Tải bản đầy đủ (.docx) (13 trang)

Nhật bản là quốc gia có tính đồng nhất về sắc dân và văn hóa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (173.07 KB, 13 trang )

Nhật Bản là quốc gia có tính đồng nhất về sắc dân và văn hóa. Người dân không có nguồn gốc
Nhật chỉ chiếm hơn 1% tổng dân số vào năm 1993. Sắc dân nước ngoài đông nhất là Triều Tiên
nhưng nhiều người Triều Tiên sinh trưởng tại Nhật Bản đã nói tiếng Nhật không khác gì người
Nhật Bản cả. Sắc dân này trước kia bị kỳ thị tại nơi làm việc và tại một số phương diện trong đời
sống hàng ngày. Sắc dân ngoại quốc thứ hai là người Trung Hoa rồi về sau còn có một số dân lao
động gồm người Philippines và người Thái.
Theo Bộ Nội Vụ của Nhật Bản, dân số Nhật Bản vào cuối năm 2000 là 126.434.470 người, đứng
hàng thứ bảy sau Trung Quốc, Ấn Độ, Hoa Kỳ, Indonesia, Brasil và Nga. Mức gia tăng dân số
lên tối đa vào năm 1974 với tỉ lệ sinh 1,27%, đã giảm xuống còn 0,35% vào năm 1992. Tuy thế,
Nhật Bản vẫn có thể có dân số lên tới 129,5 triệu người vào năm 2010 rồi sau đó mới giảm bớt.
Do dân số đông, mật độ dân số của Nhật Bản lên tới 327 người/km², ngang hàng với các nước có
mật độ cao như Bỉ, Hà Lan và Triều Tiên. Khoảng 49% dân Nhật tập trung quanh ba đô thị lớn là
Tokyo, Osaka và Nagoya cùng với các thành phố phụ cận. Tokyo vẫn là nơi đông dân nhất, với
khoảng 1/3 tổng dân số. Lý do của sự tập trung này là vì Tokyo là trung tâm của khu vực dịch vụ.
Vào năm 1991, Nhật Bản có 13% dân số trên 65 tuổi, con số này thấp hơn so với của Thụy Điển
là 18% và Anh là 15%. Tuổi thọ trung bình tại Nhật Bản là 81 đối với phụ nữ và 75 với nam giới.

Bữa ăn sáng truyền thống của người Nhật
Do sống biệt lập với các quốc gia khác tại châu Á trong nhiều thế kỷ cho tới thời kỳ mở cửa vào
năm 1868, Nhật Bản đã có các nét riêng về phong tục, tập quán, chính trị, kinh tế và văn hóa...
trong đó gia đình đã giữ một vai trò trọng yếu. Trước Thế Chiến thứ Hai, phần lớn người Nhật
sống trong loại gia đình gồm ba thế hệ. Sự liên lạc gia đình đã theo một hệ thống đẳng cấp khắt
khe theo đó người cha được kính trọng và có uy quyền. Người phụ nữ khi về nhà chồng phải
tuân phục chồng và cha mẹ chồng nhưng sau khi Luật Dân Sự năm 1947 được ban hành, người
phụ nữ đã có nhiều quyền hạn ngang hàng với nam giới về mọi mặt của đời sống và đặc tính phụ
quyền của gia đình đã bị bãi bỏ. Phụ nữ Nhật đã tham gia vào xã hội và chiếm 40,6% tổng số lực
lượng lao động của năm 1990.


Các phát triển nhanh chóng về kinh tế, kỹ thuật và đô thị cũng làm gia tăng loại gia đình hạt nhân
chỉ gồm cha mẹ và các con, khiến cho loại đại gia đình giảm từ 44% vào năm 1955 xuống còn


13,7% vào năm 1991. Số người con trong gia đình cũng giảm từ 4,7 vào năm 1947 xuống còn
1,5 vào năm 1991 vì việc làm nơi thành phố và do cuộc sống trong các căn nhà chung cư chỉ
thích hợp với loại gia đình trung bình là 2,9 người.
Cùng với sự thay đổi về số người trong gia đình, nếp sống hiện nay của người Nhật Bản khác
ngày trước do việc dùng các máy móc gia dụng, do sự phổ biến các loại thực phẩm ăn liền và
đông lạnh, các loại quần áo may sẵn và các phương tiện hàng ngày khác. Những tiện nghi này đã
giải phóng người phụ nữ khỏi các ràng buộc về gia chánh, cho phép mọi người có dư thời giờ
tham gia vào các hoạt động giải trí, giáo dục và văn hóa. Các tiến bộ về công bằng xã hội cũng
làm mất đi tính kỳ thị về giai cấp, về quá trình gia đình, và đại đa số người Nhật Bản thuộc giai
cấp trung lưu, căn cứ vào lợi tức của họ.
Ngày nay mặc dù Nhật Bản đã là một quốc gia tân tiến nhưng trong xã hội Nhật, vai trò và các
liên hệ nam nữ đã được ấn định rõ ràng. Thời xưa, Nhật Bản theo chế độ mẫu hệ, người phụ nữ
có vai trò lớn hơn nam giới. Từ khi thời kỳ samurai phát triển, người đàn ông lại chiếm vai trò
độc tôn. Dù rằng tinh thần giải phóng phụ nữ đã được du nhập vào Nhật Bản từ cuối thế kỷ 19
nhưng hiện nay trong đời sống công cộng, người phụ nữ vẫn ở vị thế thấp hơn nam giới và bên
ngoài xã hội, người nam vẫn giữ vai trò lớn hơn một chút. Theo căn bản, người nữ vẫn là người
của "bên trong" (uchi no) và người nam vẫn là người của "bên ngoài" (soto no). Phạm vi của
người phụ nữ là gia đình và các công việc liên hệ, trong khi người chồng là người đi kiếm sống
và đưa hết tiền lương về cho người vợ. Thời xưa, người phụ nữ trên 25 tuổi mà chưa có chồng
thường bị nam giới coi như "có khuyết điểm nào đó". Nhưng nay Nhật Bản lại là nước có phụ nữ
lấy chồng rất muộn, thậm chí là sống độc thân mà không có chồng (Nhật Bản hiện nay là nước
có phụ nữ lấy chồng rất ít và tỉ lệ sinh thấp nhất Châu Á. Tại các công ty, nhà máy, cửa hàng...
người phụ nữ thường được thuê mướn để chào đón các khách mới đến. Ngày nay, vị thế của
người phụ nữ đã được nâng lên nhiều trong xã hội, nhất là tư duy của lớp thanh niên trẻ - những
người thường không có quan niêm phân biệt và suy nghĩ bảo thủ, cổ hủ.
Xã hội Nhật Bản có các nét đặc biệt về giao thiệp. Người Nhật thường cúi chào bằng cách gập
người xuống (ojigi) và độ hạ thấp tùy thuộc địa vị xã hội của cả hai người. Đây là một dấu hiệu
quan trọng để tỏ lộ sự kính trọng. Một nét phong tục khác là việc trao đổi danh thiếp. Mỗi lần
giới thiệu hay gặp mặt đều cần tới tấm danh thiếp và việc nhận tấm danh thiếp bằng hai tay là
một cử chỉ lễ độ. Tấm danh thiếp được in rõ ràng và không được viết tay trên đó. Trong việc giao

thiệp, người Nhật thường không thích sự trực tiếp và việc trung gian đóng một vai trò quan trọng
trong cách giải quyết mọi hoàn cảnh khó khăn. Cũng như đối với nhiều người châu Á khác,
người ngoại quốc tới Nhật Bản cần phải bình tĩnh trước mọi điều không vừa ý, không nên nổi
giận và luôn luôn nên nở nụ cười.


Văn hóa
Nhắc đến Nhật Bản, người ta có thể liên tưởng ngay đến Sushi, những nhà đô vật Sumo, những
nàng kỹ nữ Geisha, chiếc áo truyền thống Kimono và biểu tượng truyện tranh Manga.

Sumo

Sumo là môn vật truyền thống của Nhật Bản với lịch sử tồn tại tới
2000 năm. Ban đầu sumo chỉ là một nghi thức cầu xin thần linh phù hộ cho vụ mùa bội thu. Vào
thế kỉ thứ VIII, sumo được đưa vào các lễ của hoàng gia và bắt đầu có luật lệ cho môn này. Sumo
trở thành môn thể thao chuyên nghiệp vào đầu thời Edo (1603-1868), và hiện nay là một môn thể
thao thu hút rất nhiều sự quan tâm, theo dõi của không chỉ người Nhật mà còn của những người
yêu thích môn vật trên thế giới.

Geisha


Geisha, hay còn gọi là nghệ giả theo tiếng Nhật là những người sống
bằng nghệ thuật. Họ có nhiều kĩ năng như đàn hát, múa, kể chuyện, pha trà…, được đào luyện kĩ
và sống trong một khuôn khổ nhất định. Các Geisha ngày nay hầu hết phải tốt nghiệp Trung học
hoặc có khi phải tốt nghiệp Đại học, công việc của họ là biểu diễn những kỹ năng nghệ thuật và
trò chuyện với khách hàng. Xuất hiện vào khoảng thế kỉ 17, đến nay Geisha đã có một truyền
thống lâu đời, với nhiều kĩ năng độc đáo, và là một nét đặc trưng rất độc đáo của người Nhật.
Hiện nay, số lượng Nghệ giả ở Nhật Bản không còn nhiều như trước nữa, tuy nhiên vẫn còn một
số khu vực tại Nhật Bản có số lượng Geisha khá đáng kể như Gion và Pontocho, và một số “khu

phố hoa” khá nổi tiếng tại Tokyo.

Kimono
Nói đến thời trang Nhật Bản, không thể không nhắc đến Kimono. Giống như áo dài Việt Nam,
Kimono là một trong những niềm tự hào của người Nhật và là một trong những biểu tượng của
đất nước này. Về cơ bản, Kimono là một chiếc áo choàng được giữ cố định bằng một vành khăn
rộng cố định vào người cùng với một số dây đai và dây buộc. Tuy nhiên có rất nhiều quy tắc,
cũng như là phụ kiện khi mặc một bộ kimono truyền thống. Nếu có dịp, bạn hãy thử diện bộ
kimono, và xem mình có giống người Nhật không nhé.

Manga
Manga là một cụm từ trong tiếng Nhật để chỉ các loại truyện tranh và tranh biếm họa. Manga
được xem là từ đặc biệt để chỉ riêng truyện tranh xuất phát từ Nhật Bản. Đa số người Nhật xem
Manga là một món ăn tinh thần không thể thiếu. Ngày nay, Manga không chỉ rất phổ biến ở Nhật
mà còn ở nhiều quốc gia tên thế giới, thu hút được sự quan tâm của rất nhiều người thích truyện
tranh.
Do sống biệt lập với các quốc gia khác trong nhiều thế kỉ, Nhật Bản có nhiều nét riêng trong
phong tục tập quán. Khi giao tiếp người Nhật thường rất ít khi vòng vo mà thích đi thẳng vào vấn
đề, khi câu hỏi được đưa ra có nghĩa là công việc chính thức bắt đầu. Nếu không khí căng thẳng
mà bạn tạo ra được tình huống vui vẻ gây cười thì sẽ có ấn tượng tốt. Bạn không nên đưa ra
những ý kiến đi lạc vấn đề, thiếu thông tin hoặc quá thiên về đời tư, nếu không sẽ gây mất thiện
cảm.
Khi muốn làm quen, giao dịch, trước tiên bạn nên đưa danh thiếp để tự giới thiệu, khi đưa và
nhận danh thiếp thì đưa bằng hai tay và không nên viết tay vào danh thiếp. Ngoài ra còn một số


lưu ý khi giao tiếp với người Nhật như: không chụp ảnh ba người; không vỗ vai, không kéo dài
mọi hình thức tiếp xúc cơ thể; không tặng quà có số lượng là 4, 9; không tặng những vật nhọn,
vật có màu tím, màu xanh vì đối với người Nhật đây là những thứ tượng trưng cho đau buồn và
điều không may.

ỔNG QUAN VĂN HOÁ NHẬT BẢN
Văn hoá Nhật Bản ngày nay là kết tinh thành quả lao động hàng ngàn năm của những cư dân trên quần
đảo Nhật Bản, là sự kết hợp sáng tạo những giá trị văn hoá bản địa và các giá trị văn hoá nước ngoài,
cũng do vậy, là nơi hội tụ của văn hoá phương Đông và phương Tây.
Trước khi có tiếp xúc văn hoá đầu tiên với Trung Quốc trên quần đảo này đã tồn tại những cộng đồng
người với những đặc trưng sinh hoạt văn hoá riêng. Những giá trị tinh thần thể hiện nhân sinh quan và
thế giới quan độc đáo của những cư dân cổ xưa trên quần đảo này còn lưu lại khá rõ nét trong các vật
phẩm chế tác, các truyền thuyết, nhất là trong những tín ngưỡng đa thần mà sau này được gọi chung là
Thần đạo.
Sự ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc, đặc biệt là chữ Hán, Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo bắt đầu vào
thế kỷ thứ IV sau công nguyên đã làm thay đổi to lớn diện mạo văn hoá Nhật Bản từ lối sống trong triều
đình Thiên hoàng đến sinh hoạt ngoài dân chúng. Cùng với thời gian các giá trị văn hoá này đã dần dần
biến đổi, kết hợp với các giá trị văn hoá bản địa, nhất là với Thần đạo để tồn tại, phát triển và tạo nên
những nét đặc trưng riêng của văn hoá Nhật Bản.
Khoảng giữa thế kỷ XVI đã xuất hiện những người phương Tây đầu tiên đến Nhật Bản đem theo sự ảnh
hưởng của những tri thức khoa học phương Tây và Kitô giáo. Tuy nhiên phải đến cuộc cải cách Minh Trị
(1868) thì tiếp xúc của Nhật Bản với văn hoá phương Tây mới trở nên đậm nét. Với đường lối mở cửa đất
nước để học hỏi phương Tây, chỉ trong vài thập kỷ sau đó Nhật Bản đã trở thành một quốc gia hùng
mạnh với cơ sở kinh tế, thể chế chính trị và mô hình xã hội, văn hoá hiện đại- điều mà phương Tây đã
phải mất hàng thế kỷ mới có được.
Sau kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ II, mặc dù là một nước bại trận với nền kinh tế kiệt quệ song nhờ
tinh thần quyết tâm cao độ Nhật Bản đã tạo nên một kỳ tích trong phục hồi kinh tế. Đến giữa những năm
1960 Nhật Bản đã có đủ sức mạnh để cạnh tranh trên trường quốc tế. Theo đó, nền văn hoá hiện đại
cũng nhanh chóng phát triển ngày một đa dạng trên cơ sở phát huy những giá trị truyền thống và tiếp
thu những thành quả tiến bộ của văn hoá nước ngoài.
Tuy là là một nền văn hoá phát triển mang tính hỗn dung, song việc tiếp thu các thành quả văn hoá nước
ngoài của Nhật Bản không phải là việc vay mượn, sao chép cứng nhắc, mà luôn luôn là quá trình tiếp thu
có cải biến. Tư tưởng, tín ngưỡng, lối sống nước ngoài một khi được du nhập vào Nhật Bản đều buộc
phải biến đổi để phù hợp với hệ giá trị văn hoá bản địa và tồn tại như là cái có tính độc đáo Nhật Bản.
Chính nhờ vậy mà ngày nay Nhật Bản không chỉ là một cường quốc hàng đầu thế giới về kinh tế mà còn

là đất nước có nền văn hoá phát triển đa dạng và giàu bản sắc
Tư tưởng và Tôn giáo
Thần đạo (Shintò) là một tôn giáo đa thần, có nguồn gốc từ những tín ngưỡng thời cổ xưa ở Nhật Bản.
Người ta thờ cúng các sự vật, hiện tượng được coi là có năng lực linh thiêng trong tự nhiên và xã hội,
như đỉnh núi, con sông, biển, mặt trời, mưa, dông bão, các vị anh hùng và tổ tiên để mong được sự phù
hộ, chở che trong cuộc sống hiện tại. Những truyền thuyết về nguồn gốc thần linh của Hoàng tộc đã trở
thành một phần quan trong của giáo lý Thần đạo. Từ Thần đạo (Shintò) chỉ những nghi lễ tế thần và đền


thờ được thấy xuất hiện rất sớm, nhưng phải đến tận cuối thế kỷ thứ XII thuật ngữ này mới mang ý
nghĩa chỉ một loại giáo lý tôn giáo nhất định. Thần đạo có một quá trình kết hợp lâu dài với Phật giáo
dưới dạng tín ngưỡng Thần Phật tập hợp. Đầu thế kỷ XIX một phong trào Thần đạo phục cổ đã nổi lên và
dần chiếm ưu thế, Phật giáo bị tách ra khỏi Thần đạo vì bị coi là một tôn giáo ngoại lai. Sau cải cách Minh
Trị và đặc biệt trong Chiến tranh Thế giới thứ II, Thần đạo được các nhà chức trách đưa lên thành quốc
giáo. Kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ II quân Đồng Minh đã chiếm đóng Nhật Bản, giải thể Thần đạo
Nhà nước- một tổ chức Thần đạo được coi là có liên quan đến việc cổ súy tư tưởng dân tộc cực đoan và
chủ nghĩa quân phiệt. Theo Hiến pháp Nhật Bản sau chiến tranh, Thần đạo không còn được hưởng bất
kỳ một đặc quyền nào và tồn tại bình đẳng như các tôn giáo khác. Ngày nay trong ý thức dân chúng Thần
đạo tồn tại song song và đôi khi hoà trộn với Phật giáo. Nhiều người Nhật kết hôn theo nghi thức Thần
đạo và được mai táng theo nghi thức Phật giáo.
Phật giáo được truyền vào Nhật Bản khoảng năm 552 sau công nguyên từ vương quốc Bách Tế (nay
thuộc Triều Tiên). Lúc bấy giờ quốc vương Bách Tế đã cử một sứ đoàn mang đến biếu Thiên hoàng Nhật
Bản một pho tượng Phật quý và một số sách kinh điển nhà Phật. Tuy lúc đầu có gặp một số khó khăn,
song nhờ được sự bảo trợ của Nữ hoàng Suiko (593-628), đặc biệt là của Thái tử Shotoku (574- 622),
Phật giáo được truyền bá rộng khắp đất nước. Đầu thế kỷ thứ IX Phật giáo Nhật Bản chủ yếu phục vụ cho
giới quý tộc cung đình. Đến thời Hei-an (794- 1185) đã xuất hiện và phát triển hai tông phái lớn là Chân
Ngôn tông và Thiên Thai tông. Bước vào thời Kamakura (1185-1333) Phật giáo trên quần đảo này phát
triển rực rỡ với sự truyền bá của hàng loạt các tông phái mới khác từ Trung Quốc như Thiền tông (Zen),
Tào Động tông, Tịnh Thổ tông... đem lại hy vọng được giải thoát cho đông đảo các tầng lớp dân chúng.
Dưới thời Tokugawa (1603-1867), do sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền nhằm ngăn chặn ảnh hưởng

của Kitô giáo, Phật giáo và sinh hoạt của hệ thống chùa chiền trên khắp Nhật Bản cũng gặp nhiều trở
ngại. Trong thời Minh Trị, chính sách quốc giáo hoá Thần đạo đã làm cho Phật giáo phải trải qua một giai
đoạn đầy khó khăn, không ít chùa chiền, tượng Phật bị huỷ hoại. Sau Thế chiến thứ II, xuất hiện hàng
loạt tổ chức tôn giáo mới với tư cách những phong trào Phật giáo mà một số tổ chức lớn trong đó là
Soka Gakkai, Risshò Kòseikai, Reiyùkai...Trong suốt lịch sử phát triển lâu dài ở Nhật Bản, Phật giáo không
chỉ đơn thuần là một tôn giáo mà còn góp phần đáng kể vào việc làm giàu nền nghệ thuật và vốn tri thức
của Nhật Bản.
Kitô giáo đươc truyền vào Nhật Bản từ nửa cuối thế kỷ XVI và được phát triển đến đầu thế kỷ XVII.
Những tín đồ đầu tiên là những người đang cần một biểu tượng tinh thần mới trong một xã hội có nhiều
biến động rối ren, những người hy vọng làm giàu trong buôn bán hay muốn có kỹ nghệ mới, nhất là kỹ
nghệ sản xuất vũ khí của phương Tây. Tuy nhiên, chính quyền Tokugawa (1603-1867) cho rằng Kitô giáo là
nguy cơ đe doạ sự ổn định của trật tự vừa được thiết lập nên đã cấm nó hoạt động. Kitô giáo bị cấm cho
đến tận giữa thế kỷ XIX- khi Nhật Bản lại mở cửa ra thế giới bên ngoài. Trong số tín đồ Kitô giáo ở Nhật
Bản hiện nay tín đồ Tin lành nhiều hơn tín đồ Thiên chúa.
Lễ hội (Matsuri) và những ngày lễ hàng năm (Nenchù gyòji)
Ở Nhật Bản trong một năm có rất nhiều những ngày diễn ra các sự kiện sinh hoạt văn hoá lễ nghi có tính
định kỳ. Những ngày này được chia một cách tương đối làm hai loại: Lễ hội (Matsuri) và ngày lễ hàng
năm (Nenchù gyòji). Lễ hội (Matsuri) là cái vốn có của Nhật Bản, bắt nguồn từ những tín ngưỡng Thần
đạo, còn ngày lễ hàng năm (Nenchù gyòji) là khái niệm rộng hơn chỉ các sự kiện văn hoá diễn ra định kỳ
theo mùa trong năm, rất nhiều trong số đó là những ngày lễ có nguồn gốc từ Phật giáo hay từ Trung
Quốc. Ngày lễ hàng năm (Nenchù gyòji) được diễn ra gắn với từng mùa tạo thành một thứ lịch về các


ngày lễ hàng năm. Có những lễ hội (Matsuri) cũng là những sự kiện trong lịch những ngày lễ hàng năm,
nhiều sự kiện ngày lễ trong năm mang cả tính chất của lễ hội. Sau đây là một vài trong số những lễ hội và
ngày lễ hàng năm điển hình.
Năm mới (Shògatsu) là lễ hội lớn nhất trong năm của người Nhật. Tuy mỗi vùng ở Nhật Bản có nghi thức
đón năm mới với những nét độc đáo riêng, nhưng nhìn chung vào dịp này mọi người đều quét dọn và
trang trí lại nhà cửa. Người ta thường dựng kadomatsu (tùng và tre) trước cổng nhà để chào đón các vị
thần (kami) và chăng những sợi thừng rơm có trang trí những băng giấy cắt ngụ ý bảo vệ cổng nhà khỏi

những gì không tinh khiết. Các thành viên gia đình tụ tập lại để chúc tết nhau, đi lễ cầu may đầu năm ở
đền Thần đạo hay ở chùa, người ta cũng đến thăm hoặc gửi bưu thiếp chúc tết gia đình bè bạn và những
người thân thích khác. Lễ năm mới diễn ra trong 3 ngày từ mồng một đến mồng ba tháng Một dương
lịch. Trong thời gian này tất cả các công sở và hầu hết các công ty đều nghỉ việc.
Lễ hội búp bê( Hina matsuri) được tổ chức vào ngày mồng 3 tháng Ba. Các gia đình có con gái bày một bộ
búp bê Hina (gồm có búp bê hình Thiên hoàng, Hoàng hậu, những người hầu và nhạc công trong bộ
trang phục cung đình cổ xưa), tổ chức ăn bánh hishimochi và uống rượu shirosake (sake trắng) để mừng
ngày hội.
Ngày trẻ em (Kodomo no Hi) diễn ra vào mồng 5 tháng Năm. Ngày xưa gọi là tết Đoan ngọ và trở thành
ngày nghỉ toàn quốc ở Nhật Bản từ năm 1948. Mặc dù gọi là ngày trẻ em nhưng thực ra đó là ngày lễ
dành cho các bé trai. Các gia đình có con trai thường treo trên nóc nhà mình những dải cờ hình cá chép
tượng trưng cho sức mạnh và trong nhà bày búp bê hình võ sĩ và áo giáp.
Lễ Bon (Urabon, Obon) được tổ chức vào tháng Bảy (có vùng lại tổ chức vào tháng Tám) từ ngày 13 đến
15. Đây là dịp để người Nhật tưởng nhớ linh hồn tổ tiên đã khuất. Theo nghi lễ truyền thống, người ta
chuẩn bị đón tổ tiên về nhà bằng cách lau chùi nấm mộ, dọn đường đi từ mộ về nhà và cúng những con
ngựa và trâu bằng rơm bện như phương tiện đi lại rồi đốt lửa hay thắp đèn lồng từ mộ đến nhà để chỉ lối
cho linh hồn tổ tiên và người thân đã chết biết lối đi về, làm cỗ cúng gia tiên tại nhà và cử hành điệu
nhảy Bon đặc biệt có tên là odori quanh khu vực cư dân. Bon là một dịp lễ quan trọng trong năm, các
thành viên trong gia tộc dù có sống xa nhau bao nhiêu thì ngày này cũng cố trở về tụ họp bên nhau để
làm lễ cúng tổ tiên ông bà.
Trà đạo(Sado) là một nghi thức pha trà tiếp khách có tính hệ thống rất chặt chẽ. Trà đạo bao gồm từ việc
chuẩn bị đón khách và mời uống trà cũng như việc nghiên cứu và khai thác vẻ đẹp của kiến trúc, tạo
vườn, đồ gốm cùng với những tri thức về lịch sử và tôn giáo. Tại đây có sự tổng hợp của tính sáng tạo
nghệ thuật, tính cảm thụ tự nhiên, tư tưởng tôn giáo và sự xã giao.
Phong tục uống trà xuất hiện ở Nhật Bản khoảng đầu thế kỷ thứ VIII cùng với sự ảnh hưởng của Phật
giáo. Khoảng từ thế kỷ XII, khi các thiền sư Nhật Bản từ Trung Quốc trở về mang theo lối uống trà mới
kiểu Tống với một loại trà xanh được tán mịn gọi là mạt trà (matcha) thì tục uống trà trở thành phổ biến.
Suốt thời Trung thế, việc uống trà đã lan rộng từ các thiền viện tới nơi dân chúng với những phong cách
mang tính thẩm mỹ khác nhau. Các hội uống trà và thi hương vị trà đã thu hút chú ý của cả Thiên hoàng
và các tướng quân, các nhà buôn giàu có. Mặc dù việc uống trà không phải dành riêng cho các thiền viện,

nhưng trà lễ (Sarei) với tư cách là các quy tắc và nghi thức tỉ mỉ cho việc pha và uống trà là do các thiền
sư tạo ra. Sarei mang nhiều đặc tính của Thiền, trong đó sự thanh tịnh, tính giản dị và mộc mạc đã trở
thành những đặc trưng thẩm mỹ và uống trà, do đó, dần dần trở thành một nghi lễ có tính nghệ thuật.
Trà đạo với những đặc tính thẩm mỹ mà chúng ta được biết đến ngày nay đã đạt được sự phát triển đầy
đủ từ thế kỷ thứ XVI.


Cắm hoa nghệ thuật (Ikebana).
Cắm hoa nghệ thuật (Ikebana) ở Nhật Bản còn được gọi là Hoa đạo (Kadò), có nguồn gốc từ nghi lễ dâng
hoa trong các chùa chiền từ thế kỷ thứ VI, rồi dần dần phát triển thành một nghệ thuật vào khoảng thế
kỷ thứ XV với nhiều nghi thức và trường phái khác nhau. Hoa đạo khác với cắm hoa thông thường ở chỗ
nó đem lại sự nhận thức về mối liên quan giữa không gian xung quanh với hoa và cành lá, cách bố cục
cành lá, việc lựa chọn hoa cũng như cây được sử dụng làm vật liệu.
Một phong cách cắm hoa cổ điển và phức tạp có từ xưa, gọi là rikka (hoa đứng). Phong cách này tìm tòi
sự thể hiện vẻ tráng lệ của thiên nhiên, quy ước rằng hoa phải được cắm theo hình núi Sumeru, một
ngọn núi huyền thoại của thế giới nhà Phật tượng trưng cho toàn vũ trụ. Các vật liệu được sử dụng cho
lối cắm hoa này đều có tính tượng trưng. Phong cách này đạt tới độ hoàng kim vào thế kỷ XVII, nay
không còn phổ biến nữa.
Từ thế kỷ thứ XV xuất hiện lối cắm hoa tự nhiên. Các ngôi nhà dù nhỏ đều có kotonoma- một không gian
nhỏ thụt vào của căn phòng để đặt các đồ mỹ nghệ hay để cắm hoa. Các luật lệ cắm hoa theo đó trở nên
giản đơn để mọi người đều có thể thưởng thức được. Cuối thể kỷ XVI có lối cắm hoa tự nhiên gọi là
nageire (quăng vào) như là một phần của nghi lễ trà đạo. Hoa được sử dụng trong trà đạo được gọi là
chabana (trà hoa), chỉ cần một bông hoa trong một bình hoa tạo nên cảm giác giản dị, thuần khiết, thanh
tao. Cắm hoa hiện đại mang ảnh hưởng nhiều của văn hoá phương Tây. Phong cách cắm hoa moribana
(một rừng hoa) đã mở đường tự do cho nghệ thuật cắm hoa, tìm cách thu nhỏ một phong cảnh hay một
mảnh vườn. Đó là phong cách cắm hoa có thể thưởng thức được ở bất cứ đâu và thích hợp với mọi
khung cảnh. Ngày nay ở Nhật Bản có khoảng 3000 trường phái ikebana, trong số đó 3 trường phái có
tiếng nhất là Ikenobò, Ohara và Sògetsu.
_________________
em nghe chăng trong lắng sâu nơi hồng trái tim mình.

Hà Nội mùa thu ôi xao xuyến trong lòng ta...
Con người Nhật Bản

Con người Nhật Bản
1. Dân số
Nhật Bản là nước có số dân đông thứ 7 trên thế giới sau Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Aỏn Độ,
Mỹ, Indonesia, Brasil và Nga. Dân số Nhật Bản : 126,434,470 (số liệu năm 2000). Thành phố
đông dân nhất là Tokyo, với mật độ trung bình 13 ngàn người trên 1 km vuông. 79% dân số Nhật
sống ở thành thị làm cho Nhật Bản trở thành một trong những nước có tỉ lệ dân thành thị cao
nhất thế giới.

Dân cư Nhật Bản cơ bản là người Nhật thuần tuý, ngoài ra còn có người Ainu, người đến từ
vương quốc Ryukyu cũ. Nhìn chung những người này khá đồng nhất và có xu hướng Nhật Bản


hoá mạnh. Tuy nhiên hiện nay trong lòng Nhật Bản có một bộ phận khá đông đảo cư dân mang
quốc tịch Hàn Quốc, CHND Triều Tiên sinh sống. Những người này không có tạo ra những nét
riêng biệt khác văn hóa Nhật Bản.
Ở thành phố Yokohama có nhiều người Hoa kiều sinh sống, không mang quốc tịch Nhật. Họ tạo
ra nét văn hóa Trung Hoa rất đậm nét.

Cũng như các nước phát triển khác, sự phát triển dân số Nhật Bản đã chậm lại trong những năm
gần đây mặc dù tỷ lệ tử vong giảm mạnh. Sau đỉnh điểm 1,27% vào năm 1974, sự phát triển dân
số hàng năm giảm dần chỉ còn 0,25% vào năm 1993. Tình trạng này là do có sự giảm mạnh về tỷ
lệ sinh đẻ từ 18,6 trên 1000 người vào năm1974 xuống còn 9,6 trên một ngàn người vào
năm1993. Dự đoán rằng dân số Nhật Bản sẽ đạt tới đỉnh điểm 129,5 triệu người vào năm 2010
và sau đó giảm dần. Tính đến tháng 10/1993 mật độ dân số ở Nhật là 330 người/km2. Hiện nay,
49% dân số Nhật tập trung đông đucự tại ba thành phố lớn làTokyo, Osaka, Nagoya, và các
thành phố lân cận. Gần như phần lớn dân cư tập trung ở thủ đô Tokyo, nơi có một phần tư số
dân Nhật hiện đang sinh sống. Một lý do để giải thích sự tập trung này là: các ngành công

nghiệp, dịch vụ đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nề kinh tế Nhật Bản mà các ngành
này lại tập trung ở khu vực Tokyo.

Thành phần tuổi tác của dân số Nhật Bản đang dần dần thay đổi. Kết cấu điển hình trước chiến
tranh với đại đa số dân là trẻ em từ 14 tuổi trở xuống tạo thành một đáy rộng, đã nhường chử
cho kết cấu hình cột đó là kết quả của việc giảm tỷ lệ sinh đẻ.
Năm 1993, 13,1% trong tổng số dân Nhật Bản có độ tuổi 65 tuổi trở lên. Tuổi thọ trung bình ở
Nhật Bản cao nhất ở thế giới với phụ nữ là 82,22 tuổi và đàn ông là 76,09 tuổi. Tuy nhiên tỷ lệ
người cao tuổi đang tăng rất nhanh và dự tính sẽ đạt tới 25.2% vào trước năm 2020.

2. Tính cách người Nhật Bản.
Người Nhật Bản có tính cách hết sức đặc biệt, có lẽ nhờ những tính cách này, người Nhật đã
biến đất nước nghèo tài nguyên, khí hậu khắc nghiệt của mình thành một cường quốc. Có thể
tóm tắt những tính cách đặc trưng đó như sau.


2.1 Có óc cầu tiến và rất nhạy cảm với những thay đổi trên thế giới
Có thể nói không có dân tộc nào nhạy bén với cái mới bằng người Nhật Bản. Họ không ngừng
theo dõi những biến đổi của thế giới, đánh giá cân nhắc những ảnh hưởng của các trào lưu và
xu hướng chíng đang diễn ra đối với Nhật Bản. Khi xác định được trào lưu đang thằng thế, họ
sãn sàng chấp nhận, nghiên cứu và học hỏi để bắt kịp trào lưu đó, không để mất thời cơ.
Người Nhật Bản rất coi trọng học vấn:
Nhật Bản nghèo tài nguyên chỉ trừ một thứ tài nguyên đặc biệt không nghèo đó là con người.
Hệ thống giáo dục được xem như là chìa khóa làm cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định về mặt
chính trị. Việc đầu tư cho giáo ducù có ý to lớn đối với đất nước. Nhà nước bằng mọi cách suốt
hàng thế kỷ qua đã tạo lập ra hệ thống có thể đào tạo lực lượng lao đôùng có hiệu quả cao, đưa
đất nước tiến tới hiện đại hóa. ơỷ cấp độ cá nhân, con người Nhật Bản ngày nay được đánh giá
chủ yếu dựa vào học vấn chứ không phải địa vị gia đình, địa vị xã hội và thu nhập. Cũng cần nói
rằng, đạo Khổng đã đem lại cho Nhật bản xưa và nay tư tưởng pháp lý xã hội không dựa trên
địa vị xuất thân, dòng dõi mà là giá trị qua thi cử.

Một trong những tính cách đáng chú ý nhất của dân Nhật là sự ham muốn phát triển nhân cách
vô bờ bến của họ. Hơn nữa, sự theo đuổi học tập không phải để thỏa mãn nhu cầu tức thời nào
đó mà đơn giản họ tin tưởng sâu sắc giáo dục phải là sự cố gắng suốt đời. Phần lớn người Nhật
muốn hoàn thiện mình hơn và học hỏi là cách tốt nhất để đạt mục đích.
Chế độ xã hội Nhật Bản tạo cho người dân Nhật niềm tin rằng: số phận cơ may của họ được
định đoạt bởi sự chăm chỉ học hành và điều quan trọng là họ cũng tin rằng tất cả họ ngay từ đầu
đều có cơ hội bình đẳng như nhau. Do vậy, ý niệm về sự bình đẳng là một đặc điểm quan trọng
của hệ thống giáo dục. Phần lớn người Nhật tin rằng họ đang sống trong một môi trường xã hội
đồứng nhất không phải giai cấp, trong đó nguồn gốc xuất thân, tài sản thừa kế không quan
trọng bằng sự cố gắng bản thân.

2.2 Người Nhật rất chú trọng giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Người Nhật thành công trong việc kết hợp các yếu tố hiện đại và truyền thống. Họ sẵn sàng tiếp
nhận những cái mới, hiện đại nhưng vẫn giữ được bản sắc của mình.


2.3 Tinh thần làm việc tập thể:
Đây là yếu tố đặc trưng vượt trội mà không tìm thấy được ở những quốc gia phương đông khác.
Trong đời sống người Nhật, tập thể đóng vai trò rất quan trọng. Sự thành công hay thất bại
trong con mắt người Nhật đều là chuyện chung của nhóm và mọi thành viên trong nhóm, bất kể
anh ta đã làm ra sao, đều hưởng chung sự cay đắng hay vinh quang mà nhóm đã đạt được tập
thể, nhóm ở đây có thể là công ty, trường học hay hội đoàn…
Trong làm việc người Nhật thường gạt cái tôi lại để đề cao cái chung, tìm sự hài hòa giữa mình
và các thành viên khác trong tập thể. Trong các buổi họp hành người Nhật thường ít cãi cọ hay
dùng những từ có thể làm mất lòng người khác. Các tập thể (công ty, trường học hay đoàn thể
chính trị) có thể cạnh tranh với nhau gay gắt nhưng tuỳ theo hoàn cảnh và trường hợp, các tập
thể cũng có thể liên kết với nhau để đạt mục đích chung. Thí dụ điển hình là hai công ty Nhật có
thể cạnh tranh với nhau ở trong nước Nhật nhưng khi ra nước ngoài hai công ty có thể bắt tay
nhau để cạnh tranh lại với một nước thứ ba của ngoại quốc.


2.4 Người Nhật không thích đối đầu với người khác.
Bản tính của người Nhật không thích đối kháng, đặc biệt là đối đầu cá nhân. Để tránh nó, họ
luôn luôn làm theo sự mất trí. Họ chú tâm gìn giữ sự hòa hợp đến mức nhiều khi lờ di sự thật,
bởi dưới con mắt người Nhật giữ gìn sự nhất trí, thể diện và uy tín là vấn đề cốt tử. Chính vì vậy
trong xã hội Nhật, có rất ít chử cho ý tưởng cá nhân, vì lẽ người nào hòa nhập hoàn tòan vào
các nhóm thì sẽ được đền đáp.
Trong khi chỉ nghĩa cá nhân được đề cao ở phương tây, thì ở Nhật sự tự khẳng định cá nhân
dưới bất kỳ hình thức nào cũng không được khuyến khích. Thông qua câu tục ngữ trứ danh ở
Nhật “cây đinh nào ló lên sẽ bị đóng xuống’ thì ta có thể phần nào hiểu rõ hơn về thái độ của
người Nhật đối với chủ nghĩa cá nhân.

2.5 Tính tiết kiệm và làm việc chăm chỉ
Người Nhật tằn tiện trong chi tiêu và cần cù trong lao động. Do đó sau 30 năm từ một nước bị


chiến tranh tàn phá họ trở thành một cường quốc về kinh tế. Nhật nằm trên vùng hay gặp nhiều
thiên tai nên gặp khó khăn bất kỳ lúc nào. Vì vậy tạo nên tính tiết kiệm. Ngoài ra, họ tiết kiệm để
bảo đảm vấn đề ăn học cho con cái họ và dành dụm tiền mua nhà.

2.6 Lòng trung thành
Khi lý giải về những thành tựu to lớn trong lĩnh vực kinh tế và ổn định xã hội nhiều người đã
nghiên cứu lòng trung thành và coi đó là một nhân tố đóng góp cho sự phát triển đó. Nho giáo
đã có nhiều ảnh hưởng về mặt đạo đức. ơỷ Nhật bổn phận con cái đồng nhất với lòng trung
thành.
Người Nhật luôn bị ràng buộc trong mối quan hệ trên dưới: một bên là sự bảo hộ, một bên là sự
thuần phục và trung thành. Mọi người đều có trách nhiệm tuân theo các nguyên tắc xử sự để
tránh sụp đổ hay đối địch. Trong một công ty thì cống hiến trung thành, kiềm chế là một khẩu
hiệu chủ chốt. Trong khi người quản lý được yêu cầu phải có tình thương thì công nhân được
yêu cầu phải biết vâng lời, trung thành với chủ đề trên.
Hơn thế các công ty Nhật Bản tăng cường sức mạnh của chính mình bằng cách nuôi dưỡng tình

cảm trung thành của các công nhân và bằng cách đào tạo họ hơn nữa. Chính sự hài hòa giữa các
nhân viên của công ty và sự hiến thân của họ cho công ty, chứ không phải sự cạnh tranh giữa
các nhân công riêng lẻ, mới là điểm quan trọng. Nhưng khi phải cạnh tranh với các địch thủ
nước ngoài thì các công ty Nhật lại đoàn kết thành một cơ thể thống nhất. Như vậy xã hội Nhật
Bản là một xã hội cạnh tranh quyết liệt nhưng không tạo ra sự cạnh tranh giữa các cá nhân, cá
nhân phải làm việc quên mình cho cuộc cạnh tranh của nhóm.
Bên cạnh những tính cách nêu trên, người Nhật còn có một số đặc tính:
+ Luôn làm việc theo mục tiêu đã định.
+ Tôn trọng thứ bậc và địa vị. Rất coi trọng tôn ti trật tự.
+ Cần cù và có tinh thần trách nhiệm cao.
+ Yêu thiên nhiên và có khiếu thẩm mỹ.
+ Tinh tế, khiêm nhường.


+ Trong kinh doanh người Nhật rất trọng chữ tín và phát triển mối làm ăn lâu dài.

Tóm lại, chúng ta không thể không thừa nhận rằng một số tính cách truyền thống của người
Nhật kể trên đã có những đóng góp tích cực vào quá trình phát triển hiện đại hóa của Nhật Bản,
có ảnh hưởng trực tiếp đến thực tiễn quản lý kinh tế - xã hội. Trên thực tế, nó đã tạo nên cơ cấu
đạo đức của xã hội Nhật Bản hiện đại. Và những tích cách đó cũng chính là những giá trị văn hóa
truyền thống tốt đẹp, chắc chắn tiếp tục có ảnh hưởng của Nhật Bản trong thế kỷ XXI này. Cho
dù vẫn biết rằng trong xã hội Nhật Bản văn minh đương đại, có thể có những giá trị văn hóa
truyền thống nhất định nào đó cũng cần có sự biến đổi theo hướng cách tân một cách khoa
học, để phù hợp với nhu cầu phát triển khách quan của nước Nhật trong quá trình hội nhập
toàn cầu hóa, khu vực hóa hiện nay và tương lai sau này.
:)




×