BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LÊ VIỆT HƢNG
TƢ TƢỞNG NHO GIÁO VÀ PHI NHO GIÁO TRONG
THƠ VĂN TRẦN TẾ XƢƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, năm 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LÊ VIỆT HƢNG
TƢ TƢỞNG NHO GIÁO VÀ PHI NHO GIÁO TRONG
THƠ VĂN TRẦN TẾ XƢƠNG
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn: TS. Ngô Thị Phƣợng
Sơn La, năm 2018
LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin được gửi lời cảm ơn tới các
Thầy cô trong khoa Ngữ văn, Thầy cô ở Trung tâm Thông tin thư viện, Phòng
Đào tạo Đại học, Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng Trường Đại học Tây
Bắc đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em trong quá trình nghiên cứu thực hiện khóa
luận.
Đặc biệt, em xin cảm ơn TS. Ngô Thị Phượng, cô giáo đã hết lòng chỉ dẫn
trong quá trình nghiên cứu thực hiện khóa luận.
Do năng lực nghiên cứu và thời gian có hạn nên khóa luận không tránh
khỏi nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến từ quý
Thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 05 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Lê Việt Hƣng
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu ............................................................................................ 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 5
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................... 5
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 5
6. Đóng góp của khóa luận .................................................................................... 6
7. Cấu trúc của khóa luận ...................................................................................... 6
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ........................................................ 7
1.1. Nho giáo, phi Nho giáo .................................................................................. 7
1.1.1. Nho giáo và Nho giáo ở Việt Nam.............................................................. 7
1.1.2. Phi Nho giáo .............................................................................................. 16
1.2. Trần Tế Xương ............................................................................................. 19
1.2.1. Cuộc đời, gia thế ....................................................................................... 19
1.2.2. Thời đại ..................................................................................................... 20
1.2.3. Sự nghiệp sáng tác..................................................................................... 21
1.2.4. Khái quát nội dung và nghệ thuật thơ văn Trần Tế Xương ...................... 22
1.2.4.1. Nội dung ................................................................................................. 22
1.2.4.2. Nghệ thuật .............................................................................................. 24
Tiểu kết chương 1................................................................................................ 26
CHƢƠNG 2: TƢ TƢỞNG NHO GIÁO VÀ PHI NHO GIÁO TRONG THƠ
VĂN TRẦN TẾ XƢƠNG ................................................................................. 27
2.1. Tư tưởng Nho giáo trong thơ văn Trần Tế Xương ...................................... 27
2.1.1. Lập thân bằng thi cử .................................................................................. 27
2.1.2. Đạo tam tòng tứ đức .................................................................................. 36
2.2. Tư tưởng phi Nho giáo trong thơ văn Trần Tế Xương ................................ 41
2.2.1. Tư tưởng phi Nho giáo xuất hiện ở đời sống xã hội ................................. 41
2.2.1.1. Trường thi náo loạn ................................................................................ 41
2.2.1.2. Xã hội đồng tiền thối nát ........................................................................ 44
2.2.1.3. Thuần phong mĩ tục suy đồi ................................................................... 46
2.2.2. Tư tưởng phi Nho giáo xuất hiện qua chân dung nhà thơ......................... 50
Tiểu kết chương 2................................................................................................ 59
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 62
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Lí do khoa học
Trần Tế Xương (dân gian thường gọi là Tú Xương) là nhà thơ điển hình
của giai đoạn giao thời từ chế độ quân chủ phong kiến tới chế độ thực dân nửa
phong kiến - thời kì đặt nền móng cho nền văn học thị dân cận đại. Có thể khẳng
định rằng ông là sản phẩm bất thành của chế độ khoa cử đương thời.
Thơ Tú Xương được đánh giá là “đặc sản” của quê hương Nam Định nói
riêng và của văn học Việt Nam nói chung. Có thể nói, Tú Xương là người đã tạo
ra những biến đổi quan trọng trong văn chương nhà nho cuối thế kỉ XIX.
Tú Xương là nhà thơ được rất nhiều người nghiên cứu. Đa phần các công
trình nghiên cứu tập trung khai thác ở khía cạnh trào lộng, yếu tố trữ tình, tính
hiện đại... Là một nhà nho, sáng tác trong thời buổi Nho giáo xế chiều, tư tưởng
Nho giáo và phi Nho giáo dưới con mắt của một nhà nho truyền thống xuất hiện
khá đậm trong thơ văn ông nhưng mọi công trình nghiên cứu đều chưa đề cập cụ
thể đến vấn đề này.
1.2. Lí do thực tiễn
Thứ nhất, Trần Tế Xương là một tác giả quan trọng đối với chương trình
học tập và giảng dạy môn Ngữ văn ở nhà trường các cấp. Trong chương trình
Ngữ văn ở Phổ thông, hai bài Thương vợ và Vịnh khoa thi Hương được đưa vào
giảng dạy ở lớp 11 với tổng số tiết là hai. Ở chương trình đào tạo Đại học,
chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn, sinh viên được tiếp cận và nghiên cứu thơ văn
Trần Tế Xương với thời lượng 5 tiết ở năm thứ hai thuộc học phần Văn học Việt
Nam. Qua đó, thấy được sự tác động, sức ảnh hưởng và giá trị thơ văn Trần Tế
Xương mang lại cho nền văn học nước nhà là vô cùng quan trọng.
Thứ hai, là một sinh viên chuyên ngành Ngữ văn, tôi thấy rõ được tầm
quan trọng của môn Văn học trung đại nói chung và thơ văn Trần Tế Xương nói
riêng trong nền văn học nước nhà. Vì vậy, tiến hành nghiên cứu “Tư tưởng Nho
giáo và phi Nho giáo trong thơ văn Trần Tế Xương”, tôi mong muốn trang bị
cho bản thân và cung cấp cho bạn đọc những kiến thức cơ bản nhất về Nho giáo
1
và phi Nho giáo trong thơ văn Trần Tế Xương.
2. Lịch sử nghiên cứu
Tú Xương là tác gia điển hình trong giai đoạn văn học nửa cuối thế kỉ
XIX ở Việt Nam. Vì vậy, số lượng công trình có tính chất khái quát chung về
thơ văn của ông khá phong phú. Người đọc khá thỏa mãn với những lí giải thuộc
phương diện tổng quan. Tuy vậy, Nho giáo và phi Nho giáo trong tư tưởng của
ông chưa được quan tâm đúng mực, mặc dù Tú Xương là tác giả của buổi giao
thời, Á - Âu bắt đầu lẫn lộn, cái văn hóa đã trở thành bản địa ấy đáng lẽ phải
được chú ý nhiều hơn.
2.1. Tổng hợp các công trình, chúng tôi nhận thấy, có một số nhà nghiên
cứu đã đề cập tới tư tưởng Nho giáo trong thơ Trần Tế Xương như sau:
Tháng 5 năm 1961, nhà văn Nguyễn Tuân trong bài Thời và thơ Tú
Xương đã rất khách quan, uyên bác, độc đáo khi nhận xét “Tú Xương là một
chứng từ về đạo học thành Nam tàn cục vào đuôi một thế kỉ và kéo dài tàn lụi ấy
sang cả đầu thế kỉ chúng ta. Thơ và phú Tú Xương là tập kí sự chi tiết về đời
sống thành Nam, về sinh hoạt vật chất và tinh thần của một lớp nhà nho tỉnh
Nam lúc Tây sang” [18;63].
Năm 1964, trong bài Sơ khảo lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn nửa
cuối thế kỉ XIX, nhà nghiên cứu Kiều Văn kết luận: “Trong thơ văn Trần Tế
Xương không phải chỉ có tiếng cười châm biếm đả kích mà còn có tiếng than,
tiếng thở dài. Tú Xương không chỉ là nhà thơ trào phúng mà còn là một nhà thơ
trữ tình. Trong thơ Trần Tế Xương có cả một tấm lòng, một tâm sự. Tâm sự đó
là nỗi ngậm ngùi vì hỏng thi, buồn rầu vì Nho học tàn tạ, đau đớn vì nghèo túng
và đáng trân trọng hơn cả là nỗi lòng u hoài của một nhà nho ưu thời mẫn thế
trước cảnh nước mất nhà tan” [18;397].
Trong bài viết “Tú Xương với những “phóng sự” bằng thơ” đăng trên Tạp
chí Báo chí và Tuyên truyền, số 1 năm 1998, tác giả Trần Thị Trâm đánh giá cao
tư cách “thư kí thời đại” của Trần Tế Xương, bài báo có đoạn: “Điều nhức nhối
nhất trong trái tim thi sĩ là vấn đề đạo đức xã hội đang bị băng hoại, con người
đang bị tha hóa, đạo Nho đang bị suy đồi, gia đình đang bị phá vỡ, kỉ cương
2
đang bị lung lay... Mà gia đình và đạo Nho là hai nhân tố quan trọng làm nên
chế độ phong kiến ngàn đời. Thơ ông tập trung vào hai điểm nóng: sự bất minh
trong các kì thi cử và sự bất ổn trong các gia đình” [18;365].
Năm 1999, trong cuốn Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỉ XVIII – nửa
đầu thế kỉ XIX), nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc đã viết: “Dưới ngòi bút của Tú
Xương, bộ mặt tinh thần của xã hội phong kiến thời buổi này lại càng mang rõ
nét tính chất thực dân hóa. Mấy trăm năm trước, rồi mấy chục năm tiếp theo
dưới thời nhà Nguyễn, nói chung Nho giáo được đề cao, thế mà phút chốc, trước
dòng thác đục ngầu của chủ nghĩa thực dân, nó rệu rã không còn gì” [7;773].
Cũng trong văn bản nói trên, Nguyễn Lộc quan tâm đến hệ thống nhân vật
trong thơ Trần Tế Xương, ông viết tiếp: “Trong bức tranh chung của nhà thơ về
xã hội, hình ảnh con người và hình ảnh sinh hoạt của xã hội phong kiến cũ còn
có những nho sĩ đi thi, những ông cử, ông tú, hình ảnh của một nền Nho học, và
hình ảnh của cảnh trường thi. Nghĩa là toàn bộ hình ảnh những sinh hoạt tinh
thần tiêu biểu cho cái xã hội ấy” [7;773].
Năm 2007, nhóm tác giả Nguyễn Đăng Na (Chủ biên) - Đinh Thị Khang Trần Quang Minh - Nguyễn Phong Nam - Lã Nhâm Thìn, trong cuốn Văn học
trung đại Việt Nam, tập 2 có viết: “Thơ ca Trần Tế Xương đã thể hiện một cách
sinh động tâm trạng chán nản, phẫn uất đến cực điểm của ông đối với hiện thực
cuộc sống đương thời. Trước tiên, đó là nỗi niềm chua xót thổ lộ qua những câu
thơ cười cợt, phỉ báng đối với Nho học cuối mùa” [10;286].
Nhìn chung, các ý kiến trên đều đề cập tới tư tưởng Nho giáo trong thơ
Trần Tế Xương. Cùng thể hiện quan điểm về Nho giáo, các nhà nghiên cứu đều
thống nhất ở một điểm: hình ảnh của Nho giáo được thể hiện đậm nét qua chân
dung nho sĩ, qua sự biến dạng méo mó nơi trường thi và trong gia đình. Đây là
sản phẩm của quá trình tương tác giữa Nho học và Tây học.
2.2. Đối lập với Nho giáo truyền thống, Trần Tế Xương cũng đưa vào
trong sáng tác của mình những hình ảnh có tính chất Phi Nho giáo. Có một tư
tưởng phóng túng, hưởng lạc hoàn toàn xa lạ với tư tưởng khắc kỉ nghiệt ngã
của Nho giáo. Tư tưởng đó được một số nhà nghiên cứu nhận ra ở con người
3
Trần Tế Xương. Hoàn cảnh xã hội đã tạo ra những con người lệch chuẩn, vượt
lên khỏi những giáo điều vốn như một cái khuôn phép có vẻ bất biến của Nho
giáo.
Năm 1997, trong cuốn Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam,
nhà nghiên cứu Trần Đình Sử viết: “Nhà thơ đã mở ra một phạm vi mới trong
cuộc sống tự do cá nhân mà chỉ thực sự đáng chê khi đi quá giới hạn. Con người
nhà thơ như đang sống trên đường biên của cái khuôn phép và phi khuôn phép.
Ông dùng tiếng cười để níu cái ngoài khuôn phép, để nó không được đi quá xa...
Chính vì vậy mà thơ Tú Xương có một giọng ngông, dám nói toạc những điều
mà người đời không dám nói” [18;353].
Tính phi Nho giáo biểu hiện rõ nhất ở không gian hưởng lạc mà Trần Tế
Xương nhắc tới. Năm 1999, nhận định về thơ Trần Tế Xương, ông Nguyễn Lộc
từng viết: “Dưới ngòi bút của các nhà thơ này (trong đó có Tú Xương), cảnh ăn
chơi được vẽ lại với tất cả sự mơn trớn, khoái lạc... Họ làm thơ về ăn chơi và
nâng lên thành triết lý sống” [7;769].
Năm 2006, nhà nghiên cứu Hồ Giang Long trong khi bình giá Thi pháp
thơ Tú Xương đã nhận ra rằng: “Con người trượt chuẩn là con người không còn
tuân theo những chuẩn mực vốn đã hình thành từ truyền thống mà trượt ra ngoài
mọi phép tắc đạo đức đã được xã hội quy định”. Con người trượt chuẩn ấy “vượt
ra khỏi vị trí, danh phận vốn có của chính mình...” [8;39]. Ý kiến đó khiến
chúng tôi hiểu rằng, “chuẩn” giá trị chính là đạo lí Nho giáo và trượt chuẩn là
phi Nho giáo.
Tiếp tục bàn luận về thơ Trần Tế Xương, ông Hồ Quang Long viết: “Nét
nổi bật trong không gian thiên nhiên của các nhà nho là sự cách ly với môi
trường xã hội. Nguyễn Trãi suốt ngày “khép phòng văn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm
tìm đến “nơi vắng vẻ”... Họ chỉ thích làm bạn với cỏ cây muông thú. Đến Tú
Xương, không gian hưởng lạc đã thay đổi hoàn toàn. Ông đoạn tuyệt hẳn với thứ
không gian thiên nhiên mà các bậc thi nhân thời trước ưa thích để đến với môi
trường xã hội. Không gian hưởng lạc của ông là những nơi ăn chơi nổi tiếng thời
bấy giờ” [8;78].
4
Từ những ý kiến trên, chúng tôi nhận thấy, các công trình nghiên cứu đều
chỉ giới thiệu mà chưa đi sâu nghiên cứu về hai phương diện Nho giáo và phi
Nho giáo trong thơ văn Trần Tế Xương. Kế thừa những thành tựu đi trước,
chúng tôi tiến hành lựa chọn đề tài “Tư tưởng Nho giáo và phi Nho giáo trong
thơ văn Trần Tế Xương” để nghiên cứu.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là tư tưởng Nho giáo và phi Nho
giáo trong thơ văn Trần Tế Xương.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Thực hiện khóa luận này tôi chỉ giới hạn nghiên cứu tư tưởng Nho giáo và
phi Nho giáo trong thơ văn Trần Tế Xương mà không nghiên cứu các vấn đề
khác trong thơ văn của ông.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Khóa luận hướng tới làm sáng rõ tư tưởng Nho giáo và phi Nho giáo
trong thơ văn Trần Tế Xương.
Đi sâu tìm hiểu vấn đề nhằm phục vụ cho công việc học tập của cá nhân
đồng thời góp thêm tài liệu tham khảo cho việc học tập và giảng dạy môn Ngữ
văn ở nhà trường các cấp.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thống kê, phân loại những biểu hiện về tư tưởng Nho giáo và phi Nho
giáo trong thơ văn của Trần Tế Xương. Phân tích các dấu hiệu, đặc trưng của
Nho giáo, phi Nho giáo trong văn học Việt Nam nói chung và thơ văn Trần Tế
Xương nói riêng.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Nghiên cứu khóa luận “Tư tưởng Nho giáo và phi Nho giáo trong thơ văn
Trần Tế Xương” tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
5.1. Phương pháp thống kê, phân loại
Khảo sát văn bản thơ văn Trần Tế Xương.
Thống kê những tác phẩm có xuất hiện biểu hiện tư tưởng Nho giáo và
5
phi Nho giáo.
5.2. Phương pháp nghiên cứu lịch sử
Đây là phương pháp cần thiết để nghiên cứu quá trình hình thành và phát
triển của Nho giáo ở Việt Nam, nghiên cứu tư tưởng Nho giáo và phi Nho giáo
xuất hiện trong thơ văn trung đại, cận trung đại và tiêu biểu hơn là thơ văn Trần
Tế Xương. Nghiên cứu tác giả, tác phẩm, môi trường sáng tác của tác giả cũng
như lịch sử nghiên cứu vấn đề của các nhà phê bình.
5.3. Phương pháp phân tích tác phẩm
Dựa trên cơ sở những tài liệu thu thập được từ tác phẩm của Trần Tế
Xương tôi đi sâu vào phân tích những tác phẩm của nhà thơ để làm nổi bật lên tư
tưởng Nho giáo và phi Nho giáo trong thơ văn của ông.
5.4. Phương pháp so sánh
Qua việc khảo sát tài liệu, chúng tôi tiến hành so sánh Nho giáo, phi Nho
giáo trong thơ văn Trần Tế Xương với một số tác giả khác liên quan nhằm chỉ ra
sự khác biệt giữa Trần Tế Xương và các tác giả khác khi cùng sử dụng đề tài
này làm cơ sở và tiền đề sáng tác.
6. Đóng góp của khóa luận
Sau khi hoàn thiện, tôi hy vọng khóa luận sẽ giúp cho độc giả có cái nhìn
bao quát và đúng đắn nhất về tư tưởng Nho giáo và phi Nho giáo trong nền văn
học Việt Nam nói chung và thơ văn Trần Tế Xương nói riêng. Ngoài ra, khóa
luận có thể giúp đỡ cho các sinh viên cùng chuyên ngành Ngữ văn có thêm tư
liệu tham khảo khi học tác giả Trần Tế Xương.
7. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, khóa luận được chia
thành hai chương:
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Tư tưởng Nho giáo và phi Nho giáo trong thơ văn Trần Tế Xương
6
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Nho giáo, phi Nho giáo
1.1.1. Nho giáo và Nho giáo ở Việt Nam
Nho giáo là một giáo lý đạo đức cơ bản xuất xứ ở Trung Quốc vào thế kỷ
thứ V và VI (TCN). Dựa trên những cơ cấu và sự tu tập nó đã phổ biến lâu đời
trong xã hội Trung Quốc, chẳng hạn hệ thống gia tộc và sự thờ cúng ông bà, tổ
tiên… Nho giáo đã trở thành hệ thống tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất Trung
Quốc, cùng tồn tại với Lão giáo (Đạo giáo) và Phật giáo qua nhiều thế kỷ.
Người sáng lập ra Nho giáo là Khổng Tử (551 - 479 TCN) một nhà cải cách
chính trị cũng là một nhà giáo dục, ông bất mãn với sự suy đồi đạo đức trong
thời đại của mình và tìm cách khôi phục lại những giá trị mà ông cho là những
phong tục tốt đẹp của thời đại hoàng kim. Những tư tưởng triết lý, đạo lý và tín
ngưỡng đặt nền tảng cho một hệ thống đạo đức đã tồn tại qua nhiều thời gian thử
thách.
Trải qua hơn hai nghìn năm, tư tưởng Nho giáo ảnh hưởng đối với Trung
Quốc không chỉ về chính trị, văn hóa mà còn thể hiện trong hành vi và phương
thức tư duy của mỗi con người Trung Quốc. Trong thực tế, Nho giáo là một
trong rất nhiều trường phái thời cổ Trung Quốc, nó là tư tưởng triết học chứ
không phải là tôn giáo và được coi là tư tưởng chính thống trong xã hội phong
kiến hơn hai nghìn năm ở Trung Quốc và có ảnh hưởng tới một số nước ở Châu
Á.
Nho giáo phát triển qua từng giai đoạn khác nhau. Thời Xuân Thu, Khổng
Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục Kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư,
Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc. Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc
nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ Kinh. Sau khi Khổng Tử mất,
học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ. Học trò xuất sắc
nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn
ra sách Đại Học. Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử
Tư viết ra cuốn Trung Dung. Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư
tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử. Từ Khổng Tử đến
7
Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần
(trước đời Tần). Từ đây mới hình thành hai khái niệm Nho giáo và Nho gia. Nho
gia mang tính học thuật, nội dung của nó còn được gọi là Nho học; còn Nho giáo
mang tính tôn giáo. Ở Nho giáo, Văn Miếu trở thành thánh đường và Khổng Tử
trở thành giáo chủ, giáo lý chính là các tín điều mà các nhà nho cần phải thực
hành.
Đến đời Hán, hai sách Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký. Hán
Vũ Đế đưa Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất
nước về tư tưởng. Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ
chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm. Nho giáo thời kỳ này
được gọi là Hán Nho. Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho
đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử là con trời, dùng “lễ trị” để che
đậy “pháp trị”.
Đến đời Tống, Đại Học và Trung Dung được tách ra khỏi Lễ Ký và cùng
với Luận ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư. Tứ Thư và Ngũ Kinh là kinh điển
Nho giáo. Nho giáo thời kỳ này được gọi là Tống Nho, với các tên tuổi như Chu
Hy (thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo, Trình Di. Phương Tây gọi Tống Nho là
“Tân Khổng giáo”. Điểm khác biệt của Tống Nho với Nho giáo trước đó là việc
bổ sung các yếu tố “tâm linh” (lấy từ Phật giáo) và các yếu tố “siêu hình” (lấy từ
Đạo giáo phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị).
Một phần khác, đó là các bộ tài liệu do Nho giáo để lại. Để hiểu được tư
tưởng triết học của Nho giáo, cần điểm qua các tác phẩm kinh điển của Nho giáo
gồm 02 (hai) bộ Ngũ Kinh và Tứ Thư. Đây là hai bộ sách nổi tiếng mà hệ thống
kinh điển đó hầu hết viết về xã hội, về những kinh nghiệm lịch sử Trung Hoa, ít
viết về tự nhiên. Điều này cho thấy rõ xu hướng biện luận về xã hội, về chính trị,
về đạo đức là những tư tưởng cốt lõi của Nho gia.
Đầu tiên là Ngũ Kinh. Giáo lý của Khổng Tử dựa trên sáu quyển sách cổ:
Dịch, Thư, Thi, Lễ, Nhạc và Xuân Thu. Bốn trong sáu quyển này được đề cao
với từ “Kinh” - Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Nhạc vào thế kỷ thứ II
TCN, do bởi sách Nhạc mất đi, năm cuốn còn lại được đặt tên là Ngũ Kinh.
8
Kinh Thi là người bạn đồng hành của Khổng Tử. Chắc hẳn ông đã thuộc
lòng nó và hát nó. Khổng Tử đề cập hoặc trích dẫn nó khoảng 20 lần trong Luận
ngữ. Kinh Thi có 305 bài hát, bao gồm các bài hát ca tụng triều đại được hát ở
triều đình nhà Chu và những bài dân ca khác biệt với những phần của đế chế nhà
Chu. Theo truyền thống, nhà vua phái các quan lại đi khắp nơi để thu thập các
bài dân ca để ông ta có thể tìm hiểu về những gì người dân nghĩ suy nơi sự cai
trị của mình.
Khổng Tử giới thiệu Kinh Thi cho các môn sinh của mình với một vài lý
do. Đầu tiên giúp cho họ hiểu được các phong tục, tập quán quốc gia khác nhau.
Thứ hai, giúp cho họ sống hòa thuận với người khác. Thứ ba, nó là phương tiện
hòa giải tình cảm của họ. Cuối cùng, nó sẽ đưa họ đến với muôn thú và cỏ cây.
Về Kinh Thư là sách ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ
có trước Khổng Tử. Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau nên theo
gương các minh quân như Nghiêu, Thuấn chứ đừng tàn bạo như Kiệt, Trụ.
Kinh Dịch là một cẩm nang về sự tiên đoán có từ đời nhà Chu và sau đó
được các nhà uyên bác của đạo Khổng mở rộng. Bằng cách vận dụng các cây
que bằng cọng cỏ thì có thể tạo ra 64 ngôi sao sáu cánh, liên kết tất cả các cấu
trúc này và biến đổi thành vũ trụ.
Không còn cuốn sách Lễ nào tồn tại vào thời Khổng Tử. Tuy vậy, cuốn Lễ
Ký chứa đựng các tư liệu vào đầu thời kỳ nhà Chu nhưng thực tế nó được biên
soạn sau này, đưa ra tình huống cổ điển. Cuốn sách này quan trọng của Lễ Nghi
cũng như tạo cho nó có sự phù hợp với thời thế. Ví dụ, khi một người trị vì qua
đời, các quan lại và hầu thiếp đều bị chôn theo để linh hồn họ tiếp tục đi theo
hầu hạ. Sách Lễ đã phản đối việc đó bằng cách dùng hàng mã thay thế, vừa đáp
ứng cho mục tế lễ, vừa thể hiện tình cảm người sống dành cho người chết.
Kinh Xuân Thu ghi lại các biến cố xảy ra ở nước Lỗ, quê của Khổng Tử.
Khổng Tử không chỉ ghi chép như một sử gia mà theo đuổi mục đích trị nước
nên ông chọn lọc các sự kiện, ghi kèm các lời bình, sáng tác thêm lời thoại để
giáo dục các bậc vua chúa. Đây là cuốn kinh Khổng Tử tâm đắc nhất. (Xuân thu
có nghĩa là mùa xuân và mùa thu, ý nói những sự việc xảy ra).
9
Tư tưởng triết học của Nho giáo là triết lý của Khổng Tử và Mạnh Tử về
đạo làm người quân tử và cách thức trở thành người quân tử, cách cai trị đất
nước. Nó được trình bày trong một hệ thống các tư tưởng về đạo đức - chính trị xã hội có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Nho gia nguyên thủy cho rằng, nền tảng của xã hội, cơ sở của gia đình
không phải là những quan hệ kinh tế - xã hội mà là những quan hệ đạo đức chính trị tam cương là ba quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ. Các quan hệ
này được Nho gia gọi là “đạo”. Khi các quan hệ này chính danh, nghĩa là: vua ra
vua, tôi ra tôi; cha ra cha, con ra con; chồng ra chồng, vợ ra vợ ; thì xã hội ổn
định, gia đình yên vui; và ngược lại. Xã hội thời Xuân Thu - Chiến Quốc loạn
lạc, luân thường đạo lý suy đồi, kỷ cương phép nước lỏng lẻo là do ba quan hệ
này rối loạn, do danh - thực oán trách nhau, nghĩa là vua chẳng ra vua, tôi chẳng
ra tôi, cha chẳng ra cha, con chẳng ra con, chồng chẳng ra chồng, vợ chẳng ra
vợ. Vì vậy muốn cải loạn thành trị, muốn thực hiện xã hội đại đồng thì phải chấn
chỉnh lại ba quan hệ đó và Nho gia nguyên thủy đã lấy giáo dục đạo đức làm
cứu cánh.
Bên cạnh việc giáo dục để xây dựng một xã hội đại đồng, Khổng Tử và
Mạnh Tử còn tìm chỗ dựa vững chắc cho lý luận đạo đức của mình qua thuyết
Thiên Mệnh. Xuất phát từ vũ trụ quan của Kinh Dịch, Khổng Tử cho rằng, vạn
vật không ngừng biến hóa theo một trật tự không gì cưỡng lại được, mà nền tảng
tận cùng là Thiên Mệnh và hiểu biết được Thiên Mệnh là điều kiện tiên quyết để
trở thành người hoàn thiện. Dựa trên thuyết Thiên Mệnh, Khổng Tử cho rằng:
“thiên mệnh chi vị tính, xuất tính chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo”, và “tính tương
cận, tập tương viễn”. Điều này có nghĩa là: con người có tính người, tính người
do trời phú, sự phú cái tính ấy về cơ bản là đồng đều ở mỗi con người. Nhưng
trong cuộc sống, do điều kiện, hoàn cảnh, môi trường khác nhau, do những tập
quán, tập tục không giống nhau mà người này khác xa người kia. Vậy, “tập” là
nguyên nhân làm biến tính con người, mất đi bản tính trời phú, làm cho con
người vô đạo, thiên hạ vô đạo. Vì vậy, muốn giữ được tính người phải lập đạo,
làm cho thiên hạ hữu đạo. Đạo phải đi cùng với giáo mới sâu sắc, vững bền.
10
Hữu đạo là thể hiện mối quan hệ giữa người với người, giữa người với trời đất vạn vật một cách đúng đắn phù hợp với Thiên Mệnh. Khổng Tử cho rằng, nếu
lập đạo của trời, nói về âm dương, nếu lập đạo của đất thì nói về cương nhu, còn
lập đạo của người thì nói đến nhân nghĩa. Quan niệm về nhân nghĩa là quan
niệm trung tâm của đạo đức Nho gia nguyên thủy. Chúng hợp với các quan niệm
khác tạo thành hệ thống phạm trù đạo đức của phái này: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí,
Tín.
Ngoài ra, Nho gia còn nói đến trí là sự sáng suốt để nhận thức mọi vấn đề,
hiểu đạo trời, hiểu đạo người, hiểu cả thiên hạ và biết sống với nhân; tín tức là
nói đến lòng ngay, dạ thẳng, lời nói và việc làm nhất trí với nhau.
Tất cả những điều nêu trên là nguyên tắc cơ bản của đạo đức Nho giáo mà
người quân tử phải biết tu thân để đạt đạo. Người quân tử phải đạt được chín
điều: nhìn cho minh bạch, nghe cho rõ ràng, sắc mặt phải ôn hòa, tướng mạo
phải trang nghiêm, khi tức giận phải nghĩ hậu quả, nói năng trung thận, làm việc
phải trọng tín cẩn, nghi hoặc phải hỏi han, khi thấy lợi phải nghĩ đến nghĩa. Đó
là những chuẩn mực xây dựng nên mẫu người quân tử trong xã hội.
Không riêng bậc quân tử mới biết tu thân, đạt đạo và hành đạo để trở
thành mẫu người chuẩn mực. Quan niệm về người phụ nữ trong tư tưởng Nho
giáo ràng buộc bởi Tam tòng, Tứ đức.
“Tam Tòng” là ba điều người phụ nữ phải theo, gồm: “tại gia tòng phụ,
xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Nghĩa là người phụ nữ khi còn ở nhà phải
theo cha, lúc lấy chồng phải theo chồng, chồng mất phải theo con trai.
“Tứ Đức” muốn nói đến bốn tính nết tốt mà người phụ nữ phải có, gồm:
công, dung, ngôn, hạnh. Người phụ nữ phải khéo léo trong việc làm, hòa nhã
trong sắc diện, mềm mại trong lời nói và nhu mì trong tính nết.
Như vậy, Khổng Tử và Mạnh Tử đều nhất trí coi chuẩn mực đạo đức là
tiêu chuẩn của người quân tử, muốn trở thành người quân tử phải biết tu thân.
Để tu thân cần phải đạt đạo, đạo chính là con đường phải theo, là quan hệ mà
con người phải biết ứng xử trong cuộc sống. Đó chính là đạo quân - thần, phụ tử, phu - phụ. Bên cạnh đó còn phải đạt đức là những phẩm chất tốt đẹp mà con
11
người thể hiện trong cuộc sống. Người quân tử còn phải biết: thi, thư, lễ, nhạc.
Tóm lại, xuyên suốt quan điểm đạo đức - chính trị - xã hội của Khổng
Mạnh là xây dựng mẫu người quân tử. Người quân tử phải biết tam cương, ngũ
thường, nghĩa là phải biết tu thân và không chỉ có tu thân mà còn phải biết hành
động tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Muốn hành động hiểu quả phải thực hành
đường lối nhân trị - cai trị bằng tình người, yêu thương và xem như bản thân
mình.
Ở Việt Nam, có rất nhiều quan điểm khác nhau về Nho giáo. Hoàng Phê
trong cuốn Từ điển tiếng Việt đã định nghĩa về Nho giáo: “Nho giáo là hệ thống
các nguyên tắc đạo đức, chính trị do Khổng Tử sáng lập ra nhằm duy trì trật tự
của xã hội phong kiến” [14;720]. Trần Ngọc Thêm trong cuốn Cơ sở văn hóa
Việt Nam đã định nghĩa Nho giáo như sau: “Nho giáo là hệ thống giáo lí của các
nhà Nho nhằm tổ chức xã hội có hiệu quả” [22;254].
Như vậy, dù có cách đánh giá, định nghĩa khác nhau về Nho giáo nhưng
hiểu một cách chung nhất thì Nho giáo là một hệ thống các nguyên tắc giáo lí
của các nhà nho dựa trên quan điểm của Khổng Tử nhằm duy trì trật tự xã hội,
bảo vệ ngai vàng của thiên tử, của giai cấp thống trị.
Hoàn cảnh du nhập của Nho giáo ở Việt Nam khác với nước khác trong
khu vực. Nếu với Nhật Bản thì sự du nhập là gián tiếp, từ Triều Tiên truyền sang
và sau đó là sự tiếp thu trực tiếp, các lưu học sinh Nhật Bản sang Trung Quốc
học Nho học và truyền bá lúc đầu mang tính áp đặt. Người Hán xâm lược Việt
Nam, đưa Nho học vào để tăng cường sự thống trị. Vì vậy, thái độ đầu tiên của
người Việt Nam là phản ứng, chống lại. Thái độ trên có sự chuyển biến là mãi
về sau, khi nền kinh tế xã hội Việt Nam có nét giống với nền kinh tế - xã hội
phong kiến Trung Quốc, khi người Việt Nam có sự quen thuộc ít nhiều với Nho
học.
Thái độ đối với Nho học của người Việt Nam có bước ngoặt là khi người
Việt Nam giành được độc lập dân tộc từ tay người Hán ở thế kỷ X, lúc này,
người ta thấy ở học thuyết này là một lý luận và một nghệ thuật của đạo trị
nước, cần thiết phải nắm lấy để xây dựng đất nước mình. Các triều đại phong
12
kiến Việt Nam tự mình thấy phải du nhập và phát triển Nho học. Các đời vua
triều Lý Việt Nam ở thế kỷ XI đã xây dựng văn miếu để tế lễ Khổng Tử và các
tiên hiền nhà nho, đã mở trường Quốc Tử giám cho con hoàng tộc và con cái các
nhà quyền quý vào học tập Nho học, đã tổ chức ra các kỳ thi Nho học để chọn ra
các nhân tài kiểu nhà nho.
Khi nói đến vấn đề du nhập Nho học vào Việt Nam, nhiều người chỉ thấy
hoạt động đó ở giai đoạn đầu, giai đoạn đầu Bắc thuộc. Thực ra sự du nhập đó
diễn ra nhiều lần và ở nhiều thời điểm lịch sử khác nhau. Ngoài sự diễn ra ở đầu
công nguyên, Nho giáo còn được tiếp tục truyền vào Việt Nam ở các giai đoạn
sau. Có thể nói, thời nào cũng có hiện tượng du nhập, giai đoạn nào của Nho học
Trung Quốc cũng muốn truyền sang Việt Nam. Thời Bắc thuộc là Hán Nho,
thời Đinh, Lê, Lý, Trần, là Đường Nho, thời Lê Sơ là Tống Nho, thời Lê Mạt và
Nguyễn là Thanh Nho. Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia liền nhau, việc
giao lưu không gì cản trở, hơn nữa, tư tưởng và học thuật thì không có biên giới
ngăn cách.
Sau khi chấm dứt hơn một ngàn năm Bắc thuộc bằng chiến công trên sông
Bạch Đằng năm 938, mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển của Việt Nam.
Cũng từ đây, Nho giáo được quan tâm, chú ý. Bên cạnh sự đóng góp của các nhà
sư trong việc ổn định và xây dựng đất nước thì xu hướng Nho giáo giữ vai trò
ngày càng quan trọng và dần dần thay thế Phật giáo ngày càng rõ. Năm 1070, Lý
Thánh Tông cho lập Văn Miếu thờ Chu Công, Khổng Tử như là mốc ghi nhận
sự tiếp nhận chính thức Nho giáo trên bình diện cả nước.
Sang thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497), Nho giáo được phát triển và
cũng từ đó về sau, Nho giáo thâm nhập vào xã hội Việt Nam ngày càng sâu đậm
trên nhiều lĩnh vực tư tưởng, thơ văn, phong tục, tập quán… qua hệ thống giáo
dục, pháp luật, chính quyền. Cho đến đầu thế kỷ XX này, năm 1919, khoa cử
Nho học bị bãi bỏ, nhưng giáo dục Nho học ở làng quê xứ Bắc và Trung còn kéo
dài đến đầu thập kỷ 40. Như vậy, trong thời Lê Nguyễn liên tục gần 600 năm
Nho học - Nho giáo không thể không thấm vào các tầng lớp xã hội. Nó được
thường xuyên tái lập và trở thành một trong những yếu tố văn hóa truyền thống
13
Việt Nam khá sâu đậm. Nho giáo thống lĩnh tư tưởng văn hóa Việt Nam từ thế
kỷ XV đến thế kỷ XIX, suốt hai triều đại Lê Nguyễn. Nho giáo Việt Nam về cơ
bản là sự tiếp thu Nho giáo Trung Quốc, nhưng không còn giữ nguyên trạng thái
nguyên sơ của nó nữa mà có những biến đổi nhất định. Quá trình du nhập và tiến
tới xác lập vị trí Nho giáo trong đời sống xã hội Việt Nam cũng là quá trình tiếp
biến văn hóa hết sức sáng tạo của người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử
dựng nước và giữ nước, góp phần tạo nên tính đa dạng, nhưng thống nhất và độc
đáo của văn hóa Việt Nam.
Ngoài ra, Nho giáo còn có ảnh hưởng đến lĩnh vực văn học và giáo dục
của Việt Nam. Nho giáo với tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, người phụ nữ phải
“tam tòng tứ đức” đã thổi vào đời sống xã hội của nước ta một không khí mang
nặng nề hệ tư tưởng bất bình đẳng, nó ảnh hưởng rõ nét đến đối tượng sáng tác.
Bởi vậy, hầu hết các nhà thi sĩ, văn sĩ có tài đều là nam nhân. Trong thời kì đầu
tiên của văn học viết, đối tượng sáng tác chủ yếu là quý tộc quan lại như: vua Lý
Công Uẩn (Thiên đô chiếu), Trần Quốc Tuấn (Hịch tướng sĩ). Thời gian sau đó
việc học tập mở rộng nên có nhiều thêm các nho gia, ẩn sĩ: Phạm Ngũ Lão,
Nguyễn Trãi… Mãi tới sau này, tới đầu thế kỉ XVIII, một số nhà thơ nữ bắt đầu
xuất hiện: Hồ Xuân Hương (1772 - 1822), Bà huyện Thanh Quan (1805 1848)…
Về nội dung, các tác phẩm văn học cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho
giáo. Trước hết, ta nhận thấy các tác phẩm văn học Việt Nam ảnh hưởng rất
nhiều từ Tứ Thư - Ngũ Kinh, học tập rất nhiều điển tích, điển cố… để làm phong
phú và sâu sắc hơn cho nội dung, ý nghĩa của tác phẩm. Ví như Truyện Kiều,
Nguyễn Du đã sử dụng điển cố “quả mai ba bảy” lấy ý từ Kinh Thi trong câu thơ
“Quả mai ba bảy đương vừa - Đào non sớm liệu xe tơ kịp thời” để chỉ việc làm
đám cưới nên vợ nên chồng. Không chỉ vậy văn học còn tiếp thu và đề cao chữ
“Nhân” trong Nho giáo, biến nó thành một trong những đề tài sáng tác chủ đạo
trong thi ca, tiểu thuyết, truyện… Tiếp theo, văn học còn phê phán sự bất bình
đẳng mà Nho giáo đã khẳng định “trọng nam khinh nữ”, thân phận người phụ nữ
trong xã hội xưa bị coi rẻ, như cánh bèo lênh đênh sóng nước: Chinh phụ ngâm
14
khúc (Đặng Trần Côn); Bánh trôi nước (Hồ Xuân Hương)... Đồng thời, tư tưởng
“phản dân chủ” của Nho giáo đã ảnh hưởng đến văn thơ Việt Nam trung đại, chỉ
đề cao cái “ta” mà gần như triệt bỏ đi cái “tôi” bản thân. Trong văn chương, các
hình tượng nhân vật trung tâm còn chịu ảnh hưởng rõ nét của Nho giáo với
những quan điểm về đạo đức, lễ nghĩa. Là người đàn ông phải là người quân tử,
có chí lớn, có sự nghiệp. Là người phụ nữ, phải giữ lễ nghĩa, phải biết “tam tòng
tứ đức”. Ngoài ra, một số tư tưởng như “nam nữ thụ thụ bất thân”, “trung
quân”… của Nho giáo cũng ảnh hưởng đến nội dung thể hiện trong văn học.
Bên cạnh đó, tư tưởng của Nho giáo còn ảnh hưởng đến lĩnh vực giáo
dục, thi cử ở Việt Nam thời kì phong kiến. Cũng giống như văn học, giáo dục
Việt Nam thời phong kiến sớm chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo Trung
Quốc. Tuy thể chế giáo dục Nho học có sự thay đổi khác nhau cho phù hợp với
từng triều đại, song về cơ bản, cách thức đào tạo khoa cử để lựa chọn người tài
vẫn dựa trên nền tảng tư tưởng Nho giáo. Ta có thể thấy, tư tưởng “trọng văn”
có ảnh hưởng đến giáo dục. Do ảnh hưởng tư tưởng “trọng văn”, tức trọng kẻ sĩ
của Nho giáo nên ở Việt Nam có thứ bậc xếp hạng “sĩ, nông, công, thương”.
Cũng vì lí do này ở nước ta không chú trọng mở các trường, các khoa thi võ, mà
chủ yếu là ham học chữ và thi văn. Người ta quan niệm “một kho vàng không
bằng một nang chữ”. Tư tưởng Nho giáo khiến người ta coi nó là công cụ văn
hóa, là đòn xoay để người ta vực số phận, làm lên nghiệp lớn.
Về đối tượng đào tạo trong giáo dục, thi cử thì cũng như trong văn học,
giáo dục cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tư tưởng “trọng nam khinh nữ” và
việc phân chia thứ bậc, lễ nghĩa và tư tưởng thần quyền nên phần lớn là con
quan lại, quý tộc giáo dục Việt Nam. Ngoài ra, còn có một hạn chế lớn là chỉ
cho phép nam giới đến trường học. Điều này đã gây ra sự bất bình đẳng lớn
trong xã hội, kìm hãm sự phát triển của nữ giới và dẫn đến nhiều hệ lụy khác.
Và cho đến tận ngày nay, sự ảnh hưởng này tuy đã có sự chuyển biến nhất định
nhưng vẫn còn rất nặng nề và dai dẳng. Những điểm hạn chế đó phản ánh mặt
bảo thủ, tiêu cực của Nho giáo nước ta thời bấy giờ.
Về nội dung đào tạo thi cử, nước ta học chữ Hán của thánh hiền đồng thời
15
chú trọng giáo dục đạo đức, đào tạo những con người sống theo lí tưởng Nho
giáo. Tư tưởng làm người được gói gọn trong bốn chữ: tu, tề, trị, bình; dạy ta trở
thành người quân tử. Thời Lý, thi cử chưa được coi trọng nhưng đến thời Trần,
Trần Thái Tông cho lập Quốc Học Viện; Tứ Thư, Ngũ Kinh là những sách giáo
khoa kinh điển của Nho học để giảng dạy. Đến thời Lê Sơ, các tác phẩm kinh
sách của Nho giáo được đem ra giảng dạy nhiều hơn, trong đó không thể không
kể đến: Tứ Thư, Ngũ Kinh, Hiếu Kinh, Minh tâm bảo giám hay Tam tự kinh, đặc
biệt là Ấu học ngũ ngôn thi cùng các sách Nhất tự, Tam thiên tự và Sơ học vấn
tâm để dạy văn hóa, để dạy cho lứa tuổi ấu sinh thuở xưa. Tuy nhiên, nội dung
nền tảng giáo dục Nho học thời đại này lại “thiên lệch” không đề cập đến các
phương diện khoa học, kinh tế, nghề nghiệp tức không hướng vào phương diện
kĩ nghệ và kinh tế. Bởi thế mà không thúc đẩy phát triển các ngành khoa học tự
nhiên. Chính vì vậy mà bắt đầu từ thời kì nhà Trần (1232), khoa thi đầu tiên mở
ra, nội dung thi cử chủ yếu xoay quanh các kiến thức về Nho giáo, lấy nó làm
nền tảng, làm công cụ lựa chọn nhân tài. Tới thời Lê Sơ, đặc biệt dưới triều vua
Lê Thánh Tông, quy chế thi cử cơ bản hoàn thiện bao gồm ba kì thi chính là: thi
Hương, thi Hội và thi Đình. Nho giáo đã khẳng định được ảnh hưởng của nó tới
đỉnh cao.
Một lần nữa, có thể khẳng định, trong gần hai nghìn năm phát triển, Nho
giáo ảnh hưởng tới rất nhiều phương diện, làm sâu sắc thêm tầng văn hóa, đời
sống của nước ta. Đặc biệt nó vẫn in hằn dấu tích hình ảnh trong văn chương và
giáo dục nước ta một cách rõ nét. Sở dĩ, ảnh hưởng của nó mạnh đến vậy là do
hơn 1000 năm Bắc thuộc, Nho giáo đã dần bén rễ vào tư tưởng Việt. Đồng thời
cũng là nhu cầu có một hệ tư tưởng chính thống làm bệ đỡ thống nhất quốc gia,
xây dựng bộ máy nhà nước, quản lí chính quyền và nhu cầu tìm kiếm nhân tài
phục vụ trung thành của giai cấp thống trị.
1.1.2. Phi Nho giáo
Theo nghiên cứu, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chính xác cụ
thể nào về phi Nho giáo. Nhưng dựa vào khái niệm về Nho giáo ta có thể hiểu
định nghĩa phi Nho giáo là gì?
16
Trong quyển Từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh, “phi” có nghĩa là
“trái, không phải” [1;113]. Vậy nếu theo như cách giải thích này thì phi Nho
giáo là một giả thiết phủ định của Nho giáo, tức là không phải Nho giáo hoặc
trái ngược với Nho giáo.
Trong quyển Nho giáo ở Việt Nam của nhà xuất bản Khoa học và xã hội
đã bước đầu đưa ra định nghĩa về phi Nho giáo, đó là: “một tư tưởng phóng
túng, hưởng lạc, và hoàn toàn xa lạ với tư tưởng khắc kỉ nghiệt ngã của Nho
giáo” [29;461]. Qua đó ta có thể định nghĩa rằng: phi Nho giáo là tư tưởng trái
ngược với Nho giáo, biểu hiện của nó là phóng túng, hưởng lạc, hoàn toàn xa lạ
với tư tưởng khắc kỉ nghiệt ngã của Nho giáo.
Vậy phi Nho giáo chính là không tuân theo các hệ thống nguyên tắc, đạo
đức, chính trị do Khổng Tử sáng lập, đi ngược lại những luân thường đạo lý,
tam cương ngũ thường đã đặt ra, đã quy ước trong Nho giáo.
Có hai nguyên nhân chính dẫn đến xuất hiện hiện tư tưởng phi Nho giáo ở
Việt Nam: xã hội phong kiến suy tàn và cuộc xâm lược của thực dân Pháp vào
Việt Nam.
Hồi đầu thế kỉ XIX, triều đại nhà Nguyễn được thiết lập ở Việt Nam với
Gia Long là vị hoàng đế đầu tiên. Triều Nguyễn đã phục hưng Nho giáo và lấy
học thuyết Khổng Mạnh làm hệ tư tưởng chính thống. Có thể nói rằng, dưới
triều Nguyễn, Nho giáo giữ vị trí độc tôn trong xã hội, từ giáo dục đến chính trị.
Nhưng cũng chính dưới thời Nguyễn, Nho giáo đã bắt đầu suy tàn và dần rơi
vào quên lãng, sụp đổ.
Từ cuối thời Tự Đức, tình hình chính trị của đất nước bắt đầu có những
biến đổi rất mạnh mẽ và sâu sắc, gây ảnh hưởng trực tiếp đối với Nho giáo.
Thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, nhà nước phong kiến sụp đổ.
Chúng ta biết rằng, nhà nước phong kiến là đỉnh cao tôn thờ của nhà nho. Người
ta đi học Nho là để ra phò vua giúp nước và người ta lấy việc trung quân làm lý
tưởng. Vậy mà bấy giờ, vua không còn xứng đáng đại diện cho quốc gia, triều
đình cũng không còn xứng đáng đại diện cho một đất nước. Cho nên lý tưởng
của nhà nho theo đó mà sụp đổ. Từ đây, ý thức cá nhân, ý thức bản ngã được
17
trỗi dậy, những yếu tố truyền thống không còn nữa mà thay vào đó là những
luồng tư tưởng, những nền văn hóa mới được đưa vào du nhập. Và cũng chính
từ yếu tố này đã xuất hiện phi Nho giáo trong hệ tư tưởng Nho giáo sẵn có của
nó. Đây là nguyên nhân chính trị. Nhưng nguyên nhân chính trị đó có ảnh hưởng
mạnh mẽ đối với sự sụp đổ của Nho giáo.
Một khía cạnh khác cần đề cập ở đây, thời gian Pháp vào xâm lược Việt
Nam, thì Pháp cũng đã truyền bá một nền giáo dục mới. Và chính nền giáo dục
mới này đã tạo ra một ảnh hưởng mạnh mẽ đối với giáo dục Nho học nói riêng
và đối với vị trí của Nho học nói chung. Phải khách quan mà nói rằng, nền giáo
dục của Pháp có những điểm rất hấp dẫn. Ví dụ như việc người Pháp dùng văn
tự La - tinh, chữ Hán rơi xuống vị trí ngôn ngữ phụ. Mẫu tự La - tinh là một văn
tự hoàn toàn mới mẻ, tiến bộ, tích cực: là chữ tượng thanh (từ biểu đạt âm chứ
không biểu đạt nghĩa); dễ đọc, dễ nhớ, dễ viết, nói hay, dễ hiểu, học nhanh; có
thể diễn đạt được tất cả những tâm tư tình cảm của con người một cách thuận
lợi; có thể biểu đạt được những thuật ngữ, khái niệm khoa học trừu tượng không
tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể một cách dễ dàng… Còn với chữ Hán thì yêu
cầu khắt khe hơn rất nhiều: là chữ tượng hình (biểu đạt nghĩa chứ không biểu đạt
âm); học mất nhiều thời gian, học chữ nào thì chỉ biết chữ đó; khó đọc, khó viết,
khó hiểu vì một chữ có nhiều nét nghĩa khác nhau; khó diễn tả những thuật ngữ,
khái niệm khoa học trừu tượng…
Mặt khác, Nho giáo đã tự bộc lộ những hạn chế không thể nào khắc phục
được. Đây chính là khó khăn khiến cho Nho giáo bị sụp đổ nhanh chóng. Nho
giáo chỉ thiên về khoa học xã hội và nhân văn mà ít chú ý đến các khoa học
khác. Nho giáo đã quảng bá và cổ súy mạnh mẽ cho tư tưởng hoài cổ trong lúc
xã hội đang khao khát vươn lên để theo kịp các nước xung quanh. Và Nho giáo
đã thể hiện tính cực đoan. Chính sự cực đoan đó đã khiến cho Nho giáo bị đẩy
vào một vị trí hoàn toàn bất lợi.
Có một điều đáng chú ý nữa, khi thực dân Pháp vào xâm lược Việt Nam
thì đó cũng là lúc những luồng tư tưởng mới, những nền văn hóa mới được du
nhập. Nếu những tư tưởng, văn hóa được xuất phát từ chính nơi nó được sinh ra
18
thì đó là một điều phù hợp, nhưng một nền văn hóa được du nhập vào một nước
đi ngược lại hoàn toàn với những luồng tư tưởng đó thì một kết quả tất yếu sẽ
xảy ra. Những biểu hiện của cái mới xuất hiện đồng thời với cái cũ sinh ra
những tư tưởng, văn hóa lại căng, kệch cỡm, lố lăng... Nhất là dưới con mắt của
những nhà nho - những con người luôn đi theo những tư tưởng truyền thống và
luôn tôn thờ nó thì ắt sẽ có những phản ứng ngược trở lại. Nhưng sống trong
thời cuộc mà xã hội phong kiến không còn làm chủ nữa, nhà nho không còn có
tiếng nói nữa, họ bất mãn, họ phản đối, và cách họ thể hiện sự bất mãn, phản
kháng đó là đi ngược lại những yếu tố truyền thống mà họ tôn thờ và theo đuổi...
Cũng chính từ đây, tư tưởng phi truyền thống, phi Nho giáo được xuất hiện. Xét
trên phương diện thời cuộc thì đó là một quy luật tất yếu của xã hội - một xã hội
hỗn tạp của buổi giao thời Á - Âu lẫn lộn.
1.2. Trần Tế Xƣơng
1.2.1. Cuộc đời, gia thế
Trần Tế Xương tên thật là Trần Duy Uyên, quen gọi là Tú Xương, tự là
Mặc Trai, hiệu là Mộng Tích, đến khi thi Hương mới lấy tên là Trần Tế Xương.
Ông sinh ngày 10 tháng 8 năm Canh Ngọ (tức 5 - 9 - 1870) tại làng Vị Xuyên,
huyện Mỹ Lộc, nay là thành phố Nam Ðịnh và mất ngày 20 - 1 - 1907 ở làng
Ðịa Tứ cùng huyện.
Tú Xương thuộc dòng dõi Nho gia. Dòng họ của ông trước mang họ khác,
sau đổi thành họ Trần bởi vào đời Trần trong dòng họ ấy có người lập công lớn
nên được vua ban quốc tính. Tú Xương là con cụ Trần Duy Nhuận, cũng là một
nhà nho, thi nhiều khoa không đậu, sau làm Tự thừa ở dinh đốc học Nam Định.
Cụ Nhuận sinh chín người con trong đó có sáu người con trai và Tú Xương là
con trưởng.
Tú Xương lấy vợ năm 16 tuổi. Vợ là bà Phạm Thị Mẫn, người họ Phạm ở
làng Lương Đường, tỉnh Hải Dương. Gia đình bà Phạm Thị Mẫn đến đời bố mẹ
thì dời sang sinh sống ở Nam Định. Bà Mẫn sinh trưởng tại đây. Cuộc kết hôn
giữa Tú Xương và bà Phạm Thị Mẫn là từ hoàn cảnh gần gũi đó. Vợ chồng Tú
Xương sinh được tám người con, trong đó có sáu trai.
19
Tú Xương đi học sớm và cũng nổi tiếng thông minh, giỏi thơ phú. Giai
thoại kể rằng: hồi mới lên mười, một hôm có bạn bố đến chơi, thấy trước nhà có
một dãy chậu hoa, khách bèn ra cho bé Uyên một câu đối: “Đình tiền ngũ sắc
hoa” (Trước sân có hoa năm sắc). Bé Uyên liền chỉ vào lồng chim khướu treo ở
mái hiên mà đối “Lung trung bách thanh điểu” (Trong lồng có chim năm tiếng).
Khách nghe đối vừa tấm tắc khen, vừa theo lối đoán vận số một cách duy tâm,
mơ hồ và than ngầm: “Đời thằng bé sẽ luẩn quẩn như (chim nhốt trong lồng)”
[18;409].
Tú Xương đi thi từ lúc 17 tuổi. Đời thi của ông tính ra có tất cả 8 lần. Đó
là các khoa: Bính Tuất (1886), Mậu Tí (1888), Tân Mão (1891), Giáp Ngọ
(1894), Đinh Dậu (1897), Canh Tí (1900), Quý Mão (1903), Bính Ngọ (1906).
Ông đậu Tú tài khoa Giáp Ngọ nhưng cũng là Tú tài thiên thủ (lấy thêm). Sau đó
không sao lên nổi cử nhân, mặc dù đã khá kiên trì theo đuổi.
Tóm lại, Tú Xương là một nhà nho thuộc dòng dõi Nho gia, lập thân bằng
con đường khoa cử. Cả đời nguyện đi theo con đường lập thân, lập chí gắn liền
với hình mẫu của người quân tử trong xã hội phong kiến trung đại, lấy đạo lý
Nho giáo làm con đường thành danh cũng như mục đích hướng tới của bản thân.
1.2.2. Thời đại
Cuộc đời ông nằm gọn trong giai đoạn nước mất, nhà tan. Năm Tú Xương
ba tuổi (1873), Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhất rồi tấn công Nam Ðịnh. Năm
mười bốn tuổi (1884), triều đình ký hàng ước dâng đất nước ta cho giặc.
Tuổi thơ của Tú Xương trôi qua trong những ngày đen tối và ký ức về
những cuộc chiến đấu của các phong trào khởi nghĩa chống Pháp cũng mờ dần.
Nhất là sau cuộc khởi nghĩa của Phan Ðình Phùng (1896) bị thất bại thì phong
trào đấu tranh chống Pháp dường như tắt hẳn.
Năm 1897, Pháp đặt nền móng cai trị đất nước, xã hội có nhiều biến động,
nhất là ở thành thị. Tú Xương lại sinh ra và lớn lên ở thành thị vào thời kỳ chế
độ thực dân nửa phong kiến được xác lập, nền kinh tế tư bản phát triển ở một
nước thuộc địa làm đảo lộn trật tự xã hội, đảo lộn đời sống tinh thần của nhân
dân…
20