Lời nói đầu:
Kinh doanh là một cuộc chiến, cạnh tranh giữa các đối thủ. Tất cả đều hướng đến mục
đích là bán được nhiều sản phẩm với giá hời nhất. Thị trường kinh tế là một trận địa
mà những đối thủ thả sức thi tài. Những ai thực sự giỏi, cung cấp dịch vụ chất lượng
tốt đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng sẽ là người chiến thắng. Việc đàm phán trong
kinh doanh sẽ giúp người bán hàng đạt được mục tiêu cụ thể và tạo sự khác biệt trong
chiến thắng – đó là chiến thắng trong đàm phán. Đàm phán giúp ký kết được hợp
đồng, mua bán với giá phù hợp, giải quyết các mâu thuẫn trong kinh doanh, giúp kết
nối doanh nghiệp và người dùng, hiểu rõ bản chất vấn đề. Trong cuộc sống, kỹ năng
đàm phán thể hiện một tầm quan trọng đặc biệt. Giải quyết những mâu thuẫn người
với người, có thể thấy rõ tầm quan trọng của đàm phán trong các cuộc chiến tranh,
giữa những phe đối lập. Liên kết các mối quan hệ để tạo nên sự cộng tác, hình thành
phát triển của xã hội….
I.
Khái niệm về đàm phán hợp đồng:
Khái niệm về đàm phán hợp đồng: Là thực hiện một hoặc nhiều cuộc đối thoại,
thương lượng giữa 2 bên hoặc nhiều bên có ý muốn quan hệ đối tác với nhau nhằm
mục đích tiến đến một thoả thuận chung đáp ứng yêu cầu cá nhân hoặc yêu cầu hợp
tác kinh doanh của các bên tham gia đàm phán.
II.
Vai trò của luật sư khi tham gia đàm phán:
Để có mỗi quan hệ làm ăn với đối tác, Hợp đồng là một sợi dây kết nối giữa hai bên.
Vai trò của Hợp đồng rất quan trọng trong quan hệ hai bên trong đó giai đoạn đàm
phán Hợp đồng sẽ quyết định sự thành bại của sự hợp tác.
Đàm phán hợp đồng là việc đối thoại, thương lượng giữa hai hay nhiều bên nhằm mục
đích đi đến một thỏa thuận chung phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc kinh doanh của các
bên tham gia đàm phán. Trong giai đoạn đàm phán, các bên chưa có một cam kết gì cụ
thể đối với nhau và thông thường họ chưa phát sinh quyền hay nghĩa vụ pháp lý nào
liên quan đến giao dịch đang đàm phán mà trong giai đoạn này các bên tìm hiểu và
bày tỏ với nhau về yêu cầu cũng như nguyện vọng của mỗi bên đối với bên kia xoay
quanh vấn đề có liên quan đến quyền lợi của các bên để đi đến một kết quả của cuộc
đàm phán là việc các bên ký kết với nhau một hợp đồng. Nói một cách khác, bắt đầu
thời điểm hợp đồng được ký kết, giữa các bên phát sinh các quyền và nghĩa vụ được
pháp luật đảm bảo thực hiện và việc không thực hiện nghĩa vụ là cơ sở của trách
nhiệm dân sự.
Việc đàm phán hợp đồng đòi hỏi nhiều năng lực khác nhau của người tham gia đàm
phán như tư chất, các quan hệ xã hội, uy tín cá nhân, sự hiểu biết, lòng tự tin, khả
năng thuyết phục, tính kiên nhẫn, biết chuẩn bị kế hoạch đàm phán và vận dụng khéo
léo các chiến thuật đàm phán, biết cách vô hiệu hóa các chiến thuật của đối phương.
Do luật sư thông thường được coi là có kỹ năng giao tiếp, truyền đạt thông tin tốt, luật
sư có thể giúp cho hai bên thương lượng có hiệu quả hơn, cuộc đàm phán diễn ra
nhanh chóng và thuận lợi, suông sẻ hơn. Vì thế, luật sư thường đứng ra trình bày vấn
đề, không chỉ những vấn đề pháp lý mà có thể cả những vấn đề mang tính thương mại
như giá cả, các điều kiện hợp đồng, giải quyết tranh chấp hợp đồng… Với vai trò là
một nhà ngoại giao, trong quá trình đàm phán, luật sư cố gắng để bảo vệ thân chủ của
mình một cách tốt nhất. Cụ thể, luật sư sẽ cố gắng đàm phán, soạn thảo hợp đồng sao
cho rõ ràng, thể hiện đúng nội dung kết quả đàm phán, không có những nội dung
chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau. Khi phát sinh những vấn đề mang tính pháp lý, luật
sư dùng kiến thức của mình để đưa ra những giải pháp phù hợp với pháp luật và bảo
vệ cho thân chủ.
Đối với mỗi điều khoản hợp đồng, đặc biệt là những điều khoản do đối tác đưa ra,
luật sư có vai trò phải giải thích rõ các rủi ro pháp lý liên quan đế quyền lợi và nghĩa
vụ của thân chủ. Trong rất nhiều trường hợp, thân chủ không lường trước được những
rủi ro này.
Khi 2 bên đã thống nhất được với nhau về một nguyên tắc cụ thể, luật sư giúp hai
bên, đặc biệt là thân chủ mình, soạn thảo ngôn từ hợp đồng diễn tả đúng, chính xác
nội dung đã được thống nhất, không để xảy ra những sơ hở hay rủi ra do ngôn từ hợp
đồng thiếu chặt chẽ.
III. Các đặc trưng cơ bản khi luật sư tham gia đàm phán hợp đồng:
- Đặc trưng cơ bản đầu tiên là giữa các bên chưa hề có sự ràng buộc bởi một quan hệ
pháp lý… bằng chứng là một bên có thể ngừng việc đàm phán và đến thỏa thuận với
một đối tác khác
- Quyền tự do định đoạt của các bên rộng lớn hơn
- Quá trình đàm phán thường tiến hành theo một quy trình: giải quyết các điều kiện cơ
bản trước – các điều kiện thứ yếu sau; các bên tìm cách thuyết phục đối phương rằng
đề nghị của mình đưa ra là mức tối thiểu mà mình có thể thực hiện và quyền lợi của
đối phương cũng vẫn được đảm bảo nếu chấp nhận đề nghị của mình; quá trình đàm
phán là quá trình nhượng bộ trên nguyên tắc có đi có lại và do đó, vấn đề thời gian và
mức độ nhượng bộ cần được cân nhắc một cách cẩn trọng.
IV.
Các công việc luật sư phải làm khi tham gia vào đàm phán hợp đồng
Khác hẳn với việc soản thảo hay tư vấn soạn thảo hợp đồng, việc đàm phán đòi hỏi
luật sư phải có khả năng ứng biến và xử lý tình huống nhanh nhạy ngay trên bàn đàm
phán thay vì có thowifgian đọc lại các quy định pháp luật và tiền lệ để kiểm tra. Về cơ
bản, luật sư cần dung các kiến thức cơ bản và kỹ năng đàm phán để buộc đối tác đồng
ý với các yêu cầu của khách hàng mình đưa ra và các yêu cầu đó sẽ được ghi nhận
trong hợp đồng. Để làm được điều này, luật sư cần có các bước chuẩn bị kỹ lưỡng
trước khi thực hiện đàm phán. Việc đàm phán giữa các bên thường kéo dài từ khi chưa
có hợp đồng đến khi hợp đồng đã được soạn thảo . Mục đích của giai đoạn chuẩn bị là
để luật sư hiểu được giao dịch và thoả thuận giữa các bên, hiểu được các vấn đề pháp
lý liên quan đến giao dịch và trả lời cho các vấn đề đó, biết cái mình cần và cái mà đối
tác cần khi đàm phán, hiểu luật sư đối phương và chuẩn bị tâm lý cho mình.
Các công việc mà luật sư cần phải chuẩn bị bao gồm các công việc sau đây:
1. Tìm hiểu các vấn đề pháp lý liên quan đến giao dịch:
Khi đàm phán, các bên hoặc luật sư của các bên sẽ trao đổi về các vấn đề pháp lý phát
sinh từ mong muốn thương mại của các bên và cách thức giải quyết các vấn đề theo
hướng có lợi cho phía mình. Các vấn đề pháp lý có thể liên quan đến tính hợp pháp
của giao dịch, các chấp thuận cần thiết từ các cơ quan nhà nước, nội bộ các bên hoặc
bên thứ ba, khả năng thi hành các điều khoản cụ thể trong hợp đồng,… Luật sư cần
hiểu rõ các vấn đề pháp lý phát sinh từ giao dịch để có thể xuất phát các điều khoản
phù hợp trong hợp đồng và có lợi cho khách hàng của mình. Nếu luật sư không thể
xác định hết các vấn đề pháp lý liên quan đến giao dịch thì rủi ro là phía đối tác có thể
đưa ra các điều khoản chỉ phục vụ cho lợi ích của mình và có thể gây thiệt hại cho
khách hàng sau khi ký hợp đồng.
2. Tìm hiểu về thông tin đối tác khách hàng:
Một điều quan trọng khi đàm phán là luật su cần biết rõ mình và đối phương muốn đạt
được mục đích gì thông qua cuộc đàm phán. Bước này có thể được gọi là “biết người
biết ta”. Luật sư cần biết cái mình cần trong cuộc đàm phán để chuẩn bị các lỹ lẽ tranh
luận phù hợp nhằm đạt được mục đích đó. Ngoài ra, luật sư cũng cần biết phía đối tác
cần gì để khai thác các điểm yếu đó thành lợi thế của mình khi đàm phán. Luật sư có
thể biết được mục đích đàm phán của đối tác thông qua các thông tin do khách hàng
cung cấp hoặc các đề xuất trong dự thảo hợp đồng mà đối tác hoặc luật sư của đối tác
đưa ra. Phía đối tác có thể trình bày rõ các mục đích của mình đối với từng điều khoản
hoặc chỉ nêu ra yêu cầu sửa đổi các điều khoản đó. Công việc của luật sư là suy luận
về mục đích của đối tác khi đưa ra các đề xuất như vậy để xác định các kỹ thuật đàm
phán cho phù hợp.
Nếu đối tác có thuê luật sư đại diện, luật sư cũng cần tìm hiểu thông tin về luật sư đối
phương và tổ chức hành nghề luật sư mà họ làm việc. Mục đích của việc tìm hiểu này
là để dự đoán khả năng đàm phán của đối tác dựa trên kinh nghiệm và lĩnh vực hành
nghề của luật sư đối phương. Nếu luật sư đối phương không có kinh nghiệm nhiều
trong tư vấn về lĩnh vực liên quan đến giao dịch, luật sư có thể lựa chọn phong cách
đàm phán canh tranh hơn để buộc đối tác đồng ý các điều khoản do mình đưa ra. Bên
cạnh các thông tin chung về luật sư đối tác, luật sư cũng nên tìm hiểu luật sư đối
phương có điểm yếu gì và có thói quen gì khi làm việc để chuẩn bị chiến lược đàm
phán phù hợp.
3. Chuẩn bị về nhân sự đàm phán của đoàn đàm phán.
Thành phần đàm phán: Vấn đề nhân sự trong đàm phán có vị trí đặc biệt quan trọng,
đòi hỏi phải có sự chuẩn bị chu đáo. Thành phần nhân sự trong đoàn đàm phán hợp
đồng ngoại thương cần hội đủ chuyên gia ở 3 lãnh vực: pháp lý, kỹ thuật và thương
mại. Sự phối hợp ăn ý, nhịp nhàng của 3 loại chuyên gia này là cơ sở rất quan trọng
trong quá trình đàm phán để đi đến ký kết một bản hợp đồng chặt chẽ, khả thi và hiệu
quả cao
4. Lựa chọn luật áp dụng, các văn bản pháp luật cần sử dụng trong quan hệ
pháp luật:
Quan hệ hợp đồng thương mại có luật chuyên ngành điều chỉnh bao gồm một số
ngành sau:
– Hợp đồng thương mại (được Luật Thương mại 2005 điều chỉnh);
– Hợp đồng kinh doanh bất động sản (được Luật Kinh doanh bất động sản 2006 điều
chỉnh);
– Hợp đồng bảo hiểm (được Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 điều chỉnh);
– Hợp đồng lao động (được Luật Lao động 2012 điều chỉnh).
Tất cả những loại hợp đồng nêu trên đều phải dựa trên cơ sở những quy định tại Bộ
luật Dân sự 2005. Điều 3 có quy định như sau:
“Điều 3. Áp dụng tập quán, quy định tương tự của pháp luật
Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thoả thuận thì có thể
áp dụng tập quán; nếu không có tập quán thì áp dụng quy định tương tự của pháp
luật. Tập quán và quy định tương tự của pháp luật không được trái với những nguyên
tắc quy định trong Bộ luật này.”
Hay trong Điều 4 Luật Thương mại quy định về áp dụng Luật Thương mại và pháp
luật có liên quan như đã dẫn ở trên có thể hiểu:
– Hợp đồng thương mại phải tuân theo pháp luật thương mại và đương nhiên phải phù
hợp với các quy định của Bộ luật Dân sự.
– Hoạt động thương mại đặc thù như kinh doanh bất động sản, kinh doanh bảo
hiểm…thì được áp dụng theo quy định của luật chuyên ngành đó.
– Nếu các luật chuyên ngành không có quy định thì lại quay về áp dụng đạo luật cơ
bản đó là Bộ luật Dân sự.
Tóm lại, áp dụng pháp luật có luật chuyên ngành điều chỉnh thì buộc phải tuân theo
các quy định của luật chuyên ngành đó. Nếu luật chuyên ngành không có quy định
hoặc quy định không rõ ràng thì có thể áp dụng các đạo luật khác có giá trị pháp lý
cao hơn luật chuyên ngành để áp dụng.
Áp dụng pháp luật trong quan hệ hợp đồng thương mại có một bên là thương nhân
Để hiểu được các quy định của pháp luật trong áp dụng pháp luật nếu có một bên là
thương nhân, trước hết cần hiểu rõ 2 ý như sau:
– Việc xác định một hợp đồng là hợp đồng Dân sự hay hợp đồng Thương mại là nhằm
xác định Chế độ Pháp lý được áp dụng cho hợp đồng đã ký kết này (Chế độ pháp lý
của hợp đồng Dân sự hay Chế độ Pháp lý của hợp đồng Thương mại). Chế độ pháp lý
ở đây sẽ chính là các quy định của pháp luật được áp dụng để giải thích cho các nội
dung của hợp đồng và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng.
– Hợp đồng thương mại sẽ được điều chỉnh bởi Luật thương mại 2005. Điều này
được quy định tại Điều 2 Luật thương mại 2005 như sau:
“Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Thương nhân hoạt động thương mại theo quy định tại Điều 1 của Luật này.
2. Tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại.
3. Căn cứ vào những nguyên tắc của Luật này, Chính phủ quy định cụ thể việc áp
dụng Luật này đối với cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên
không phải đăng ký kinh doanh.”
Trên cơ sở hai nội dung trên, có thể nói, chủ thể của hợp đồng thương mại có thể là cá
nhân, tổ chức và tất cả các chủ thể của pháp luật dân sự, bao gồm: cá nhân, pháp nhân,
hộ gia đình, tổ hợp tác, Nhà nước…Bởi vì tất cả các chủ thể của Luật Dân sự khi tham
gia ký kết một hợp đồng với một bên là Thương nhân thì khi đó họ có quyền áp
dụng Luật Thương mại để giải quyết (cho dù mục đích ký kết hợp đồng của họ ko
nhằm mục đích sinh lợi), căn cứ vào Khoản 3 Điều 1 của Luật Thương mại 2005:
"Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
3. Hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương
nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường
hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng Luật
này."
Như vậy, hợp đồng được kí kết giữa một bên là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ
hợp tác, hay Nhà nước ký kết với một Thương nhân sẽ trở thành hợp đồng Thương
mại – nếu các chủ thể này lựa chọn Luật Thương mại để áp dụng. Khi đó, các chủ thể
này đã trở thành Chủ thể của Hợp đồng thương mại.
Áp dụng pháp luật trong quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Về áp dụng pháp luật trong quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài, Điều 5 Luật
Thương mại 2005 quy định:
“Điều 5. Áp dụng điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài và tập quán thương mại
quốc tế
1. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có
quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế
đó.
2. Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thoả thuận áp dụng
pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập
quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt
Nam.”
Đối với giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, pháp luật quốc gia có thể được áp dụng
theo những điều kiện nhất định. Thông thường pháp luật quốc gia được áp dụng trong
các trường hợp sau: (i) Các bên trong hợp đồng thỏa thuận lựa chọn áp dụng; (ii) Điều
ước quốc tế mà các quốc gia (có các chủ thể của hợp đồng mang quốc tịch của quốc
gia đó) kí kết hoặc tham gia có quy định điều khoản về luật áp dụng cho hợp đồng
mua bán quốc tế là luật của một quốc gia nhất định; (iii) Cơ quan có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp chọn luật áp dụng (khi các bên không đạt được thỏa thuận về luật áp
dụng cho quan hệ hợp đồng).
Trong lĩnh vực thương mại nói chung và mua bán hàng hóa nói riêng, có rất nhiều
điều ước quốc tế song phương và đa phương đã được thiết lập mà Việt Nam đã hoặc
trong tương lai gần sẽ là thành viên. Khi áp dụng điều ước quốc tế đối với các hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế, cần phân biệt hai trường hợp: (i) Đối với những điều
ước quốc tế mà Việt Nam đã là thành viên, nếu điều ước có quy định khác với pháp
luật quốc gia thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế; (ii) Đối với những điều
ước quốc tế mà Việt Nam chưa là thành viên thì các bên trong hợp đồng mua bán có
quyền thỏa thuận áp dụng nội dung không trái với những nguyện tắc cơ bản của luật
Việt Nam.
Một quan hệ mua bán hàng hóa đáp ứng một trong các điều kiện sau thì được coi là
mua bán hàng hóa quốc tế: (i) Ít nhất một trong các bên là cơ quan, tổ chức, cá nhân
nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, (ii) Căn cứ để xác lập, thay đổi,
chấm dứt quan hệ mua bán theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài (iii)
Tài sản liên quan đến quan hệ mua bán ở nước ngoài. Mua bán hàng hóa quốc tế được
thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái
nhập và chuyển khẩu.
Xuất phát từ nguyên tắc tự do thỏa thuận trong quan hệ hợp đồng, pháp luật các nước
đều thừa nhận luật áp dụng cho nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trước
tiên là luật do các bên tham gia quan hệ hợp đồng thỏa thuận lựa chọn và sự lựa chọn
này phải đáp ứng những điều kiện do chính hệ thống pháp luật đó đặt ra.
Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật thế giới cho phép các bên được phép thỏa
thuận chọn luật điều chỉnh đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhưng vẫn có
những hạn chế nhất định. Luật các bên thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế được áp dụng nếu thỏa mãn các điều kiện sau:
(1) Việc chọn luật không trái với quy định của Việt Nam;
(2) Luật được chọn không trái với pháp luật Việt Nam, các nguyên tắc cơ bản của
pháp luật Việt Nam, các điều ước quốc tế mà các bên là thành viên;
(3) Việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không được trái với pháp luật Việt
Nam, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam; và
(4) Việc chọn luật không nhằm lẩn tránh pháp luật.
5. Dự thảo bản hợp đồng:
Luật sư nên chuẩn bị hai bản dự thảo hợp đồng hoặc ít nhất phải có được ý tưởng về
hai dự thảo hợp đồng với nội dung mà thân chủ có thể chấp nhận được. Các dự thảo
này có thể do luật sư soạn thảo hoặc đầu tiên được phía đối tác cung cấp và được luật
sư sửa đổi để đảm bảo tốt hơn lợi ích của thân chủ của mình. Một dự thảo với nội
dung tốt nhất má thân chủ sẽ chấp nhận. Một dự thảo thể hiện nội dung thấp nhất
nhung thân chủ vẫn chấp nhận được. Hai bản dự thảo này sẽ thể hiện cho một mức
trần (tốt nhất) và một mức sàn (thấp nhất) mà trong phạm vi đó, luật sự được quyền
đàm phán và quyết định. Mọi vấn đề thấp hơn mức sàn đều phải được sự đồng ý của
thân chủ.
6. Chuẩn bị các khả năng có thể xảy ra trong buổi đàm phán:
Luật sư phải cố gắng dự đoán trước những gì mà phái đối tác có thể đưa ra để có thể
lường trước, suy nghĩ, vạch sẳn những lý lẽ để có thể phản bác hoặc chỉ chấp nhận
một phần các đề xuất của phái đối tác. Điều này sẽ khiến cho luật sư không mất thời
gian suy nghĩ nhiều trong khi họp đàm phán và không đưa ra những ý kiến vội vàng
trong khi đàm phán.
III. Những lỗi thường gặp khi đàm phán hợp đồng:
Lưu ý khi đàm phán soạn thảo hợp đồng
Đã từ lâu pháp luật về hợp đồng chiếm một vị trí rất quan trọng trong hệ thống pháp
luật Việt Nam, bởi vì, hầu hết các giao dịch trong xã hội, dù có mục đích kinh doanh
hay nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thông thường, đều liên quan đến hợp đồng.
Chính vì lẽ đó mà các chế định về hợp đồng và các vấn đề liên quan đến hợp đồng
trong Bộ luật Dân sự năm 2005 chiếm một vị trí nòng cốt với hơn 300 điều trên tổng
số 777 điều. Mục đích của pháp luật về hợp đồng là nhằm bảo vệ quyền tự do ý chí
của các bên. Quyền tự do ý chí này chỉ bị hạn chế bởi một số ngoại lệ nhằm bảo vệ
trật tự công hoặc nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba.
Pháp luật về hợp đồng của Việt Nam hiện nay được quy định trong nhiều văn bản
pháp luật khác nhau như Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật kinh doanh bảo
hiểm…, tuy nhiên, Bộ luật dân sự được coi là luật gốc quy định các vấn đề chung về
hợp đồng, là nền tảng cho pháp luật về hợp đồng, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng
được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thoả thuận và tự chịu trách
nhiệm. Các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự được áp dụng chung cho tất cả
các loại hợp đồng, không phân biệt hợp đồng dân sự hay hợp đồng kinh tế, hợp đồng
có mục đích kinh doanh hay hợp đồng nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt hàng
ngày. Trên cơ sở các quy định chung về hợp đồng của Bộ luật Dân sự, tuỳ vào tính
chất đặc thù của các mối quan hệ hoặc các giao dịch, các luật chuyên ngành có thể có
những quy định riêng về hợp đồng để điều chỉnh các mối quan hệ trong lĩnh vưc đó,
ví dụ như các quy định về hợp đồng mua bán hàng hoá trong Luật Thương mại, hợp
đồng bảo hiểm trong Luật kinh doanh bảo hiểm … Các quy định về hợp đồng trong
Bộ luật Dân sự được coi là các quy định chung còn các quy định về hợp đồng trong
các luật chuyên ngành được coi là các quy định chuyên ngành và các quy định này
được ưu tiên áp dụng.
Pháp luật hợp đồng của Việt Nam hiện nay, tuy có một số hạn chế nhất định đang
được các nhà làm luật tiếp tục sửa đổi, bổ sung để bắt kịp với thực tiễn xã hội nhưng
nhìn chung được xem là khá tiến bộ và phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế – xã
hội trong thời kỳ hiện nay. Sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung các chế định về hợp đồng
đã phần nào quán triệt, thể chế hoá các chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế –
xã hội của nhà nước, cụ thể hoá các quyền về kinh tế, dân sự của công dân được ghi
nhận trong Hiến pháp 1992 và đáp ứng được các yêu cầu trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế. Các quy định về giao kết, thực hiện hợp đồng đã thể hiện quan điểm
tăng cường quyền tự do hợp đồng thông qua việc các bên được toàn quyền quyết định
về đối tác tham gia ký kết hợp đồng, hình thức hợp đồng, nội dung của hợp đồng và
trách nhiệm của các bên khi có vi phạm.
Bộ luật Dân sự quy định những vấn đề chung về hợp đồng như khái niệm hợp đồng,
giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng, chấm dứt hợp đồng … còn các luật chuyên
ngành thì chỉ quy định các vấn đề mang tính đặc thù của hợp đồng trong các lĩnh vực
khác nhau. Trong phạm vi bải nghiên cứu này, tác giả chỉ đề cập đến các vấn đề liên
quan đến lỗi thường gặp trong quá trình tham gia, đàm phán, ký kết hợp đồng của
doanh nghiệp, nhất là trong một số loại hợp đồng thông dụng:
Một số lỗi thường xảy ra trong quá trình đà phán, soạn thảo hợp đồng
Thứ nhất, lỗi về hình thức hợp đồng
Về nguyên tắc, các bên có quyền tự do quyết định hình thức của hợp đồng. Hình thức
hợp đồng có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể,
trừ một số trường hợp pháp luật yêu cầu hợp đồng phải được thể hiện bằng hình thức
nhất định nhằm đảm bảo trật tự công, ví dụ như hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất phải được thể hiện bằng văn bản và phải công chứng.
Doanh nghiệp cần biết rằng, để phù hợp với xu thế phát triển mạnh mẽ của công nghệ
thông tin và việc ứng dụng công nghệ thông tin vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội,
pháp luật cũng ghi nhận hình thức của hợp đồng có thể được thể hiện thông qua
phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu và hình thức này được coi là
hợp đồng bằng văn bản. Trong trường hợp pháp luật yêu cầu hợp đồng phải được thể
hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì
phải tuân theo các quy định đó. Ví dụ như Hợp đồng mua bán quyền sử dụng đất, bất
động là là nhà chung cư, mua bán câc phương tiện như ôtô, tàu thủy… đều phải được
lập thành văn bản và phải có công chứng (trường hợp mua bán câc phương tiện như
ôtô, tàu thủy mà bên bán không xuất hóa đơn đỏ). Nhiều trường hợp mua bán quyền
sử dụng đất, tài sản quy định phải có công chứng… nhưng không có công chứng thì
khi giao dịch khác được thiết lập song song với giao dịch này thì giao dịch có công
chứng theo quy định của pháp luật được bảo vệ.
Thứ hai, về ký kết hợp đồng và việc uỷ quyền ký kết hợp đồng
Bộ luật Dân sự xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trên cơ sở công nhận hiệu
lực của cam kết, thoả thuận của các bên, không phụ thuộc vào hình thức của hợp
đồng. Do đó, về mặt nguyên tắc, hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị
nhận được trả lời chấp nhận giao kết của bên được đề nghị. Hợp đồng cũng xem như
được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận đề nghị vẫn im lặng, nếu các bên có
thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết. Trên cơ sở hình thức của hợp
đồng, pháp luật cũng quy định cụ thể đối với từng trường hợp, ví dụ, đối với hợp đồng
được giao kết bằng lời nói thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm các bên đã
thoả thuận về nội dung của hợp đồng; đối với hợp đồng được giao kết bằng văn bản
thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản.
Về mặt nguyên tắc, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được tính từ thời điểm giao
kết, tuy nhiên doanh nghiệp cần biết rằng vẫn có các ngoại lệ đó là khi các bên có thoả
thuận khác, ví dụ hợp đồng được các bên ký vào ngày 01/01/2009 nhưng các bên thoả
thuận là hợp đồng được coi là ký kết vào ngày 01/02/2009 hoặc khi pháp luật có quy
định khác, ví dụ theo pháp luật về đất đai thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thế
chấp là thời điểm đăng ký chứ không phải là thời điểm các bên ký hợp đồng và công
chứng xác nhận. Trên thực tế nhiều doanh nghiệp không biết rõ quy định này và vì
một lý do nào đó mà không đăng ký nên rủi ro pháp lý là rất lơn.
Vấn đề uỷ quyền ký kết hợp đồng không được Bộ luật Dân sự quy định cụ thể, tuy
nhiên, vì hợp đồng là một dạng của giao dịch dân sự cho nên có thể áp dụng các quy
định về việc uỷ quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Theo đó cá nhân, người đại
diện theo pháp luật của pháp nhân có thể uỷ quyền cho người khác xác lập, thực hiện
hợp đồng theo chế định người đại diện.
Thứ ba, về thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự
Theo quy định hiện hành, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu toà án giải quyết tranh chấp
hợp đồng là hai năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân và
các chủ thể khác bị xâm phạm. Ví dụ, A và B ký hợp đồng mua bán hàng hoá vào
ngày 01/01/2007, sau đó có tranh chấp xảy ra, quyền lợi của A bị vi phạm vào ngày
01/03/2007. A chỉ có thể khởi kiện yêu cầu toà án giải quyết trong khoảng thời gian kể
từ khi quyền lợi bị xâm phạm là từ ngày 01/03/2007 đến hết ngày 01/03/2009 (là 2
năm kể từ ngày quyền lợi của A bị vi phạm). Thực tế nhiều doanh nghiệp trong hoạt
động kinh doanh thường không biết về quy định này đẫn đến việc hết thời hạn khởi
kiện, khi nộp đơn ra Tòa án trả lại đơn kiện do hết thời hạn khởi kiện mới biết thì đã
muộn.
Lỗi thường gặp trong ký kết, thực hiện hợp đồng thương mại
1 – Lưu ý chung:
Về nguồn pháp luật điều chỉnh và có liên quan đến nội dung của hợp đồng: Ví dụ, nếu
là hợp đồng mua bán hàng hoá, thì pháp luật có liên quan là những văn bản pháp luật
về thương mại, dân sự, cụ thể là Bộ Luật Dân sự, Luật Thương mại (LTM), Luật Đầu
tư, Luât doanh nghiệp v.v.. các văn bản pháp luật hướng dẫn các Luật nêu trên; Nghị
định hướng dẫn LTM về mua bán hàng hoá, Nghị định quy định danh mục các mặt
hàng hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện hoặc cấm kinh doanh. Nếu là
hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế thì kiến thức về thói quen thương mại, thông lệ,
tập quán quốc tế, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, các cam kết Quốc tế
song phương, đa phương, và cam kết trong khu vực của Việt Nam, pháp luật liên quan
đến địa vị pháp lý của các bên cũng là những kiến thức và thông tin rất quan trọng liên
quan trực tiếp đến nội dung cũng như tính hợp pháp, hợp lệ của hợp đồng. Bên cạnh
đó, những người liên quan trực tiếp đến quá trình soạn thảo, đàm phán hợp đồng còn
phải rà soát, lưu ý đến toàn bộ những văn bản pháp luật có liên quan đến nội dung,
lĩnh vực của hợp đồng.
Khi soạn thảo hợp đồng, doanh nghiệp thường không bảo đảm các yếu tố như:
– Về mặt hình thức của hợp đồng
Trong trường hợp nào mà pháp luật yêu cầu hợp đồng phải được lập thành văn bản,
phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thi phải tuân theo
các quy định đó.
Đối với một số loại hợp đồng mà pháp luật yêu cầu phải công chứng, chứng thực thì
những loại hợp đồng đó phải được đem đi công chứng hoặc chứng thực thì mới có
hiệu lực pháp.
– Về mặt nội dung của hợp đồng
Về nguyên tắc, nội dung của hợp đồng có các bên tự thoả thuận theo nguyên tắc tự do
ý chí, bình đẳng và thiện chí với nhau. Tuy nhiên, Pháp luật cũng yêu cầu nội dung
của hợp đồng không được vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực
hiện những hành vi nhất định.
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời
sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.
– Đảm bảo đối tượng của hợp đồng là những hàng hoá mà pháp luật không cấm,
không trái đạo đức xã hội.
– Đảm bảo người tham gia giao dịch phải hoàn toàn tự nguyện
– Đảm bảo người tham gia hợp đồng có năng lực hành vi dân sự.
+ Năng lực hành vi dân sự của cá nhân: căn cứ vào các Điều 17, 18 và 19 của BLDS
thì người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên và người thanh niên là người có
năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Như vậy, theo quy định này thì chỉ có người nào có
đủ từ 18 tuổi trở lên mới bằng chính hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và
nghĩa vụ dân sự. Còn những trường hợp khác chưa đủ 18 tuổi thì khi giao kết, xác lập,
thực hiện một giao dịch dân sự nào đó phải được người đại diện theo pháp luật đồng
ý. Quy định này nhằm bảo vệ các giao dịch khi được xác lập phải được xác lập bởi
những người có đủ khả năng để tự nhân danh mình quyết định mọi hành vi của mình,
đảm bảo không gây thiệt hại cho người khác.
Trong trường hợp người đã đủ 18 tuổi nhưng lại mắc bệnh như bệnh tâm thần hoặc
mắc các bệnh khác gây ra tình trạng mất năng lực hành vi thì cũng không được tự
mình giao kết hợp đồng mà phải có đại diện pháp luật.
Tương tự như vậy, đối với những người từ 6 tuổi đến duới 18 tuổi khi giao kết hợp
đồng cũng phải có người đại diện theo pháp luật đồng ý.
+ Năng lực hành vi dân sự của pháp nhân:
Về nguyên tắc, thời điểm tổ chức, doanh nghiệp hay pháp nhân được coi là có năng
lực hành vi dân sự đầy đủ phải căn cứ vào quy định của pháp luật. Pháp luật doanh
nghiệp được coi là nguồn pháp lý chủ yếu điều chỉnh/quy định năng lực hành vi dân
sự của tổ chức/doanh nghiệp/pháp nhân. Bên cạnh đó, doanh nghiệp/tổ chức đó hoạt
động trong lĩnh vực nào thì sẽ chịu thêm sự điều chỉnh của văn bản pháp luật của lĩnh
vực đó, ví dụ pháp luật về doanh nghiệp, thương mại, đầu tư, ngân hàng tín dụng, bảo
hiểm v.v..
Thông thường năng lực hành vi của pháp nhân hay tổ chức được tính kể từ thời điểm
doanh nghiệp đó được thành lập về mặt pháp lý/thừa nhận sự tồn tại về mặt pháp lý,
ví dụ như kể từ ngày được cấp giấy phép kinh doanh, cấp giấy phép thành lập hoặc
ngày mà pháp luật quy định phải khai trương hoặc phải đăng ký thì mới được coi là đã
thành lập. Và chỉ khi các doanh nghiệp, tổ chức hoặc pháp nhân được coi là có năng
lực hành vi dân sự đầy đủ.
Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân. Theo quy định của BLDS thì năng lực dân
sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm pháp nhân được thành lập và chấm dứt từ
thời điểm chấm dứt pháp nhân. Quy định này có nghĩa rằng sự hình thành pháp luật và
được pháp luật công nhận thì pháp nhân đó có năng lực dân sự đầy đủ, có các quyền,
nghĩa vụ dân sự phù hợp với mục đích hoạt động của mình.
+ Đại diện cho tổ chức/ pháp nhân và đại diện uỷ quyền
Đây là một trong những nội dung quan trọng liên quan đến vị trí pháp lý của các bên
cũng như đến hiệu lực của hợp đồng. Theo quy định tại khoản 5 Điều 139 thì người
đại diện phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
Đại diện cho tổ chức/pháp nhân thông thường được quy định trong điều lệ của pháp
nhân hoặc trong quyết định thành lập của pháp nhân.
Trong thực tiễn, việc uỷ quyền cũng được ghi nhận trong một loạt các tài liệu có giá
trị chứng cứ khác như quy chế hoạt động của tổ chức đó, quyết định quy định trách
nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn của từng lãnh đạo và thành viên của doanh nghiệp và kể
cả trong thông báo chào hàng v.v… Và những giấy tờ này, về nguyên tắc có giá trị
hợp lệ để chứng minh cho việc phân công của lãnh đạo doanh nghiệp/tổ chức đối với
các lãnh đạo và thành viên khác của tổ chức/doanh nghiệp đó.
Khi tham gia soạn thảo, ký kết hợp đồng, các bên trong hợp đồng phải hết sức lưu ý
đến địa vị pháp lý của người được đại diện uỷ quyền, phạm vi được uỷ quyền nhằm
tránh tình trạng có tranh chấp sau này do việc ký kết hợp đồng không đúng thẩm
quyền hoặc vượt quá thẩm quyền hoặc vượt quá phạm vi đại diện uỷ quyền.
2 – Các lưu ý cụ thể khác
a) Giải thích thuật ngữ: Hợp đồng thương mại là một dạng hợp đồng không chỉ chịu
sự điều chỉnh của pháp luật mà còn bị ảnh hưởng bởi các thói quen thương mại, thông
lệ, tập quán và pháp luật quốc tế, có nhiều nội dung hợp đồng như hợp đồng nhượng
quyền thương mại, hợp đồng thuê hàng hoá v.v… là những hợp đồng mang tính chất
chuyên ngành cao, nội dung phức tạp và liên quan đến nhiều lĩnh vực chuyên ngành
đặc thù. Để đảm bảo việc thực hiện hợp đồng một cách thuận lợi, thì việc đưa ra các
khái niệm cho những nội dung cần được hiểu và áp dụng thống nhất, khoa học là rất
quan trọng. Việc làm này là cần thiết nhằm tránh tình trạng có phát sinh xung đột,
tranh cãi giữa các bên về cách hiểu của nội dung đó cũng như kiểm soát được tình
trạng áp dụng tuỳ tiện các điều khoản của hợp đồng gây ra tình trạng phá vỡ hợp
đồng.
b) Mục lục hợp đồng
Tuỳ thuộc vào từng loại hợp đồng, nội dung, quy mô và tính chất của hợp đồng mà
các hợp đồng ngoài bản chất thì còn có các mục lục hợp đồng. Mục lục hợp đồng là
cần thiết và hỗ trợ đắc lực cho quá trình soạn thảo, đàm phán và thực thi hợp đồng.
c) Điều khoản về cách thức giải thích hợp đồng. Trong trường hợp hợp đồng không có
các điều khoản về khái niệm, giải thích thuật ngữ và khi điều khoản của hợp đồng có
thể giải thích theo nhiều cách khách nhau thì phải chọn cách giải thích phù hợp nhất,
khoa học nhất để giải thích cho từng trường hợp cụ thể. Ví dụ: giải thích theo tập
quán; giải thích đặc trong mối liên hệ tổng thể của hợp đồng; giải thích có lợi cho bên
yếu thế v.v…
d) Trong quan hệ làm ăn, chữ “tín” là một trong những tiêu chí tối cao mà các bên đều
hướng tới nhằm xây dựng các mối quan hệ thương mại lâu dài và bền vững. Tuy
nhiên, tiêu chí “tin tưởng nhau” để phục vụ cho mục đích “ sinh lợi” của hoạt động
thương mại không chỉ phải được thể hiện bằng số lượng giao dịch, thời gian làm ăn
với nhau, giá trị hợp đồng mà càng tin nhau thì các bên càng phải rõ ràng, sòng phẳng
về các nội dung liên quan đến quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của nhau trong bản hợp
đồng. Như đã đề cập rất nhiều lần trong phạm vi bài viết này đó là hợp đồng có chức
năng rất quan trọng trong việc giúp các bên dự liệu, dự báo và tính toán được lợi
nhuận và rủi ro của mình. Hợp đồng giúp các bên gia tăng lợi nhuận và cũng giúp các
bên hạn chế, kiểm soát được rủi ro mà trong quá trình kinh doanh có thể gặp phải.
Xuất phát từ quan điểm đó, trong quá trình soạn thảo, đàm phán, tư vấn hợp
đồng cũng như tùy thuộc vào từng hợp đồng cụ thể, các nội dung như (i) Quy định
điều khoản về sửa đổi, bổ sung hợp đồng; (ii) Quy định rõ về thời hiệu của hợp đồng;
(iii) Lưu ý về các điều khoản bồi thường thiệt hại; (iv) Quy đinh cụ thể tên, địa chỉ, số
giấy phép kinh doanh, đại diện có thẩm quyền và số tài khoản giao dịch của đối tác
tham gia hợp đồng; (v) Điều khoản mang tính mô tả đối tượng hợp đồng; (vi) thời
điểm có hiệu lực của hợp đồng; (vii) thời điểm chuyển quyền sở hữu;(viii) thời điểm
chuyển rủi ro; (ix) ngôn ngữ sử dụng trong họp đồng; (x) các điều khoản về giải
quyết tranh chấp, về bất khả kháng phải được coi là những điều khoản quan trọng, cần
được lưu ý và thỏa thuận kỹ lưỡng.
Những lỗi thường gặp khi đàm phán, giao kết hợp đồng thương mại quốc tế
So với hợp đồng thương mại trong nước, việc đàm phán để giao kết hợp đồng thương
mại quốc tế thực chất là đàm phán với các doanh nghiệp nước ngoài, các doanh
nghiệp Việt Nam thường mắc phải những vấn đề sau đây:
1- Lỗi do không biết ngoại ngữ
Đàm phán về hợp đồng thương mại quốc tế có thông qua nhiều ngôn ngữ khác nhau
như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nhật, tiếng Trung Quốc … tuỳ theo đối tác ký kết
hợp đồng sử dụng loại ngôn ngữ nào.Vì vậy, để có thể đàm phán về hợp đồng thương
mại quốc tế thành công, các doanh nghiệp Việt Nam phải có các chuyên gia về ngôn
ngữ.
Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hoá, tiếng Anh là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi
trong giao tiếp cũng như trong quá trình đàm phán hợp đồng. Vì vậy, việc sử dụng tốt
tiếng Anh sẽ là thế mạnh của những doanh nghiệp muốn hoạt động và phát triển trong
thương trường quốc tế nói chung và trong đàm phán về hợp đồng thương mại quốc tế
nói riêng. Sử dụng thành thạo ngoại ngữ trong đàm phán về hợp đồng thương mại
quốc tế sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam không chỉ tự tin, chủ động, độc lập trong đàm
phán mà còn tiết kiệm được chi phí (ví dụ chi phí thuê phiên dịch, chi phí dịch tài liệu
liên quan đến hợp đồng…), giữ được bí mật nghề nghiệp, tạo sự nể trọng từ phía đối
tác … và nhất là tránh được các lỗi trong nội dung hợp đồng do không biết ngoại ngữ
nên không hiểu hết ý của đối tác.
2 – Không biết sử dụng nghệ thuật đàm phán
Nghệ thuật đàm phán thể hiện ở sự chuẩn bị tốt các phương án đàm phán để dễ dàng
đối phó với mọi yêu cầu của phía đối tác. Một sự chủ quan, bất cẩn sẽ đẩy doanh
nghiệp vào thế bị động. Trong trường hợp như vậy sẽ khó có được những hợp đồng
thương mại có lợi cho mình.
Nghệ thuật đàm phán với đối tác nước ngoài đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải có
sự hiểu biết về phong tục, tập quán, thói quen của nước đối tác cũng như môi trường
kinh doanh của nước họ.Sự hiểu biết về tập quán kinh doanh của nước đối tác sẽ tạo
cho doanh nghiệp Việt Nam có thể dễ dàng chia sẻ nhiều vướng mắc trong đàm phán,
từ dó tạo thuận lợi khi đàm phán về từng điều khoản cụ thể trong hợp đồng.
Nghệ thuật đàm phán cũng đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải vừa có sự cương
quyết, vừa có sự nhân nhượng với bàn hàng nước ngoài khi đàm phán về tưng điều
khoản cụ thể trong hợp đồng
3 – Không am hiểu luật pháp của nước bạn hàng và luật pháp quốc tế
Để tiết kiệm thời gian, việc nghiên cứu trước pháp luật nước ngoài, đặc biệt là pháp
luật của nước bạn hàng cũng như pháp luật hoặc tập quán quốc tế là hết sức cần thiết.
Sự hiểu biết này sẽ giảm thiểu được những sự bất đồng ý kiến và tiết kiệm thời gian
đàm phán.
4 – Không biết về nghiệp vụ buôn bán quốc tế
Điều này đòi hỏi người đi đàm phán phải có kiến thức tốt, chuyên sâu về nghiệp vụ
thương mại quốc tế. Nói cách khác, những nguời đi đàm phán để ký kết hợp đồng
thương mại quốc tế phải là các nhà chuyên nghiệp về lĩnh vực thương mại quốc tế cụ
thể mà họ chuẩn bị đàm phán. Ví dụ, đàm phán để ký kết hợp đồng thương mại quốc
tế mà đối tượng mua bán là những thiết bị phức tạp như máy bay, cột thu phát sóng
truyền hình … sẽ hoàn toàn khác với mua bán gạo, than đá, sắt thép. Hợp đồng vận
chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển cũng sẽ có những tiêu chí kỹ thuật
khác so với hợp đồng chuyển giao công nghệ liên quan đến vận hành một nhà máy lọc
dầu …
Kết luận
Tóm lại, trong kinh doanh, doanh nghiệp nào cũng muốn đạt kết quả, lợi nhuận cao
nhất. Ðiều đó phụ thuộc rất nhiều ở tài ngoại giao, đàm phán, thương thảo hợp đồng
của nhà kinh doanh trên thương trường. Đàm phán là phương tiện cơ bản để đạt được
cái mà ta mong muốn từ người khác. Đó là quá trình giao tiếp có đi có lại được thiết
kế nhằm thỏa thuận trong khi giữa ta và bên kia có… Đàm phán hợp đồng sẽ giúp hạn
chế được những rủi ro nhất định khi xảy ra tranh chấp sau này, vì vậy luật sư chúng ta
phải đặt biệt chú tâm vào việc chuẩn bị cũng như tham gia vào đàm phán để mang lại
lời ích tốt nhất cho khách hàng.