Tải bản đầy đủ (.pdf) (101 trang)

Mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của công ty tại một số nước đang phát triển ở đông nam á

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.83 MB, 101 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

TRẦN ĐÀO PHƢƠNG LINH

MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN
VÀ KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA CÔNG TY
TẠI MỘT SỐ NƢỚC ĐANG PHÁT TRIỂN Ở ĐÔNG NAM Á.

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

TRẦN ĐÀO PHƢƠNG LINH
MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN
VÀ KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA CÔNG TY
TẠI MỘT SỐ NƢỚC ĐANG PHÁT TRIỂN Ở ĐÔNG NAM Á.

Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân Hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. VŨ VIỆT QUẢNG

TP. Hồ Chí Minh – 2016




LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, có sự hỗ trợ của
giáo viên hướng dẫn là TS. Vũ Việt Quảng.
Số liệu trong các bảng biểu và hình vẽ phụ vụ cho việc phân tích có nguồn
gốc và trích dẫn rõ ràng, được chính tác giả thu thập và xử lý. Các nội dung và kết
quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.
Nếu phát hiện bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình.
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2015
Tác giả

Trần Đào Phương Linh


MỤC LỤC

Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
TÓM TẮT ......................................................................................................................................... 5
1.

GIỚI THIỆU ........................................................................................................................... 6
1.1.


Tầm quan trọng .............................................................................................................. 6

1.2.

Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................................... 9

1.3.

Kết cấu luận văn ........................................................................................................... 11

2.

NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM ..................................................................... 12

3.

PHƢƠNG PHÁP VÀ MÔ TẢ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU .................................................. 33
3.1.

Phƣơng pháp nghiên cứu: ............................................................................................. 33

3.2.

Mô tả dữ liệu: ................................................................................................................. 38

3.2.1.

Chọn mẫu: ............................................................................................................... 38


3.2.2.

Mô tả biến:............................................................................................................... 38

3.2.3.

Thống kê mô tả ....................................................................................................... 43

3.2.4.

Phân tích hệ số tƣơng quan ................................................................................ 46

4.

KẾT QUẢ HỒI QUY ............................................................................................................. 50

5.

KẾT LUẬN ............................................................................................................................ 67

Tài liệu tham khảo
Phụ lục


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT


CCC

Chu kỳ luân chuyển tiền mặt


(Cash Conversion Cycle)
AR

Thời gian thu hồi các khoản phải thu

(Accounts Receivable)
AP

Thời gian thanh toán các khoản phải trả

(Accounts Payable)
INV

Thời gian lưu kho

(Inventories turnover)
SIZE

Quy mô công ty

(Size of the firm)
CG

Quy mô Hội đồng quản trị

(Corporate governance)
GDP
(The gross domestic product growth)


Tốc độ tăng trưởng GDP


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Bảng thống kê mô tả
Bảng 3.2: Kết quả hệ số tương quan tổng thể tại bốn quốc gia
Bảng 3.3: Kết quả hệ số tương quan tại Việt Nam
Bảng 3.4: Kết quả hệ số tương quan tại Thái Lan
Bảng 3.5: Kết quả hệ số tương quan tại Malaysia
Bảng 3.6: Kết quả hệ số tương quan tại Singapore
Bảng 4.1: Kết quả hồi quy mô hình 1 tổng thể bốn quốc gia
Bảng 4.2: Kết quả hồi quy mô hình 1 theo từng quốc gia
Bảng 4.3: Kết quả hồi quy mô hình 2 tổng thể bốn quốc gia
Bảng 4.4: Kết quả hồi quy mô hình 2 theo từng quốc gia
Bảng 4.5: Kết quả hồi quy mô hình 3 tổng thể bốn quốc gia
Bảng 4.6: Kết quả hồi quy mô hình 3 theo từng quốc gia
Bảng 4.7: Kết quả hồi quy mô hình 4 tổng thể bốn quốc gia
Bảng 4.8: Kết quả hồi quy mô hình 4 từng quốc gia


5

TÓM TẮT
Trong xu thế hội nhập hiện nay, các hiệp định thương mại tự do đã được ký
kết tại nhiều quốc gia trong nhiều năm qua với mục tiêu truyền thống là dỡ bỏ các
rào cản thương mại, nhiều thỏa thuận thương mại hiện nay đang hướng đến tự do
hóa dịch vụ thương mại, đầu tư nước ngoài cũng như đơn giản hoá các thủ tục giải
quyết các tranh chấp thương mại. Đây là cơ hội và cũng là thách thức đối với tất cả
các công ty. Để có thể tận dụng các cơ hội và vượt qua các thách thức trong thời kỳ

hội nhập hiện nay, nguồn vốn kinh doanh của các doanh nghiệp là điều kiện tiên
quyết đối với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Trong các cuộc khủng
hoảng về tài chính những năm về trước, nguồn vốn của công ty không đủ mạnh do
đó các doanh nghiệp rất cần vốn để tiếp tục duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh
của mình, tuy nhiên các công ty lại gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các
nguồn vốn từ bên ngoài dẫn đến việc nhiều công ty đã phải đi đến phá sản. Vì vậy,
việc quản trị vốn, đặc biệt là quản trị vốn luân chuyển hiệu quả là một nội dung
quan trọng trong quản trị tài chính của doanh nghiệp để có thể duy trì và phát triển
hoạt động của mình.
Mục tiêu của bài nghiên cứu là xem xét mối quan hệ thống kê giữa khả năng
sinh lời của công ty và quản trị vốn luân chuyển qua 400 công ty phi tài chính niêm
yết tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ chí Minh (HOSE), Sở giao dịch
chứng khoán Singapore (SGX), Sở giao dịch chứng khoán Thái Lan (SET) và Sở
giao dịch chứng khoán Malaysia (BURSA) trong giai đoạn 2009 đến 2015.
Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa việc quản trị vốn
luân chuyển và khả năng sinh lợi của công ty. Hay nói cách khác là công ty cần xem
xét giảm chu kỳ luân chuyển tiền về mức tối ưu sẽ giúp công ty gia tăng lợi nhuận
của mình.
Từ khóa: Quản trị vốn luân chuyển, khả năng sinh lời của công ty, chu kỳ
luân chuyển tiền, kỳ luân chuyển hàng tồn kho tồn kho, kỳ thu tiền khách hàng, kỳ
thanh toán tiền cho người bán, quy mô công ty.


6

1.

GIỚI THIỆU

1.1.


Tầm quan trọng
Mục tiêu chính của các doanh nghiệp là tối đa hóa giá trị của cổ đông.

Tuy nhiên sự bất ổn của kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng
đặt ra áp lực rất lớn lên vai các nhà quản trị trong việc tối đa hóa giá trị cổ đông,
quản lý thu nhập hiệu quả và chèo kéo công ty thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh
tế toàn cầu đang diễn ra. Các nhà quản lý luôn quan tâm đến những biến động
của nền kinh tế bởi vì đó là một nhân tố quan trọng đển việc tối đa hóa tính
thanh khoản của công ty và dòng tiền tự do. Đặc biệt, trong hoàn cảnh nền kinh
tế còn gặp nhiều khó khăn như hiện nay thì các doanh nghiệp khó có thể tìm
được nguồn tài trợ từ bên ngoài, vì vậy, việc quản trị nguồn vốn của doanh
nghiệp, đặc biệt là quản trị vốn luân chuyển là một vấn đề các nhà quản trị của
doanh nghiệp đang rất quan tâm.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh đều cần phải có nguồn vốn nhất định. Chỉ khi nào có vốn doanh nghiệp
mới có thể đầu tư các yếu tố đầu vào để thực hiện hoạt động sản xuất kinh
doanh. Một trong những nguồn vốn quan trọng đó là vốn luân chuyển của công
ty. Vốn luân chuyển được coi là tài sản ngắn hạn của một công ty, chiếm một tỷ
lệ quan trọng trong nguồn lực tài chính của công ty và được chuyển hóa qua
nhiều hình thái khác nhau, thay đổi ngày qua ngày trong hoạt động sản xuất của
công ty. Do đó, vốn luân chuyển được xem là một thành phần quan trọng giúp
duy trì hoạt động của một công ty. Vốn luân chuyển thuần có thể được tính toán
bằng cách lấy tài sản ngắn hạn của công ty (Tài sản ngắn hạn chủ yếu gồm có
tiền mặt, chi phí trả trước, đầu tư ngắn hạn, khoản phải thu, hàng tồn kho, khoản
phải trả và các loại tài sản ngắn hạn khác) trừ đi nợ ngắn hạn của công ty. Nếu
giá trị của tài sản ngắn hạn nhỏ hơn nợ ngắn hạn thì vốn luân chuyển thuần sẽ có
giá trị âm, thể hiện vốn luân chuyển bị thâm hụt.



7

Công ty cần vốn luân chuyển để duy trì tính thanh khoản, khả năng thanh
toán nợ và khả năng sinh lợi của công ty. Do đó, việc quản trị vốn luân chuyển
hiệu quả đóng vai trò khá quan trọng trong quản lý công ty. Khi một doanh
nghiệp đưa ra quyết định đối với tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn của mình thì
được gọi là quản trị vốn luân chuyển. Hay nói cách khác là: Quản trị vốn luân
chuyển có thể được định nghĩa như một sự duy trì mức độ tài sản ngắn hạn và nợ
ngắn hạn phù hợp nhằm duy trì tốt hoạt động công ty, tận dụng tối đa nguồn vốn
và tối thiểu hóa chi phí, tạo ra đủ tiền để thanh toán các nghĩa vụ ngắn hạn cũng
như đầu tư thêm vào sản xuất kinh doanh. Nếu một công ty dự định đầu tư nhiều
vào vốn luân chuyển, tức là lợi nhuận có thể đầu tư vào tài sản cố định hoặc tài
sản dài hạn sẽ bị cắt giảm. Mặt khác, nếu một công ty đầu tư quá nhiều vào tài
sản cố định mà bỏ quên nhu cầu vốn ngắn hạn thì có thể sẽ phải đối mặt với tình
trạng kiệt quệ tài chính vì không đủ tiền để đáp ứng các nghĩa vụ trong ngắn hạn.
Khả năng sinh lợi và khả năng thanh khoản là 2 mục tiêu chính để duy trì
hoạt động của một công ty, do đó nhiệm vụ chính của các nhà quản trị là xem xét
việc đánh đổi giữa lợi nhuận và thanh khoản ở một mức độ tối ưu nhất nhằm
đem lại hiệu quả cho công ty. Việc thiếu vốn luân chuyển là một trong những
nguyên nhân phổ biến dẫn tới phá sản ở nhiều doanh nghiệp nhỏ ở nhiều nước
khác nhau. Quản trị hiệu quả vốn luân chuyển bao gồm 2 bước là chuẩn bị nguồn
vốn và quản trị nguồn vốn đó nhằm hướng đến mục tiêu là công ty có thể đáp
ứng các nghĩa vụ ngắn hạn cũng như tránh lãng phí nguồn lực vì đầu tư quá
nhiều vào tài sản ngắn hạn (Eljelly, 2004). Quản trị hiệu quả sẽ làm giảm nhu
cầu vay mượn bên ngoài cho công ty. Có nhiều các tiếp cận khác nhau đối với
quản trị vốn luân chuyển, 2 cách cơ bản tiếp cận chủ yếu đó là chính sách quản
trị vốn luân chuyển cấp tiến và chính sách quản trị vốn luân chuyển bảo thủ.
Chính sách quản trị cấp tiến với việc đầu tư nhiều vào tài sản cố định và đầu tư ít
vào tài sản ngắn hạn có thể tạo ra nhiều lợi nhuận cho công ty, tuy nhiên nó cũng
đặt công ty vào nguy cơ thiếu vốn để duy trì hoạt động thường ngày và khoản trả

nợ ngắn hạn. Ngược lại, chính sách bảo thủ đầu tư ít vào tài sản cố định để đổ


8

vốn vào tài sản ngắn hạn, nó hàm ý rằng nợ ngắn hạn được ưa thích sử dụng hơn
so với nợ dài hạn, tỷ lệ nợ ngắn hạn nhiều sẽ cần nhiều vốn ở dạng thanh khoản
cao để chi trả sớm nhằm hưởng được lãi vay thấp và tiết kiệm được nhiều hơn.
Tóm lại, với rất nhiều lý do ở trên, chúng ta đã thấy được mối quan hệ khăng
khít giữa quản trị vốn luân chuyển và lợi nhuận của một công ty. Do đó, bài
nghiên cứu này được thực hiện dựa trên bài nghiên cứu gốc “The significance of
working capital management in determining firm profitability: Evidence from
developing countries in Africa” của tác giả Ben Ukaegbu nhằm khẳng định tác
động của quản trị vốn luân chuyển lên lợi nhuận của các công ty ở các nước
đang phát triển tại Đông Nam Á cụ thể là các nước Việt Nam, Thái Lan,
Malaysia và Singapore để giúp các nhà quản trị doanh nghiệp có cái nhìn sâu sắc
hơn về vốn luân chuyển, qua đó có những chính sách nhằm nâng cao thành quả
của doanh nghiệp và tối đa hóa giá trị cổ đông.
Tóm lại, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, mỗi công ty đều
phải duy trì một lượng vốn nhất định. Việc tổ chức quản lý, sử dụng nguồn vốn
có hiệu quả hay không mang tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của công
ty trong tương lai. Vốn luân chuyển là nguồn vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất
kinh doanh của công ty diễn ra thường xuyên và liên tục. Ngoài ra, vốn luân
chuyển còn là yếu tố góp phần mang lại lợi nhuận trong kinh doanh. Vấn đề đặt
ra cho công ty là phải nhận thức được tầm quan trọng của vốn luân chuyển và
việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn luân chuyển để đảm bảo cho quá trình tuần
hoàn vốn và tạo hiệu quả kinh tế cao. Do đó, việc quản lý vốn luân chuyển thì rất
quan trọng bởi vì nó ảnh hưởng đến khả năng sinh lời, rủi ro cũng như giá trị của
công ty.



9

1.2.

Mục tiêu nghiên cứu
Nhiệm vụ chính của việc quản trị vốn luân chuyển là đảm bảo công ty có thể

chi trả các khoản chi phí hoạt động và vẫn còn khả năng chi trả các nghĩa vụ trong
ngắn hạn khi đến hạn. Việc xao lãng việc quản trị vốn luân chuyển có thể mang đến
rủi ro thanh khoản và giảm lợi nhuận của công ty, vì thế ảnh hưởng đến việc công ty
có thể tiếp tục hoạt động hay không.
Tầm quan trọng của quản trị vốn luân chuyển đã được xem xét ở nhiều
nghiên cứu trước đây. Các nghiên cứu trước đây đã sử dụng các chỉ tiêu về thời gian
lưu trữ hàng hóa tồn kho, thời gian thu hồi các khoản phải thu từ khách hàng cũng
như thời gian thanh toán các khoản phải trả cho người bán được thể hiện thông qua
chu kỳ chuyển đổi tiền mặt của công ty cũng như các biến kiểm soát khác để xem
xét sự ảnh hưởng của các thành phần trong vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi
của công ty.
Các công ty thường quản trị vốn luân chuyển theo 3 cách sau: thận trọng/bảo
thủ (conservative), cấp tiến (aggressive) và ôn hòa (moderate). Phương pháp bảo
thủ là cách các công ty hướng tới việc sử dụng các nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho
hoạt động của công ty và sử dụng nguồn vốn ngắn hạn trong các trường hợp khẩn
cấp. Ngược lại với phương pháp trên là phương pháp cấp tiến thì các công ty có ít
tài sản ngắn hạn như tiền mặt, hàng tồn kho, khoản phải thu thương mại hơn trong
tổng tài sản. Điều này dẫn đến làm giảm tính thanh khoản cho công ty (Van Horne
và Wachowicz, 2004). Theo phương pháp ôn hòa thì tách biệt giữa tài sản ngắn hạn
biến động và tài sản ngắn hạn cố định với nhận định rằng nguồn tài chính ngắn hạn
sẽ được dùng tài trợ cho tài sản ngắn hạn biến động và nguồn tài chính dài hạn sẽ
được dùng để tài trợ cho tài sản ngắn hạn cố định.

Quản trị vốn luân chuyển có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của công ty.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng chính sách quản trị vốn luân chuyển cần phải xem xét đến
bản chất của công ty bởi vì các công ty khác nhau sẽ có yêu cầu về vốn luân chuyển


10

khác nhau. Ví dụ, công ty sản xuất cần đầu tư mạnh vào máy móc thiết bị, trong khi
các nhà bán lẻ thực phẩm cần đầu tư nhiều vào hàng tồn kho hàng hóa để bán lại
nhưng sẽ có ít khoản phải thu. Tuy nhiên, công ty cũng có thể tập trung vào việc
tăng trưởng doanh số bán hàng thông qua việc cấp các khoản tín dụng thương mại
cho khách hàng. Lúc này có thể công ty có thể tăng vòng quay hàng tồn kho nhưng
nó cũng mang đến vấn đề về dòng tiền bởi vì một vài khoản phải thu có thể sẽ chậm
thanh toán trong thời gian dài. Bên cạnh việc công ty gia tăng các khoản doanh số
tín chấp thì công ty cũng có thể yêu cầu tài trợ cho hoạt động của công ty thông qua
vay nợ hoặc tăng các khoản phải trả. Lượng hàng tồn kho tối ưu đảm bảo cho công
ty tránh rơi vào thiếu hàng hóa cung ứng. Tuy nhiên nó có thể làm tăng chi phí lưu
trữ, cũng như việc hàng tồn khó giảm chất lượng hay bị đánh cắp.
Quản trị vốn luân chuyển đóng vai trò quan trọng trong chiến lược tối đa hóa
giá trị cổ đông của công ty. Theo nghiên cứu của Nwankwo và Osho năm 2010 thì
việc tối đa hóa giá trị cổ đông bao gồm việc xác định thành phần và mức độ của tài
sản ngắn hạn và mức độ và nguồn tà trợ ngắn hạn. Bên cạnh đó thì theo nghiên cứu
của Alshubiri năm 2011 cho rằng các công ty quản trị hiệu quả vốn luân chuyển của
họ thì dường như có thể phản ứng nhanh lại các thay đổi các thay đổi không kỳ
vọng của nền kinh tế. Điều này đòi hỏi các công ty phải xem xét thường xuyên mức
độ hàng tồn kho, các khoản phải thu và phải trả.
Đã có nhiều bài nghiên đã đưa ra kết luận rằng quản trị vốn luân chuyển và
khả năng sinh lợi của công ty có mối quan hệ mật thiết với nhau. Vì thế mục tiêu
của bài nghiên cứu này là xem xét tác động của thời gian thu hồi các khoản nợ, thời
gian lưu kho, thời gian thanh toán cho người bán và chu kỳ luân chuyển tiền đến lợi

nhuận của công ty. Bài nghiên cứu sử dụng các chỉ số về quy mô công ty, quy mô
Hội đồng quản trị làm các biến kiểm soát.


11

1.3.

Kết cấu luận văn
Cấu trúc của bài nghiên cứu gồm các phần như sau:

Phần 2: Những nghiên cứu thực nghiệm: Trình bày những nghiên cứu trong và
ngoài nước trước đây về mối quan hện giữa khả năng sinh lợi và quản lý vốn
luân chuyển của công ty
Phần 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu: Trình bày cách chọn mẫu, mô
hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu.
Phần 5: Kết luận.


12

2.

NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
Vốn luân chuyển là nguồn vốn quan trọng và quyết định sự sinh tồn của

hầu hết các công ty. Các chuyên gia cho rằng mục tiêu của việc quản trị vốn luân
chuyển là vừa tối đa hóa lợi nhuận công ty vừa phải đảm bảo công ty có đủ khả
năng chi trả các khoảng nợ ngắn hạn và các chi phí hoạt động trong tương lai, …

đảm bảo tính thanh khoản của công ty. Hiệu quả của việc quản trị vốn luân
chuyển được xem xét thông qua việc đánh đổi giữa khả năng sinh lời và khả
năng thanh khoản của công ty. Để làm sáng rõ nhận định trên, trong nhiều năm
qua đã có nhiều bài nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa quản trị vốn luân
chuyển và khả năng sinh lời của công ty.
Trong bài nghiên cứu của Shin và Soenen (1998) đã đưa ra kết quả là có
mối quan hệ chặt chẽ giữa vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của công ty. Bài
nghiên cứu được thực hiện trên mẫu gồm 58.985 công ty Mỹ trong giai đoạn
1975 – 1994 lấy từ nguồn Compustat và các tác giả đã sử dụng phân tích tương
quan và hồi quy để nghiên cứu.
Để xem xét mối quan hệ giữa vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của
công ty, Deloof (2003) đã thực hiện nghiên cứu trên mẫu gồm 1009 công ty phi
tài chính tại Bỉ trong giai đoạn 1992 - 1996. Tác giả xem xét vốn luân chuyển
thông qua chu kỳ luân chuyển tiền (CCC) theo cách tính Thời gian thu hồi nợ
(AR) + Thời gian lưu kho (INV) – Thời gian thanh toán tiền cho người bán hàng
(AP). Kết quả bài nghiên cứu cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa lợi nhuận
hoạt động gộp (thể hiện khả năng sinh lời) và kỳ thu tiền bình quân, kỳ luân
chuyển hàng tồn kho. Từ kết quả của bài nghiên cứu, tác giả đưa ra ý kiến rằng
các nhà quản trị nên giảm kỳ thu tiền bình quân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho ở
một mức phù hợp để tăng khả năng sinh lời của công ty.
Nghiên cứu của Eljelly năm 2004 giải thích rằng việc quản lý khả năng
thanh khoản hiệu quả, việc lập kế hoạch, kiểm soát tài sản ngắn hạn và nợ ngắn


13

hạn hiệu quả để tránh rủi ro mất khả năng đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn và
tránh đầu tư quá mức vào tài sản ngắn hạn. Tác giả xem xét mối quan hệ giữa
khả năng thanh khoản và khả năng sinh lợi thông qua tỷ số thanh toán hiện hành
(Current ratio) và chu kỳ luân chuyển tiền (CCC). Bài nghiên cứu sử dụng

phương pháp phân tích hồi quy và mối tương quan để phân tích các công ty ở Ả
Rập Saudi. Tác giả kết luận rằng khả năng sinh lợi của công ty có mối tương
quan âm và có ý nghĩa thống kê với khả năng thanh khoản của công ty. Mối quan
hệ này được thấy rõ trong các công ty có tỷ số thanh toán hiện hành cao và chu
kỳ luân chuyển tiền dài hơn. Bên cạnh đó, tác giả cũng tìm thấy quy mô của
công ty có ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của công ty ở các mức công nghiệp
khác nhau.
Đến năm 2006, tác giả Lazaridis và Tryfonidis đã thực hiện nghiên cứu
dựa trên 131 công ty niêm yết tại Sở giao dịch Chứng khoán Athens (ASE) từ
năm 2001 đến năm 2004 để xem xét mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển
và khả năng sinh lời của công ty. Các tác giả đã quan sát thấy rằng các công ty
có lợi nhuận hoạt động gộp thấp gắn liền với việc gia tăng số ngày thanh toán
các khoản phải trả. Nói cách khác là các công ty có lợi nhuận thấp sẽ kéo dài
thời gian thanh toán các khoản phải trả hơn. Các nhà quản lý cũng có thể cải
thiện kết quả hoạt động của công ty thông qua việc giảm thời gian cấp tín dụng
thương mại cho khách hàng. Sau khi nghiên cứu, họ đã đưa ra kết luận rằng khi
các nhà quản trị có thể quản trị chu kỳ luân chuyển tiền (CCC) hiệu quả và giữ
các thành phần khác nhau trong chu kỳ luân chuyển tiền ở các mức tối ưu thì họ
có thể gia tăng lợi nhuận cho công ty.
Padachi (2006) cho rằng việc quản trị vốn luân chuyển được thiết lập và
triển khai tốt được mong đợi sẽ đóng góp tích cực để tạo nên giá trị công ty. Với
nhận định trên, tác giả đã xem xét các xu hướng của việc quản trị vốn luân
chuyển và tác động của nó đối với hiệu quả hoạt động của công ty. Tác giả thực
hiện nghiên cứu dựa trên mẫu gồm 58 công ty sản xuất nhỏ tại Mauritius trong


14

giai đoạn 1998 – 2003. Kết quả của bài nghiên cứu cho rằng việc đầu tư nhiều
vào hàng tồn kho và khoản phải thu sẽ làm giảm khả năng sinh lợi của công ty.

Ngoài ra, các tác giả cũng tìm thấy mối quan hệ ngược chiều và có ý nghĩa thống
kê giữa thời gian thanh toán cho người bán và kết quả hoạt động của công ty.
Điều này hàm ý rằng các công ty tạo ra ít lợi nhuận sẽ kéo dài thời gian thanh
toán các khoản phải trả. Vì khi doanh thu bán hàng sụt giảm thì nguồn tiền từ
hoạt động kinh doanh sẽ giảm do đó các công ty sẽ trì hoãn việc thanh toán này
để duy trì hoạt động của mình.
Quản trị vốn luân chuyển là một phần quan trọng đối với các công ty vừa
và nhỏ. Tài sản ngắn hạn chiếm tỷ lệ quan trọng trong tài sản của hầu hết các
công ty. Vì thế mục đích của bài nghiên cứu của Garcia-Teruel và MartinezSolano năm 2007 nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của quản
trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của các công ty vừa và nhỏ tại Tây
Ban Nha. Với lý dó đó bài nghiên cứu đã thực hiện trên mẫu dữ liệu bảng với
8.872 các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Tây Ban Nha trong giai đoạn 1996 – 2002
theo phương pháp hồi quy bình phương bé nhất thông thường (OLS) và phương
pháp bình phương bé nhất tổng quát (GLS). Các tác giả đi đến kết luận rằng số
ngày thu hồi nợ từ khách hàng và số ngày lưu trữ hàng tồn kho có mối quan hệ
nghịch biến với khả năng sinh lợi của công ty. Bên cạnh bài nghiên cứu cho rằng
các công ty vừa và nhỏ cần quan tâm đến việc quản trị vốn luân chuyển vì việc
giảm chu kỳ chuyển đổi tiền sẽ giúp công ty gia tăng lợi nhuận của mình.
Raheman và Nasr năm 2007 thực hiện nghiên cứu trên mẫu gồm 94 công
ty niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán Karachi tại Pakistan trong 6 năm (Từ
năm 1999 đến năm 2004) để xem xét tác động của việc quản trị vốn luân chuyển
thể hiện qua các biến thời gian thu hồi các khoản nợ từ khách hàng, thời gian lưu
giữ hàng tồn kho, thời gian thanh toán cho nhà cung cấp, chu kỳ luân chuyển tiền
và tỷ số thanh toán hiện hành đến khả năng sinh lợi của công ty Pakistan. Tỷ số
nợ, quy mô công ty (do lường bằng logarit tự nhiên của doanh số bán hàng) và tỷ


15

số tài sản tài chính trên tổng tài sản làm biến kiểm soát. Sau khi tiến hành phân

tích hệ số tương quan Pearson và phân tích hồi quy theo Pooled OLS, các tác giả
tìm thấy mối tương quan âm giữa quản trị vốn luân chuyển với khả năng sinh lợi
của công ty. Điều này có nghĩa là chu kỳ luân chuyển tiền tăng sẽ làm giảm lợi
nhuận của công ty và các nhà quản lý có thể gia tăng giá trị cổ đông thông qua
việc giảm chu kỳ luân chuyển tiền đến một mức thấp nhất có thể. Ngoài ra, các
tác giả cũng tìm thấy mối quan hệ đồng biến giữa quy mô công ty và khả năng
sinh lợi của công ty. Tại Pakistan năm 2008, Chakraborty cũng đã nghiên cứu và
tìm thấy mối quan hệ nghịch biến giữa việc quản trị vốn luân chuyển và khả
năng sinh lợi của các công ty dược phẩm tại Pakistan.
Ganesan (2007) cũng quan tâm đến vấn đề quản trị vốn luân chuyển và
khả năng sinh lợi của công ty do đó họ đã thực hiện bài nghiên cứu “An analysis
of working capital management efficiency in telecommunication equipment
industry”. Tác giả xem xét mối quan hệ này tại các công ty thiết bị truyền thông
tại Ấn Độ. Vốn luân chuyển của công ty vẫn được tác giả tiếp tục sử dụng các
biến số như số ngày thu hồi nợ, số ngày lưu kho, số ngày thanh toán cho người
bán của công ty và số ngày của vốn luân chuyển. Tác giả sử dụng hai tỷ số là tỷ
số lợi nhuận hoạt động cộng với khấu hao trên tổng số tài sản và trên tổng doanh
thu làm biến phụ thuộc thể hiện khả năng sinh lợi của công ty. Sau khi thực hiện
nghiên cứu dựa trên mẫu gồm 443 báo cáo tài chính của 349 công ty thiết bị
truyền thông, tác giả tìm thấy được tác động ngược chiều của số ngày của vốn
luân chuyển đến khả năng sinh lợi của công ty tuy nhiên hệ số này lại không có ý
nghĩa thống kê.
Falope và Ajilore (2009) đã cung cấp bằng chứng về tác động của việc
quản trị hiệu quả vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của công ty sau khi sử
dụng báo cáo tài chính của 50 công ty phi tài chính niêm yết tại Sở giao dịch
chứng khoán Nigeria từ năm 1995 đến năm 2005. Biến phụ thuộc thể hiện khả
năng sinh lợi của công ty được đo lường thông qua lợi nhuận trên tổng tài sản


16


được xác định bằng lợi nhuận ròng chia cho giá trị sổ sách trung bình của tài sản.
Biến độc lập bao gồm số ngày thu hồi các khoản phải thu, số ngày lưu trữ hàng
hóa, số ngày thanh toán cho người bán và chu kỳ luân chuyển tiền, các biến này
được sử dụng để đo lường việc quản trị vốn luân chuyển. Các tác giả đã sử dụng
mô hình hồi quy tác động cố định (FEM) để phân tích số liệu và tác giả đã đi kết
luận rằng khả năng sinh lợi của công ty bị tác động bởi việc quản trị vốn luân
chuyển. Cụ thể hơn, các tác giả cho rằng các công ty có thể gia tăng lợi nhuận
của mình bằng việc rút ngắn thời gian thanh toán cho người bán, số ngày thu hồi
các khoản phải thu và thời gian lưu kho đến mức thấp nhất và phù hợp.
Vốn luân chuyển là một thành phần quan trọng trong các quyết định quản
trị tài chính của công ty. Việc quản trị vốn luân chuyển tối ưu được mong đợi sẽ
có đóng góp tích cực tạo nên giá trị công ty. Zariyawati và các đồng sự (2009) đã
sử dụng dữ liệu bảng của 148 công ty được niêm yết tại Bursa Malaysia từ năm
1996 đến năm 2006. Kết quả của các hệ số khi phân tích hồi quy theo phương
pháp Pooled OLS cho thấy mối quan hệ nghịch biến có ý nghĩa thống kê giữa
chu kỳ luân chuyển tiền và khả năng sinh lợi của công ty. Vì thế với mục đích
gia tăng giá trị cổ đông, các nhà quản trị công ty nên quan tâm đến việc giảm chu
kỳ luân chuyển tiền đến một mức tối ưu.
Haitham Nobanee và Maryam Al Hajjar (2009) đã thực hiện nghiên cứu
trên mẫu gồm 2123 công ty phi tài chính Nhật đã niêm yết trên Sở giao dịch
chứng khoán Tokyo trong giai đoạn 1990 – 2004 nhằm xem xét mối quan hệ
giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của công ty. Kết quả bài
nghiên cứu đưa ra kết luận rằng các nhà quản lý có thể gia tăng lợi nhuận của
công ty thông qua việc giảm số ngàty bán hàng trả chậm đối với khách hàng và
giảm chu kỳ luân chuyển tiền của công ty. Bên cạnh đó, các nhà quản lý cũng có
thể gia tăng lợi nhuận của công ty thông qua việc tăng số ngày thanh toán cho
người bán, tuy nhiên các nhà quản lý cân nhắc kỹ vấn đề này vì việc kéo dài thời
gian thanh toán này có thể ảnh hưởng đến uy tín và tác động đến khả năng sinh



17

lợi trong dài hạn của công ty. Các tác giả cũng tìm thấy mối quan hệ ngược chiều
giữa tỷ số thanh toán nhanh và lợi nhuận của công ty, kết quả này một lần nữa
chứng minh cho việc đánh đổi giữa khả năng sinh lợi và khà năng thanh khoản
của công ty.
Trong khi đó tại Mỹ, Gill và đồng sự (2010) đã nghiên cứu mối quan hệ
giữa việc quản lý vốn luân chuyển với khả năng sinh lợi tại 84 công ty ở Mỹ từ
năm 2005 đên 2007. Các tác giả đo lường khả năng sinh lời thông qua lợi nhuận
hoạt động để xem xét có mối quan hệ với việc quản lý vốn luân chuyển hay
không. Sử dụng phương pháp bình phương bé nhất để nghiên cứu họ tìm thấy
mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa chu kỳ luân chuyển tiền và khả năng sinh
lợi của công ty. Họ đã kết luận rằng những nhà quản lý có thể làm tăng lợi nhuận
của công ty thông qua việc rút ngắn thời gian thu hồi khoản phải thu. Điều này
đảm bảo công ty có đủ tiền để tài trợ cho các hoạt động của mình.
Mathuva (2010) cũng đã tìm thấy mối quan hệ nghịch biến giữa thời gian
công ty thu hồi các khoản nợ từ khách hàng với khả năng sinh lợi của công ty.
Tác giả giải thích rằng công ty có khả năng tạo ra lợi nhuận cao hơn thì có thời
gian thu nợ ngắn nhất. Bài nghiên cứu cũng đưa ra kết luận thời gian luân
chuyển của hàng tồn kho có mối quan hệ đồng biến với khả năng sinh lợi của
công ty. Mối tương quan dương này được giải thích rằng khi mức tồn kho được
duy trì ở mức cao phù hợp sẽ giảm chi phí của việc quá trình sản xuất bị gián
đoạn khi thiếu nguyên vật liệu đầu vào và tránh rủi ro của việc thua lỗ khi công
ty khan hiếm hàng. Và bài nghiên cứu cũng tìm thấy mối tương quan dương giữa
thời gian thanh toán công nợ với khả năng sinh lợi của công ty. Bài nghiên cứu
thực hiện hồi quy theo phương pháp bình phương bé nhất (OLS) và mô hình hồi
quy các ảnh hưởng cố định (FEM) dựa trên mẫu dữ liệu gồm 30 công ty được
niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Nairobi trong giai đoạn 1993 – 2008.



18

Bài nghiên cứu của Raheman và các đồng sự (2010) đã phân tích tác động
của quản trị vốn luân chuyển đến kết quả hoạt động của 204 công ty sản xuất
niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Karachi tại Pakistan trong giai đoạn
1998 – 2007. Kết quả bài nghiên cứu đã cho thấy chu kỳ luân chuyển tiền và số
ngày luân chuyển hàng tồn kho có tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh
của công ty. Và các tác giả cho rằng nhìn chung các công phải đối mặt với các
vấn đề về các chính sách thu hồi nợ và trả nợ của công ty.
Abera (2010) đã thực hiện nghiên cứu về hiệu quả của các chính sách đầu
tư vốn luân chuyển và chính sách tài chính đến lợi nhuận của doanh nghiệp bằng
cách sử dụng báo cáo tài chính đã được kiểm toán của của 11 công ty sản xuất tư
nhân trong khu vực Tigray, Ethiopia trong giai đoạn 2005-2009. Tỷ số lợi nhuận
trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và hệ số biên lợi
nhuận hoạt động là các biến phụ thuộc thể hiện khả năng sinh lợi của công ty.
Thời gian thu hồi các khoản phải thu, thời gian lưu kho và thời gian thanh toán
các khoản phải trả cho người bán, tỷ số tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản và chu
kỳ luân chuyển tiền là các biến độc lập thể hiện cho việc quản trị vốn luân
chuyển của công ty. Ngoài ra, tỷ số nợ ngắn hạn trên tổng tài sản được sử dụng
để đo lường chính sách tài trợ vốn luân chuyển của công ty. Bên cạnh đó, bài
nghiên cứu cũng sử dụng biến về quy mô công ty, đòn bẩy tài chính và tốc độ
tăng trưởng GDP là các biến kiểm soát trong mô hình.Qua các phân tích hệ số
phương sai và phân tích hồi quy dữ liệu bảng, tác giả đã đưa ra kết luận rằng thời
gian thu hồi các khoản phải thu và thời gian lưu kho càng lâu sẽ làm giảm lợi
nhuận của công ty. Mối quan hệ nghịch biến giữa ROA và ROE với thời gian
thanh toán cho người bán của công ty cũng được tìm thấy trong bài nghiên cứu.
Bên cạnh đó, kết quả cũng thể hiện mối tương quan âm giữa chu kỳ luân chuyển
tiền và các biến số thể hiện khả năng sinh lợi của công ty. Không chỉ vậy, tác giả
cũng tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa khả năng thanh khoản và khả năng

thanh toán của công ty. Qua các kết quả tìm được trong bài nghiên cứu, tác giả đi
đến kết luận rằng các nhà quản lý có thể gia tăng lợi nhuận bằng cách nâng cao


19

hiệu quả quản trị vốn luân chuyển và luôn cân nhắc giữa vấn đề đánh đổi giữa
khả năng thanh khoản và khả năng sinh lợi của công ty.
Lợi nhuận ròng của bất cứ công ty nào trong một giai đoạn nào đó cũng
được xem như là kết quả cuối cùng của hoạt động đầu tư, tài trợ và sản xuất kinh
doanh. Những hoạt động này bởi các quyết định quản trị và các nhân tố môi
trường bên trong và bên ngoài. Zubairi (2010) nghiên cứu khả năng sinh lợi của
công ty xe hơi tại Pakistan bị ảnh hưởng bởi quản trị vốn luân chuyển và cấu trúc
vốn như thế nào. Kết quả bài nghiên cứu cho thấy mối tương quan dương giữa
quản trị vốn luân chuyển và quy mô công ty.
Chariton, Elfani và Lois (2010) đã nghiên cứu thực nghiệm tác động của
quản trị vốn luân chuyển đến hiệu quả hoạt động của công ty tại thị trường đang
phát triển. Mẫu dữ liệu bao gồm các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng
khoán Cyprus trong giai đoạn 1998 – 2007. Sau khi tiến hành phân tích hồi quy,
các tác giả đã kết luận rằng chu kỳ luân chuyển tiền (CCC) và các thành phần
chính của CCC là khoản thời gian thu tiền khách hàng, thời gian lưu kho và thời
gian trả người bán có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty.
Mary, John và Laurine (2010) xem xét ảnh hưởng của hàng tồn kho đến
khả năng sinh lợi của công ty trước và sau quá trình gián đoạn cung ứng từ sự
kiện khủng bố 11/09/2001 và bão Katrina, với mục đích xác định các bằng chứng
cho rằng hàng tồn kho được sử dụng như là phương tiện để phát triển chuỗi cung
ứng bền vững. Bài nghiên cứu quan sát tách biệt giai đoạn ba năm quanh các giai
đoạn gián đoạn cung ứng trên. Sử dụng Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh, mô hình hồi quy đã tách biệt tác động của hàng tồn kho
đến khả năng sinh lợi của công ty và bài nghiên cứu cũng kiểm tra xem có hay

không sự thay đổi trong mối quan hệ giữa hàng tồn kho và hiệu quả hoạt động
của công ty. Kết quả bài nghiên cứu cho thấy hàng hóa tồn kho có tác động đến
khả năng sinh lợi của công ty trong quá trình xảy ra cuộc khủng bố 11/09/2001


20

nhưng lại không tìm thấy mối quan hệ này có ý nghĩa thống kê trong giai đoạn
xảy ra bào Katrina.
Tại Nigeria, Abdulrasheed, Khadijat, Sulu và Olanrewaju (2011) đã xem
xét việc quản trị hàng tồn kho trong các công ty nhỏ ở Kwara, Nigeria. Các tác
giả sử dụng mô hình hồi quy để giải thích tác động của hàng tồn kho đến hiệu
quả hoạt động của công ty trong giai đoạn 10 năm. Kết quả bài nghiên cứu cho
thấy mối quan hệ đồng biến giữa quản trị hàng tồn kho và khả năng sinh lợi của
các công ty nhỏ tại Kwara, Nigeria. Các tác giả kết luận rằng các công ty nhỏ có
khả năng gia tăng lợi nhuận nếu quản trị hiệu quả hàng tồn kho.
Cũng trong năm 2011, tác giả Mohammad cũng đã thực hiện nghiên cứu
mối quan hệ giữa việc quản lý vốn luân chuyển và lợi nhuận của công ty tại các
công ty công nghiệp tại Iran từ năm 2001 đến 2006. Tác giả sử dụng chu kỳ luân
chuyển tiền (CCC) là biến độc lập và lợi nhuận hoạt động ròng là biến phụ
thuộc, tác giả thấy rằng có mối quan hệ nghịch biến giữa chu kỳ thu nợ bình
quân và khả năng sinh lợi. Tương tự như vậy chu kỳ vòng quay hàng tồn kho
cũng có mối quan hệ với khả năng sinh lợi. Tác giả muốn đưa ra kết luận rằng
công ty nên giảm chu kỳ luân chuyển tiền (CCC) để tăng lợi nhuận bởi vì chu kỳ
luân chuyển tiền (CCC) càng lâu thì công ty càng phải tìm các nguồn vốn tài trợ
cho hoạt động của công ty.
Lifland (2011) đã xem xét giả định vốn luân chuyển có tác động đến giá
trị của các công ty năng lượng với mẫu dữ liệu nghiên cứu gồm 222 công ty
được lấy từ GICS (Global Industry Classification Standard) được xây dựng bởi
Morgan Stanley và Standard & Poor's. Trong 222 công ty quan sát có 72 công ty

large - cap (Vốn hóa thị trường trên 5 tỷ USD), 65 công ty mid – cap (Vốn hóa
thị trường từ 1 tỷ đến 5 tỷ USD) và 85 công ty small – cap (Vốn hóa thị trường
dưới 1 tỷ USD). Tác giả tiếp tục sử dụng chu kỳ luân chuyển tiền và các thành
phần trong nó để thể hiện cho việc quản trị vốn luân chuyển của công ty. Sau khi


21

nghiên cứu tác giả đã tìm thấy mối quan hệ nghịch biến giữa hiệu quả quản trị
vốn luân chuyển với giá trị của các công ty có giá trị vốn hóa thị trường cao
(large-cap) và các công ty có giá trị vốn hóa thị trường trung bình (mid-cap).
Cùng thời điểm này thì bài nghiên cứu của Sharma và Kumar cũng đã xem
xét tác động của vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi tại các công ty ở Ấn Độ
với mẫu nghiên cứu gồm 263 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch
chứng khoán Bombay – BSE từ năm 2000 đến năm 2008. Bài nghiên cứu sử
dụng phương pháp hồi quy bình phương bé nhất (OLS) và tác giả này cũng đã
đưa ra kết luận rằng số ngày luân chuyển hàng tồn kho và số ngày thanh toán các
khoản phải trả có mối tương quan âm còn số ngày thu hồi nợ của công ty lại có
mối tương quan dương với khả năng sinh lợi của công ty. Và các tác giả cũng
đưa đến kết quả cuối cùng việc tăng chu kỳ chuyển đổi tiền mặt sẽ làm tăng lợi
nhuận cho công ty hay nói cách khác là quản trị vốn luân chuyển có tác động đến
kết quả hoạt động của công ty.
Hasan, Halid, Arzu và Salih (2011) nghiên cứu mẫu dữ liệu bao gồm các
công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Istanbul giai đoạn 2005 – 2009 để
làm sang tỏ mối quan hệ thực nghiệm giữa quản trị vốn luân chuyển (thông qua
biến chu kỳ luân chuyển tiền – CCC) và hiệu quả hoạt động của công ty. Kết quả
bài nghiên cứu cho thấy mối việc giảm chu kỳ luân chuyển tiền có thể giúp công
ty gia tăng lợi nhuận của mình.
Ngàng công nghiệp dệt may đóng một vai trò quan trọng trong sự phát
triển kinh tế-xã hội của Bangladesh. Tuy nhiên lợi nhuận từ ngành công nghiệp

này chưa tương xứng với vai trò của nó. Nên Rahman (2011) đã thực hiện bài
nghiên cứu về mối quan hệ giữa khả năng sinh lợi và quản trị vốn luân chuyển
trên mẫu dữ liệu gồm 9 công ty dệt may tại Bangladesh trong giai đoạn từ 2005 –
2006 đến 2007 – 2008 và đã tìm thấy tác động cùng chiều giữa quản trị vốn luân
chuyển và khả năng sinh lợ của công ty.


22

Vida, Seyed và Rezvan (2011) cũng xem xét mối quan hệ thực nghiệm
giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của công ty dựa trên mẫu
gồm 101 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Tehran (TSE) trong
suốt giai đoạn 2004 – 2008. Các tác giả tìm thấy chu kỳ luân chuyển tiền – thước
đo chủ yếu của quản tri vốn luân chuyển – có tác động đến hiệu quả hoạt động
của công ty. Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng tìm thấy mối quan hệ cùng chiều
giữa quy mô công ty và khả năng sinh lợi của công ty.
Quản trị vốn luân chuyển được xem có tác động quan trọng đến lợi nhuận
hoạt động của công ty. Tuy nhiên, tác giả Afeef – Giảng viên tại tại Iqra
National University – cho rằng việc quản trị vốn luân chuyển hiệu quả có thể tác
động sâu rộng đến các công ty nhỏ hơn các công ty lớn bởi vì tài sản ngắn hạn và
nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng tài sản và tổng nợ của các công ty
vừa và nhỏ. Vì thế nhằm mục đích xác định sự ảnh hưởng của quản trị vốn luân
chuyển đến lợi nhuận của các công ty vừa và nhỏ tại Pakistan, tác giả Afeef đã
hiện nghiên cứu dựa trên mẫu gồm 40 công ty vừa và nhỏ được niêm yết trên Sở
giao dịch chứng khoán Karachi trong giai đoạn 2003 – 2008. Bài nghiên cứu chỉ
tìm thấy mối tương quan âm có ý nghĩa thống kê giữa khả năng sinh lợi của công
ty với số ngày lưu kho và số ngày thu tiền khách hàng.
Mona (2012) xem xét tác động của chính sách quản trị vốn luân chuyển
tấn công (aggressive) và thận trọng (conservative) tác động thế nào đến lợi
nhuận của 57 công ty Jordan năm 2001 đến 2009. Đo lường chính sách thận

trọng thông qua tỷ số của tài sản ngắn hạn với tổng tài sản, tỷ số là 0,49 và kết
quả của phương pháp hồi quy cho thấy rằng mối quan hệ cùng chiều giữa khả
năng sinh lời và với tỷ số tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản và giá trị đó mang
dấu dương. Ngược lại, những công ty theo đuổi chính sách tấn công sử dụng các
khoảng đầu tư dài hạn lại có mối quan hệ nghịch biến với khả năng sinh lợi. Mặc
dù mẫu nghiên cứu nhỏ nhưng có các kết luận tương tự trong nghiên cứu của
Afza và Nazir. Các tác giả xem xét mối quan hệ giữa các chính sách quản lý vốn


23

luân chuyển theo phương pháp tấn công (aggressive) và thận trọng
(conservative) đối với 17 nhóm công nghiệp và mẫu lớn gồm 263 công ty niêm
yết trên Sở giao dịch chứng khoán Karachi (KSE) sử dụng dữ liệu chéo từ năm
1998 đến 2005. Sử dụng phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) và
phương pháp LSD, kết quả của bài nghiên cứu chỉ ra rằng có sự khác biệt rất lớn
giữa việc đầu tư vốn luân chuyển và chính sách tài trợ giữa các ngành khác nhau.
Hơn nữa, rank order correlation xác nhận rằng có những khác biệt không lớn
đáng chú ý suốt khoảng thời gian nghiên cứu. Cuối cùng phương pháp bình
phương bé nhất (OLS) cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa khả năng sinh lợi
mức độ đầu tư vốn luân chuyển và các chính sách tài trợ. Cả hai bài nghiên cứu
đều muốn nói rằng các công ty sẽ phải quan tâm nhiều hơn đến khả năng thanh
khoản của họ. Điều đó có nghĩa công ty phải có đủ tiền mặt bởi vì việc quản trị
tiền mặt của công ty yếu kém có thể khiến công ty rơi vào tình trạng khó khăn tài
chính khi đó công ty không thể chi trả các khoản chi phí ngắn hạn và thậm chí
công ty có thể đối mặt với vấn đề kỹ thuật trong ngắn hạn. Trong dài hạn việc
quản lý tiền mặt yếu kém có thể khiến công ty đi đến phá sản.
Vahid và các đồng sự (2012) nghiên cứu về ảnh hưởng của vốn luân
chuyển đến hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng
khoán Tehran (TSE). Mối tương quan âm giữa số ngày thu tiền khách hàng, số

ngày luân chuyển hàng hóa, số ngày thanh toán cho người bán đến khả năng sinh
lợi của công ty được tìm thấy trong bài nghiên cứu.
Tại Thái Lan, Napompech (2012) cũng đã xem xét ảnh hưởng của vốn
luân chuyển đến hiệu quả hoạt động của 255 công ty niêm yết trên Sở giao dịch
chứng khoán Thái Lan từ năm 2007 đến năm 2009. Kết quả bài nghiên cứu cho
thấy mối quan hệ nghịch biến giữa số ngày thu hồi nợ từ khách hàng và số ngày
lưu giữ hàng tồn kho với lợi nhuận hoạt động gộp của công ty. Tác giả đã đưa ra
nhận xét là các nhà quản lý có thể gia tăng lợi nhuận thông qua việc giảm chu kỳ
luân chuyển tiền, số ngày thu hồi nợ từ khách hàng và số ngày lưu giữ hàng tồn


×