Tải bản đầy đủ (.docx) (20 trang)

Giáo trình thiết kế cảnh quan

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (227.92 KB, 20 trang )

Giáo trình thiết kế cảnh quan
Cây công trình

Dựa trên những đặc điểm khác nhau như về giá trị sử dụng, hình dáng thực vật… người ta phân loại
cây công trình theo một số cách khác nhau.
* Theo nguồn gốc người ta có thể phân theo nhóm cây trồng nhân tạo và nhóm cây tự nhiên. Tuy
nhiên do đặc điểm phát triển lịch sử của mỗi đô thị, cách phân chia này đôi khi khó xác định và
không thuận lợi trong việc đánh giá, quy hoạch phát triển mảng xanh ở đây. Ví dụ hầu hết đô thị ở
nước ta không có nhiều mảng xanh tự nhiên mà chủ yếu là hệ thống cây trồng nhân tạo.
* Phân loại cây công trình theo thành phần thực vật như phân theo cây lá rộng, cây lá kim, cây vùng
ôn đới, cây vùng nhiệt đới. Hoặc căn cứ theo chiều cao tự nhiên của cây chia nhóm cây đại mộc
(cây cao trên 20 – 25 m); nhóm cây trung bình (cao 10 –20 m), cây tiểu mộc (cao dưới 10 m)…
Việc phân chia này có lợi cho việc thiết kế chọn cây trồng ở các khu vực, định mức quản lý, tuy
nhiên sự sinh trưởng kích thước của cây trong tự nhiên khác với khi được trồng trong hệ thống cây
xanh đô thị, do vậy hoạch định định mức quản lý thời gian và kích thước cây sẽ gặp khó khăn.
* Phân chia cây công trình theo mục đích sử dụng
Cách phân chia này hữu ích cho quá trình thiết kế, chọn cây theo nhóm công dụng hay mục đích rõ
ràng hơn.
Ví dụ cây công trình chia ra 3 nhóm
+ Cây che bóng
+ Cây che phủ nền
+ Cây trang trí
· Phân chia thành phần cây công trình theo công dụng kết hợp kích thước cây
· Phân chia thành phần cây công trình theo nhóm thực vật kết hợp công dụng
· Theo đặc điểm nhóm thực vật phân chia 2 nhóm chính là cây và cỏ
· Phân chia thành phần cây công trình theo chủ thể quản lý
Dưới đây giới thiệu một số cách phân loại cây công trình phổ biến
1. Phân loại cây công trình theo nhóm cây, đặc điểm thực vật: Theo 2 nhóm chính là cây và cỏ
1.1. Phân loại nhóm cây công trình theo giá trị sử dụng
1.1.1. Cây bóng mát
Cây bóng mát là những cây có thân gỗ lớn, lá thường xanh hay rụng. Chúng có chiều cao từ 5 – 50


m, sống lâu 30 – 40 năm. Có loài sống hàng nghìn năm. Cây bóng mát có nhiều loại, thường được
chọn trồng ở đường phố, khu nhà ở, công sở, trường học, vườn hoa…Trong cây bóng mát có thể
chia ra các loại: cây bóng mát thường, cây bóng mát có hoa đẹp, cây ăn quả, hay cây có hoa thơm.
· Cây bóng mát thường: Gồm những cây thân gỗ lớn thuộc loài lá kim, hoặc lá rộng, thường xanh
hay rụng lá trơ cành. Nhiều loài cho bóng râm tốt lại có dáng đẹp, chúng thường được trồng đơn,
trồng thành khóm hay từng mảng phối hợp rất đẹp với các công trình kiến trúc đường phố, nhà ở..


như thông, lát hoa, đài loan tương tư, bàng, tếch…
· Cây bóng mát có hoa đẹp: Gồm những cây thân gỗ lớn hay nhỡ, cho bóng mát nhưng lại đặc biệt
có hoa đẹp. Hoa có tác dụng trang trí ở tầng cao. Chúng thường được trồng làm điểm cảnh, phối
hợp đẹp với các công trình kiến trúc. Các cây như móng bò tím, vàng anh, phượng, lim xẹt…
· Cây bóng mát ăn quả: Gồm những cây thân gỗ lớn hoặc nhỡ cho bóng mát, đồng thời cho qủa. Có
những loài khi qủa chín tạo thành khối trên tán lá có màu sắc hay những hình dạng độc đáo và tồn
tại trong thời gian dài rất đẹp như muỗm, dừa, hồng xiêm, khế, nhãn, vải…
· Cây bóng mát có hoa thơm: Là những cây bóng mát có hoa thơm gây cảm giác dễ chịu. Thường
được trồng bên những công trình kiến trúc như nhà ở, công sở, trường học, bệnh viện, khu triển
lãm, đình chùa … như bưởi, sữa, hòe, ngọc lan, hoàng lan,…
1.1.2. Cây trang trí
Cây trang trí là những cây thân gỗ nhỏ mọc bụi, hay riêng lẻ, cây leo giàn và cây thân thảo. Chúng
thường được trồng làm cảnh để trang trí ở tầng thấp, trồng trong chậu trưng bày trong nhà, trồng
dàn leo. Nhóm này thường gồm các loại:
- Tre trúc : Là những cây chỉ có một thân chính, mọc đơn lẻ hay thành bụi. Cây cao từ 1 – 2 m, đến
15 – 20 m. Loài tre trúc có thân đẹp, ngọn uốn cong mềm mại, đặc biệt tre trúc mang đậm nét sắc
thái dân tộc. Được trồng nhiều ở các biệt thự, nhà hàng, vườn hoa.
- Cau dừa: gồm những cây thường có độ cao từ 5 – 10 m và 15 – 20 m. Thân cột đứng thẳng hài
hòa với đường nét công trình kiến trúc, tán lá thoáng mềm mại như cau dừa, cọ. Là những loài
mang sắc thái khí hậu nhiệt đới. Có nhiều loài còn cho qủa dùng làm thực phẩm, thuốc, chế biến
dầu.
Lưu ý: Mặc dù tre trúc, cau dừa thuộc loại cây cao nhưng theo nhiều tác giả thì do cây có dáng đẹp

nên xếp chúng vào loại cây trang trí.
- Cây cảnh dáng đẹp: Gồm những cây thân gỗ nhỏ mọc đơn hay mọc bụi. Có dáng cây, lá, hoa với
màu sắc đẹp. Thường trồng trang trí ở tầng thấp, nó có ưu điểm trồng được lâu không phải thay
thường xuyên như trồng các cây hoa.
- Cây cảnh hoa đẹp: Gồm những cây thân gỗ nhỏ mọc đơn hay mọc bụi có hoa. Hoa nhiều màu sắc
có thể trồng đơn lẻ hay khóm, mảng hay trong chậu.
- Cây leo dàn: Gồm những cây leo có thân lá, hoa đẹp có tác dụng trang trí và tạo bóng râm. Tuỳ
thuộc công trình kiến trúc mà chọn loài thích hợp, taọ bóng râm, che tường, trang trí cổng, cột…
- Cây cảnh có quả đẹp: Những cây này qủa có hình dáng, màu sắc đẹp.
- Cây hàng rào: Gồm những cây thân gỗ, bụi, nhiều cành nhánh. Cây có mật độ lá dày, xanh quanh
năm, sống lâu, đặc biệt nhiều thân, cành hay lá có gai. Trồng thay thế cho các bức tường xây bao
vừa tiện lợi, rẻ, mát.
- Cây viền bồn, bãi: Gồm những cây thân gỗ nhỏ hoặc thân thảo, sống một năm hoặc nhiều năm,
cây có nhiều cành nhánh, chịu cắt xén, hoặc có màu lá, hoa đẹp làm đường viền cho các bồn hoa.
- Cây hoa: Gồm những cây thân thảo hoặc thân gỗ có độ cao dưới 1 m, sống theo mùa trong năm
hoặc 2 –3 năm. Thường được trồng trong các bồn hoa, bãi, trong chậu, cắt hoa cắm trong bình.
1.1.3 Nhóm cỏ


Cỏ là mảng màu trang trí tầng thấp. Cỏ có chức năng làm “nền” cho đất xanh, có tác dụng tạo nên
một không gian rộng lớn hơn thực tế, tạo nên cảm giác yên tĩnh. Mặt khác cỏ còn có tác dụng rõ rệt
để chống xói mòn đất, giữ ẩm, lắng lọc bụi bặm. Ở nước ta hiện nay trồng phổ biến các loại cỏ gà,
cỏ lá tre, cỏ gừng, một số loại được nhập về trồng tại các sân thể thao. Mặt khác, trồng cỏ cũng
tham gia vào việc giảm nhiệt độ tới 30C giữa nơi có trồng cỏ và đất trống.
1.2. Phân loại cây công trình theo độ cao cây
Độ cao cây có ảnh hưởng tới sự tổ chức, phối cảnh. Phân loại theo chiều cao cây từ các taì liệu thực
vật học (chiều cao tự nhiên trong điều kiện bình thường) kết hợp chiều cao tại nơi nghiên cứu chịu
ảnh hưởng của các yếu tố khác có thể gây ức chế như độ sâu tầng đất, mực nước ngầm, ánh sáng,
tác động nhiệt do bê tông hóa xung quanh…trên cơ sở đó nhằm xác định chiều cao trung bình của
cây để phối hợp trồng cây tại khu vực đó hay kết hợp hài hòa với công trình kiến trúc tại đó.

1.3. Phân loại cây công trình theo hình dạng tán cây
Cây sinh trưởng, phát triển tự nhiên thường có hình dạng tán cây nhất định như tán hình tròn, hình
nấm, hình tháp, rủ, phân tầng. Có loài lại phát triển theo kiểu tự do.
Ngoài ra hình dạng tán cây còn thay đổi do điều kiện ánh sáng, cây tán đều hay lệch do ánh sáng
phân phối đều hay không.
Kết hợp tinh tế các kiểu tán khác nhau sẽ tạo nên những cảnh quan hấp dẫn.
1.4. Phân loại cây công trình theo lá cây
Phân ra cây lá kim (thường tán thưa), Lá rộng (thường cho nhiều bóng rợp), lá xanh quanh năm hay
rụng lá. Phân theo màu sắc lá xanh sẫm, xanh nhạt, biến đổi màu sắc lá theo thời gian sang màu
khác nhau như cây bàng.
1.5. Phân loại cây công trình theo sắc hoa
Nhiều cây bóng mát và trang trí có lá và hoa với nhiều màu đỏ, vàng, trắng, tím hay hỗn hợp nhiều
màu. Đây cũng là đặc điểm rất được chú ý trong phối cảnh.
2. Phân loại cây công trình theo vị trí và chức năng của mảng xanh
(Theo quy chuẩn Việt Nam) gồm 3 nhóm chính
+ Nhóm 1: cây xanh sử dụng công cộng: gồm công viên, vườn hoa, vườn dạo
+ Nhóm 2: cây xanh sử dụng hạn chế gồm: cây xanh trong các khu chức năng đô thị như khu ở,
công nghiệp, kho tàng, hành chính, trường học, y tế, văn hóa, thương mại dịch vụ…
+ Nhóm 3: cây xanh chuyên môn gồm cây xanh cách ly, rừng phòng hộ, khu cây xanh nghiên cứu
thực vật học, vườn ươm…
2.1 Cây xanh công cộng
Là cây xanh được trồng nhằm mục đích cho các nhu cầu chung của xã hội, những khu vực này
thuộc phạm vi quản lý của các cơ quan quản lý cây xanh và công viên bao gồm cây đường phố, cây
công viên, lâm viên.
2.2. Cây xanh sử dụng hạn chế:
cây xanh phục vụ hạn chế cho các khu công nghiệp, kho tàng, trường học, công trình y tế, khu thể
dục, thể thao, văn hóa, thông tin, tôn giáo…, cây ở các hộ dân cư, chủng loại phong phú (cây bóng


mát, cây cảnh, cây ăn trái), tuy nhiên số cây xanh này không tham gia trong thống kê quỹ cây xanh

công cộng, nhưng chúng đóng góp vào bảo vệ môi trường tại chỗ.
2.3. Cây xanh chuyên môn
+ Là cây xanh tổ chức theo nhu cầu riêng như sử dụng cho mục đích nghiên cứu khoa học
(TP.HCM chưa có, hiện đang sử dụng tại Thảo Cầm Viên), vườn thực vật, vườn ươm, khu cây xanh
cách ly (nghĩa trang, khu để xử lý nước thải, các dải phân cách khu công nghiệp và dân cư).
+ Rừng đô thị: gồm rừng nghỉ ngơi, rừng phòng hộ, khu du lịch sinh thái.
2.4. Cây xanh khác
Bao gồm các loại cây xanh do người dân trồng ở các biệt thự, sân nhà, trước nhà, chùa, cơ quan,
trường học… Cây trồng ven kênh rạch, trồng phân tán, cây ăn trái…
Mục đích quy hoạch hệ thống mảng cây xanh trong đô thị
đăng 06:32, 25 thg 2, 2013 bởi công trình cây [ đã cập nhật 14:03, 1 thg 12, 2014 ]

1. Mục đích – yêu cầu quy hoạch phát triển hệ thống mảng xanh trong kiến trúc cảnh quan cây
xanh đô thị
1.1. Mục đích
Vấn đề tạo một môi sinh tốt cho cuộc sống và làm việc ở đô thị là một yêu cầu lớn. Cây xanh đã trở
thành một trong những thành phần cơ bản trong quy hoạch chung của đô thị. Quy hoạch chung này
vừa là một khoa học tổng hợp, vừa là một nghệ thuật xây dựng và tổ chức không gian để tạo cho đô
thị một trật tự khoa học thuận lợi. Việc quy hoạch cây xanh làm sao phải hài hòa với các công trình
kiến trúc khác, phù hợp với hoàn cảnh địa lí, khí hậu, đất đai của khu vực, diện tích cho việc phát
triển hệ thống cây xanh cần được xác định phù hợp trong tổng thể quy hoạch chung… nhằm phát
huy được các vai trò của cây xanh trong việc cải thiện môi trường đô thị, làm tăng vẻ đẹp hiện đại
và đặc thù cho mỗi đô thị.
1.2. Yêu cầu của quy hoạch
Diện tích, số lượng cây xanh nhiều hay ít tùy thuộc các yếu tố sau: trong đô thị có nhiều nhà máy, lò
cao hay có diện tích rộng rãi cho phép thì số lượng cây xanh nên nhiều hơn nơi khác. Các khu vực
nhiệt đới, hoặc trong những vùng chịu nhiệt độ gió mùa thì số lượng cây cũng thường phải nhiều
hơn.
Quy hoạch cây xanh phải phân bố đều trên toàn bộ đất đai của thành phố
Vấn đề phân bố cây trong mỗi khu vực cũng cần đảm bảo không những về số lượng cây trồng mà

còn tạo thuận lợi cho các hoạt động xã hội của con người như ở khu du lịch, trường học, bệnh viện
hay khu nhà ở, nhà máy… . Diện tích cây xanh từng khu vực cần tỉ lệ với mật độ người ở và đáp
ứng được nhiệm vụ ở đó. Mỗi khu vực có quy hoạch cây xanh riêng nhưng không đi chệch mục
đích, yêu cầu chung, phải đảm bảo các điều kiện, vệ sinh, mĩ quan, chỗ nghỉ ngơi tốt cho nhân dân.
Mỗi đô thị nên bố trí các vành đai xanh để bảo vệ, cải thiện tốt hơn môi trường cho đô thị, bảo vệ
cho đô thị tránh nạn cát bay, hạn chế gío bão, kết hợp tạo nên các khu rừng cảnh quan, du lịch sinh
thái cho nhân dân tới nghỉ ngơi, thăm quan. Mặt khác đây cũng là những bể chứa dưỡng khí điều
hòa rất tốt cho đô thị như rừng phòng hộ Cần Giờ Tp. HCM.
Trong đô thị, nghiên cứu sắp xếp nên có nhiều dải cây làm nhiệm vụ phân cách giữa các khu vực


nhà máy, nhà ở, giữa các khu vực hoạt động ồn ào của bến xe, bến cảng chợ, với các khu vực làm
việc của cơ quan, trường học cần sự yên tĩnh.
Chất lượng chung của quy hoạch cây xanh công trình đô thị tùy thuộc vào sự bố trí và kĩ thuật chọn
giống cây trồng. Hai vấn đề này liên quan chặt chẽ và phải trên cơ sở địa hình, địa vật và mục đích,
ý nghĩa của việc trồng cây từng nơi mà quyết định.
Bố trí cây trồng trong đô thị là một nghệ thuật, cần nghiên cứu tạo cảnh trong từng khu vực để trong
toàn đô thị có nhiều cảnh, vui mắt. Chẳng hạn hai bên đường phố nên có những hàng cây tạo nên
những vòm lá che nắng cho người đi đường, có nơi lại trồng thưa để lọt từng vệt nắng xuống mặt
đất, nơi trồng từng cây riêng rẽ, nơi lại trồng thành khóm vài cây …nơi chỉ trồng cây thấp, nơi lại
trồng toàn cây cao hay xen kẽ cây cao và thấp, nơi cây trồng có hoa đẹp, nơi chỉ có cây xanh cao
tạo bóng mát…
Ngoài ra, vấn đề chọn giống cây trồng cũng rất lưu ý, nó yêu cầu các nhà chuyên môn phải có kiến
thức vững vàng về đô thị và mĩ thuật. Đô thị cần những giống cây khoẻ, gỗ tốt, không bị gãy bất
thường, khó đổ, không có rễ ăn nông, vệ sinh… mà còn cần những giống cây có hoa đẹp, hoa thơm,
cây không rụng lá về mùa đông, cây có bộ lá tiết chất kháng trùng trong không khí (phitonxit).
Chọn được càng nhiều giống cây khác nhau, càng tạo được nhiều phong cảnh tươi đẹp cho đô thị.
Mặt khác cây xanh kết hợp hài hòa, tôn tạo thêm vẻ đẹp, phát huy tác dụng của các công trình xung
quanh như nhà ở cao tầng, biệt thự, bồn hoa, tượng đài…
Vấn đề thiết kế cây xanh trong đô thị cần được tiến hành sớm và có kế hoạch rõ ràng ngay từ đầu.

Cần nghiên cứu, bố trí hợp lí, khoa học, tránh chắp vá, sửa đổi quá nhiều sau này cũng như tránh
gây trở ngại cho các công trình khác. Những phần diện tích nếu có kế hoạch cụ thể trước sẽ rất
thuận lợi, chủ động cho việc thiết kế hệ thống cây xanh ở mỗi khu vực .
Ví dụ: Ở thành phố Chu Hải (phía nam Trung Quốc) là một thành phố trẻ mới được xây dựng từ
năm 1981 – 1982 (trước đây là một thị trấn nhỏ). Quy hoạch diện tích cho cây xanh được xác định
rõ ngay cùng các công trình xây dựng của thành phố. Như đối với trường học diện tích cây xanh
chiếm không dưới 35%, bệnh viện trên 30%, khu du lịch trên 50%…
Báo “Người lao động” (10/09/2004) cho biết, theo các chuyên gia khí tượng của Trung Quốc thì
trận bão tràn vào Bắc Kinh ngày 10/07/2004 cho thấy ảnh hưởng rõ rệt của mối quan hệ giữa thời
tiết khắc nghiệt và việc quy hoạch của thành phố. Bề mặt trải nhựa hoặc bê tông hóa của các con
đường tạo ra những “ốc đảo nhiệt” được địa phương hóa. Nhiệt độ ở một số bề mặt đường lên đến
800C, trong khi những khu dân cư có cây xanh lân cận chỉ khoảng 400C. cũng do quy hoạch không
hợp lý đôi khi tạo ra “hiệu ứng thung lũng”. Khi cơn lốc cấp 6 hay 7 thổi qua, chúng tập trung vào
các “thung lũng” giữa các cao ốc, tại đây sức gío có thể đạt tới tốc độ cấp 12 (bằng với bão). Đây là
vấn đề cần được lưu ý trong việc quy hoạch xây dựng nhà cao tầng và tạo mảng xanh trong độ thị
cho hợp lý.
Đối với những khu vực đã có cây xanh, khi muốn nâng cấp cải tạo cũng cần xây dựng các phương
án rõ ràng để phù hợp với sự phát triển mảng xanh chung của đô thị.
Dưới đây là một ví dụ về chiến lược phát triển mảng xanh trong đô thị tại Mỹ.
Theo Thanh Trúc (Báo Tuổi trẻ ngày 11/11/2007): Ngày 9-10-2007, Thị trưởng New York (Mỹ)
Michael Bloomberg đã trồng một cây hoa chuông tại khu phố Bronx và tuyên bố đó là cây đầu tiên
trong 1 triệu cây xanh sẽ được trồng trên khắp New York trong một thập niên tới. Mục đích của
sáng kiến này là làm tăng 20% diện tích rừng, biến New York thành thành phố xanh và sạch hơn.
Thị trưởng thành phố cũng nêu rõ: để đạt được điều đó, cần có sự góp sức của toàn thành phố. Kế
hoạch cụ thể là Chính quyền thành phố sẽ cấp gần 400 triệu USD cho Sở công viên New York để


trồng 600.000 cây xanh tại các công viên và đường phố. Các tổ chức phi lợi nhuận, doanh nghiệp,
cộng đồng và cá nhân tại New York sẽ trồng 400.000 cây còn lại. Để hưởng ứng sáng kiến này, tòa
nhà Empire State của thành phố đã thắp sáng đèn màu xanh lá cây của tất cả 30 tầng nhà trong suốt

đêm 9 -10 -2007.
2. Các chỉ tiêu định mức về phát triển mảng xanh trong đô thị
Căn cứ quy mô dân số, điều kiện khí hậu, địa hình đất đai
Muốn có hiệu qủa của cây xanh để cải thiện môi trường đô thị, diện tích cây xanh tối thiểu nên đạt
> ½ tổng diện tích xây dựng trong đô thị. Tầng che của cây xanh trong khu đất tối thiểu bằng 30%
diện tích khu đất đó.
Trồng cây ở đường phố
đăng 06:30, 25 thg 2, 2013 bởi công trình cây [ đã cập nhật 14:04, 1 thg 12, 2014 ]

Trồng cây ở đường phố hay vỉa hè, là một khâu quan trọng. Ở đó thường số lượng cây chiếm tỷ lệ
cao so với toàn bộ cây trồng trong đô thị mà nó còn phân bố khắp nơi và mang lại nhiều lợi ích cho
nhân dân.
Ở nước ta vào mùa hè nhiệt độ không khí thường rất cao, trung bình 25– 27oc, có khi tới 35 – 37oc.
Nhiệt độ trên mặt đường cũng thường cao do sự bê tông hóa mặt đường và các công trình xung
quanh tạo nên tiểu khí hậu nóng bức làm cho người đi đường rất khó chịu, mệt nhọc và mặt đường
cũng mau hỏng. Cây trồng vỉa hè che bóng cho người đi đường, bảo vệ mặt đường, vì vậy ở các
thành phố, thị trấn, thị xã, khi lập quy hoạch xây dựng chung nên chú ý dành vỉa hè rộng 2 – 3 m và
sắp xếp, bố trí để trồng được 1, 2 hay nhiều hàng cây hai bên đường phố.
Trồng cây vỉa hè còn cần lưu ý tới các công trình công cộng như sự ăn lan của hệ rễ cây làm nứt rạn
chân móng công trình, cây gãy đổ gây tai nạn, tán cây gây trở ngại cho đường dây điện… Ngược lại
sự phát triển mở rộng các hệ thống đường xá, cáp ngầm, cống thoát nước… cũng mang đến bất lợi
cho hệ thống cây đã được trồng. Hay mực nước ngầm cũng là vấn đề gây ảnh hưởng nhiều tới sinh
trưởng của cây trồng. Ở nơi có mực nước ngầm cao, rễ cây khó ăn sâu trong đất nên dễ bị chúc đổ.
Nhiều nơi cây sinh trưởng xấu do trong khi xây dựng công trình, người ta đã vùi mất lớp đất tốt trên
mặt, đổ lên đó tầng đất sét xấu. Vì vậy thiết kế cây trồng vỉa hè phải được xem xét kĩ nhiều mặt để
giúp cây sinh trưởng đảm bảo, hạn chế những sự cố bất lợi.
Thông thường, đối với các đường trục của đô thị, các đại lộ có vỉa hè rộng trên 3 m, mặt đường trên
18 m và đường đôi hai chiều có thể bố trí một hàng cây bụi thấp ở giữa, trên mỗi vỉa hè trồng một
hàng cây. Cách bố trí này sẽ tăng khả năng che chắn giữa các hàng cây, vừa trồng được nhiều cây,
vừa đẹp mắt.

Đối với đường đôi hai chiều, vỉa hè hẹp dưới 3 m thì nên bố trí một hàng ở chính giữa mặt đường,
còn vỉa hè trồng cây bụi thấp.
Đối với các đường rộng dưới 12 m, bố trí một hàng cây trên mỗi vỉa hè, nếu vỉa hè rộng 3 m. Còn
nếu vỉa hè rộng hơn có thể trồng hai hay nhiều hàng cây.
Đối với những đường hẹp, bố trí thế nào để ngọn cây hai bên đường khép thành một vòm cành lá
che nắng cho nguời đi đường và tạo nên một cảnh quan vui mắt.
Ở những đoạn đường cong, nơi nhiều đường giáp nhau hai bên đầu cầu, nên dành một khoảng
trống, không trồng cây tại mối đường giáp nhau đó để cho lái xe và người đi đường nhìn đường dễ
dàng. khoảng cách an toàn đó rộng hẹp tùy tình hình từng nơi. Nếu đường tốt, mặt đường rộng, xe


chạy nhanh thì cần để khoảng cách rộng 100 –150 m. Nếu đường xấu hẹp, tốc độ xe chạy chậm thì
khoảng cách đó độ 30 – 50 m. Trên khoảng cách an tòan đó có thể trồng cây hàng rào xén, cây bụi
thấp có chiều cao dưới 0,5 – 0,6 m.
Trên các đường phố chạy từ ngoại ô vào nội thành cần nghiên cứu cách bố trí mĩ thuật và chọn
giống cây đẹp để gây cảm tình đầu tiên đối với khách các nơi đến đô thị
Cách bố trí trồng, chọn loài cây đẹp trên vỉa hè, kết hợp có các công viên nhỏ, danh lam là một nghệ
thuật đáng chú ý, dễ thu hút khách.
Trong việc trồng cây công trình đường phố lưu ý phải trồng thẳng hàng song song theo lề đường,
không có cây nào chệch ra khỏi hàng để đề phòng tai nạn giao thông. Khoảng cách giữa các cây tùy
theo loài cây, mặt đường… thường từ 4 – 6 m.
Một số tiêu chuẩn chọn cây xanh đô thị trồng ở vỉa hè
- Cây có thân thẳng tự nhiên, gỗ tốt, không giòn, dễ gãy bất thường gây tai nạn. Cây có tán, cành lá
gọn: sấu, chẹo, lát hoa…
- Rễ cái và phần lớn bộ rễ ăn sâu trong đất, giữ cây vững chắc, khó bị chúc đổ: muồng vàng nhạt,
muồng vàng thẫm, nhội… Không có hoặc ít rễ ăn nổi gần mặt đất để tránh làm hư hại vỉa hè, mặt
đường và công trình xây dựng xung quanh gốc cây
- Lá có bản rộng như tếch, trẩu, vàng anh…
- Hoa, qủa không hấp dẫn ruồi nhặng làm ảnh hưởng đến vệ sinh như cây đa, đề, trứng cá…
- Đời sống cây tương đối dài để đỡ tốn kém khi phải trồng lại. Có sức lớn tương đối nhanh, không

quá chậm để sớm phát huy tác dụng.
- Cây có sức chống chịu tốt với điều kiện tự nhiên, và sâu hại phá hoại.
- Cây có hoa thơm, đẹp hay có khả năng phóng chất phitonxít chống vi khuẩn trong không khí, cây
có giá trị kinh tế.
Các tiêu chuẩn cần lựa chọn linh hoạt vì khó chọn được loài cây đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn đó.
Lưu ý các tiêu chuẩn về thân, rễ, lá. Nên chú ý tạo nét riêng cho mỗi con đường bằng loài đặc trưng
và trên một đường hay một đoạn dài nên trồng một loài cây để vừa dễ chăm sóc, vừa đẹp và cần
trồng thẳng hàng.
Trồng cây ở vườn hoa, công viên
đăng 06:29, 25 thg 2, 2013 bởi công trình cây [ đã cập nhật 00:56, 7 thg 12, 2014 ]

1. Cây công trình trồng ở vườn hoa, công viên
Vườn hoa, công viên với mục đích tạo nơi nghỉ ngơi, giải trí cho nhân dân, mặt khác nơi đây
thường được coi như là một cảnh thiên nhiên thu hẹp lại, trong đó cây cối là thành phần quan trọng.
Cây trồng gồm cây lớn, cây nhỏ, cây leo giàn, cỏ… Trong đó cây lớn thường giữ vai trò quan trọng
hơn nên rất lưu ý khi chọn loài cây này đáp ứng yêu cầu của mỗi công viên, vườn hoa. Ở đây tiêu
chuẩn lựa chọn khá phong phú: cây xanh quanh năm, rụng lá theo mùa, lá rộng, cây sống lâu năm…
vì vậy rất dễ lựa chọn, phụ thuộc khả năng phối cảnh, thẩm mĩ của các nhà thiết kế.
Trước hết để tránh phải sửa đổi nhiều lần hay cây không sinh trưởng được cần phải dựa trên cơ sở
yếu tố về địa hình của từng nơi.


Các vườn hoa, công viên cũng thường có nhiều công trình kiến trúc, tượng đài, vì vậy cần có sự
phối hợp hài hòa giữa thiết kế cây xanh với các công trình xây dựng, kiến trúc đó. Tạo nên cảnh
quan đẹp và nét độc đáo riêng cho mỗi công viên, vườn hoa (hình 5.6, 5.7).
Đối với công viên văn hóa, nặng về các hoạt động văn hóa quần chúng, tổ chức vui chơi, giải trí,
nên chọn những loài cây to có cành lá sum suê cho diện tích che bóng rộng nhưng chiếm diện tích
đất ít hoặc xanh quanh năm như muồng, bằng lăng tím, ngọc lan, lan tua, bưởi… hay chọn cây có
tuổi thọ cao, dáng đẹp như bàng, sấu, cau…
Đối với các vườn chơi cho trẻ em, tránh trồng các cây có hoa, lá, qủa có chất độc, thu hút ruồi

nhặng hay cây rụng lá nhiều, độc như trúc đào, bã đậu, đa…
Ở công viên nên chọn cây có bóng mát rộng, hoa thơm, đẹp, cây khỏe ít gãy đổ và nên trồng hàng
rào cách ly với xung quanh.
2. Cây xanh đô thị trồng ở các danh lam thắng cảnh
Các di tích lịch sử phần lớn là những thắng cảnh đẹp hay cần bảo tồn, là nơi cho du khách tham
quan, nghiên cứu. Thông thường ở đây đã có sẵn những cảnh thiên nhiên được chăm sóc, tôn tạo từ
lâu. Khi trồng cây ở đó phải cây nhắc, không làm thay đổi phong cảnh cũ ở đó. Đặc biệt những cây
gìa cỗi cần thay thế thì nên sử dụng cây cùng dòng họ trồng thay. Trường hợp những cây đã chết
không còn dấu vết gì để nhận biết nên điều tra trong nhân dân, tài liệu để biết rõ nguồn gốc cây đã
chết. Nếu hoàn toàn không biết được, nên trồng vào đó loại cây mà xung quanh ở những công trình
tương tự người ta thường trồng.
Điều cần lưu ý là nghệ thuật bố trí cây, chọn cây rất phong phú, nhưng tránh che tầm nhìn các công
trình kiến trúc, hoặc tùy theo đặc điểm công trình bố trí cho phù hợp, thẩm mĩ nhằm tăng thêm vẻ
hấp dẫn của công trình đó. Ví dụ bố trí cây xanh quanh các lăng tẩm ở Huế.
Trồng cây ở các khu nhà tập thể, chung cư
đăng 06:28, 25 thg 2, 2013 bởi công trình cây [ đã cập nhật 14:05, 1 thg 12, 2014 ]

Cây xanh ở đây có ảnh hưởng trực tiếp tới con người sống tại đó, vì vậy cần nghiên cứu tăng diện
tích cây xanh hợp lý. Tổ chức tốt bảo vệ chăm sóc để có bóng cây quanh năm, cấm chặt phá cây để
làm các công trình xây dựng khác tại khu đã được quy hoạch trồng cây xanh.
Đặc điểm khu nhà ở là người đông đúc, nhiều trẻ em, nhà ở sát nhau, do vậy, một số tiêu chuẩn để
chọn cây công trình trồng ở đây như sau:
- Chọn cây nhỡ, thấp, có bộ tán cành lá tự nhiên nhỏ.
- Lá có phát tán hương thơm, có khả năng diệt vi khuẩn trong không khí như long não, bạch đàn,
thông…
- Những loài cây gỗ tốt, thân cành không bị gãy đổ bất thường.
- Những loài cây có hoa đẹp.
- Những loài cây có lá rụng hết về mùa đông nên trồng ở các khu ẩm thấp để tạo ánh sáng trong
mùa này.
- Tránh chọn các loaì cây ăn trái để hạn chế trẻ em leo trèo.

Khi bố trí cây xanh đô thị trồng trong khu nhà ở nên bố trí các hàng rào chắn phía có gío hại, ngăn
bụi, cản bớt tiếng ồn. Mỗi khu nên có kiểu trồng cây khác nhau, phù hợp với chức năng muốn thiết


kế, ví dụ khu dành cho thiếu nhi vui chơi, khu dành cho người già nghỉ ngơi.
Giữa các dãy nhà nên chừa lại diện tích nhất định để trồng 2 hàng cây và một bồn hoa, cây cảnh hay
bãi cỏ. Lưu ý bố trí hàng cây trồng cách thềm nhà 5 – 6 m. Diện tích bồn hoa và sắp xếp tùy thuộc
diện tích thực tế để thiết kế hợp lý.
Các hàng cây, bồn hoa ở đây là nơi nghỉ ngơi tốt cho nhân dân của các khu nhà ở, đồng thời cũng có
tác dụng ngăn chặn ngọn lửa lan tràn khi có hỏa hoạn.
Trồng cây ở các nhà máy, cơ quan
đăng 06:27, 25 thg 2, 2013 bởi công trình cây [ đã cập nhật 02:55, 7 thg 12, 2014 ]

1. Trồng cây công trình ở các nhà máy, khu công nghiệp
Mục đích trồng cây ở đây để cải thiện bầu không khí bị ô nhiễm do các nhà máy trực tiếp thải ra,
cũng như ngăn cản bớt bụi, tiếng ồn của nhà máy thoát ra khu vực xung quanh.
Ở đây khối lượng cây xanh có thể nói được trồng càng nhiều càng tốt và nên trồng dày thành cụm,
dãy, không nên trồng lẻ tẻ sẽ giảm tác dụng.
Xung quanh nhà máy trồng một hàng rào dày, trừ phía mặt trời mọc. Ở giữa trồng nhiều cụm cây
thẳng hàng theo kiểu nanh sấu. Cách bố trí kết hợp này vừa tăng tác dụng của cây, vừa thoáng. Cây
xanh ở đây cũng vừa là bể chứa oxigen, đồng thời là nơi hấp thụ nhiều khí độc, bụi do nhà máy thải
ra (hình 5.12).
Trong khu vực nhà máy, nơi nào trồng được cây bóng mát thì tận dụng trồng, nếu không, bố trí
trồng các cây bụi thấp, cây leo giàn, chậu cây cảnh…Kể cả trong nhà máy nên tạo không khí thoải
mái cho công nhân bằng cách đặt nhiều chậu cây cảnh.
Cây trồng khu vực này nên chọn các loài cây lá rộng, lá xanh quanh năm, các cây này có tác dụng
tốt ngăn cản bụi, tiếng ồn.
Lưu ý rằng cây xanh đô thị ở đây thường bị bụi bám, chịu nhiệt độ cao, nên thường xuyên tưới ẩm
và dùng vòi phun tưới rửa cho cây.
2. Trồng cây ở các cơ quan

Trồng cây ở các cơ quan tạo bóng mát, tạo bầu không khí trong lành, yên tĩnh và tùy theo nghệ
thuật bố trí, sẽ tạo được những khung cảnh hấp dẫn giúp mọi người cảm thấy thư giãn, dễ chịu.
Việc chăm sóc, bảo vệ ở đây dễ dàng hơn, vì vậy có thể chọn cây ăn qủa trồng kết hợp thu lợi. Cũng
nên tránh trồng những cây có hoa quả hấp dẫn ruồi nhặng, cây khó trồng, đòi hỏi chăm sóc qúa tỉ
mỉ.
Các loài được chọn trồng nhiều như: hồng, táo, vú sữa, mít, dừa…
Tùy theo diện tích của mỗi cơ quan để bố trí cách trồng, cũng như chọn loài cây phù hợp. Tránh
trồng phía mặt trời mọc để ánh nắng buổi sáng rọi vào sân, vườn.
Trồng cây ở bến xe, bến cảng, chợ
đăng 06:26, 25 thg 2, 2013 bởi công trình cây [ đã cập nhật 14:06, 1 thg 12, 2014 ]

1. Trồng cây xanh công trình ở bến xe, bến cảng, chợ


Nơi đây thường tập trung người đông đúc, xe cộ nhiều, gây không khí nóng nực, bụi bặm, ồn ào,
cây xanh ở đây sẽ góp phần hạn chế những vấn đề đó.
Thường chọn cây có bóng râm lớn, nhưng lại chiếm ít diện tích đất hoặc làm vòm và phủ bằng dây
leo. Ở các hướng nắng phía tây, hướng gío nên trồng các hàng cây che chắn. Tránh trồng cây hấp
dẫn ruồi nhặng ở khu vực này.
Chọn cây gỗ tốt, ít bị gãy đổ bất thường, cây có hoa thơm, hoa đẹp. Các cây thường trồng nhiều ở
đây là long não, muồng, tràm, sọ khỉ, ngọc lan…
2. Trồng cây ở nghĩa trang
Yêu cầu trồng cây ở đây là cần phối hợp với các công trình khác tạo nên một quang cảnh nghiêm
trang, tĩnh mịch. Có thể biến nơi này thành một thắng cảnh của đô thị.
Xung quanh nghĩa trang nên có cây hàng rào xén để phân biệt. Trên trục đường chính vào lễ đài nên
trồng 2 hàng cây bụi thấp, cây gỗ thấp có dạng nhất định như hình trứng, hình nón, thường tạo thêm
2 bồn hoa để tăng thêm vẻ uy nghi.
Các đường đi ở đây thường hẹp, chỉ nên trồng các cây hoa lưu niên hoặc cây cành nhỏ. Trong nghĩa
trang không nên trồng cây gỗ lớn.
Các cây thường trồng nhiều như phi lao, tùng, trắc bách diệp, đại, dành dành…

3. Rừng nghỉ ngơi, khu du lịch sinh thái
Cùng các công viên, vườn hoa, vườn thực vật… rừng nghỉ ngơi hay các khu du lịch sinh thái giúp
cho nhân dân đô thị có chỗ giải trí sau những ngày làm việc mệt mỏi, nơi đây còn là bể chứa dưỡng
khí trong lành cho con người. Tuy nhiên cần bố trí thuận tiện cho nhân dân dễ đi lại.
- Địa điểm thường ở gần các trục giao thông chính hay cạnh hồ, sông.
- Kết hợp làm nhiệm vụ phòng hộ hay làm du lịch sinh thái cho đô thị.
- Bố trí trồng cây xanh đô thị như cây mọc tự nhiên trong rừng để gây ấn tượng rừng thật, có cây
lớn, cây bụi, dây leo xen nhau. Tạo nhiều cảnh trong rừng như đào ao, hồ, sông suối, tạo các đồi
gò… Đường đi trong rừng không nên rải nhựa hay đổ bê tông mà làm các đường đá.
- Chọn cây có thân cao, tán rộng, bộ lá rậm rạp xanh quanh năm, tuổi thọ cao, cây có hoa thơm,
đẹp. Nên trồng nhiều chủng loài cây.
Trồng cây ở trường học, bệnh viện
đăng 06:25, 25 thg 2, 2013 bởi công trình cây [ đã cập nhật 14:06, 1 thg 12, 2014 ]

1. Trồng cây ở trường học
Do đặc điểm ở các trường học người đông, trẻ em đang tuổi nghịch ngợm, ưa leo trèo, vì vậy cây
trồng ở đây ngoài các mục tiêu chung như tạo bóng mát, tạo không khí mát mẻ, trong lành… còn
cần quan tâm tới vấn đề chọn loài cây trồng phù hợp.
Không nên chọn cây ăn quả để trồng, không trồng các cây gỗ xấu, thân cành dễ bị gãy thất thường
như sà cừ…
Không chọn cây có hoa quả hấp dẫn ruồi nhặng, sâu bọ như bàng, đa, si,…
Cây trồng đa dạng về chủng loài càng tốt và nên trồng có trật tự khoa học, có các bảng ghi tên cây


(cả tên la tinh càng tốt), ngày trồng, xuất xứ… để học sinh học tập, nghiên cứu dễ dàng và hứng thú
hơn.
Cách bố trí vừa đẹp, vừa tiện lợi cho sinh hoạt của học sinh. Thường trồng theo hàng lối ngay thẳng
và có khoảng cách đều nhau. Tùy theo diện tích dành cho cây xanh để bố trí thành khu vườn sưu tập
hay bố trí xen trong các khu lớp học, quanh trường, trong sân trường… Tùy lứa tuổi học sinh mà
quy hoạch cây trồng hợp lí.

Các cây nên chọn trồng nhiều như phượng vĩ, muồng hoa vàng, bằng lăng…
2. Trồng cây ở bệnh viện
Bệnh viện là nơi cần yên tĩnh, mát mẻ và vệ sinh, vì vậy vai trò cây xanh công trình ở đây rất cần
thiết.
Số lượng cây càng nhiều thì hiệu quả càng cao, tạo điều kiện nghỉ ngơi tốt, tạo quang cảnh dễ chịu,
vui mắt cho bệnh nhân, tăng lượng không khí sạch (nhờ trồng nhiều cây kháng vi khuẩn) và giàu
oxi.
Diện tích ở đây thường tính theo giường bệnh. Tùy điều kiện mỗi nơi nhưng thường 2 - 5 m2 cho
mỗi giường bệnh. Tỉ lệ này càng cao càng tốt.
Quanh bệnh viện nên trồng vành đai cây xanh 3 - 4 hàng cây để cách ly với môi trường xung quanh.
Trong mỗi khu của bệnh viện cũng nên bố trí trồng nhiều cây bóng mát trên các đường đi, các bồn
hoa nhỏ cho bệnh nhân nghỉ ngơi, dạo mát, nhưng cũng tránh che khuất hết ánh sáng mặt trời, tránh
tạo không khí ẩm thấp.
Quanh các nhà xác, nhà vệ sinh cần trồng cây dầy để che khuất và lá cây ở đây sẽ có tác dụng
chống nhiễm bẩn, bảo vệ môi trường. Các đường thoát nước thải cần có các cây bụi thấp che khuất
và hấp thụ bớt các hơi độc.
Tiêu chuẩn chung chọn cây xanh đô thị trồng khu vực này là:
- Cây có bộ lá phát tán hương thơm, có khả năng diệt khuẩn như long não, thông, bạch đàn…
- Cây có hoa đẹp: muồng hoa đào, bằng lăng…
- Cây hoa lưu niên: nhài, kim ngân…
Kỹ thuật trồng cây
đăng 06:24, 25 thg 2, 2013 bởi công trình cây [ đã cập nhật 14:07, 1 thg 12, 2014 ]

Cây xanh thành phố có thể được trồng theo nhiều phương pháp khác nhau tùy theo kích thước của
vật liệu trồng và khả năng đầu tư trồng cây. Phương pháp trồng cây đánh thành bầu lớn là phương
pháp phổ biến nhất để trồng cây trong thành phố. Bầu đất có thể là bầu đất trần hay được bó lại
bằng nhiều loại vật liệu khác nhau như plastic, vải… Phương pháp trồng cây rễ trần đạt kết qủa nếu
rễ cây được sử lý bằng các kĩ thuật như hồ rễ, giâm rễ, tẩm các chất kích thích ra rễ… Ngoài ra còn
cần chọn đúng thời vụ trồng và thu ngắn thời gian bứng cây và trồng cây ra địa điểm cần trồng.
Phương pháp trồng cây tạo trong bầu sẵn chỉ áp dụng cho các loài cây có tiêu chuẩn cây con đem

trồng nhỏ. Điều lưu ý là rễ cây không được quấn tròn trong bầu tạo sẵn, nên cắt tỉa rễ các cây này
hay thay bầu để sửa hình dạng rễ lại.
1. Bứng cây
Trước khi bứng chọn cây đúng tiêu chuẩn về chất lượng, chiều cao và không bị sâu bệnh. Sau đó


lựa chọn kích cỡ bầu phù hợp với cây cần bứng, điều này tùy thuộc vào tuổi cây, gióng cây. Bầu
nhỏ tiện vận chuyển nhưng bộ rễ lại bị cắt quá nhiều, rễ cái bị cắt quá cao, cây khó sống hoặc lâu
phục hồi. Bầu lớn dễ bể, phí tổn cho vận chuyển, bốc hạ cao. Vì vậy chọn kích thước bầu cần được
cân nhắc kĩ. Tùy theo chiều cao và giống cây mà chọn kích thước bầu thích hợp.
Cây cao trên 3 m:
Đường kính bầu phía trên độ 0,3 – 0,4 m, phía dưới 0,2 –0,3 m, chiều cao bầu khoảng 0,4 – 0,5 m.
Đối với những cây khó sống khi bứng bầu phải lớn hơn như long não, muồng vàng nhạt, ngọc lan…
Trường hợp cần bứng bầu nhỏ có thể làm theo cách sau: Moi hết rễ càng nhiều rễ, càng dài càng tốt,
nhất là rễ cái. Những rễ này được quấn lại xung quanh bầu để khỏi bị gãy hoặc bị sây sát trong lúc
vận chuyển. Sau khi đào xong chưa vội nhắc bầu lên mặt đất mà phải dùng dây ràng buộc bầu theo
kiểu mắt cáo để khỏi bể. Dùng dao tốt cắt những rễ bị giập.
Đối với những cây bứng rễ trần (không bầu) thì cần đào nhiều rễ ngang và rễ cái càng dài càng tốt,
tốt nhất là đào được hết rễ cái. Cách đào tốt là cho nước ngập vườn hay hố cần đào cây, sau 4 – 6
ngày, đất ẩm, mềm sẽ dễ dàng đào cây lên. Lưu ý khi đào khỏi hố, rễ cây rất dễ bị khô, bong, se mặt
ngoài do vậy nên nhúng rễ vào hỗn hợp gồm 3 phần bùn lỏng, một phần phân trâu, bò tươi.
Trước hoặc sau khi bứng, cần cắt bớt 50 – 70% tổng số lá của cây để hạn chế sự phát tán hơi nước.
Bứng xong, nếu chưa trồng ngay thì cần che đậy kĩ tránh nắng, gío làm lá héo nhanh. Bứng cây
ngày nào nên trồng ngay ngày đó, không nên để qua ngày sau.
Khi vận chuyển cây bằng xe hơi hoặc xe bò cần lót dưới sàn xe một lớp chất xốp dày rơm hoặc cỏ
khô, bảo đảm khi đi không làm bể bầu đất. Khi vận chuyển lên xuống không cầm cổ cây mà phải
bưng từng bầu cây đặt lên xe hoặc xuống đất nhẹ nhàng.
Cây cao 4 – 5 m:
Trồng cây xanh đô thị, nhất là cây trồng vỉa hè, trường học, nhà máy…thường bứng cây cao 4 – 5
m, vì vậy việc trồng sẽ gặp khó khăn, cần đảm bảo đúng kĩ thuật. Thông thường đường kính bầu ở

cổ rễ là 0,7 – 0,8 m, đường kính đáy bầu là 0,5 – 0,6 m, chiều cao bầu 0,6 – 0,8 m, như vậy toàn bộ
bầu và cây nặng tới 600 – 1000 kg hay hơn tùy loại cây vì vậy phải dùng xe cần cẩu hoặc palăng để
bốc cây lên xe và trồng xuống hố. Ở đây do bầu khá lớn, dễ bị bể, vì vậy người ta thường đóng
khung lắp ráp bằng sắt hoặc bằng gỗ để tiện bốc xếp, vận chuyển. Sau khi đặt cây xuống hố, tháo
khung ra và đem sử dụng cho việc trồng cây khác.
Đối với một số cây khó trồng, tỷ lệ sống thấp
Sau khi trồng, thường mất một thời gian lâu cây mới hồi phục, vì thế trước khi bứng nên đào rãnh
xung quanh gốc và bón phân một thời gian để cây phát triển những rễ mới. Phương pháp này gọi là
“làm sẹo rễ”. Cách làm như sau:
Nếu cây cao khoảng 6 m đào hào lần đầu nửa vòng hay 1/3 quanh gốc cây, rộng 0,3 – 0,4 m, sâu 0,7
– 0,8 m. Hào cách gốc cây 0,5 – 0,6 m. Bón phân mục trộn với đất, lấp đầy hào, và tưới nước. Hai
tuần sau đào nửa vòng còn lại, cũng bón phân, tưới nước như vây. Độ 10 – 15 ngày mới đào để
bứng cây, trước khi bứng cắt bớt 50 – 60% tổng số lá của cây.
Đối với cây tương đối dễ trồng, chỉ cần đào một nửa và bón phân, sau 2 tuần là bứng cây đem trồng
được.
Mục đích làm sẹo giúp những rễ bị chặt có thời gian hồi phục sức, sau khi trồng những rễ này có thể
sớm phát huy chức năng hút dinh dưỡng cho cây.


2. Đào hố
Đào hố đúng quy cách, đúng kĩ thuật, đúng vị trí, không những góp phần quyết định sức sống của
cây, mà còn đề phòng phải bứng lên trồng lại.
Khoảng cách trồng tuỳ thuộc nơi trồng như ở vỉa hè phải có khoảng cách cần thiết tới các công trình
xây dựng, nhà ở, mặt đường…Trường hợp gặp các chướng ngại như cột điện chỗ ra vào nhà phải xê
xích cho thích hợp. Kiểm tra kĩ trước khi đào hố. Kích thước hố tùy thuộc kích thước bầu đất. Khi
đào lưu ý để lớp đất mặt một bên, lớp đất dưới một bên, khi trồng cho lớp đất mặt màu mỡ xuống
trước sát rễ cây, lớp dưới ít màu mỡ cho lên trên. Nhặt sạch gạch, đá lẫn trong đất trồng. Ở các vỉa
hè đường phố đào hố xong nên trồng ngay đề phòng tai nạn, hoặc nếu không trồng ngay nước có thể
tập trung tới làm ngập hố trồng, sẽ mất công múc nước đi khi trồng. Khi đào lưu ý nếu gặp một dấu
hiệu nghi ngờ như gặp một lớp cát hay mạng lưới sắt thì phải dừng lại để giải quyết vì thường đó là

những báo hiệu có công trình ngầm, đề phòng nguy hiểm xảy ra.
3. Trồng cây
Trồng là khâu quan trọng cần phải làm đúng kĩ thuật để đạt tỷ lệ sống cao, giúp cây hồi sức nhanh,
phát triển tốt. Tùy địa điểm trồng cây cao hay thấp có thể bị ngập nước mà đặt bầu cây thích hợp.
Chỗ đất cao, đặt bầu thấp hơn mặt đất 10 – 20 cm để lấp đất dần trong quá trình chăm sóc.
Chỗ đất thấp thường đặt bầu cây ngang mặt đất, nhưng nếu tại đó có mực nước ngầm cao thì cần đặt
bầu cây nổi lên khỏi mặt đất, mức độ nổi tùy thuộc mực nước ngầm cao hay thấp. Cách trồng này
còn gọi cách trồng treo. Trồng như vậy sẽ giúp hệ rễ cây không bị ngâm trong nước gây vàng uá lá
và chết. Tuy nhiên trồng treo có nhược điểm là cây không vững khi có gío bão. Vì vậy cần có các
cọc chống đỡ cho cây Sau khi đặt cây xong phải kiểm tra lại xem thẳng hàng hay chưa mới lấp đất
lên, nhất là khi trồng cây vỉa hè. Lấp đất cũng tuần tự, khi được nửa hố, dừng lại để nện chặt, tưới
đẫm, sau đó thêm đất cho đầy nện chặt và tưới nước. Cách làm này giúp nước thấm đều khắp bầu
cây. Lên bờ đất nhỏ để giữ nước trong thời gian đầu. Mỗi cây có khoảng 3 cọc để chống đỡ cho cây
không bị xiêu vẹo.
Sau ngày trồng, tùy điều kiện hoặc thời tiết hàng ngày tưới nước, hoặc vài ngày tưới một lần trong 3
tháng đầu, 3 tháng tiếp số lần tưới trong tuần có thể giảm đi. Đồng thời với việc tưới nước cần xới
đất, làm cỏ khoảng tháng một lần.
Tuy nhiên hiện nay vấn đề dành không gian sinh trưởng cho rễ cây trồng trên các vỉa hè, tại các khu
vực có bê tông hóa vẫn chưa được giải quyết tốt. Nhiều chỗ các phần không gian quanh gốc cây đã
bê tông hóa hầu hết. Nhất là trong nhiều trường hợp người ta muốn trồng nhiều cây thành khóm trên
một diện tích hẹp để tạo cảnh quan thì hầu như không còn chỗ cho rễ cây sinh trưởng (hình 5.21).
Theo Nina Bassuk, giám đốc Viện Làm vườn Đô thị tại ĐH Cornell (Mỹ) thì: ''Cách chúng ta trải
nhựa và lát vỉa hè trái ngược với cách chúng ta muốn cây phát triển''. Bassuk và cộng sự đã tạo ra
một hỗn hợp công nghệ cao gồm sỏi, chất gien và đất tơi, với hy vọng sẽ xóa nhòa sự mâu thuẫn
giữa cây và mặt đường. Hỗn hợp trên, được gọi là đất cấu trúc, giải quyết được câu hỏi hắc búa của
các nhà quy hoạch đô thị trong nhiều năm qua: Mặt đường cần loại đất cực rắn để chịu sức nặng của
xe cộ. Tuy nhiên, rễ cây cần chỗ để thở và sinh trưởng. Hiện cây xanh đô thị thường được trồng
trong một chiếc hố trên vỉa hè. Hố đủ lớn để cây non bén rễ vào trong đất song rễ trưởng thành
chẳng có chỗ nào để phát triển. Sử dụng đất cấu trúc sẽ cung cấp cho các nhà quy hoạch đô thị một
bề mặt rắn như đá để phủ nhựa đường song vẫn dành nhiều chỗ để rễ cây đang sinh trưởng vươn xa.

Đất cấu trúc được tạo nên từ một loại sỏi có cạnh sắc, giống như băng bị nghiền nát. Khi bị nén, mặt
đường rất cứng và đủ mạnh để máy bay đáp xuống. Tuy nhiên, có vô số không gian rộng giữa


những viên sỏi dành cho đất tơi. Sử dụng một chất gen gắn kết đất tơi với sỏi trong tiến trình trộn,
làm cho đất tơi lấp đầy các lỗ sỏi. Rễ sẽ đi theo những lỗ này để tỏa khắp mặt đất và có thể sinh
trưởng mạnh. Hỗn hợp cứng và đặc này cho phép con người trải thảm nhựa hoặc bê tông bên trên
nó.
Đất cấu trúc được sản xuất vào giữa những năm 1990, hiện nay nhiều nhà phát triển đô thị tại Mỹ,
Canada và Puerto Rico đã sử dụng nó. Các hỗn hợp tương tự cũng được sử dụng tại châu Âu. Các
nhà nghiên cứu cho rằng nên đặt đất cấu trúc tới độ sâu ít nhất là 1 m và cần 17 m3 cho một cây
xanh (Minh Sơn, 2004).
Phân loại, phát triển cây hoa- kiểng
đăng 06:23, 25 thg 2, 2013 bởi công trình cây [ đã cập nhật 14:08, 1 thg 12, 2014 ]

Trong nhóm cây hoa - kiểng, người ta thường chia các nhóm dựa vào mục đích sử dụng, đặc điểm
gây trồng, trang trí, hay đặc điểm sinh trưởng của cây (trồng trong nhà, trong hồ nước). Cũng có khi
người ta chia ra nhóm cây nhỏ hơn do mức độ sử dụng và do điểm riêng biệt của nhóm như nhóm
hoa phong lan, hoa hồng…. Nhìn chung thường chia các nhóm như sau:
a. Kiểng bonsai
b. Cây hoa ngắn ngày
c. Cây hàng rào, dây leo
d. Nhóm cây phong lan
e. Nhóm cây trang trí trong nhà
f. Nhóm cây trang trí ven và trong hồ nước
Hoặc theo các cách phân loại khác như
1. Cây trưng chậu (trên bàn, phòng, vườn)
2. Nhóm cây trồng không chậu: cây hàng rào, bông giấy
3. Nhóm cây có hoa cắt cành
4. Nhóm cây có hoa nở theo mùa: mai, cúc

5. Nhóm có nhu cầu ánh sáng khác nhau
6. Phân theo màu sắc hoa: tối, sáng, tương phản
7. Phân theo sự phân bố địa lý, nhiệt độ
- Ôn đới
- Nhiệt đới
- Bán ôn đới
8. Phân theo kiểu sống: kí sinh, phụ sinh, hay sống trong đất
9. Phân theo các đặc điểm khác như: kích thước cây, hoa, công dụng…


Nguyên lý chung về mô hình quản
lý cây xanh trồng đô thị
đăng 21:17, 25 thg 2, 2013 bởi công trình cây [ đã cập nhật 04:59, 2 thg 12, 2014 ]

Cây xanh đường phố là tài sản công cộng, thuộc quyền quản lý của nhà nước, sử dụng ngân sách
nhà nước để thực hiện công tác này. Do vậy việc lập kế hoạch hàng năm là rất cần thiết.
Tiến trình quản lý bao gồm việc kiểm kê những phần đã có, xây dựng các mục tiêu cần đạt, xác định
các chương trình, bước thực hiện cũng như kế hoạch, phương pháp đánh giá định kỳ kế hoạch quản
lý đó.
Kế hoạch quản lý diễn ra theo hai mức thời gian: ngắn hạn và dài hạn.
Kế hoạch ngắn hạn bao gồm các bước thực hiện, xây dựng định mức công việc trồng, chăm sóc, bảo
duỡng cây, kiểm kê, kiểm tra…, cũng như phân công nhân lực, lịch công tác sẽ được thực hiện từng
ngày.
Kế hoạch dài hạn: Với mục đích xắp xếp thứ tự ưu tiên và tổ chức thực hiện từng buớc công việc
quản lý.
1. Mục tiêu quản lý cây xanh trồng đô thị
Để thích ứng và phù hợp với kế hoạch sẽ có các mục tiêu ngắn hạn (theo hàng năm, 3 – 5 năm),
mục tiêu dài hạn (trên 5 năm) và có mục tiêu chung của toàn bộ kế hoạch được xây dựng.
2. Nguyên tắc chung quản lý cây xanh đô thị
(dẫn theo Thông tư của Bộ Xây dựng ngày 20 tháng 12 năm 2005)

2.1. Tất cả các loại cây xanh đô thị đều được xác định chủ sở hữu, do tổ chức, cá nhân quản lý hoặc
được giao quản lý.
2.2. Việc trồng cây công trình đô thị phải thực hiện theo quy hoạch xây dựng đô thị hoặc quy hoạch
chuyên ngành cây xanh được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
2.3. Việc lựa chọn chủng loại và trồng cây xanh phải mang bản sắc địa phương, phù hợp với điều
kiện khí hậu và thổ nhưỡng, đồng thời đảm bảo đáp ứng các yêu cầu về sử dụng, mỹ quan, an toàn
giao thông và vệ sinh môi trường đô thị; hạn chế làm hư hỏng các công trình cơ sở hạ tầng trên mặt
đất, dưới mặt đất cũng như trên không.
2.4. Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm quản lý, bảo vệ, chăm sóc cây xanh trước mặt nhà, trong
khuôn viên; đồng thời thông báo kịp thời cho các cơ quan chức năng quản lý để giải quyết khi phát
hiện cây nguy hiểm và các hành vi gây ảnh hưởng đến sự phát triển của cây xanh đô thị.
3. Kế hoạch phát triển và quản lý cây xanh đô thị
3.1. Kiểm kê hiện trạng
Nhằm + Đánh giá hiện trạng cây xanh: số lượng, chất lượng, diện tích, tình hình sâu bệnh hại, hiệu
qủa về môi sinh, văn hoá, kinh tế…
+ Tìm hiểu quan điểm, ý thức, thái độ của người dân hay các nhà chức trách đối với việc phát triển
mảng xanh tại khu vực đó (khu công cộng và khuôn viên riêng).


3.2. Xây dựng kế hoạch phát triển và quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý và xây dựng cụ thể
cho mỗi kế hoạch ngắn hạn, dài hạn, cho từng đơn vị, dạng quản lý như quần thể cây đường phố,
công viên, công sở, khuôn viên nhà dân
3.3. Thiết lập các giải pháp thực hiện gồm
+ Các giải pháp về tổ chức quản lý
+ Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách
Nhằm khuyến khích các tổ chức, người dân cùng tham gia qủan lý, đầu tư, phát triển mảng xanh
trong độ thị.
+ Nhóm giải pháp về quản lý và phát triển quỹ đất dành cho cây xanh
Để thực hiện tốt cần có các quy định được ban hành cụ thể, có lực lượng, kinh phí và cơ chế kiểm
tra.

+ Nhóm giải pháp về chuyên môn nghiệp vụ
Như xây dựng các kế hoạch nhằm phát triển bộ sưu tập cây hoa kiểng, quản lý, khai thác các công
viên hiệu qủa như tổ chức các hình thức họat động văn hóa, hội thi hoa xuân, sinh họat thể thao, văn
hóa…
Đề xuất các biện pháp phòng ngừa và chữa trị sâu bệnh hại cây xanh, cây kiểng, cải tạo những cây
lưu niên có nguy cơ gãy đổ.
+ Nhóm giải pháp về mô hình họat động và phát triển
Mô hình họat động nên đa dạng, phong phú về hình thức họat động và đầu tư . Cho phép tư nhân
tham gia vào các dự án phát triển mảng xanh đô thị theo đúng quy định hiện hành của Nhà nước.
3.4. Giám sát đánh giá từng giai đoạn thực hiện kế hoạch nhằm quản lý, chỉnh sửa, bổ sung kịp thời
Ví dụ bản kế hoạch cây xanh trên các tuyến đường đô thị.
_ Nhà quản lý cần xác định trước tiên mục tiêu của kế hoạch.
_ Bản đánh giá hiện trạng cây xanh cụ thể cho từng khu vực theo các cách phân loại thuận lợi cho
công tác quản lý
_ Kế hoạch phát triển tổng thể hệ thống cây xanh đường phố: Thiết lập quần thể cây trồng, số lượng
loài, tiêu chuẩn cây trồng
_ Thiết lập các kế hoạch cải tạo hiện trạng cây xanh hoặc xây dựng bản thiết kế trồng mới phù hợp,
hiệu qủa nhằm đáp ứng mục tiêu chung của bản quy hoạch tổng thể.
_ Phân tích các yếu tố tham gia hay tác động trong tiến trình xây dựng và thực hiện kế hoạch
Chẳng hạn các yếu tố địa lý, diện tích sẽ chi phối tới thiết kế các mảng cây trồng, chọn loài cây.
Hay yếu tố kinh tế sẽ được phân tích để lưu ý tới việc xây dựng từng bước kế hoạch cũng như các
giải pháp thực hiện trong qúa trình lựa chọn loài cây trồng, chi phí bảo dưỡng, cắt tỉa, phòng chống
sâu bệnh cho cây…
Các yếu tố văn hoá, xã hội cũng được đánh giá, phân tích để bản kế hoạch có thể thực hiện được
nhằm đạt mục tiêu đã xây dựng.


3.5 Phản hồi
Những ý kiến phản hồi được thu thập từ cộng đồng dân cư, khách hàng (các khu vực nhà máy, khu
công nghiệp, công sở…), từ những tổ chức, nhà đầu tư, cơ quan chức năng liên quan khác như cơ

quan quản lý hệ thống cầu đường, cấp thóat nước, điện lực… từ những ý kiến phản hồi nhà chuyên
môn điều chỉnh kế hoạch, kỹ thuật quản lý cho phù hợp hơn với nhu cầu phát triển mảng xanh cho
từng khu vực và tổng thể chung trong đô thị.
Khái niệm về kiến trúc cảnh quan
đăng 21:16, 25 thg 2, 2013 bởi công trình cây [ đã cập nhật 05:00, 2 thg 12, 2014 ]

Như đã đề cập ở các bài trên, cảnh quan là
- Một bức tranh diễn tả một cảnh vật của phong cảnh tự nhiên như đồng cỏ, cánh rừng, núi non…
- Một địa dạng của một vùng
- Một khung cảnh tự nhiên được quan sát bằng mắt
Còn kiến trúc cảnh quan là sự sắp đặt và mô phỏng phong cảnh tự nhiên trên một vùng đất để tạo ra
các hiệu ứng mỹ quan.
Theo Hàn Tất Ngạn (1999) thì kiến trúc cảnh quan là một môn khoa học tổng hợp, liên quan đến
nhiều lĩnh vực, nhiều chuyên ngành khác nhau như quy hoạch không gian, quy hoạch hạ tầng kỹ
thuật, kiến trúc công trình, điêu khắc, hội họa, … nhằm giải quyết những vấn đề tổ chức môi trường
nghỉ ngơi giải trí, thiết lập và cải thiện môi sinh, bảo vệ môi trường, tổ chức nghệ thuật kiến trúc.
Kiến trúc cảnh quan bao gồm thành phần tự nhiên (địa hình, mặt nước, cây xanh, con nước và động
vật, không trung) và thành phần nhân tạo (kiến trúc công trình, giao thông, trang thiết bị hoàn thiện
kỹ thuật, tranh tượng hoành tráng trang trí). Mối tương quan tỷ lệ về thành phần cùng quan hệ tương
hỗ giữa hai thành phần này luôn biến đổi theo thời gian, điều này làm cho cảnh quan kiến trúc luôn
vận động và phát triển.
Tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan:
a. Tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan là một hoạt động định hướng của con người nhằm mục
đích tạo dựng, tổ hợp và liên kết các không gian chức năng trên cơ sở tạo ra sự cân bằng và mối
quan hệ tổng hòa của hai nhóm thành phần tự nhiên và nhân tạo của kiến trúc cảnh quan. Trong đó
thiên nhiên là nền của kiến trúc cảnh quan (Lưu Trọng Hải, 2006).
b. Những nhân tố chính ảnh hưởng đến tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan bao gồm:
- Các thành phần của kiến trúc cảnh quan: với thành phần tự nhiên và thành phần nhân tạo.
- Các yêu cầu của không gian kiến trúc cảnh quan: yêu cầu sử dụng, yêu cầu thẩm mỹ, yêu cầu bền
vững, yêu cầu kinh tế.

- Quy luật tổ chức không gian:
+ Cơ sở bố cục cảnh quan: Giá trị thẩm mỹ của không gian kiến trúc cảnh quan được con người
cảm thụ thông qua các giác quan, trong đó cảm thụ bằng thị giác là chủ yếu. Về mặt thị giác, ba yếu
tố có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả cảm nhận và là cơ sở cho bố cục cảnh quan gồm có: điểm nhìn,
tầm nhìn và góc nhìn.


+ Tạo hình không gian: Tất cả các không gian tự nhiên và không gian nhân tạo đều được tạo thành
từ ba yếu tố cơ bản là: mặt nền, mặt trần và mặt đứng ngăn không gian. Tuỳ theo thành phần về ba
yếu tố trên, không gian nói chung có thể chia thành ba loại chính sau: không gian đóng, không gian
mở và không gian nửa đóng nửa mở. Tạo cho không gian một hình dáng phù hợp, quy mô, tính chất
hợp lý với chức năng sử dụng và nhu cầu thẩm mỹ của con người là vấn đề quan trọng trong việc tổ
chức không gian kiến trúc cảnh quan.
+ Các quy luật bố cục cơ bản như: quy luật về đường trục bố cục, quy luật bố cục đối xứng, quy luật
bố cục không đối xứng, quy luật tỷ lệ không gian, quy luật về sự đồng nhất và sự tương tự, quy luật
về sự tương phản, quy luật sáng tối và quy luật về màu sắc.
Với yêu cầu và mục tiêu của môn học, tài liệu chỉ hạn chế xem xét một số vấn đề liên quan tới thiết
kế hoa viên.
Thiết kế hoa viên
đăng 21:15, 25 thg 2, 2013 bởi công trình cây [ đã cập nhật 15:58, 7 thg 12, 2014 ]

Cảnh quan - hoa viên là một tổng thể các cảnh vật bên ngoài công trình xây dựng.
Nó có thể là một hoa viên nơi công cộng (công viên) hay hoa viên trong nhà tư nhân (tư viên).
Trang trí hoa viên là một nghệ thuật đòi hỏi nhiều kỹ năng, sự khéo léo và óc thẩm mỹ của nhà thiết
kế. Bởi vì trang trí hoa viên không chỉ đáp ứng tiêu chí đẹp mà còn cần đạt và thoả mãn được chức
năng, nhiệm vụ của hoa viên đó. Mỗi thầnh phần, khu vực của một hoa viên lại có những nhiệm vụ
riêng. Ví dụ thiết kế cây xanh đô thị vừa đảm bảo tạo bóng mát, vừa cần quan tâm tới các yếu tố
thẩm mỹ, sức khoẻ như cây có hoa đẹp, có mùi hương sảng khoái.
Những kiến thức cần thiết của nhà thiết kế hoa viên
1 Kiến thức về trắc địa

Cảnh quan được tạo lập trên mặt đất, liên quan đến các công trình xây dựng, các địa vật, các vấn đề
thoát thuỷ của công trình. Mặt khác, nhiều hoa viên cũng cần được tạo lập, mô phỏng thêm các địa
dạng như đồi gò, thác nước, khe suối…vì vậy nhà thiết kế cần biết các phương pháp đo tính, xử lý,
vẽ và đọc các bản đồ địa dạng, các đường đồng mức, tọa độ địa lý.
2. Kiến thức về thực vật liên quan đến cây hoa kiểng
Thực vật là vật liệu thiết yếu để tạo cảnh quan của hoa viên. Nhà thiết kế cần hiểu biết về chủng loài
cây với các đặc điểm về thực vật học như hình thái, màu sắc hoa, lá, hình dạng tán lá, tốc độ sinh
trưởng, mùa ra hoa, trái, mùa rụng lá…
Việc hiểu biết về tăng trưởng giúp nhà thiết kế dự đoán được viễn cảnh sau vài năm thi công hoa
viên. Hay sẽ tạo nên sự phối kết màu hay nối tiếp mùa ra hoa phù hợp khi biết mùa và màu sắc hoa.
3. Kiến thức về vật liệu kiến trúc – xây dựng
Tuy không phải là vật liệu chủ yếu, nhưng các vật liệu kiến trúc xây dựng cũng cần được phối trí
hài hoà với cây trồng và cả phù hợp với các mảng kiến trúc cơ bản xung quanh. Đó là các vật liệu
được sử dụng làm sàn, lót đường đi, lát sân, làm bờ tường chắn, làm giàn che… Nhà thiết kế cần
biết hoặc tham khảo không chỉ về các đặc tính, cấu trúc, màu sắc mà còn cả giá cả của vật liệu sẽ
chọn trong thiết kế.


3. Kiến thức về khí tượng học
Nhà thiết kế cần có kiến thức về thời tiết, mùa vụ, về hướng gió, lượng mưa… để lựa chọn cách bố
trí cây xanh cho mỗi khu vực trong hoa viên phù hợp nhằm đạt được hiệu qủa về môi sinh. Đồng
thời trên cơ sở những hiểu biết về khí tượng nhà thiết kế sẽ có những lưu ý khi lựa chọn loài cây,
loại vật liệu xây dựng cũng như đề xuất những giải pháp kỹ thuật để xử lý khi trồng và bảo dưỡng
cây phù hợp.
Người làm thiết kế hoa viên
Với những yêu cầu về kiến thức như vậy, để thiết kế một hoa viên tuỳ theo mức độ phức tạp, diện
tích, chức năng của nó mà có thể có sự kết hợp của một hay nhiều nhóm tác giả. Thường có 4 nhóm
chính: kiến trúc sư phong cảnh; nhà thiết kế cảnh quan; chuyên gia dịch vụ hoa cảnh; chủ nhân công
trình
1. Kiến trúc sư phong cảnh (Landscape architect)

Là nhà kiến trúc cảnh quan. Kiến trúc sư phong cảnh nghiên cứu việc sử dụng đất, các vật liệu xây
dựng và tạo vẻ mỹ quan cho công trình của mình.
Kiến trúc sư phong cảnh thường được đào tạo chính thức từ các trường mỹ thuật, kiến trúc hay tích
lũy kiến thức qua nhiều năm trong lĩnh vực thiết kế.
2. Nhà thiết kế hoa viên (Landscape designer)
Là những người quen thuộc với các nguyên lý thiết kế cơ bản, các kỹ thuật cây trồng và phương
pháp xây dựng hoa viên. Là người có kiến thức cơ bản về cây xanh - hoa kiểng.
Nhà thiết kế hoa viên thường được đào tạo về kỹ thuật trồng cây (lâm nghiệp, cây cảnh).
Vì vậy nên có sự phối hợp của nhà kiến trúc sư phong cảnh và thiết kế hoa viên khi thiết kế, xây
dựng các hoa viên, thiết kế ngoại thất cho các công trình nhà ở, các công ty, quản lý các cơ sở sản
xuất kinh doanh hoa kiểng và các công trình độ thị.
3. Các chuyên gia dịch vụ khuyến xanh
Là những người biên soạn, tư vấn và làm công tác huấn luyện về các nguyên lý thiết kế cho các tư
nhân và người buôn bán hoa kiểng. Họ có thể là các giảng viên, các chuyên gia ở các trường, tổ
chức đào tạo có liên quan đến lĩnh vực thiết kế cảnh quan. Ở Việt Nam đội ngũ chuyên gia này hiện
nay chưa nhiều.
4. Các chủ công trình
Các chủ công trình có thể tự thiết kế hoa viên như chủ nhà, các ban quản lý công viên. Tuy nhiên
việc tự thiết kế có thể do theo cảm tính và thiếu kiến thức sẽ dẫn đến công trình thiếu thẩm mỹ,
không thể hiện đúng chức năng của các thành phần trong hoa viên. Vì vậy chủ công trình nên mời
tư vấn, tham khảo tài liệu hay qua huấn luyện.
Các nguyên lý thiết kế cảnh quan hoa viên
đăng 21:14, 25 thg 2, 2013 bởi công trình cây [ đã cập nhật 05:01, 2 thg 12, 2014 ]

Trong quá trình thiết kế bản vẽ một khu vực hoa viên, nhà thiết kế luôn luôn phải tuân theo các
nguyên lý cơ bản nhất đó là bố cục cảnh quan hoa viên, kĩ xảo tạo hình, trang trí không gian cảnh
quan hoa viên, và các quy luật bố cục chủ yếu.


Một vấn đề cần được quan tâm khi chọn loài cây và thiết kế cảnh quan cây xanh là cần tạo sự phối

hợp theo đặc điểm loài cây, màu sắc, chiều cao…và cần tuân theo những nguyên tắc trong thiết kế.
Các cơ sở của việc bố cục cảnh quan hoa viên
Mỗi một bố cục cảnh quan hoa viên có toát lên được giá trị thẩm mỹ hay không phụ thuộc vào các
giác quan của con người, chủ yếu là thị giác. Song hiệu qủa thu nhận ra sao còn phụ thuộc vào các
điều kiện nhìn, bao gồm điểm nhìn, tầm nhìn và góc nhìn.
1. Điểm nhìn
Điểm nhìn là vị trí đứng nhìn. Nếu vị trí nhìn cùng chiều với ánh sáng thì chi tiết của các vật thể
được nhìn nổi rõ. Ngược lại, khi vị trí ngược chiều ánh sáng thì chi tiết của các vật thể bị lu mờ đi,
còn đường bao vật thể nổi rõ hơn do sự tương phản của khoảng sáng bao quanh và diện tối toàn
thân của vật thể.
2. Tầm nhìn
Tầm nhìn là khoảng cách từ điểm nhìn tới tiêu điểm nhìn (vật thể được nhìn). Khoảng cách này có
mối quan hệ gắn bó với đặc tính quang học của mắt, chiều cao và ngang của vật thể và chi tiết, chất
liệu bề mặt vật thể (cấu trúc mặt ngoài).
Đặc tính quang học của mắt người bình thường cho phép nhìn rõ trong góc hình nón 28o. Với góc
này tương quan giữa khoảng cách nhìn và chiều cao, ngang của vật thể là 2 thì cho phép thu nhận
trọn vẹn toàn thể vật thể D/2L (2H). Song nếu muốn quan sát vật thể trong không gian rộng có bầu
trời, cây cỏ xung quanh, cần được nhìn dưới góc 18o, nghĩa là D/3L (3H). Như vậy, tỉ lệ D/L (H) là
tương quan quan trọng để xác định chất lượng không gian.
Nếu D/L (H) nhỏ hơn 1: tác động nội tại của các thành phần bao quanh không gian là rất mạnh mẽ,
không gian nhỏ hẹp, con người cảm thấy kín, khó thở và sợ hãi.
D/L (H) bằng 1: cảm giác có sự cân bằng tỷ lệ với con người, gây ấn tượng thân mật, gần gũi.
D/L (H) từ 1 – 2, con người vẫn còn có cảm giác cân xứng; D/L (H) > 2 thì không gian trở nên bao
la, trống chếnh, kém lực hút và mối quan hệ giữa các thành phần tạo không gian trở nên lỏng lẻo.
Song nếu L hay H có kích thước từ 150 m trở lên, để nhìn được trọn vẹn vật thể, tức D/L (H) = 2 thì
phải đứng cách xa 300 m. Ở khoảng cách này không thể nhìn thấy chi tiết, chất liệu trang trí bề mặt
vật thể. Do đó khi thiết kế cảnh quan hoa viên cần phải lưu ý đặc điểm quan trọng này.
Qua điều tra xã hội học, D có kính thước không quá 25 m là khoảng cách nhìn rõ, hợp lý và gần gũi.
Theo kinh nghiệm của các chuyên gia thiết kế cảnh quan hoa viên, cải tạo mảng cây xanh cũng cần
theo một module tương tự như bước cột trong thiết kế công trình. Module trong thiết kế cảnh quan

hợp lý là 21 – 24 m. Đây được coi là một đơn vị tiêu chuẩn trong thiết kế cảnh quan gần với tỉ lệ
của con người.
3. Góc nhìn
Góc nhìn là hướng nhìn vật thể. Mỗi một vật thể có nhiều hướng nhìn khác nhau dẫn đến sự thay
đổi tương ứng của viễn cảnh và hình dạng của các vật thể trong bố cục.
Hướng nhìn liên quan đến việc di chuyển điểm nhìn. Nếu tốc độ di chuyển nhanh, hình ảnh lưu trên
võng mạc quá ngắn chưa thể nhận rõ chi tiết bên trong vật thể. Ngược lại, tốc độ di chuyển chậm,
thời gian thu nhận lâu, nhận biết chi tiết rõ nét hơn. Do đó khi thiết kế cảnh quan cần lưu ý kênh thị


giác của tuyến đi bộ và cơ giới (Hàn Tất Ngạn, 1999).



×