chính
bản thân những ngƣời nghèo. Các mối liên kết qua lại giữa các yếu tố trong
khung sinh kế, các chiến lƣợc với các loại tài sản, tính dễ tổn thƣơng, không
đƣợc xem là yếu tố quan trọng trong khi điều này lại thực sự cần thiết cho một

SKBV. Do chƣa thực sự đặt ngƣời nghèo làm trung tâm của khung sinh kế, các
yếu tố quan trọng trong sinh kế của họ do vậy tính cố kết của khung chƣa thực
sự chặt chẽ. Từ đó đòi hỏi những ngƣời tham gia phải bổ sung, phát triển và xây
dựng lên một khung SKBV với nhiều yếu tố và cách thể hiện mối quan hệ mới.

Hình 1: Khung sinh kế bền vững của DFID năm 2001
6


Đây là cơ sở cho nhiều nghiên cứu về SKBV, là định hƣớng cho các hoạt
động sinh kế nhằm ổn định cuộc sống, nâng cao hiệu quả hoạt động của cộng
đồng xã hội và đảm bảo an ninh môi trƣờng. Trên cơ sở đề xuất khung sinh kế,
DFID đã chỉ rõ các nguyên lí cơ bản của SKBV, bao gồm:
+ Con ngƣời là trọng tâm: giữa các nhóm ngƣời, mối quan hệ cộng đồng,
chiến lƣợc sinh kế, khả năng thích nghi, v.v…
+ Sự đáp ứng và tham gia: để đảm bảo các hoạt động của cộng đồng có ảnh
hƣởng đến việc tạo lập chính sách
+ Đƣợc xây dựng trên cơ sở cộng tác: giữa hai khối nhà nƣớc và tƣ nhân
+ Bền vững: trên 4 mặt kinh tế, thể chế, xã hội và môi trƣờng (tất cả đều
quan trọng)
+ Mềm dẻo, dễ thay đổi: theo địa phƣơng, thời gian
Nhƣ vậy, một sinh kế đƣợc xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi
phục trƣớc tác động của những áp lực và những cú sốc, duy trì hoặc tăng cƣờng
những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tƣơng lai, trong khi không
làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên (theo R. Chamber (1989), T.
Reardon and J. E. Taylor (1996), Karim Hussein và John Nelson). Đặc biệt, một
SKBV phải có khả năng đầu tƣ và vƣợt qua áp lực cũng nhƣ các thay đổi bất
ngờ (dự án IMOLA, 2006). Theo đó, tổn thƣơng sinh kế đƣợc đặc trƣng nhƣ là
sự “không đảm bảo” đối với đời sống của các cá nhân, HGĐ và cộng đồng khi
đối mặt với những thay đổi của môi trƣờng bên ngoài. Bối cảnh gây tổn thƣơng

đối với sinh kế là những thay đổi đột ngột có khả năng ảnh hƣởng đến cơ sở
nguồn lực và các hoạt động kiếm sống nhƣ là: dịch bệnh, tai biến, lũ lụt, hạn
hán,... Các áp lực nhƣ những xu hƣớng dài hạn có khả năng làm xói mòn tiềm
năng sinh kế bao gồm các vấn đề về dân số, suy thoái tài nguyên thiên nhiên,
lạm phát,... cũng đƣợc xem là bối cảnh gây tổn thƣơng đối với sinh kế.
Phƣơng pháp tiếp cận SKBV cho phép đánh giá ảnh hƣởng của những yếu
tố khác nhau đến sinh kế của con ngƣời, đặc biệt là những yếu tố gây khó khăn
hay tạo ra cơ hội trong sinh kế (dự án IMOLA, 2006). Tuy nhiên, phƣơng pháp
này còn hạn chế trong việc giải quyết vấn đề nhạy cảm và đƣa ra những biện
7


pháp khắc phục tổn thƣơng và ổn định sinh kế. Gần đây, một phƣơng pháp tiếp
cận mới cho phép giải quyết vấn đề trên là phƣơng pháp đánh giá chỉ số tổn
thƣơng sinh kế (LVI – Livelihood Vulnerabilivity Index) đƣợc đề xuất bởi Hahn
et al (2009). Theo tác giả, có hai cách tiếp cận đối với chỉ số tổn thƣơng sinh kế
(LVI), cách thứ nhất thể hiện LVI nhƣ là một chỉ số hỗn hợp, bao gồm bảy yếu
tố chính, bao gồm đặc điểm hộ, các chiến lƣợc sinh kế, các mạng lƣới xã hội,
sức khỏe, lƣơng thực, nguồn nƣớc, các thảm họa thiên nhiên. Cách thứ hai tập
hợp bảy yếu tố chính này vào trong ba tác nhân “đóng góp” theo định nghĩa khả
năng bị tổn thƣơng của Ủy ban Liên minh chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC)
đối với khả năng tổn thƣơng ; “hứng chịu” sự nhạy cảm hay tính dễ bị tổn
thƣơng và khả năng “thích ứng.”
6.2. Trong nƣớc
Ở Việt Nam, thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu của các tác giả, tổ chức
trong và ngoài nƣớc ứng dụng chỉ số tổn thƣơng trong nghiên cứu sinh kế, trong
biến đổi khí hậu và tập trung chủ yếu vào nhóm ngƣời dân yếu thế thuộc các khu
vực ven biển.
Năm 2009, trong báo cáo: “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu
(BĐKH) và tính dễ bị tổn thương tại Đà Nẵng”, thuộc chƣơng trình: “Mạng

lưới các Thành phố Châu Á có khả năng chống chịu với BĐKH” – Hợp phần
Việt Nam của Viện Nƣớc, Tƣới tiêu và Môi trƣờng với sự hỗ trợ của ISET và
NISTPASS đã đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng do BĐKH, trong đó bao gồm các
tác động do khí hậu gây ra trong hiện tại cũng nhƣ BĐKH trong tƣơng lai, mà
không đề cập đến việc đánh giá nguyên nhân gây ra BĐKH cũng nhƣ các biện
pháp giảm thiểu BĐKH tại thành phố Đà Nẵng.
Tổ chức GIZ năm 2014 đã đƣa ra nghiên cứu về: “Tính tổn thương về giới
ở Cà Mau trong bối cảnh biến đổi khí hậu”. Trên cơ sở đánh giá các khía cạnh
tổn thƣơng về giới tại Cà Mau, các tác giả đã chỉ rõ các khía cạnh tổn thƣơng từ
yếu tố kinh tế xã hội, từ tự nhiên và môi trƣờng vật chất, tổn thƣơng do biến đổi
khí hậu… từ đó cũng cho thấy khả năng ứng phó và phục hồi của ngƣời dân, đặc
biệt là theo giới và đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu khả năng tổn thƣơng
8


về giới tại khu vực này. Cũng nghiên cứu về Cà Mau, nhóm tác giả Lê Thị Diệu
Hiền, Nguyễn Quốc Nghi, Trần Thị Diễm Cần và Nguyễn Xuân Trúc (2014) lại
tập trung vào vẫn đề:“Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế
của cộng đồng xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau” và chỉ ra các giải
pháp giúp cộng đồng ngƣời dân nâng cao khả năng thích ứng với các tác động
của biến đổi khí hậu tại Cà Mau.
Tác giả Lê Quang Cảnh, Hồ Ngọc Anh Tuấn, Hồ Thị Ngọc Hiếu và Trần
Hiếu Quang trong bài viết: “Áp dụng chỉ số tổn thương sinh kế trong đánh giá
tổn thương do biến đổi khí hậu ở vùng Ngũ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa
Thiên Huế (2016)” đã áp dụng chỉ số tổn thƣơng sinh kế (LVI) để chỉ ra mức độ
tổn thƣơng sinh kế tại khu vực nghiên, cứu dao động trong khoảng từ 0 – 0,6 theo
các yếu tố chính, lần lƣợt là: thực phẩm và tài chính, chiến lƣợc sinh kế, mạng lƣới
xã hội, thiên tai và biến đổi khí hậu, đặc điểm hộ, nguồn nƣớc và sức khỏe.
Nhóm tác giả Nguyễn Thị Hà Thanh, Đặng Hữu Liệu và Mai Thị Hƣơng
(12/2016) cũng đã nghiên cứu về vấn đề “Đánh giá tính dễ bị tổn thương đối với

lũ lụt của người dân xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh”. Với nghiên cứu
này, nhóm tác giả đã tính toán đƣợc chỉ số nhạy cảm, mối quan hệ giữa chỉ số
nhạy cảm với các yếu tố thành phần và đánh giá về năng lực thích ứng của
ngƣời dân địa phƣơng gồm có các vốn sinh kế và tri thức bản địa.
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Dung - Trƣờng đại học Cần Thơ, đã áp dụng các
chỉ số tổng hợp LVI trong nghiên cứu mức độ tổn thƣởng sinh kế tại khu vực An
Giang. Với nghiên cứu của mình, tác giả đã đánh giá đƣợc tổn thƣơng sinh kế
giữa huyện An Phú và huyện Châu Thành, chỉ số tổ thƣơng giữa hai vùng trong
và ngoài đê bao, đồng thời đƣa ra các giải pháp để giảm tính tổn thƣơng và ổn
định sinh kế.
Bài báo cáo tổng kết năm 2012 “Đánh giá tính dễ bị tổn thương về sinh kế
vùng hạ lưu sông Mekong” của nhóm tác giả Nguyễn Duy Cần, Seak Sophat và
Sok Khom đã nghiên cứu đƣợc tình hình lũ lụt và tác động của lũ trong những
năm gần đây ở hạ lƣu sông Mekong, đặc biệt là tỉnh Kandal (Campuchia) và An

9


Giang (Việt Nam), các tác giả đã đánh giá đƣợc tính dễ bị tổn thƣơng sinh kế, đề
ra các năng lực ứng phó và giải pháp thích ứng với lũ.
Nhóm tác giả Nguyễn Hoàng Sơn và Nguyễn Trọng Quân trong bài báo
cáo tại hội nghị khoa học Địa lý toàn quốc lần thứ 9 năm 2016 thành phố Quy
Nhơn đã đánh giá đƣợc tính dễ bị tổn thƣơng của các hệ sinh thái ở các xã ven
biển tỉnh Thừa Thiên Huế; xác định đƣợc các nhân tố về điều kiện tự nhiên, kinh
tế - xã hội của các xã ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế và từ đó xây dựng, chuẩn
hóa các biến để đánh giá mức độ tổn thƣơng ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến các xã
ven biển của tỉnh Thừa Thiên Huế.
Tại tỉnh Sơn La, nhằm tạo cơ sở hiện thực hóa các chủ trƣơng, đƣờng lối
của Đảng và Nhà nƣớc nhằm nâng cao đời sống cho ngƣời dân tái định cƣ, năm
2013, Trung tâm giống cây trồng, vật nuôi, thuỷ sản Sơn La đã triển khai thực

hiện đề tài khoa học và công nghệ (KH&CN) cấp tỉnh: “Nghiên cứu, xây dựng mô
hình trồng một số giống cây ngắn ngày phù hợp với vùng bán ngập lòng hồ thủy
điện Sơn La”. Các mô hình này đều đƣợc thử nghiệm tại một số xã thuộc huyện
Quỳnh Nhai nhƣ xã Mƣờng Chiên, xã Pha Khinh và xã Chiềng Bằng. Kết quả thử
nghiệm sau 2 năm cho thấy, khả năng sinh trƣởng, phát triển, năng suất và hiệu quả
kinh tế của các giống cây trồng trong thí nghiệm, năm 2013, đã lựa chọn đƣợc 04
giống cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao khi gieo trồng trên đất bán ngập nhƣ
giống lúa N97, N87, giống ngô nếp lai MX10, giống đậu tƣơng DT84.
Nhƣ vậy, với mục tiêu ổn định cuộc sống, kinh tế bền vững cho ngƣời dân,
các nghiên cứu càng ngày càng có giá trị thực tiễn cao; đồng thời các giải pháp
đã có ý nghĩa thiết thực, phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của ngƣời dân.
7. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo đề tài gồm 3 chƣơng
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chƣơng 2: Nghiên cứu chỉ số tổn thƣơng của ngƣời dân tái định cƣ xã
Chiềng Bằng, huyện Quỳnh Nhai
Chƣơng 3: Một số giải pháp giảm tổn thƣơng sinh kế cho ngƣời dân tái
định cƣ xã Chiềng Bằng, huyện Quỳnh Nhai
10


CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Các khái niệm liên quan
Sinh kế
Định nghĩa sinh kế đầu tiên đƣợc Robert Chambers đề cập đến trong tác
phẩm của mình vào năm 1986. Theo ông, sinh kế ở đây có thể đƣợc định nghĩa
là một mức độ của sự giàu có, của cổ phiếu và là dòng chảy của thực phẩm và
tiền mặt trong đó cung cấp về vật chất cho an sinh xã hội và an ninh nhằm chống
lại việc trở nên nghèo hơn.

Theo Grace Carswell, sinh kế gồm khả năng, hoạt động tài sản và cần thiết
nhƣ phƣơng pháp đến sống. Sinh kế là bền vững nếu nó có thể đối phó và khôi
phục từ các cú sốc, duy trì hoặc cải tiến khả năng của nó và tài sản và cung cấp
lợi ích ròng cho sinh kế khác cục bộ và nhiều hơn nữa, cả hai bây giờ và trong
tƣơng lai, không có phá hoại ngấm ngầm cơ sở tài nguyên thiên nhiên.
Sinh kế bền vững
Thuật ngữ “Sinh kế bền vững” đƣợc sử dụng đầu tiên nhƣ là một khái niệm
phát triển vào những năm đầu 1990. Tác giả Chambers và Conway (1992) định
nghĩa về SKBV nhƣ sau: SKBV bao gồm con ngƣời, năng lực và kế sinh nhai,
gồm có lƣơng thực, thu nhập và tài sản của họ. Ba khía cạnh tài sản là tài
nguyên dự trữ, và tài sản vô hình nhƣ dƣ nợ và cơ hội. SKBV khi nó bao gồm
hoặc mở rộng tài sản địa phƣơng và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi ích
ròng tác động đến sinh kế khác. SKBV về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu
hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tƣơng lai.
Oxfarm cũng đƣa ra định nghĩa về SKBV trong đó nhấn mạnh phát triển
bền vững phải đƣợc xem xét ở nhiều khía cạnh: Kinh tế, xã hội, thể chế, và sinh
thái nhằm đạt đƣợc 2 mục tiêu chính là:
- Ngƣời nghèo sẽ đạt đƣợc an ninh lƣơng thực và thu nhập.
- Ngƣời nghèo đƣợc bảo đảm trong việc thanh toán, việc làm, quyền lao
động và cải thiện điều kiện làm việc.

11


Đồng thời, Oxfarm đã đƣa ra những nền tảng mới cho việc nghiên cứu về
phƣơng pháp tiếp cận để cải thiện sinh kế và quản lý môi trƣờng dƣới cái tên:
“Trao đổi sinh kế - exchanging livehoods (1994 trở đi)”.
Còn theo DFID, SKBV đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Một sinh kế thì bao gồm
những năng lực, tài sản (bao gồm cả tài sản vật chất và tài nguyên xã hội) và
các hoạt động cần thiết để làm phương tiện sinh sống. Một sinh kế là bền vững

khi có thể đối phó và phục hồi từ các stress, các cú sốc, và duy trì được hoặc
tăng cường được các khả năng và các tài sản này cho cả hiện tại và tương lai,
trong khi không gây ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn tài nguyên thiên nhiên”.
Để duy trì sinh kế, mỗi hộ gia đình thƣờng có các kế sách, cách thức duy trì
cuộc sống, tìm cách mƣu sinh khác nhau. Cách thức sinh nhai của từng hộ hay
chiến lƣợc sinh kế của hộ chính quá trình ra quyết định về các vấn đề liên quan
cấp hộ. Bao gồm những vấn đề nhƣ thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các
thành viên, phân bổ các nguồn lực vật chất và chi phí vật chất của hộ.
Do vậy, những khối xây dựng chính tạo nên sinh kế của con ngƣời là các
nguồn và tài sản mà họ có, hoặc có thể có đƣợc từ những nguồn khác. Chiến
lƣợc sinh kế của hộ phải dựa vào năm nhóm theo từng loại nguồn vốn và tài sản
cơ bản sau:
Vốn con người: bao gồm kĩ năng, kiến thức, sự giáo dục của từng cá nhân
và các thành viên trong gia đình, sức khỏe, thời gian, khả năng làm việc để họ
đạt đƣợc những kết quả sinh kế.
Vốn xã hội: là mạng lƣới và mối quan hệ xã hội, các tổ chức xã hội… mà
con ngƣời tham gia để từ đó có đƣợc những cơ hội và lợi ích khác nhau.
Vốn tự nhiên: là nhóm các nguồn lực tự nhiên của một hộ hay một cộng
đồng mà ở đó con ngƣời trông cậy vào nhƣ đất, nƣớc, rừng, mùa màng…
Vốn tài chính: là nguồn lực tài chính mà con ngƣời có đƣợc nhƣ nguồn thu
nhập tiền mặt, các loại hình tiết kiệm, tín dụng…
Vốn vật chất: bao gồm các công trình hạ tầng xã hội cơ bản, các tài sản của
hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế nhƣ giao thông, hệ thống cấp nƣớc và năng lƣợng,
nhà ở và các đồ dùng, dụng cụ trong gia đình.
12


Nhƣ vậy, các tổ chức hay cá nhân khi nghiên cứu về vấn đề sinh kế hay
SKBV đều thống nhất rằng, sinh kế chính là sự tập hợp các nguồn lực và khả
năng mà con ngƣời có đƣợc kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ

thực thi, nhằm để kiếm sống và để đạt đƣợc các mục tiêu cũng nhƣ ƣớc nguyện
của họ. Một sinh kế là bền vững khi con ngƣời có thể đối phó, phục hồi từ
những áp lực, những biến động đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng,
tài sản cả hiện tại và trong tƣơng lai mà quan trọng là không gây tổn hại tới các
nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Khung sinh kế: là một công cụ đƣợc xây dựng nhằm xem xét những yếu tố
khác nhau ảnh hƣởng đến sinh kế con ngƣời, đặc biệt quan tâm đến những yếu
tố gây khó khăn hoặc tạo cơ hội trong các hoạt động sinh kế.
Tính dễ bị tổn thương (Vulnerability) là mức độ tổn thất, suy thoái của hệ
thống, mức độ chống chịu, phục hồi, ứng phó của nó trước các tác động từ bên
ngoài (tai biến và các hoạt động nhân sinh).
Các yếu tố liên quan:
Các nghiên cứu tính dễ bị tổn thƣơng hiện nay đều đƣợc tiếp cận theo 3
thành phần: các mối đe dọa hay đƣợc nhận định là các yếu tố gây tổn thƣơng;
các đối tƣợng bị tổn thƣơng hay độ nhạy cảm của các đối tƣợng trƣớc mối đe
dọa và khả năng ứng phó, phục hồi, chống chịu, thích ứng.
Các mối đe dọa có khi là từ bên ngoài nhƣ các tai biến (Hazards): động
đất, sóng thần, xói lở bờ biển, ô nhiễm môi trƣờng, tràn dầu và các tai biến
liên quan đến BĐKH nhƣ bão, lũ lụt, hạn hán, dâng cao mực nƣớc
biển, nhiễm mặn…, nhƣng cũng có khi là từ bên trong bị gây ra bởi các sự
kiện kinh tế - xã hội.
Đối tượng bị tổn thương: đƣợc nhận định là các đối tƣợng dễ bị bị thay đổi
khi chịu tác động của các mối đe dọa. Các đối tƣợng bị tổn thƣơng đƣợc đề cập,
nghiên cứu nhƣ cộng đồng ngƣời, đô thị, đới ven biển, hệ sinh thái ven biển, các
ngành kinh tế (du lịch, thủy sản, nông nghiệp,…).
Khả năng ứng phó/phục hồi của hệ thống: là khả năng của một hệ thống
cho phép nó hấp thụ và tận dụng hay thậm chí thu lợi từ những biến đổi và thay
13



đổi tác động đến hệ thống và do đó, làm cho hệ thống tồn tại mà không làm thay
đổi về chất trong cấu trúc hệ thống (Hooling, 1973); là khả năng thích nghi với
các hoàn cảnh đang thay đổi và do vậy đảm bảo tính an toàn của các phƣơng
thức sống (Luttrell, 2001); là khả năng của thực thể (con ngƣời, tài nguyên, các
hệ sinh thái, đới ven biển,...) để chống lại, phản ứng và phục hồi lại từ những tác
động của tự nhiên (SOPAC, 2004); là mặt đối lập của tổn thƣơng, là khả năng
của xã hội hoặc hệ sinh thái để thích ứng trƣớc những thay đổi lớn hoặc bất ngờ
(Adger và cộng sự, 2005; Allenby và Fink, 2005). Khả năng ứng phó/phục hồi
đƣợc đánh giá qua các tiêu chí nhƣ độ tuổi, giới tính, trình độ văn hóa, giáo dục,
mức độ giàu/nghèo của cồng đồng bị tổn thƣơng, mật độ cơ sở hạ tầng của vùng
bị tổn thƣơng, chính sách bảo vệ, bảo tồn tài nguyên - môi trƣờng,…
Đánh giá tổn thương: Theo ISSMGE TC32 (2004), khả năng tổn thƣơng là
mức độ thiệt hại của một thành tố hoặc một tập hợp các thành tố trong khu vực
bị ảnh hƣởng bởi các mối nguy hiểm. Các thành tố này có thể bao gồm một xã
hội, một cộng đồng hay một hộ gia đình. Các HGĐ và cộng đồng có thể bị phơi
lộ dƣới nhiều dạng tai biến khác nhau bao gồm: các sự kiện thời tiết bất thƣờng,
dịch bện, thiên tai, khủng hoảng kinh tế, áp lực môi trƣờng, xung đột dân sự...
1.1.2. Phƣơng pháp đánh giá chỉ số tổn thƣơng (LVI)
Đánh giá tổn thƣơng (mô tả một tập hợp đa dạng các phƣơng pháp) đƣợc
sử dụng để tích hợp hệ thống và kiểm tra sự tƣơng tác giữa con ngƣời và môi
trƣờng xung quanh vật chất và xã hội của họ (Hahn, 2009). Có nhiều phƣơng
pháp đánh giá tổn thƣơng; tuy nhiên, chúng ta có thể phân thành hai nhóm:
phƣơng pháp định tính và phƣơng pháp định lƣợng
- Đánh giá tổn thƣơng bằng phƣơng pháp định tính
Đánh giá tổn thƣơng bằng phƣơng pháp định tính chủ yếu dựa vào nguyên
lý và công cụ của PRA (Participatory Rural Appraisal). Một trong những cách
tiếp cận định tính để đánh giá tổn thƣơng đƣợc Chikawa (2005) đề xuất là đánh
giá tổn thƣơng có sự tham gia (Participatory Vulnerability Analysis - PVA).
Phân tích tính tổn thƣơng một cách hệ thống bao gồm sự tham gia của cộng
đồng và các bên có liên quan để đánh giá chi tiết tình trạng tổn thƣơng của một

14


nhóm ngƣời nào đó. Trong cộng đồng, đồng thời khuyến khích họ tham gia vào
việc xây dựng kế hoạch hành động thích hợp, nhằm giảm thiểu tình trạng dễ bị
tổn thƣơng của họ. PVA đòi hỏi sự tham gia tích cực của cộng đồng, đặt biệt là
nhóm ngƣời dễ bị tổn thƣơng nhất. Thông qua PVA, tính phức tạp của tổn
thƣơng sẽ đƣợc phân tích thành những phần nhỏ hơn để có thể hiểu và tìm biện
pháp giải quyết. Kết quả của PVA sẽ giúp chúng ta giải quyết các vẫn đề:
+ Xác định đƣợc nhóm ngƣời dễ bị tổn thƣơng
+ Xác định các yếu tố (nguyên nhân) gây nên tính dễ tổn thƣơng của nhóm
+ Tìm hiểu hành động đối phó của cộng đồng
+ Nhận ra năng lực nội tại của họ
Xây dựng chiến lƣợc thích ứng dựa trên năng lực của ngƣời dân PVA là
phƣơng pháp đánh giá tổn thƣơng đa cấp, nghĩa là cần thực hiện ở nhiều cấp độ
khác nhau (ví dụ: quốc gia, tỉnh, huyện, xã, cộng đồng). Bởi vì, trong nhiều
trƣờng hợp, nguồn lực và giải pháp để giảm tính tổn thƣơng cho cộng đồng
thƣờng nằm ngoài tầm của cộng đồng đó mà cần có sự hỗ trợ từ cấp cao hơn
(Nguyễn Thanh Bình, 2013).
- Đánh giá tổn thƣơng bằng phƣơng pháp định lƣợng: Phƣơng pháp nghiên
cứu định lƣợng là một điều tra để nhận dạng vấn đề, kiểm định một lý thuyết, đo
lƣờng các con số và phân tích bằng các kỹ thuật thống kê. Mục tiêu của các
Phƣơng pháp định lƣợng là để xác định có hay không việc suy rộng một lý
thuyết nào đó (Võ Thị Thanh Lộc, 2010).
Đánh giá tổn thƣơng bằng phƣơng pháp định lƣợng cũng đã đƣợc nhiều tác
giả nghiên cứu và sử dụng thông qua việc xây dựng “chỉ số tổn thương” nhƣ:
Hahn (2009), Vincent (2010), Nguyễn Văn Quỳnh Bôi và Đoàn Thị Thanh
Kiều (2012), Nguyễn Thanh Bình (2013).
Đánh giá tổn thƣơng bằng phƣơng pháp định lƣợng có ƣu điểm là:
+ Tổng hợp sự đa dạng và nhiều chiều của hiện tƣợng kinh tế - xã hội phức

tạp trong thực tế thành một chỉ số đơn giản nhƣng không bỏ sót các thông tin
quan trọng hay các nhân tố chính của hiện tƣợng đang đƣợc mô tả.

15


+ Sử dụng chỉ số tổng hợp sẽ dễ dàng giải thích hơn là sử dụng nhiều chỉ số
thành phần, điều này giúp ích cho các nhà quản lý có những quyết định đúng
đắn trong việc phát triển kinh tế - xã hội địa phƣơng, và cũng có thể dung để
đánh giá sự tiến bộ hay tụt hậu của một đơn vị nào đó (quốc gia, tỉnh, huyện, xã
hay cộng đồng).
Tuy nhiên, khi sử dụng phƣơng pháp này cần lƣu ý:
+ Có thể ra quyết định sai lệch vì phƣơng pháp và thông tin dùng để xây
dựng chỉ số tổng hợp còn “nghèo nàn” hay giải thích không hợp lý.
+ Có thể tạo ra các kết luận đơn giản, bỏ đi một số thông tin quan trọng.
+ Sự lựa chọn các chỉ số thành phần và xác định trọng số có thể là chủ đề
gây tranh cãi trong việc xây dựng chỉ số.
+ Để thuận tiện, đôi khi những thông tin hay chỉ số cần thiết để phản ánh sự
việc bị bỏ qua vì khó thu thập, điều này dễ dẫn đến các kết luận sai với sự thật.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Di dân TĐC thủy điện Sơn La
Công trình thủy điện Sơn La là công trình thủy điện lớn nhất Đông Nam Á
phải tiến hành công cuộc di dân TĐC có tổ chức lớn nhất Việt Nam tính cho đến
thời điểm hiện nay. Việc di dân vùng lòng hồ là một công việc phức tạp và đòi
hỏi thực hiện tốt công tác di dân gắn liền với quá trình tổ chức TĐC sẽ là điều
kiện tiên quyết đối với sự thành bại của công trình. Bên cạnh những ý nghĩa to
lớn về kinh tế, xã hội thì công tác di dân TĐC đòi hỏi đảm bảo di dân đến nơi ở
mới an toàn, đúng tiến độ thi công xây dựng công trình; từng bƣớc ổn định sản
xuất, đời sống tốt hơn nơi ở cũ. Di dân, TĐC là nhiệm vụ mới quan trọng, toàn
diện và nhạy cảm, liên quan đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực khác nhau của đời

sống kinh tế - xã hội…
Thành phần dân tộc của dân cƣ vùng lòng hồ Sơn La khá đa dạng (12/30
dân tộc sinh sống trên toàn Tây Bắc), chủ yếu là ngƣời Thái (chiếm 65,12%),
cộng đồng ngƣời Thái + Kinh chiếm gần 20%, ngoài ra còn có ngƣời Dao chiếm
4%; còn lại là đồng bào các dân tộc ít ngƣời. Phần lớn đời sống đồng bào còn
gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí còn thấp. Mặt khác, các hộ di dân chủ yếu
16


là đồng bào các dân tộc ít ngƣời do vậy cần có những chính sách dân tộc cho
phù hợp.
Đồng bào các dân tộc sống quần tụ thành bản theo dòng tộc, nhiều nơi các
dân tộc khác nhau sống xen ghép, nhƣng mỗi dân tộc có tập quán và bản sắc
riêng. Đây là đặc điểm hết sức quan trọng cần chú ý trong quá trình tổ chức sắp
xếp TĐC.
1.2.2. Di dân tái định cƣ tại xã Chiềng Bằng, huyện Quỳnh Nhai
Theo kết quả đi khảo sát thực địa và thu thập tài liệu của nhóm đề tài thì
toàn bộ 15/15 bản trƣớc đây của xã đều bị ảnh hƣởng ngập nên phải di chuyển
đến các nơi ở mới với tổng số 1.194 hộ gia đình và 7321 nhân khẩu đều phải di
rời. Căn cứ vào điều kiện tự nhiên nhƣ: đất đai, nguồn nƣớc hiện có, chính
quyền và ngƣời dân địa phƣơng thống nhất 68 hộ thuộc 2 bản: Vịa Cƣớm, Bản
Búng đã di rời rải rác tại các khu vực Pú Ỏ, Pú Hay 2...
Theo kế hoạch di dân TĐC thủy điện Sơn La UBND tỉnh Sơn La giao cho
huyện Quỳnh Nhai tại Quyết định 172 và Quyết định số 104/2005/QĐ-UBND
ngày 11/9/2005: số hộ dân phải di chuyển tại xã Chiềng Bằng là 1.175 trong đó:
di chuyển đến huyện Mai Sơn là 113 hộ, huyện Thuận Châu là 271 hộ, các hộ
dân còn lại di chuyển tại chỗ và các ở trong huyện.

17



Tiểu kết chƣơng 1
Xã Chiềng Bằng thuộc huyện Quỳnh Nhai là một trong những xã di dân
theo hình thức di vén. Cuộc sống của ngƣời dân cũng đã từng bƣớc dần ổn định.
Một sinh kế bao gồm những năng lực, tài sản (bao gồm cả tài sản vật
chất và tài nguyên xã hội) và các hoạt động cần thiết để làm phƣơng tiện sinh
sống. Một sinh kế là bền vững khi có thể đối phó và phục hồi từ trầm cảm,
căng thẳng, các cú sốc và duy trì đƣợc hoặc tăng cƣờng đƣợc các khả năng và
các tài sản này cho cả hiện tại và tƣơng lai, trong khi không gây ảnh hƣởng
tiêu cực đến tự nhiên.
Khung SKBV đƣợc nhiều tổ chức đƣa ra và ngày càng hoàn thiện, trong đó
lấy trọng tâm là ngƣời nghèo. Trong khung sinh kế thể hiện rõ chiến lƣợc sinh
kế dựa trên 5 vốn cơ bản: con ngƣời, tự nhiên, tài chính, xã hội, vật chất.
Chỉ số LVI đƣợc Hahn và các cộng sự đề xuất gồm 7 yếu tố chính (đặc
điểm hộ, chiến lƣợc sinh kế, các mạng lƣới xã hội, sức khỏe, lƣơng thực và tài
chính, nguồn nƣớc, các thảm họa tự nhiên và biến đổi khí hậu) trong nghiên cứu
của đề tài lấy trọng tâm là lƣơng thực và tài chính để đánh giá đƣợc chỉ số tổn
thƣơng của ngƣời dân TĐC xã Chiềng Bằng, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La.

18


CHƢƠNG 2: NGHIÊN CỨU CHỈ SỐ TỔN THƢƠNG CỦA NGƢỜI DÂN
TÁI ĐỊNH CƢ XÃ CHIỀNG BẰNG, HUYỆN QUỲNH NHAI
2.1. Khái quát khu vực nghiên cứu
2.1.1. Vị trí địa lí
Xã Chiềng Bằng thuộc huyện Quỳnh Nhai, xã nằm ở phía Nam cách trung
tâm huyện Quỳnh Nhai 30 km theo Quốc lộ 107, có diện tích tự nhiên là 2.914,2
ha, hệ tọa độ từ 21038’ – 21064’B, 103040’ – 103067’Đ.


Vị trí tiếp giáp:
Phía Bắc giáp xã Chiềng Ơn (huyện Quỳnh Nhai)
Phía Nam giáp xã Mƣờng Sại và xã Phỏng Lái (huyện Thuận Châu)
Phía Đông giáp xã Mƣờng Sại (huyện Quỳnh Nhai)
Phía Tây giáp xã Mƣờng Giàng (huyện Quỳnh Nhai)
19


×