VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
• •________________•__ •
HỒ HOÀNG HẠNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG
KHAI SINH, KHAI TỬ Ở CẤP XÃ TỪ THỰC
TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ HOÀNG HẠNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG
KHAI SINH, KHAI TỬ Ở CẤP XÃ TỪ THỰC
TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 838.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN HOÀNG ANH
Luận văn “Quản lý nhà nước về hoạt đông khai sinh, khai tư ơ cấp xã tư
thực tiễn tinh Quang Nam ” đã được hoàn thành thể hiện kết quả tổng hợp, cô
đọng của hai năm học cao học tại Học viện khoa hoc xa hôi.
Tôi xin được trân trọng bày tỏ lòng biết ơn các thầy, cô là các giáo sư, phó
giáo sư, tiến sĩ đã tham gia giảng dạy lớp cao học khoá VII đơt 1 năm 2016, đặc
biệt xin cảm ơn PGS.TS Nguyễn Hoang Anh - Khoa luât ĐHQG Ha Nôi, cô đã
nhiệt tình, nghiêm túc, trực tiếp hương dân, chỉ đạo tôi hoàn thành luận văn này.
Nhân dịp này tôi xin được chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Hội
đồng phản biện, chấm luận văn; cảm ơn Học viện khoa hoc xa hôi đã giúp đỡ
tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Học viên thực hiện
MỤC LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Hổ Hoang Hanh
BHXH
: Bảo hiểm xã hội
CBCC
: Cán bộ, công chức
CNTT
: Công nghệ thông tin
CMND
DS-KHHGĐ
: Chứng minh nhân dân
: Dân số kế hoạch hóa gia đình
ĐKHT
: Đăng kí hộ tịch
ĐKKS
: Đăng kí khai sinh
ĐKKT
: Đăng kí khai tử
UBND
: Ủy ban nhân dân
Số hiệu
Tên bảng
Trang
bảng
2.1.
Thống kê số lương công chức TPHT cấp xa năm 2017 trên
44
đia ban tinh Quang Nam
2.2.
Thống kê số liệu đăng ký khai sinh giai đoạn 20132017
47
của tỉnh Quang Nam
2.3.
Thống kê số liệu đăng ký khai tứ giai đoạn 20132017 của
tỉnh Quang Nam
48
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mỗi công dân từ khi sinh ra đến khi chết đi đều phải thực hiện nhiều thủ tục
với các cơ quan Nhà nước để thực hiện quyền nhân thân của mình. Khi sinh ra, công
dân phải thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh và khi chết đi, thân nhân của người chết
hoặc người có nghĩa vụ theo quy định của pháp luật phải đi đăng ký khai tử. Hoat
đông nay cần được thực hiện nhằm xác định tình trạng nhân thân của cá nhân, tạo
mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân,tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ
quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, đông thơi co biên phap quan ly dân cư môt
cach khoa hoc, phuc vu thiết thực cho viếc xây dưng hoach đinh chinh sach phat
triến kinh tế, xa hôi, quôc phong, an ninh cua đất nươc. Ở mỗi thời kỳ, tùy thuộc vào
điều kiện hoàn cảnh của đất nước, tùy thuộc vào mong muốn của nhà quản lý, việc
đăng ký khai sinh, khai tư có một ý nghĩa nhất định. Cùng với sự phát triển của đất
nước, ngày nay việc đăng ký khai sinh, khai tư được hoàn thiện dần cùng với công
tác đăng ký hộ tịch qua các văn bản về hộ tịch mà Nhà nước đã ban hành. Ngày
20/11/2014, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII kỳ họp
thứ 8 đã thông qua Luật Hộ tịch và Luật chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2016.
Luật Hộ tịch được ban hành nhằm luật hóa các quy định về đăng ký, quản lý hộ tịch
trong các Nghị định của Chính phủ đã được thực tiễn kiểm nghiệm, bảo đảm tính kế
thừa và phát triển, cụ thể hóa thẩm quyền và quy trình thực hiện công tác hộ tịch.
Trên cơ sở quy định của Luật, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 123/2015/NĐCP ngày 15/11/2015 quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch;
Thông tư số 15/2015/TTBTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày
15/11/2015 của Chính phủ quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch
để bảo đảm các nội dung của Luật được triển khai thực hiện có hiệu quả. Trong thơi
5
gian qua cac cấp chinh quyền đia phương đa co nhiều biên phap thực hiên tốt công
tac quan ly hoat đống khai sinh, khai tự. vi vây, quan ly hoat đống khai sinh, khai tư
dấn đi vao nề nềp va đat được nhưng kềt qua nhất đinh.
Tuy nhiền, bền cạnh những kết quả đạt được quản lý nhà nước về hoat đống
khai sinh, khai tư cấp xã ở tỉnh Quang Nam còn có nhiều hạn chế như: thủ tục quản
lý đăng ki khai sinh, khai tư chưa khoa học, chưa phù hợp thực tế, trình độ, năng lực
của đội ngũ cống chức Tư phap - Hố tich ở cấp xã chưa đáp ứng được yều cầu; việc
tuyền truyền, giáo dục pháp luật về hộ tịch chưa được quan tấm đúng mức... Những
hạn chế này đã làm giảm đi hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch noi chung
va hoat đống khai sinh, khai tư noi riêng. Vì vậy, nghiền cứu về quản lý nhà nước về
hoat đống khai sinh, khai tư cấp xã ở tỉnh Quảng Nam nhằm làm rõ hơn nữa cơ sở lý
luận, thực tiễn của quản lý hoat đống khai sinh, khai tư ơ cấp xã, chỉ ra những
nguyền nhấn của các hạn chế, trền cơ sở đó, đưa ra những kiến nghị góp phần nấng
cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hoat đống khai sinh, khai tư cấp
xã trền địa bàn tỉnh Quảng Nam là một điều cấp thiết hiện nay. Đấy là lý do để đề tài
“Quản lý nhà nước về hoạt đông khai sinh, khai tử ở cấp xã từ thực tiễn tỉnh Quảng
Nam” được lựa chọn để nghiền cứu.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Quản lý hoạt động khai sinh, khai tư la hoat đống khó khăn và phức tạp đòi hỏi
nhà quản lý phải có tầm hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực chuyên môn, sự thông thạo về
đặc điểm dấn cư, tập quán, truyền thống, văn hóa, trình độ phát triển của địa phương.
Có như vậy nhà quản lý mới có thể áp dụng một cách linh hoạt pháp luật của nhà
nước, từ đó đưa ra các quyết định quản lý phù hợp, mang lại hiệu quả cao.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu, các luận án, luận văn, bài báo tạp chí đề
cập đến linh vực quan ly hoat đông khai sinh, khai tư và các chính sách thực hiện
quan ly hoat đông nay, trong thời gian qua:
6
- “Hướng dẫn đăng ký và quản lý hộ tịch” / B.soan: Nguyễn Quốc Cường,
Lương Thị Lanh, Trần Thị Thu Hằng... - H: Tư pháp, 2006;
- Viện nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp: Bảo vệ quyền trẻ em trong
pháp luật về quốc tịch và đăng ký hộ tịch ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, 2000;
- Viên nghiên cưu khoa hoc phap ly - Bô tư phap: Chuyên đê thông tin khoa
hoc phap ly vê hô tich;
- Phạm Trọng Cường: Về quản lý hộ tịch, NXB. Chính trị quốc gia, 2004; Từ
quản lý đinh đến quản lý hộ tịch, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2007;
- Bài “Kỳ vọng về một nề nếp mới trong công tác hộ tịch”, tác giả Phạm
Trọng Cường, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 6 năm 2006;
-Bài “Nâng cao năng lực đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch trong giai đoạn
hiện nay”, Tác giả Trần Văn Quảng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tháng 9 năm
2006;
- Nguyễn Thị Thu Trang (2013), Quyền khai sinh, khai tử theo quy định của
pháp luật dân sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng quyền khai sinh khai tử trên địa bàn
huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ luật học.
Ngoài ra còn rất nhiều các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học, các
đề tài đã được nghiệm thu về vấn đề hộ tịch và đăng ký hộ tịch. Các công trình khoa
học kể trên đã đi sâu nghiên cứu khá sâu sắc đầy đủ các vấn đề về quản lý hộ tịch
cấp xã như khái niệm, lịch sử quản lý hộ tịch, các sự kiện, phương thức quản lý và
đăng ký hộ tịch, thực trạng và giải pháp quản lý nhà nước về hộ tịch. Đó là các tài
liệu tham khảo cần thiết cho các học viên thực hiện đề tài này. Tuy nhiên, còn có
nhiều vấn đề chưa rõ hoặc chưa đầy đủ, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu
nào đề cập đến việc quản lý nhà nước về lĩnh vực khai sinh, khai tử ở cấp xã từ thực
tiễn tỉnh Quảng Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
7
3.1. Mục đich nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh,
khai tử ở cấp xã từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam. Từ đó, đề xuất các giải pháp góp phần
nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước về lĩnh vực khai sinh, khai tử nói
chung, trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Lam ro hơn nưa cơ sơ ly luân của quan ly nha nươc vê hoat đông khai sinh,
khai tư ơ cấp xa; đanh gia thực trang quan ly nha nươc vê hoat đông khai sinh, khai
tư ơ cấp xa thông qua thực tiễn ở tỉnh Quang Nam trong thơi gian qua nêu ra nhưng
kêt qua đat được va nhưng măt han chê con tôn tai. Trên cơ sơ đo đưa ra nhưng giải
phap hoan thiên gop phấn nấng cao hiêu lưc, hiêu qua quan ly nha nươc vê hoat
đông khai sinh, khai tư ơ cấp xa nói chung và trên đia ban tinh Quang Nam nói riêng
trong thơi gian tơi.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đôi tượng nghiên cứu
Cac vấn đê lý luận và thưc tiên vê quan ly nha nươc vê hoat đông khai sinh,
khai tư ở cấp xã.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Vê măt không gian đươc giơi han ơ cấp xa trên đia ban tinh Quang Nam, vê
măt thơi gian đươc giơi han tư năm 2013 đên năm 2017
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phượng pháp luận
Những luận điểm trong học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về quản lý hành chính nhà nước; các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam
về quản lý hộ tịch. Đổng thơi tac gia co tham khao, va kế thưa mổt cach co chon loc
mổt sổ cổng trinh nghiến cưu cua cac nha khoa hoc.
8
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng trong luận văn gồm: phương pháp phân tích,
tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, phương pháp lịch sử, phương pháp hệ thống, phương
pháp so sánh...
Trong Chương 1, để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quản lý hành chính
nhà nước về hoat đổng khai sinh, khai tư, luân văn sử dụng phương pháp hệ thống,
so sánh,phân tich nhăm lam ro thếm quan niệm, nổi dung quan ly hanh chinh nha
nươc vế hoat đổng khai sinh, khai tử.
Chương 2 của luân văn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích đã đánh giá
những ưu điểm, hạn chế của thực trạng quản lý nhà nước về hoat đổng khai sinh,
khai tư ở câp xa trến đia ban tinh Quang Nam trong những năm qua.
Chương 3, phương pháp phân tích tổng hợp được sử dụng để đưa ra giải pháp
hoan thiến quản lý hành chính nhà nước về hoat đổng khai sinh, khai tư ơ câp xa trến
đia ban tinh Quang Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Hế thổng hoa nhưng ly luân chung vế khai sinh, khai tư va quan ly nha nươc
vế hoat đổng khai sinh, khai tư ở cấp xã. Đanh gia thực trang quan ly nha nươc vế
hoat đổng khai sinh, khai tư ơ câp xa trến đia ban tinh Quang Nam tư đo nếu ra
nhưng giai phap hoan thiến quan ly nha nươc vế hoat đổng khai sinh, khai tư ơ câp
xa.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả nghiến cứu của luận văn có thể làm cơ sở để các cấp chính quyền
trong đó có chính quyền địa phương ở tỉnh Quảng Nam nghiên cứu, vận dụng vào
thực tế quản lý trong lĩnh vực khai sinh, khai tử; là cơ sở cho việc hoàn thiện pháp
luật.
9
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo. Luận văn được kết
cấu thành 3 chương, cụ thể:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật vê quan ly nha nươc vê hoat
đông khai sinh, khai tư ơ cấp xa
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về hoat đông khai sinh, khai tư ơ cấp
xa trên đia ban tinh Quang Nam
Chương 3: Muc tiêu yêu cấu va giai phap bảo đảm quan ly Nha nươc vê
hoat đông khai sinh, khai tư ơ cấp xa
1
0
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT
VÊ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI SINH,
KHAI TỬ Ơ CÂP XA
1.1.
Khái niệm khai sinh, khai tử và quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử
1.1.1. Khái niệm về khai sinh
, khai tư
Khai sinh là khai báo và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận một cá nhân được sinh ra; khai tư
la khai báo những thông tin cần thiết về mặt thủ tục hành chính về người mới chết; đây là một trong những sự
kiện hộ tịch để xác định cá nhân là thực thể của tự nhiên, của xã hội. Đo la cac hoat đông:
Đăng ký khai sinh là sự kiện đăng ký đầu tiên có liên quan đến nhân thân của một người từ khi mới sinh ra,
là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận và ghi vào Sổ đăng ký khai sinh sự kiện được sinh ra của một
cá nhân. Nội dung đăng ký là việc xác định những thông tin về bản thân người được đăng ký khai sinh như họ tên,
ngày tháng năm sinh, giới tính, dân tộc, quốc tịch, nơi sinh và thông tin về cha, mẹ của người được đăng ký khai
sinh.. .Sau khi được đăng ký khai sinh cá nhân được cơ quan đăng ký cấp cho giấy khai sinh có ghi nhận đầy đủ
các thông tin liên quan đến nhân thân của cá nhân vao sô đăng ki khai sinh,câp nhât vao cơ sơ dư liêu hô tich điên
tư, cơ sơ dư liêu quôc gia vê dân cư đê lây sô đinh danh ca nhân.
Đăng ky khai tư la viêc nhân thân cua ngươi chêt hoặc người thân thích khác của người chết có trách nhiệm
đi đăng ký khai tử; trường hợp người chết không có người thân thì đại diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên
quan có trách nhiệm đi khai tử. Người đi đăng ký khai tử phải nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy báo tử hoặc
giấy tờ khác thay giấy báo tử cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Nội dung khai tử bao gồm các thông tin: Họ, chữ đệm,
tên, năm sinh của người chết; số định danh cá nhân của người chết, nếu có; nơi chết; nguyên nhân chết; giờ, ngày,
tháng, năm chết theo dương lịch; quốc tịch nếu người chết là người nước ngoài. Ngay sau khi nhân giây tơ theo
quy đinh, nêu thây viêc khai tư đung thi cơ quan đăng ky câp trích luc cho ngươi đi khai tử, đông thơi ghi đây đu
thông tin ngươi chêt vao sô khai tư va khoa thông tin hô tich cua ngươi chêt trong cơ sơ dư liêu hô tich điên tư.
1.1.2.
Đối tượng có quyền đăng ký khai sinh
, khai tử ở cấp xã
UBND cấp xã có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam có: Cha và
mẹ là công dân Việt Nam cư trú ở trong nước; Cha và mẹ là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; Cha hoặc
mẹ là công dân Việt Nam cư trú ở trong nước, còn người kia là công dân Việt Namđịnh cư ở nước ngoài; Cha và
mẹ là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch, cư trú ổn định, lâu dài tại Việt Nam; Cha hoặc mẹ là người
nước ngoài hoặc người không quốc tịch, cư trú ổn định, lâu dài tại Việt Nam, còn người kia là công dân Việt Nam
cư trú ở trong nước; Cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới, còn người kia là công
dân của nước láng giềng thường trú tại khu vực biên giới
1.1.3.
Quan ly nha nước về hoat đông khai sinh
, khai tư ớ cẩp xa
Theo giáo trình nhà nước và pháp luật, quản lý hành chính nhà nước của
học viện chính trị quốc gia thành phố Hồ Chí Minh thì “quản lý nhà nước theo nghĩa rộng: Là hoạt động tổ chức,
điều hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các
phương diện lập pháp hành pháp và tư pháp. Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước được đặt trong cơ chế "Đảng
lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ. Theo nghĩa hẹp: Quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình
tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động
của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước. Đồng thời, các
cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính
nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình.”
Chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt,
khen thưởng, kỷ luật cán bộ,công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ... Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp này
còn đồng nghĩa với khái niệm quản lý hành chinh nhà nước.
Quản lý là hoạt động mang tính đặc thù của con người, là sự tác động có mục đích của các chủ thể quản lý
đối với các đối tượng quản lý. Quản lý xuất hiện ở bất kỳ nơi nào, lúc nào nếu ở nơi đó có hoạt động chung của
con người. Mục đích và nhiệm vụ của quản lý là điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp
hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân thành một hoạt động chung thống nhất của cả tập thể và hướng hoạt động
chung đó theo những phương hướng thống nhất, nhằm đạt được mục tiêu đã định trước.
C.Mác đã coi ”Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động” [6,
tr.29,30]. Nhấn mạnh nội dung trên, ông viết: " Tất cả mọi lao động trong xã hội trực tiếp hay lao động chung nào
tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá
nhân và thực hiện những chức năng chung... Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn
nhạc thì cần phải có nhạc trưởng." [7, tr.480]
Quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy. Có tổ chức thì mới phân định rõ ràng chức năng nhiệm
vụ, quyền hạn và mối quan hệ của những người tham gia hoạt động chung. Có quyền uy thì mới đảm bảo sự phục
tùng của cá nhân đối với tổ chức, quyền uy là phương tiện quan trọng để chủ thể quản lý điều khiển, chỉ đạo cũng
như bắt buộc các đối tượng quản lý thực hiện các yêu cầu, mệnh lệnh của mình. Khẳng định vấn đề này, Lê Nin
đã viết: "Muốn quản lý tốt mà chỉ biết thuyết phục không thôi thì chưa đủ, mà cần phải biết tổ chức về mặt thực
tiễn nữa". [33, tr.112]
Khi nhà nước xuất hiện thì phần lớn (và là phần quan trọng) các công việc của xã hội do nhà nước quản lý.
Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực hành pháp nhằm thực hiện
các chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước. Nói cách khác, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp
hành Hiến pháp, luật và tổ chức đời sống xã hội theo Hiến pháp, luật của các chủ thể có thẩm quyền (mà phần lớn
là do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện).
Quản lý hoat đông khai sinh, khai tư là một trong những hoạt động của quản lý nhà nước, thông qua việc
đăng ký khai sinh, khai tư, tâp trung chu yêu vao cac hoat đông: ban hanh hoăc trinh cơ quan co thâm quyên ban
hanh văn ban quy pham phap luât vê hộ tịch; xây dưng va tô chức thực hiên chinh sach, kê hoach, đinh hương vê
hoat đông khai sinh, khai tử; phô biên, giao duc phap luât; quan ly hê thông tô chưc va hoat đông cua cac cơ quan,
tô chưc trong hoat đông khai sinh, khai tư; đao tao, bôi dương, hương dẫn nghiêp vu vê đăng ký khai sinh, khai
tử; kiêm tra, thanh tra, khen thương, xử ly vi pham, giai quyêt khiêu nai, tô cao trong hoat đông đăng ký khai sinh,
khai tư; bao đam kinh phi, cơ sơ vât chât, phương tiên cho hoat đông đăng ki khai sinh, khai tư; tông kêt hoat
đông đăng ki khai sinh, khai tư; bao cao cơ quan nha nươc câp trên vê hoat đông đăng ký khai sinh, khai tư.
Từ thời phong kiến cho đến nay, quản lý hô tich noi chung va quan ly khai sinh, khai tư noi riêng luôn được
coi trọng như một công cụ của nhà nước để bảo vệ quyền nhân thân và hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội,
an ninh, quốc phòng; mặt khác, nó là hoạt động thể hiện tập trung, sinh động mối quan hệ giữa Nhà nước và công
dân.
Để quản lý dân cư, mỗi quốc gia có những phương thức quản lý khác nhau nhưng đều hướng đến mục đích
quản lý một cách đầy đủ, kịp thời, chính xác các dữ liệu về đặc điểm nhân thân cơ bản của từng công dân. Ở Việt
Nam, quản lý hoat đông khai sinh, khai tư được xác định là khâu trung tâm của toàn bộ hoạt động quản lý dân cư.
Với những giá trị tiềm tàng như vậy, công tác quản lý hộ tịch đã khẳng định vai trò vô cùng quan trọng của nó
trong tiến trình phát triển của xã hội.
Về mặt lý luận, quan ly hoat đông khai sinh, khai tư là lĩnh vực thể hiện sâu sắc chức năng xã hội của nhà
nước nhăm theo doi sư biên đông vê dân sô trên cơ sở đó bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia
đình. Đồng thời, góp phần xây dựng chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng và tổ chức thực hiện có
hiệu quả các chính sách đó. Xây dưng một hệ thống quản lý cơ sơ dữ liệu hộ tịch đầy đủ, chính xác, kịp thời,
thường xuyên sẽ là nguồn tài sản thông tin hết sức quý giá luôn sẵn sàn hỗ trợ đắc lực cho việc hoạch định các
chính sách xã hội một cách chính xác, có tính khả thi, tiết kiệm chi phí xã hội. Đối với quốc gia có kết cấu dân cư
đa dạng về thành phần dân tộc như Việt Nam, quản lý hoat đông khai sinh, khai tư còn góp phần quan trọng vào
việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách phát triển kinh tế, xã hội các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Hơn nưa quan ly hoat đông khai sinh, khai tư con thê hiên sự tôn trọng của nhà nước đối với việc thực hiện một
số quyền nhân thân cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Dân sự, ví dụ
như quyên đối với họ tên, quyền thay đổi họ tên, quyền xác định dân tộc, quyền đối với quốc tịch, quyền kết hôn,
quyền được nuôi con nuôi và được nhận làm con nuôi... đây la là sự khẳng định có giá trị pháp lý về đặc điểm
nhân thân của mỗi người, mà qua đó các cơ quan tổ chức, cá nhân khác có thể đánh giá người đó có khả năng điều
kiện để tham gia vào các quan hệ pháp luật nhất định hay không. Sư kiên đăng ký khai sinh của cơ quan đăng ký
hộ tịch đánh dấu điểm khởi đầu của hoạt động quản lý nhà nước đối với từng người dân, đồng thời cũng là điểm
khởi đầu cho mọi mối quan hệ giữa công dân với nhà nước. Sư kiên đăng ki khai tư lam căn cư phat sinh, thay
đôi, châm dứt quan hê phap luât cua ngươi tham gia vơi tư cach la môt công dân môt con ngươi như quan hê vê
hôn nhân gia đinh, thưa kê, hô tich, hô khâu, bao hiêm xa hôi...
Quan ly hoat đông khai sinh, khai tư con bao đam trát tư xa hôi như: trong lĩnh vực hoạt động tư pháp khi
cần đánh giá năng lực chủ thể của một cá nhân các cơ quan tiến hành tố tụng luôn cần đến giấy khai sinh của cá
nhân đó. Giấy khai sinh chứa đựng các dữ liệu gốc của cá nhân như ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, dân tộc, quốc
tich, họ tên cha mẹ...do đó khi được sử dụng với tính cách là chứng cứ, các thông tin thể hiện trên giấy khai sinh
có thể giúp cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá nhiều vấn đề trong các vụ án hình sự, dân sự, hành chính...
H i ệ n n a y, t h e o q u y đ ị n h c ủ a L u ậ t h ộ t ị c h 2 0 1 4 t h ì q u ả n l ý n h à n ư ớ c
v ề h o a t đ ô n g k h a i s i n h , k h a i t ư ơ c â p x a l à “một hình thức hoạt động của nhà nước, do
Uỷ ban nhân dân (gọi tắt là UBND) cấp xã mà trực tiếp thực hiện là công chức Tư pháp - Hộ tịch phụ trach lĩnh
vực khai sinh, khai tư trên cơ sơ nhưng qụy đinh cua phap luât về hô ti ch và các qụy định khác của pháp luật có
liên quan về hộ, góp phần vào bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, phục vụ cho công cuộc phát
triển kinh tế - xã hội".
Quan ly hoat đông khai sinh, khai tư la công việc quan trọng, diễn ra hàng ngày, hàng giờ ở mọi nơi mọi lúc.
Là việc chính quyền cấp xa dựa trên quyền lực công quản lý sự kiện pháp lý liên quan sự kiện sinh, sư kiên tư của
các công dân trên địa bàn mình quản lý.
Trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hộ tịch (tai điều 71 cua luât Hô tich 2014), Ủy ban nhân dân cấp xã có
nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Thực hiện đăng ký hộ tịch theo quy định của Luật này; Căn cứ quy định của Ủy
ban nhân dân cấp trền, bố trí công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện việc đăng ký hộ tịch; Tuyền truyền, phổ biến
pháp luật về hộ tịch; Quản lý, sử dụng Sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch theo quy định; Quản lý, cập nhật, khai thác Cơ
sở dữ liệu hộ tịch điện tử và cấp bản sao trích lục hộ tịch theo quy định; Tổng hợp tình hình và thống kề hộ tịch
báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện theo quy định của Chính phủ; Lưu trữ Sổ hộ tịch, hồ sơ đăng ký hộ tịch; Giải
quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về hộ tịch theo thẩm quyền. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thường
xuyền chỉ đạo, đôn đốc việc khai sinh, khai tử; chịu trách nhiệm về công tác đăng ký, quản lý hộ tịch và những vi
phạm trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch do buông lỏng quản lý.
Theo đo Công chức Tư phap - Hô tich phu trach linh vưc về hô tich co nhiêm vu, quyền han sau: Tuân thủ
quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan về hộ tịch; Chịu trách nhiệm trước Ủy ban
nhân dân cấp xã và pháp luật về việc đăng ký hộ tịch; Tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân chấp hành các
quy định của pháp luật về hộ tịch; Giúp Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký hộ tịch kịp thời, chính xác, khách quan,
trung thực; Cập nhật đầy đủ các sự kiện hộ tịch đã được đăng ký vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; Chủ động
kiểm tra, rà soát để đăng ký kịp thời việc sinh, tử phát sinh trền địa bàn. Đối với địa bàn dân cư không tập trung,
điều kiện đi lại khó khăn, cách xa trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Ủy ban
nhân dân cấp xã cho tổ chức đăng ký lưu động đối với việc khai sinh, kết hôn, khai tử; Thường xuyên trau dồi
kiến thức pháp luật để nâng cao năng lực và nghiệp vụ đăng ký hộ tịch; Tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn
nghiệp vụ do Ủy ban nhân dân hoặc cơ quan tư pháp cấp trên tổ chức; Chủ động báo cáo, đề xuất Ủy ban nhân
dân cùng cấp phối hợp với cơ quan, tổ chức kiểm tra, xác minh về thông tin hộ tịch; Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá
nhân cung cấp thông tin để xác minh khi đăng ký hộ tịch; Phối hợp với cơ quan Công an cùng cấp cung cấp thông
tin hộ tịch cơ bản của cá nhân cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Như vây quan ly nha nươc về hoat đông khai sinh khai tử ơ câp xa la viêc UBND câp xa thực hiện đăng ky
khai sinh, đăng ky khai tư theo thẩm quyền của cấp mình quản lý. Thẩm quyền đăng ky khai sinh, khai tư của cấp
xã được quy định cụ thể tại luât Hô tich 2014 co hiều lực chinh thức tư ngay 01/01/2016 và nhiều văn bản quy
phạm pháp luật khác liền quan đền lình vưc khai sinh, khai tư. Cu thề như:
Tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân từ biết, đến hiểu, làm đúng các quy định của pháp luật về đăng
ky khai sinh, khai tư;
Quản lý, sử dụng sổ Đăng ky khai sinh, khai tư, biểu mẫu Đăng ki khai sinh, phân mềm hô tich theo quy
định của Bộ Tư pháp;
Thực hiện công tác lưu trữ và quản lý giấy tờ sổ sách, biểu mẫu, giữ liều hô tich điền tư liên quan tới công
tác khai sinh, khai tư;
Cấp trich luc khai sinh, khai tư từ sổ đăng ki khai sinh hoăc tư giũ liều hô tich điền tư;
Căn cứ vào quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành cải chính, bổ sung, thay đổi những nội
dung liên quan tới giây khai sinh: họ tên đệm, ngày tháng năm sinh, dân tộc, địa điểm thường trú, cha, mẹ, nghề
nghiệp của công dân khi yêu cầu của họ là chính đáng và có căn cứ pháp luật.
Tổng hợp, thống kê số liệu về tình hình đăng ki khai sinh, khai tư ở địa phương cho UBND huyện (trưc tiềp
la Phong tư phap ) theo định kỳ (6 tháng một lần). Giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân theo đung thâm
quyền, có biện pháp xử lý nghiêm minh với những hành vi vi phạm.
Quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh.
Hành vi đăng ký khai sinh của cơ quan đăng ký hộ tịch đánh dấu điểm khởi đầu của hoạt động quản lý nhà
nước đối với từng người dân, đồng thời cũng là điểm khởi đầu cho mọi mối quan hệ giữa công dân với nhà nước.
Từ góc độ lý luận về Nhà nước và pháp luật ở phương diện này có thể khẳng định, quản lý hộ tịch là một lĩnh vực
hoạt động thể hiện sâu sắc chức năng xã hội của Nhà nước .
Quyền được khai sinh là một trong những quyền nhân thân quan trọng của mỗi người được pháp luật quy
định và bảo vệ.
Điều 30 (Bộ luật Dân sư 2015 co hiêu lực thi hanh tư ngay 01/ 01/ 2017) quy định: Cá nhân khi sinh ra có
quyền được khai sinh.
Điều 7(Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em) quy định: “Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau
khi sinh ra và có quyền có họ tên, có quốc tịch và trong chừng mực có thể, có quyền được biết cha mẹ mình và
được cha mẹ mình chăm sóc”.
Nguyên tắc 3 trong Tuyên ngôn của Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em năm 1959 ghi nhận: “Trẻ em sinh ra
có quyền được khai sinh”.
Ngoài ra quyền được khai sinh của trẻ cũng được quy định trong Luật trẻ em năm 2016 co hiêu lưc thi hanh
tư ngay 01/06/ 2017: “Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch” (điêu 13).
Trinh tư thu tuc đăng ki khai sinh được quy đinh tai chương II muc 1 luât Hô tich 2014 cu thê:
+ Thẩm quyền đăng kỷ khai sinh: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện
đăng ký khai sinh.
+ Nội dung đăng kỷ khai sinh:
Thông tin của người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh;
quê quán; dân tộc; quốc tịch;Thông tin của cha, mẹ người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; năm sinh;
dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú; Số định danh cá nhân của người được đăng ký khai sinh.Việc xác định quốc tịch,
dân tộc, họ của người được khai sinh được thực hiện theo quy định của pháp luật về quốc tịch Việt Nam và pháp
luật dân sự.
Nội dung đăng ký khai sinh là thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân, được ghi vào Sổ hộ tịch, Giấy khai sinh,
cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Hồ sơ, giấy tờ của cá nhân liên
quan đến thông tin khai sinh phải phù hợp với nội dung đăng ký khai sinh của người đó.Chính phủ quy định việc
cấp Số định danh cá nhân cho người được đăng ký khai sinh.
+ Trách nhiệm đăng kỷ khai sinh:
Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường
hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ
chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em.
Công chức tư pháp - hộ tịch thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc đăng ký khai sinh cho trẻ em trên địa
bàn trong thời hạn quy định; trường hợp cần thiết thì thực hiện đăng ký khai sinh lưu động.
+ Thủ tục đăng kỷ khai sinh:
Người đi đăng ký khai sinh nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy chứng sinh cho cơ quan đăng ký hộ tịch.
Trường hợp không có giấy chứng sinh thì nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có
người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh; trường hợp khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi phải có biên
bản xác nhận việc trẻ bị bỏ rơi do cơ quan có thẩm quyền lập; trường hợp khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang
thai hộ phải có văn bản chứng minh việc mang thai hộ theo quy định pháp luật.
Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định trên, nếu thấy thông tin khai sinh đầy đủ và phù hợp, công chức
tư pháp - hộ tịch ghi nội dung khai sinh theo quy định phap luât hô tich vào Sổ hộ tịch; cập nhật vào Cơ sở dữ liệu
hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để lấy Số định danh cá nhân.
Công chức tư pháp - hộ tịch và người đi đăng ký khai sinh cùng ký tên vào Sổ hộ tịch. Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp xã cấp Giấy khai sinh cho người được đăng ký khai sinh.
Chính phủ quy định chi tiết việc đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em chưa xác định được cha, mẹ,
trẻ em sinh ra do mang thai hộ; việc xác định quê quán của trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em chưa xác định được cha, mẹ.
Có thể nói, quan ly hoat đông khai sinh khẳng định mỗi trẻ em là một công dân một quốc gia, moi công dân
đêu bình đẳng như nhau. Không đăng ki khai sinh thì trẻ em thật khó có thể được hưởng những dịch vụ thiết yếu
như: chăm sóc y tế, giáo dục và hỗ trợ pháp lý. Trẻ em không được đăng ki khai sinh rất dễ bị xâm hại và bị đối
xử tệ, trở thành nạn nhân của nạn buôn người, mại dâm, cưỡng ép tảo hôn. Việc không có giấy khai sinh cũng phủ
nhận quyền bầu cử, ứng cử, tham gia các tổ chức, đoàn thể xã hội ...
1.1.3.2 Quản lỷ nhà nước về hoạt động khai tử
Sự kiện một người chết (cái chết tự nhiên hoặc do Tòa án tuyên bố chết) là sự kiện pháp lý làm căn cứ phát
sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật của người tham gia với tư cách là một công dân, một con người
như quan hệ về hôn nhân và gia đình, thừa kế, hộ khẩu, hộ tịch, bảo hiểm xã hội.
Quyền được khai tử là một trong các quyền nhân thân cơ bản của cá nhân, thuộc nhóm quyền nhân thân
mang tính cá biệt hóa cá nhân.
Quyền được khai tử được quy định tại Điều 30 bô luât dân sư 2015, cụ thể:
“Ca nhân chêt phai được khai tư; Tre em sinh ra ma sông được tư hai mươi bốn giơ trơ lên mơi chêt thì
phai được khai sinh, khai tư; nêu sinh ra ma song dưới hai mươi bốn giơ thi không phai khai sinh va khai tư , trư
trương
hợp cha đe, me đe co yêu cầu. "
Quyền được khai sinh của trẻ cũng được quy định trong Luật trẻ em năm 2016 co hiều lực thi hanh từ ngay
01/06/ 2017: “Trẻ em co quyền được khai sinh, khai tử, co ho, tên, co quốc tich; được xac đinh cha, mẻ, dân tốc,
giợi tinh thẻo quy đinh cua phap luật” (điều 13).
Trình tự thủ tục đăng kỷ khai tử được quy đinh tai chương II mục 7 luật Hô tich 2014 cụ thê:
+ Thẩm quyền đăng kỷ khai tử:
Ủy ban nhân dân cấp xã nợi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử. Trường hợp
khống xác định được nợi cư trú cuối cùng của người chết thì Ủy ban nhân dân cấp xã nợi người đó chết hoặc nợi
phát hiện thi thể người chết thực hiện việc đăng ký khai tử.
+ Thời hạn và trách nhiệm đăng kỷ khai tử:
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có người chết thì vợ, chồng hoặc con, cha, mẹ hoặc người thân thích
khác của người chết có trách nhiệm đi đăng ký khai tử; trường hợp người chết khống có người thân thích thì đại
diện của cợ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm đi khai tử.
Công chức tư pháp - hộ tịch thường xuyên kiểm tra, đốn đốc việc khai tử cho người chết; trường hợp khống
xác định được người có trách nhiệm đi khai tử thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện đăng ký khai tử.
+ Thủ tục đăng kỷ khai tử:
Người có trách nhiệm đi đăng ký khai tử nộp tờ khai theo mẫu quy định và Giấy báo tử hoặc giấy tờ khác
thay giấy báo tử cho cợ quan đăng ký hộ tịch.
Ngay sau khi nhận giấy tờ thẻo quy định phap luật, nếu thấy việc khai tử đúng thì cống chức tư pháp - hộ
tịch ghi nội dung khai tử vào Sổ hộ tịch, cùng người đi khai tử ký tên vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người đi khai tử.
Công chức tư pháp - hộ tịch khóa thông tin hộ tịch của người chết trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.
Như vây quan ly hoat đông khai sinh vê hoat đông khai tư thê hiên quyền được khai tử của cá nhân có ý
nghĩa quan trọng không chỉ với chính cá nhân được đăng ký khai tử mà còn với các cá nhân, tổ chức khác liên
quan và Nhà nước.
Đối với chính cá nhân được khai tử: Việc khai tử về mặt pháp lý sẽ làm chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của
cá nhân đó. Tuy nhiên không có nghĩa là tất cả các quyền và nghĩa vụ của cá nhân này sẽ chấm dứt sau khi được
khai tử, chẳng hạn như quyền tác giả của cá nhân được bảo hộ ngay cả sau khi tác giả là cá nhân chết.
Đối với cá nhân, tổ chức khác: Việc đăng ký khai tử đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của những
người liên quan. Hay nói các khác, khai tử là sự kiện pháp lý làm chấm dứt hoặc phát sinh các quyền và nghĩa vụ
của các cá nhân tổ chức khác trong xã hội khi đang tham gia các quan hệ hôn nhân, quan hệ tài sản, quan hệ lao
động, quan hệ hành chính,... Chẳng hạn như quan hệ thừa kế, quan hệ bồi thường thiệt hại, bảo hiểm.
Đối với Nhà nước: Việc đăng ký khai tử sẽ góp phần giúp cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương nơi cá
nhân chết quản lý được tình hình dân cư ở địa phương mình, thực hiện hoạt động quản lý nhân khẩu, tránh được
những thay đổi xáo trộn về tình hình dân cư trên địa bàn cơ quan này quản lý. Mặt khác nó cũng đóng vai trò
quan trọng trong việc điều chỉnh chính sách của nhà nước sao cho phù hợp nhằm ổn định và phát triển xã hội.
1.2.
Vai trò quản lý nhà nước về hoạt động đăng ký khai sinh, khai tử
Trong xã hôi hiên đai, khi mà khai niêm quyên con ngươi đa được nhân thức như môt gia tri chung cua nhân
loai thì cùng với nó, hâu như tất cả các quốc gia đều nhân thưc đúng đắn về tầm quan trọng của việc quản lý hộ
tịch noi chung và quan ly hoat đông khai sinh, khai tư noi riêng. Nếu như hoạt động quản lý dân cư được coi là
nội dung quan trọng hàng đầu trong tổng thể hoat đông quan ly xã hội thì quản lý hoat đông khai sinh, khai tư, với
các lợi ích, giá tri tiêm tang cua no, được coi la mắt khâu nằm ở vị trí trung tâm của hoạt động quản lý dân cư.
Vê măt ly luân, hoat đông quan ly hoat đông khai sinh, khai tư la thê hiên chức năng xa hôi cua nha nươc
xet trên ba phương diên cơ ban:
Thứ nhất, quản lý hoat đông khai sinh, khai tư là cơ sở để Nhà nước hoạch định các chính sách phát triên
kinh tê, văn hóa, xã hội, an ninh, quôc phòng.. .và tổ chức thực hiện có hiệu quả cac chinh sach đo. Gop phần tao
cơ sơ dữ liệu hộ tịch đầy đủ, chính xác. Quan ly hoat đông khai sinh, khai tư được cập nhật kịp thời, thường
xuyên sẽ là nguồn tài sản thông tin hết sức quý giá cho cơ sơ dư liêu quôc gia, hỗ trợ đắc lực cho việc hoạch định
các chính sách xã hội một cách chính xác, có tính khả thi, tiết kiệm chi phí xã hội.
Trên địa bàn một đơn vị cấp xã, khi cần triển khai các chính sách cộng đồng liên quan đến dân cư: bảo vệ
sức khỏe nhân dân, chăm sóc y tế đối với bà mẹ và trẻ em, phổ cập giáo dục, hôn nhân và gia đình, v.v., chính
quyền thường căn cứ vào sổ đăng ký khai sinh, khai tử, .để xác định đối tượng và triển khai các biện pháp phù
hợp với đặc điểm dân cư trong xã. Tuy nhiên tại các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa đạt được thấp hơn. Một trong
các nguyên nhân dẫn đến vấn đề này là do từ chính hoạt động quản lý hoat đông khai sinh, khai tư. Khảo sát thực
tiễn cho thấy, đây đồng thời cũng là địa bàn công tác quản lý hộ tịch bị buôn lỏng, hệ thống sổ đăng ki khai sinh,
khai tử không phản ánh chính xác tình hình dân cư; do đó, việc thực hiện các chính sách gặp rất nhiều khó khăn
hiệu quả đạt thấp. Đối với quốc gia có kết cấu dân cư đa dạng về thành phần dân tộc như Việt Nam, quản lý hoat
đông khai sinh, khai tư còn góp phần quan trọng vào việc thực hiện chính sách dân tộc và chính
sách phát triển kinh tế, xã hội các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Thứ hai, hoạt động quản lý và đăng ký khai sinh, khai tử thể hiện sự tôn trọng của Nhà nước đối với việc
thực hiện một số quyền con người, quyền va nghĩa vu cờ ban cua công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp
năm 2013 và Bộ luật Dân sự 2015, ví dụ như quyền được khai sinh, khai tử, quyền xac đinh lai dân tôc, quyền
thay đổi họ tền, quyền đối với quốc tịch, quyền kết hôn, quyền được nuôi con nuôi và được nhận làm con nuôi,...
Ở phượng diện này đăng ký khai sinh, khai tư chính là phượng tiện để người dân thực hiện, hưởng thụ các
quyền nhân thân. Là căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý của một cá nhân với tư cách là công dân của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: xác định tuổi được hưởng những phúc lợi xã hội dành cho trẻ; xác định tuổi
đi học; phát sinh quyền nghĩa vụ cờ bản của công dân trền các lĩnh vực đặc biệt quyền được tham gia bầu cử, ứng
cử của công dân; thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và xã hội...
Các dữ liệu về căn cước của mỗi cá nhân thể hiện trền chứng thư hộ tịch (giấy khai sinh, trich luc khai tư
ban chinh.) là sự khẳng định có giá trị pháp lý về đặc điểm nhân thân của mỗi người, mà qua đó các cờ quan tổ
chức, cá nhân khác có thể đánh giá người đó có khả năng điều kiện để tham gia vào các quan hệ pháp luật nhất
định hay không.
Sự tồn tại của một đứa trẻ trong cộng đồng, trong xã hội được đánh dấu bằng việc cờ quan đăng ký hộ tịch
có thẩm quyền xác lập cho đứa trẻ đó một giấy khai sinh. Kể từ thời điểm đó đứa trẻ - con người tự nhiền - chính
thức trở thành một chủ thể pháp luật độc lập, được pháp luật bảo vệ bởi các yếu tố nhân thân riềng biệt, đặc trưng
của mình được xác định trền giấy khai sinh .
Với ý nghĩa quan trọng như vậy việc nhà nước tổ chức quản lý đăng ký khai sinh, khai tư chính là sự bảo hộ
đối với việc thực hiện các quyền con người. Điều này chỉ có trong các xã hội mà nền dân chủ được mở rộng và
phát huy , khi mà các giá trị quyền con người được nhà nước tôn trọng và có trách nhiệm bảo hộ. Nhìn vào lịch sử
có thể thấy, các triều đại phong kiến Việt Nam không tổ chức quản lý hộ tịch noi chung va hoat đông khai sinh,
khai tư noi riêng vì mối quan hệ giữa vương quyền (vua) với các “thần dân” của mình về cơ bản là mối quan hệ
một chiều, người dân chỉ có nghĩa vụ đối với triều đình. Do đó, đối với nhà nước phong kiến việc tổ chức quản lý
hoat đông khai sinh, khai tư không được quan tâm.
Thứ ba, quản lý hoat đông khai sinh, khai tư có vai trò to lớn đối với việc bảo đảm trật tự xã hội hướng tới
mục tiêu “xây dựng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Hệ thống sổ đăng ki khai sinh,
khai tư va cơ sơ dư liêu hô tich vê khai sinh, khai tư có thể giúp việc truy nguyên nguồn gốc của cá nhân một cách
dễ dàng. Viêc công dân được câp giây khai sinh khi sinh ra va trich luc khai tư khi chêt đi là sự khẳng định chính
thức của nhà nước về vị thế của một cá nhân trong gia đình và xã hội.
Bởi ý nghĩa quan trọng như vậy, nên trong sự phát triển của mỗi quốc gia, vấn đề xây dựng hệ thống quan ly
hoat đông khai sinh, khai tư va khai thác hiệu quả của nó phục vụ cho công tác quản lý nhà nước luôn được quan
tâm .
1.3.
1.3.1.
Cac đăc điểm quan ly nha nước về khai sinh, khai tư ớ cấp xa
Quản lý khai sinh
, khai tử phải đảm bảo các nguyên tắc pháp lý
Quản lý nhà nước về hoat đông khai sinh, khai tư là một hoạt động quản lý con người, hướng đến đối tượng
quản lý là các đặc điểm nhân thân làm nên căn cước của mỗi cá nhân. Tuy nhiên các yếu tố thuộc về căn cước của
mỗi người rất phong phú và là đối tượng của nhiều hoạt động quản lý khác nhau. Vi du như: họ, tên, ngày, tháng,
năm sinh, giới tính, dân tộc, tôn giáo, quốc tịch, nghề nghiệp, nơi sinh, nơi cư trú, các mối quan hệ gia đình, tiền
án, tiền sự... tất cả những dấu hiệu đặc trưng đó bảo đảm cho việc phân biệt chính xác một cá nhân này với một cá
nhân khác. Chinh vi vây cân xem xet, xac đinh pham vi cua quan ly nha nươc vê hô tich noi chung quan ly nha
nươc vê hoat đông khai sinh, khai tư noi riêng.
Hoạt động quản lý khai sinh, khai tư quan tâm đến các đặc điểm nhân thân có tính bền vững của cá nhân,
những đặc điểm này chỉ có thể được thay đổi trong những trường hợp đặc biệt, theo một thủ tục pháp lý chặt chẽ.
Hoat đông quan ly khai sinh, khai tư được giơi han trong các nhóm đặc điểm nhâ n thân có các thuộc tính sau:
- Tính ổn định cao;
- Tính công khai;
- Có khả năng phổ biến thông tin;
Dưa trên nhưng thuôc tinh nay thi quan ly nha nươc vê hoat đông khai sinh, khai tư co nhưng nguyên tăc
sau:
Thứ nhất, mọi sự kiện sinh, tử phải được đăng ký đầy đủ, kịp thời, chính xác.
Thứ hai, mỗi sự kiện sinh, tư chỉ được đăng ký tại một nơi, theo đúng thẩm quyền quy định.
Thứ ba, Chiu sư quan ly, kiêm tra, hương dân cua cơ quan quan ly câp trên; trương hơp phat hiên thây sai
pham phai chẩn chinh, xư ly kip thơi.
Thứ tư, công khai và thực hiện chính xác các quy định về đăng ký khai sinh, khai tư.
Hệ thống các nguyên tắc trên có mối quan hệ chặt chẽ nhau, trong quá trình quản lý hoat đông khai sinh,
khai tư, các cơ quan quản lý dựa trên các nguyên tắc đó làm tư tưởng chủ đạo để thực hiện, đảm bảo cho việc
quản lý hoat đông nay được chính xác, kịp thời, đầy đủ, góp phần bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công
dân. Vi du: nêu giây tơ quan trong như hô sơ đi hoc, xin lam viêc, xuât canh, CMND, sô hô khâu... không trung
khơp vơi giây khai sinh thi se anh hương không nho đên hoat đông xa hôi cua ngươi dân thâm chi con gây kho
khăn đên viêc xac đinh đô tuôi đê đanh gia năng lưc hanh vi, năng lưc chiu trách nhiêm phap li cua môi con
ngươi.
1.3.2. Chủ thể thực hiện đăng ký, quản lý khai sinh, khai tử.
Chủ thể thực hiện quản lý khai sinh, khai tư ở nước ta hiện nay gồm:
- Chính phủ;
- Bộ, cơ quang ngang Bộ (Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao).
- Ủy ban nhân dân (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã)
Chủ thể thực hiện đăng ký khai sinh, khai tư gồm:
- Ủy ban nhân dân (cấp huyện, cấp xã) và cơ quan chuyên môn giúp việc cho Ủy ban nhân dân câp huyên la
phong Tư phap ma trực tiêp la Công chức lam công tac hô tich.
So với mô hình quản lý hộ tịch theo Nghị định 158/2005/NĐ - CP điểm khác biệt cơ bản của hệ thống quản
lý hộ tịch theo luật Hộ tịch 2014 thể hiện việc phân định rõ thẩm quyền đăng ký hộ tịch cho Ủy ban nhân dân cấp
xã nhằm xây dựng hệ thống đăng ký hộ tịch một cấp, đồng thời phân cấp hợp lý việc quản lý nhà nước về hộ tịch,
xây dựng đội ngũ Hộ tịch viên chuyên nghiệp, ổn định, có trình độ chuyên môn cao. Việc phân cấp thẩm quyền
quản lý và đăng ký hộ tịch thể hiện những thay đổi quan trọng sâu sắc trong sự vận dụng tư duy mới về cải cách
hành chính góp phần thực hiên mục tiêu “ Xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới
cơ sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tăng tính dân chủ và pháp quyền trong hoạt
động điều hành của Chính phủ và của các cơ quan hành chính nhà nước” Với quan điểm thực hiện phân cấp mạnh
cho chính quyền cấp xã, luật quy định Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền giải quyết đăng kí khai sinh, khai
tử cho công dân đang tạm trú hoặc thường trú tại địa phương mình không phải phụ thuộc vào nơi cư trú trước đây.
Ngoài ra tại Nghị định 123/ NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành
Luật hộ tịch thì Ủy ban nhân dân cấp xã còn được đăng kí khai sinh trong một số trường hợp đặc biệt như đăng kí
khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi; đăng kí khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha mẹ; đăng kí khai sinh, khai tử tại khu
vực biên giới. Quy định này, nhằm phát huy tối đa năng lực, trách nhiệm của chính quyền cấp xã là cấp quản lý
gần dân nhất; bảo đảm, tăng cường vai trò quản lý nhà nước của Ủy Ban nhân dân cấp xã, tiến tới mục tiêu lâu dài
là phân cấp triệt để thẩm quyên đăng kí hộ tịch cho chính quyền cơ sở. Cụ thể:
ơ cấp xa chủ thể thực hiện thẩm quyền đăng ký khai sinh, khai tư ở Ủy ban nhân dân cấp xã là Chủ tịch
hoặc Phó chủ tịch Ủy ban nhấn dấn xã được giao phụ trách công tác hô tich. Trong cơ cấu tổ chức chính quyền
cấp xã hiện nay, các hành vi tác nghiệp về quản lý hộ tich noi chung va quan ly khai sinh, khai tư noi riêng chủ
yếu do công chức Tư pháp - Hô tich thực hiện.
+ Thẩm quyền đăng kỷ khai sinh
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện đăng ký khai sinh.
Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của cả cha lẫn mẹ, thì UBND cấp xã, nơi trẻ em đang
sinh sống trên thực tế thực hiện việc đăng ki khai sinh.
Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi được thực hiện tại Ủy ban nhân dấn cấp xã, nơi cư trú của người
đang tạm thời nuôi dưỡng hoặc nơi có trụ sở của tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó.
UBND cấp xa nơi tre đang cư tru co trach nhiêm đăng ki khai sinh cho tre chưa xac đinh được cha, me.
Ngoai ra UBND cấp xa ơ khu vực biên giơi co thấm quyên đăng ki khai sinh cho tre sinh ra tai Viêt Nam co
cha hoăc me la công dấn Viêt Nam thương tru tai đia ban xa đo con me hoăc cha la công dấn nươc lang giêng
thương tru tai đơn vi hanh chinh tương đương cấp xa cua Viêt Nam tiêp giap
vơi xa ơ khu vực biên giới cua Viêt Nam nơi công dân Viêt Nam thường trú.
+ Thẩm quyền đăng kỷ khai tử
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử. Trường hợp
không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết hoặc nơi
phát hiện thi thể người chết thực hiện việc đăng ký khai tử.
Ngoai ra UBND câp xa ơ khu vưc biên giơi thưc hiên đăng ki khai tư cho ngươi chêt la ngươi nươc ngoai cư
tru tai xa đo.
Đăng ký khai sinh, khai tư là quyền, nghĩa vụ của mọi công dân, là một trong những nguyên tắc chung xét ở
gốc độ pháp lý về mặt quyền thì đăng ký khai sinh, khai tư là việc thể hiện quyền dân sự của công dân; về mặt
nghĩa vụ công dân phải có trách nhiệm thực hiện đăng ký khai sinh, khai tư. Đối với Nhà nước thông qua việc
đăng ký này đảm bảo được quyền của công dân. Do vậy, đăng ký khai sinh, khai tư là quyền và nghĩa vụ của mỗi
người, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo trình tự và thủ tục do pháp luật về hộ tịch quy định.
1.4.
Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động khai sinh, khai tử
Nhìn từ góc độ quản lý thì phạm vi quản lý khai sinh, khai tư không chỉ giới hạn trong đối tượng công dân
Việt Nam mà còn bao gồm cả người nước ngoài, người không quốc tịch. Phạm vi quản lý đó được thực hiện
thông qua các nội dung quản lý đã được nêu trong Điều 3 luât Hô tich 2014, bao gồm:
Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch: Khai sinh; Kết hôn; Giám hộ; Nhận cha, mẹ, con; Thay đổi, cải
chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; Khai tử.
Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền: Thay đổi quốc tịch; Xác định cha, mẹ, con; Xác định lại giới tính; Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con
nuôi;