Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN TƯ PHÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHÓA 35 (2009-2013)
TÊN ĐỀ TÀI :
HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Cán bộ hướng dẫn:
TĂNG THANH PHƯƠNG
Sinh viên thực hiện:
BÙI MINH TÂM (5095554)
GVHD: Th.s Tăng Thanh Phương
Trang 1
SVTH: Bùi Minh Tâm
Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU ..........................................................................................................1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG ...............3
1.1 Khái niệm về công chứng .................................................................................3
1.1.1 Khái niệm công chứng ở Việt Nam ..........................................................3
1.1.2 Quan niệm về công chứng trên thế giới ....................................................7
1.2 Đặc điểm của công chứng............................................................................... 10
1.2.1 Hoạt động công chứng vừa mang tính công quyền, vừa mang tính dịch vụ
công....................................................................................................... 10
1.2.2 Hành vi công chứng chỉ được thực hiện bởi công chứng viên................. 11
1.2.3 Văn bản hợp đồng, giao dịch sau khi được công chứng có giá trị thi hành
và giá trị chứng cứ ................................................................................. 11
1.3 Vai trò của công chứng................................................................................... 13
1.4 Lịch sử phát triển hoạt động công chứng ở Việt nam ...................................... 14
1.4.1 Hoạt động công chứng ở nước ta trước cách mạng tháng 8/1945 ............ 14
1.4.2 Hoạt động công chứng ở nước ta từ 1945-1991 ...................................... 15
1.4.3 Hoạt động công chứng ở nước ta từ 1991 đến nay .................................. 16
1.5 Các nguyên tắc thực hiện hoạt động công chứng ............................................ 17
1.5.1 Nguyên tắc độc lập thực hiện công chứng và chịu trách nhiệm cá nhân
trước pháp luật....................................................................................... 17
1.5.2 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.................................................... 18
1.5.3 Nguyên tắc giữ bí mật về nội dung công chứng và những thông tin có liên
quan đến việc công chứng...................................................................... 19
1.5.4 Nguyên tắc bảo đảm tính khách quan, trung thực, chính xác trong hoạt
động công chứng ................................................................................... 19
CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG
2.1 Chủ thể thực hiện hành vi công chứng - Công chứng viên .............................. 21
2.1.1 Tiêu chuẩn để trở thành công chứng viên ............................................... 21
2.1.2 Hoạt động của Công chứng viên............................................................. 22
2.2 Tổ chức hành nghề công chứng ...................................................................... 24
2.2.1 Phòng công chứng.................................................................................. 24
2.2.2 Văn phòng công chứng........................................................................... 25
2.2.3 Hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng........................................ 26
2.3 Phạm vi công chứng ....................................................................................... 27
2.3.1 Hợp đồng, giao dịch bắt buộc phải công chứng ...................................... 28
GVHD: Th.s Tăng Thanh Phương
Trang 2
SVTH: Bùi Minh Tâm
Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn
2.3.2 Hợp đồng, giao dịch do cá nhân tự nguyện công chứng.......................... 29
2.3.3 Thẩm quyền công chứng đối với các hợp đồng, giao dịch về bất động
sản ......................................................................................................... 29
2.4 Trình tự thủ tục thực hiện việc công chứng ..................................................... 30
2.5 Công tác lưu trữ hồ sơ công chứng ................................................................. 31
2.6 Phí công chứng, thù lao công chứng, chi phí khác .......................................... 32
2.7 Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện công chứng .............. 33
CHƯƠNG 3. THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG HIỆN NAY –
BẤT CẬP VÀ HƯỚNG ĐỀ XUẤT ........................................................................ 35
3.1 Thực tiễn của hoạt động công chứng tại “Phòng công chứng số 2 – TP.Cần
Thơ”........................................................................................................................ 35
3.1.1 Sơ lược về việc thành lập và cơ cấu tổ chức của phòng công chứng số 2 –
TP.Cần Thơ ........................................................................................... 35
3.1.2 Hoạt động của Phòng công chứng số 2 – TP.Cần Thơ ............................ 37
3.1.3 Quy trình, thủ tục thực hiện việc công chứng tại Phòng công chứng số 2 –
TP.Cần Thơ ........................................................................................... 39
3.2 Những khó khăn, bất cập trong hoạt động công chứng.................................... 40
3.2.1 Vấn đề công chứng ngoài trụ sở, ngoài giờ bị hạn chế ............................ 40
3.2.2 Bất cập của hoạt động công chứng liên quan đến lĩnh vực đất đai........... 42
3.2.3 Tiêu chuẩn bổ nhiệm công chứng viên còn dễ dãi................................... 43
3.2.4 Bất cập về trình tự, thủ tục công chứng................................................... 44
3.3 Hướng đề xuất để hoàn thiện hoạt động công chứng....................................... 45
3.3.1 Đề xuất cho vấn đề công chứng ngoài trụ sở, ngoài giờ .......................... 45
3.3.2 Đề xuất giải quyết các bất cập của hoạt động công chứng liên quan đến
lĩnh vực đất đai ...................................................................................... 46
3.3.3 Đề xuất quy định lại tiêu chuẩn bổ nhiệm Công chứng viên ................... 47
3.3.4 Đề xuất giải quyết bất cập về trình tự, thủ tục công chứng...................... 47
3.3.5 Đề xuất thêm một số quy định mới cho Luật công chứng ....................... 48
Phần kết luận....................................................................................................... 50
Danh sách tài liệu tham khảo............................................................................... 51
Phụ lục kèm theo................................................................................................. 52
GVHD: Th.s Tăng Thanh Phương
Trang 3
SVTH: Bùi Minh Tâm
Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công chứng là hoạt động bổ trợ tư pháp theo nghĩa rộng và cung cấp chứng cứ
cho hoạt động của tòa án theo nghĩa hẹp, nhằm góp phần bảo đảm quyền lợi, lợi ích
hợp pháp của công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội; có tác
dụng góp phần chủ động phòng ngừa các tranh chấp và vi phạm pháp luật, cung cấp
tài liệu có giá trị chứng cứ phục vụ việc giải quyết các tranh chấp, đồng thời góp
phần vào việc duy trì kỷ cương pháp luật trong xã hội.
Với sự điều chỉnh của Luật công chứng, hoạt động công chứng ở nước ta trong
những năm gần đây đã có nhiều đổi thay theo hướng tích cực, đóng góp một phần rất
lớn vào việc thúc đẩy, hỗ trợ các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại, đã đi vào
cuộc sống và có ý nghĩa thiết thực. Song, tình hình hoạt động công chứng hiện nay
vẫn còn nhiều điểm bất cập khi thực thi Luật công chứng, đối với những bất cập đó
chúng ta cần phải đưa ra những giải pháp để khắc phục. Đồng thời, nhận thấy được
tầm quan trọng không nhỏ của hoạt động công chứng đối với các giao dịch dân sự
cũng như sự phát triển của nền kinh tế nước ta nên người viết đã chọn đề tài này để
nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Ngày nay, cùng với sự phát triển về pháp luật công chứng của các quốc gia trên
thế giới, pháp luật công chứng ở Việt Nam cũng có những bước phát triển ngày càng
hoàn thiện. Luật công chứng ở nước ta ra đời đã phục vụ rất tốt cho nhu cầu công
chứng của người dân. Tuy nhiên, ngoài những ưu điểm mà Luật công chứng đạt
được thì vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định. Xã hội ngày càng phát triển dẫn
đến nhiều trường hợp phát sinh mà luật không thể dự liệu trước tất cả. Chính vì vậy,
đã gây nhiều khó khăn cho các chủ thể thực hiện hoạt động công chứng trong việc áp
dụng Luật công chứng và khó khăn cho cả người dân. Do đó, mục đích nghiên cứu
đề tài của người viết là tìm hiểu những quy định của Luật công chứng cũng như việc
áp dụng nó trong thực tiễn để tìm ra những điểm khó khăn, bất cập trong hoạt động
công chứng, đồng thời đưa ra những ý kiến góp phần hoàn thiện luật.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các vấn đề về hoạt động công chứng ở nước ta hiện nay (các
vấn đề mang tính khái quát chung và các quy định của pháp luật về Công chứng
viên, tổ chức hành nghề công chứng, phạm vi công chứng, trình tự thủ tục công
chứng) đồng thời đi vào tìm hiểu thực tiễn hoạt động của một số phòng công chứng
mà đặc biệt là “Phòng công chứng số 2 – TP.Cần Thơ”.
GVHD: Th.s Tăng Thanh Phương
Trang 4
SVTH: Bùi Minh Tâm
Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn
4. Phương pháp nghiên cứu
"Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn", là một đề
tài thuộc ngành khoa học pháp lý. Do đó, để tìm hiểu người viết đã sử dụng phương
pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, phương pháp logic... Bên cạnh đó, để nghiên cứu
đề tài tốt hơn người viết còn sử dụng những tài liệu và phương tiện như: những văn
bản pháp luật điều chỉnh các vấn đề có liên quan đến công chứng, giáo trình, các
sách chuyên khảo...
5. Bố cục đề tài
Bố cục đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về hoạt động công chứng
Chương 2: Quy định của pháp luật về hoạt động công chứng
Chương 3: Thực tiễn của hoạt động công chứng - Bất cập và hướng đề xuất.
GVHD: Th.s Tăng Thanh Phương
Trang 5
SVTH: Bùi Minh Tâm
Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG
CHỨNG
1.1 Khái niệm về công chứng
1.1.1 Khái niệm công chứng ở Việt Nam
Sự xuất hiện và phát triển của nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường đã làm
cho các mối quan hệ trong xã hội rất phát triển, nhất là mối quan hệ giao dịch (giao
dịch dân sự). Trong quá trình ký kết, thực hiện các giao dịch nếu không có sự hướng
dẫn, quản lý, kiểm soát của Nhà nước bằng biện pháp cụ thể thì người thực hiện giao
dịch dễ bị lừa gạt phát sinh tranh chấp hoặc chính họ vô tình vi phạm pháp luật liên
quan đến giao dịch. Các tranh chấp, vi phạm sẽ xảy ra ngày càng nhiều, gây khó
khăn, thiệt hại cho công dân, cơ quan, tổ chức hoặc Nhà nước.
Khi có tranh chấp xảy ra trong giao dịch, các đương sự thường có xu hướng tìm
kiếm những chứng cứ để bênh vực cho lý lẽ của mình hoặc bác bỏ lập luận của đối
phương. Thực tế cho thấy tranh chấp trong xã hội ngày càng tăng, vụ việc càng phức
tạp, trong đó có nguyên nhân là do không có chứng cứ xác thực. Để phòng ngừa và
đảm bảo an toàn pháp lý cho các giao dịch mà đương sự tham gia, họ cần đến loại
chứng cứ xác thực, chứng cứ đáng tin cậy, hơn hẳn các loại giấy tờ không có chứng
nhận xác thực hoặc chỉ trình bày bằng miệng. Khi đó, chứng cứ công chứng (văn bản
công chứng1) là thứ họ cần tìm đến. Để có được thứ chứng cứ công chứng thì đương
sự phải mang văn bản hợp đồng, giao dịch của mình đến các "tổ chức thực hiện hoạt
động công chứng" để công chứng văn bản hợp đồng, giao dịch đó. Vậy, công chứng
là gì?
Công chứng là một trong những hoạt động bổ trợ tư pháp, một nghề đặc thù.
Hiểu một cách chung nhất, “công chứng” là một từ ghép, trong đó “công” chỉ nhà
nước, “chứng” chỉ vai trò của người làm chứng. Ý nghĩa của nó là sử dụng quyền lực
nhà nước để làm chứng cho đương sự các bên trong hợp đồng, giao dịch. Trên thực
tế, khái niệm công chứng là một vấn đề lý luận cơ bản có ý nghĩa quyết định đối với
toàn bộ các vấn đề khác liên quan đến công chứng, đặc biệt là việc xây dựng thể chế,
xác định mô hình tổ chức đảm bảo phát huy vai trò công chứng và hiệu quả công
chứng trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, ở Việt Nam, kể từ khi thành lập đất nước
cho đến nay khái niệm công chứng đã được nhìn nhận theo những cách khác nhau
trong những văn bản pháp luật được ban hành qua từng thời kỳ.
1
Văn bản công chứng là hợp đồng, giao dịch bằng văn bản đã được thực hiện việc công
chứng. Văn bản công chứng gồm 2 phần: phần văn bản hợp đồng, giao dịch và phần lời chứng của
Công chứng viên
GVHD: Th.s Tăng Thanh Phương
Trang 6
SVTH: Bùi Minh Tâm
Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn
Trước tiên, theo Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp một thông tư có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, khai sinh hệ thống công chứng nhà
nước ở Việt Nam - công chứng nhà nước2 được xác định là "một hoạt động của Nhà
nước với mục đích giúp các công dân, cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản,
sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn
bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện". Lần đầu tiên kể từ khi thành lập nước
(2/9/1945), khái niệm công chứng nhà nước được đưa ra ở Việt Nam, bước đầu đáp
ứng yêu cầu của nền kinh tế ở giai đoạn đầu của thời kỳ chuyển đổi. Tuy nhiên, là
văn bản pháp lý đầu tiên về công chứng trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới, do
đó, văn bản này không thể tránh được các hạn chế. Đó là: chưa xác định được chủ
thể, đối tượng của hoạt động công chứng cũng như nội dung việc công chứng, chưa
phân biệt rõ hoạt động công chứng với hoạt động của các cơ quan nhà nước khác.
Quá trình xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm tăng
nhanh cả về số lượng và quy mô các giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại, đặt ra yêu
cầu ngày càng cao đối với hoạt động công chứng. Do đó, trong vòng 10 năm (1991 2000), Chính phủ đã ban hành ba nghị định về tổ chức và hoạt động công chứng nhà
nước, đó là: Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là
Chính phủ) về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước (sau đây gọi tắt là Nghị
định số 45/HĐBT); Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và
hoạt động công chứng nhà nước (sau đây gọi tắt là Nghị định số 31/CP) và Nghị định
số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực (sau
đây gọi tắt là Nghị định số 75/2000/NĐ-CP).
Theo Nghị định số 45/HĐBT tại Điều 1, công chứng nhà nước được xác định
như sau: "công chứng nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng
và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là
các tổ chức) góp phầnphòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa. Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ".
Đến Nghị định số 31/CP, công chứng nhà nước được xác định: "Công chứng là
việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp
luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ
chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức) góp phần phòng ngừa
vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các hợp đồng, giấy tờ đã
2
Trước khi luật công chứng năm 2006 có hiệu lực thì chỉ có duy nhất nhà nước mới có thẩm
quyền thực hiện công chứng nên lúc bấy giờ thuật ngữ “công chứng” đi kèm với “nhà nước”.
GVHD: Th.s Tăng Thanh Phương
Trang 7
SVTH: Bùi Minh Tâm
Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn
được công chứng nhà nước chứng nhận hoặc y ban nhân dân cấp có thẩm quyền
chứng thực có giá trị chứng cứ, trừ trường hợp bị tòa án nhân dân tuyên bố là vô
hiệu".
So với Thông tư số 574/QLTPK, khái niệm công chứng ở hai Nghị định
45/HĐBT và 31/CP đã được xác định cụ thể, rõ ràng hơn. Và nếu so sánh Nghị định
số 45/HĐBT với Nghị định số 31/CP thì Nghị định số 31/CP đã bước đầu có sự phân
biệt hành vi công chứng và hành vi chứng thực. Tuy nhiên, ý nghĩa pháp lý của hành
vi công chứng và hành vi chứng thực chưa được phân biệt. Quy định “chứng nhận
tính xác thực của các hợp đồng, giấy tờ" ở cả hai nghị định này còn quá chung
chung, khó hiểu, dễ gây nên sự tùy tiện và các hệ quả khác nhau trong thực tiễn hoạt
động công chứng.
Chỉ đến Nghị định số 75/2000/NĐ-CP, khái niệm công chứng mới được tách
bạch khỏi khái niệm chứng thực. Khái niệm công chứng ở Nghị định này đã được
xác định khoa học hơn, tiệm cận gần hơn với quan niệm chung của thế giới về công
chứng. Theo Nghị định này, "công chứng là việc phòng công chứng chứng nhận tính
xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ
dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao
dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định này" (khoản 1 Điều 2).
Cùng với việc xác định khái niệm công chứng như trên, Nghị định số 75/2000/NĐCP đã xác định khái niệm chứng thực: "là việc Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã
xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ
phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của Nghị định này"
(khoản 2 Điều 2).
Điểm mới quan trọng nữa của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP là đã thay đổi tên
gọi từ "Phòng công chứng nhà nước" ở các văn bản pháp lý trước đó thành "Phòng
công chứng". Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo tiền đề để tiến tới chuyên
môn hóa, chuyên nghiệp hóa và xã hội hóa nghề công chứng ở Việt Nam. Tuy nhiên,
khái niệm công chứng của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP còn có một số điểm chưa
phù hợp, đó là:
Thứ nhất, mặc dù Nghị định đã có sự phân biệt hành vi công chứng và hành vi
chứng thực bằng hai khái niệm khác nhau, song xem xét tổng thể Nghị định số
75/2000/NĐ-CP, có thể thấy, hoạt động công chứng và hoạt động chứng thực vẫn
được đồng nhất cả về chủ thể, đối tượng và ý nghĩa pháp lý.
Thứ hai, nếu Thông tư số 574/QLTPK cũng như Nghị định số 45/CP và Nghị
định số 31/CP chưa xác định chủ thể của hoạt động công chứng, thì Nghị định số
GVHD: Th.s Tăng Thanh Phương
Trang 8
SVTH: Bùi Minh Tâm
Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn
75/2000/NĐ-CP lại xác định chủ thể của hoạt động công chứng là Phòng công
chứng: "Công chứng là việc Phòng công chứng chứng nhận...". Thực tiễn hoạt động
công chứng cho thấy, dù được tổ chức như thế nào, công chứng vẫn là hoạt động của
công chứng viên, công chứng viên phải chịu trách nhiệm cá nhân về hành vi công
chứng của mình. Quy định như trên đã làm "mờ" đi vai trò của công chứng viên
trong hoạt động công chứng.
Thứ ba, xem xét một cách hệ thống các văn bản pháp lý về công chứng ở nước
ta từ năm 1987 đến khi Nghị Định 75/2000/NĐ-CP vẫn còn được áp dụng toàn phần
cho thấy, dù sử dụng thuật ngữ "Công chứng nhà nước" hay "Công chứng" thì quan
niệm về công chứng của Việt Nam vẫn không thay đổi, đó là: công chứng là hoạt
động của Nhà nước, do Nhà nước trực tiếp thực hiện. Với quan niệm này, công
chứng Việt Nam được tổ chức theo mô hình công chứng nhà nước. Cụ thể, phòng
công chứng là cơ quan nhà nước, công chứng viên là công chức nhà nước, hưởng
lương từ ngân sách nhà nước, nhà nước bảo đảm toàn bộ cơ sở vật chất cho hoạt
động công chứng. Đây là mô hình công chứng mang tính đặc thù của Liên Xô (cũ)
và hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa trước đây trong điều kiện kinh tế kế hoạch hóa
tập trung, bao cấp.
Những điểm chưa phù hợp trên đã dẫn đến các cách hiểu khác nhau (thậm chí
trái ngược nhau) về công chứng, đó là: công chứng là một cơ quan hành chính (cũng
có ý kiến cho là cơ quan hành chính tư pháp), hoạt động công chứng là hoạt động
quản lý nhà nước; công chứng là một tổ chức nghề nghiệp, hoạt động công chứng là
hoạt động nghề nghiệp, hỗ trợ công dân, hỗ trợ quản lý nhà nước và hỗ trợ tư pháp,
do đó, công chứng là một thiết chế bổ trợ tư pháp cũng giống như luật sư ...
Sự thiếu thống nhất trong nhận thức về công chứng như trên đã gây ảnh hưởng
không nhỏ tới chất lượng, hiệu quả và vai trò công chứng trong đời sống xã hội.
Nguyên nhân chính ở đây là do trong những giai đoạn này chúng ta chưa có được
nhận thức đúng về bản chất của công chứng. Như vậy, để có được nhận thức thống
nhất, chuẩn xác về công chứng, tạo tiền đề cho sự phát triển công chứng, phát huy
vai trò công chứng trong đời sống xã hội, về mặt lý luận, chúng ta cần nghiên cứu,
hiểu rõ bản chất của công chứng đồng thời đưa ra một khái niệm phù hợp hơn. Đây
là một trong những nguyên nhân thúc đẩy sự ra đời của Luật công chứng hiện nay
(Luật số 82/2006/QH11, sau đây gọi tắt là Luật công chứng năm 2006) - văn bản luật
có giá trị pháp lý cao nhất trong lĩnh vực công chứng và đang được áp dụng ở nước
ta hiện nay.
GVHD: Th.s Tăng Thanh Phương
Trang 9
SVTH: Bùi Minh Tâm
Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn
Khái niệm công chứng theo Luật công chứng năm 2006, Công chứng là việc
công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch
khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp
luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng (Điều 2).
Đây là khái niệm về công chứng hoàn thiện nhất từ trước đến nay, dựa trên nền tảng
của khái niệm công chứng trong nghị định 75/2000/NĐ-CP đồng thời gỡ bỏ được
những điểm không phù hợp trong nghị định này mà chúng ta vừa phân tích. Theo
khái niệm công chứng trong Luật công chứng năm 2006, chúng ta có thể nhận thấy
Chủ thể của hoạt động công chứng đã được xác định rõ là công chứng viên. Đây là
một điểm tiến bộ rất lớn của Luật công chứng năm 2006 so với các văn bản pháp luật
quy định về công chứng ban hành trước đó, có ý nghĩa giúp chúng ta nhận thức rõ
vai trò, trách nhiệm của công chứng viên đồng thời làm mờ nhạt đi sự độc quyền của
nhà nước trong hoạt động công chứng, mở ra con đường xã hội hóa hoạt động công
chứng3. Bên cạnh đó, khái niệm này cũng đã nêu rõ công việc chính của công chứng
viên (chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch), đối tượng
của việc công chứng (hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản) và phạm vi của việc
công chứng (công chứng viên được quyền công chứng các hợp đồng, giao dịch mà
luật đòi hỏi phải công chứng hoặc các bên trong hợp đồng, giao dịch yêu cầu được
công chứng).
Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới người ta đều xem bản chất công chứng là
hoạt động mang tính dịch vụ công4 (service public), là một hoạt động xã hội nghề
nghiệp. Khái niệm công chứng trong Luật công chứng 2006 của nước ta đã bảo đảm
được sự phù hợp, hài hòa, tương thích với quan niệm của thế giới về công chứng, tạo
tiền đề cho sự phát triển công chứng và nâng cao hiệu quả công chứng, phát huy vai
trò công chứng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
hiện nay.
1.1.2 Quan niệm về công chứng trên thế giới
Theo Từ điển Luật học của Mỹ, công chứng (Notarial) là hoạt động của công
chứng viên… Công chứng viên, theo tiếng Latinh là "Notarius". "Notarius" trong
luật Anh cổ là một người sao chép hay trích lục các loại văn bản, giấy tờ khác, người
làm chứng. Trong luật La Mã, công chứng viên là người ghi chép, thư ký, tốc ký,
3
Biến hoạt động công chứng thành một loại dịch vụ đồng thời cho các cá nhân, tổ chức ngoài
nhà nước tham gia thực hiện công chứng.
4
Là những hoạt động mang tính phục vụ do nhà nước trực tiếp thực hiện hoặc chuyển giao
cho các cơ sở ngoài nhà nước thực hiện nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng.
GVHD: Th.s Tăng Thanh Phương
Trang 10
SVTH: Bùi Minh Tâm
Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn
người ghi chép các hoạt động trong nghị viện của tòa án, hoặc ghi chép theo lời
người khác đọc, người soạn các di chúc và giấy chuyển nhượng quyền sở hữu. Theo
cách giải thích trên, xét về nguồn gốc, công chứng là nghề sớm xuất hiện trong lịch
sử loài người (từ thời La Mã cổ đại), với vai trò ghi chép, soạn thảo văn bản và làm
chứng. Nghiên cứu các tài liệu về công chứng cho thấy, trên thế giới có ba hệ thống
công chứng: Hệ thống công chứng La tinh tương ứng với hệ thống luật La Mã (còn
gọi là hệ thống pháp luật dân sự Civil Law); hệ thống công chứng Ănglo Saxon
tương ứng với hệ thống pháp luật Ănglo Saxon (Common Law) và hệ thống công
chứng Collectiviste tương ứng với hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa (Sovietique).
So sánh các hệ thống công chứng cho thấy, mặc dù giữa hệ thống công chứng
La tinh và hệ thống công chứng Anglo Saxon có sự khác biệt nhau về cách thức tổ
chức, hoạt động, trình tự, thủ tục công chứng, song quan niệm về công chứng ở hai
hệ thống này về cơ bản tương đồng. Cả hai hệ thống này đều coi công chứng là một
nghề tự do, công chứng viên hoạt động độc lập, tự chịu trách nhiệm cá nhân về hoạt
động của mình. Tuy nhiên, đó là một nghề đặc biệt, đòi hỏi công chứng viên phải có
trình độ chuyên môn (luật) và kỹ năng nghiệp vụ được nhà nước công nhận để có thể
đảm bảo tính xác thực cho các hợp đồng vốn rất phức tạp, đa dạng. Công chứng viên
do nhà nước bổ nhiệm hoặc công nhận theo các điều kiện, tiêu chuẩn do luật định và
hoạt động theo chế độ chứng chỉ hành nghề. Có thể thấy rõ điều đó qua pháp luật
thực định về công chứng của một số nước.
Ở Cộng hòa Pháp (một điển hình của trường phái công chứng La tinh), Điều 1
Pháp lệnh số 452500 ngày 02/11/1945 về Điều lệ công chứng của Cộng hòa Pháp
quy định: "Công chứng viên là viên chức công, được bổ nhiệm để lập các hợp đồng
và văn bản mà theo đó, các bên phải hoặc muốn đem lại tính xác thực giống như các
văn bản của các cơ quan công quyền và để đảm bảo ngày, tháng chắc chắn, lưu giữ
và cấp các bản sao văn bản công chứng" .
Ở Vương quốc Anh (một trong các điển hình của trường phái công chứng
Anglo Saxon), quy chế công chứng năm 1801, 1833, 1834 quy định: "Công chứng
viên là viên chức được bổ nhiệm để thực hiện các hành vi công chứng sau: Soạn
thảo, chứng nhận hoặc xác lập chứng thư và các giấy tờ khác có liên quan đến việc:
chuyển nhượng hoặc xác lập giấy tờ khác có liên quan đến việc chuyển nhượng bất
động sản và tài sản cá nhân, giấy ủy quyền liên quan đến bất động sản và tài sản cá
nhân ở Anh, các nước khác thuộc khối cộng đồng Anh hoặc ở nước ngoài; chứng
nhận hoặc xác nhận các giấy tờ liên quan đến di chúc, lập kháng nghị hàng hải về sự
cố xảy ra đối với tàu và hàng hóa trên tàu trong thời gian tàu đi trên biển".
GVHD: Th.s Tăng Thanh Phương
Trang 11
SVTH: Bùi Minh Tâm
Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn
Hệ thống công chứng Collectiviste lại có quan niệm về công chứng khác với hệ
thống công chứng La tinh và hệ thống công chứng Anglo Saxon. hệ thống công
chứng Collectiviste, công chứng chưa ở được coi là một nghề (công chứng viên là
công chức nhà nước, kiêm nhiệm cả việc chứng thực (thị thực hành chính); việc công
chứng được giao cho cả các chủ thể không phải là công chứng viên đảm nhiệm; công
chứng viên không có chứng chỉ hành nghề, không phải chịu trách nhiệm dân sự trước
khách hàng, chỉ phải chịu trách nhiệm hành chính trước nhà nước về những sai phạm
trong hoạt động của mình).
Tuy nhiên, hiện nay trong hệ thống công chứng Collectiviste, hầu hết các nước
đã chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đều có sự đổi mới trong quan niệm về
công chứng phù hợp với quan niệm của hệ thống công chứng La tinh và hệ thống
Anglo Saxon, đó là xác định công chứng là một nghề tự do đặt dưới sự quản lý của
nhà nước và đang từng bước tiến hành cải cách công chứng từ mô hình công chứng
nhà nước sang mô hình công chứng tự do. Ví dụ: ở Ba Lan, Điều 1 Luật số 176 ngày
14/02/1991 về công chứng quy định: "Công chứng viên được bổ nhiệm để lập những
văn bản mà trong đó, các bên phải hoặc muốn đem lại một tính đích thực".
So sánh những quy định nêu trên cho thấy, nội dung chi tiết về chức năng,
nhiệm vụ của công chứng viên trong pháp luật thực định của các nước có những
điểm khác nhau, nhưng quan niệm về công chứng đều có những điểm cơ bản giống
nhau:
- Chủ thể của hoạt động công chứng là công chứng viên.
- Công chứng là việc soạn thảo, chứng nhận (xác nhận, chứng thực) các hợp
đồng giao dịch.
- ý nghĩa pháp lý của hoạt động công chứng là đảm bảo giá trị thực hiện cho các
hợp đồng giao dịch, phòng ngừa tranh chấp và cung cấp chứng cứ nếu có tranh chấp
xảy ra (văn bản công chứng là một công chứng thư).
Qua các phân tích trên cho thấy,khởi nguồn, hoạt động công chứng là hoạt động
của xã hội, với vai trò làm chứng của quần chúng nhằm đảm bảo tính công khai,
minh bạch, khách quan của các khế ước, văn tự được lập, đề phòng sự tranh chấp, lật
lọng. Có thể nói, ở giai đoạn đầu của lịch sử công chứng, công chứng chính là nhu
cầu tự nhiên, tự bảo vệ của dân chúng khi họ tham gia các hợp đồng, giao dịch chứ
chưa phải nhu cầu của quản lý nhà nước. Như vậy, công chứng là một hoạt động
mang tính xã hội sâu sắc.
Mặt khác, với vai trò chủ yếu là hỗ trợ công dân, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của công dân và các tổ chức trong các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại; phòng
GVHD: Th.s Tăng Thanh Phương
Trang 12
SVTH: Bùi Minh Tâm
Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn
ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật; hỗ trợ quản lý nhà nước, góp phần đảm bảo
ổn định trật tự xã hội, thúc đẩy các giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại phát triển và
hỗ trợ tư pháp thông qua việc cung cấp chứng cứ cho hoạt động xét xử, công chứng
là một nghề có tính chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa phục vụ cho lợi ích chung
của xã hội, cộng đồng. Với vai trò quan trọng như trên, công chứng đã trở thành đối
tượng quản lý của Nhà nước. Vì mục tiêu hiệu quả và công bằng nên ở nhiều quốc
gia công chứng đã trở thành một hoạt động thuộc chức năng xã hội của Nhà nước,
một dịch vụ công.
Như vậy, nhìn chung trên thế giới, bản chất công chứng là hoạt động mang tính
dịch vụ công. Về mặt tổ chức thì tổ chức hành nghề công chứng được xác định là
một tổ chức nghề nghiệp chứ không phải là cơ quan hành chính hay cơ quan hành
chính - tư pháp, còn công chứng viên đóng vai trò là chủ thể thực hiện hàng vi công
chứng. Với sự tinh thông nghề nghiệp, bằng việc tư vấn, soạn thảo, chứng nhận các
hợp đồng, giấy tờ, công chứng viên đã cung cấp dịch vụ công chứng bảo đảm an toàn
pháp lý cho công dân và các tổ chức khi tham gia giao dịch dân sự, kinh tế, thương
mại.
1.2 Đặc điểm của công chứng
1.2.1 Hoạt động công chứng vừa mang tính công quyền, vừa mang tính dịch vụ
công
Hoạt động của công chứng vừa mang tính công quyền vừa mang tính chất dịch
vụ công. Tính công quyền thể hiện ở chỗ công chứng viên của các tổ chức hành nghề
công chứng (phòng công chứng hoặc văn phòng công chứng) đều do Bộ trưởng Bộ
Tư pháp bổ nhiệm để công chứng các hợp đồng giao dịch giữa các tổ chức, công dân
theo qui định của pháp luật. Khi tác nghiệp, công chứng viên nhân danh nhà nước
thực thi công việc. Hoạt động công chứng còn mang tính chất dịch vụ công. Nói rõ
hơn, đây là một loại dịch vụ của Nhà nước nhưng Nhà nước giao lại cho tổ chức
hành nghề công chứng đảm nhiệm. Một trong những nguyên tắc cơ bản của dịch vụ
công là phải bảo đảm được tính liên tục không bị gián đoạn của dịch vụ công. Hoạt
động dịch vụ này nhằm hướng tới 3 lợi ích sau:
Một là, lợi ích của nhà nước: Hoạt động công chứng góp phần làm cho các hợp
đồng, giao dịch được thực hiện theo đúng khuôn khổ của pháp luật, góp phần tăng
cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa.
Hai là, lợi ích của các bên tham gia giao dịch: Công chứng giúp cho các tổ
chức, cá nhân thực hiện các hợp đồng, giao dịch đúng pháp luật, nhờ đó giảm thiểu
GVHD: Th.s Tăng Thanh Phương
Trang 13
SVTH: Bùi Minh Tâm
Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn
tranh chấp, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia
giao dịch.
Ba là, lợi ích của tổ chức hành nghề công chứng: Khi thực hiện hoạt động công
chứng, tổ chức hành nghề công chứng được thu phí và thù lao công chứng theo qui
định.
Các tổ chức hành nghề công chứng được Nhà nước chuyển giao cho một phần
quyền của Nhà nước để thực hiện chức năng của Nhà nước trong một lĩnh vực cụ thể
là công chứng các hợp đồng, giao dịch. Đồng thời, Nhà nước cũng chuyển giao cho
các tổ chức hành nghề công chứng một trách nhiệm và nghĩa vụ lớn là phải thực hiện
công chứng một cách đúng pháp luật và đảm bảo được lợi ích của Nhà nước.
1.2.2 Hành vi công chứng chỉ được thực hiện bởi công chứng viên
Công chứng ở nước ta có điểm giống nhau so với công chứng của hầu hết các
nước trên thế giới là đều do tổ chức công chứng quản lý và do công chứng viên thực
hiện. Hoạt động công chứng được xem là một trong các nghề tư pháp, công chứng
viên là một chức danh do nhà nước quy định về tiêu chuẩn chuyên môn, đạo đức,
được quyền hành nghề tự do trong khuôn khổ luật định. Công chứng viên là người
được giao nhiệm vụ chứng nhận các hợp đồng, giao dịch của công dân và tổ chức
nhằm tạo ra một chứng cứ xác thực có giá trị pháp lý cao ngoại trừ trường hợp bị
quyết định của tòa án tuyên vô hiệu, tạo sự tin tưởng cho các bên tham gia hợp đồng,
giao dịch. Từ khái niệm công chứng quy định tại điều 2 của Luật công chứng năm
2006 thì không có chủ thể nào khác ngoài công chứng viên có thể thực hiện hành vi
công chứng. Ngoài ra, công chứng viên có sự độc lập trong tác nghiệp chuyên môn,
công chứng viên không chịu trách nhiệm trước các cơ quan cơ quan cấp trên hay
trước trưởng phòng, trưởng văn phòng mà tự chịu trách nhiệm trước pháp luật đối
với hành vi công chứng của mình. Nói cách khác, trong tác nghiệp chuyên môn, công
chứng viên không bị lệ thuộc vào cấp trên.
1.2.3 Văn bản hợp đồng, giao dịch sau khi được công chứng có giá trị thi hành và
giá trị chứng cứ
Như chúng ta đã biết, "hợp đồng, giao dịch bằng văn bản" mà các bên đã giao
kết sẽ trở thành "văn bản công chứng" sau khi nó được các bên mang đi công chứng.
Việc khẳng định giá trị pháp lý của văn bản công chứng có ý nghĩa quan trọng quyết
định sự tồn tại của hoạt động công chứng trong đời sống xã hội. Tại sao các hợp
đồng, giao dịch (đặc biệt là các hợp đồng, giao dịch về bất động sản) cần phải được
công chứng? Nói cách khác, các bên trong hợp đồng, giao dịch có được lợi ích gì khi
qua thủ tục công chứng. Theo quy định tại Điều 6 Luật Công chứng:
GVHD: Th.s Tăng Thanh Phương
Trang 14
SVTH: Bùi Minh Tâm
Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn
"1. Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong
trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền
yêu cầu Toà án giải quyết theo qui định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham
gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác.
2. Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong văn
bản công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Toà án tuyên bố là vô
hiệu."
Như vậy, hợp đồng, giao dịch đã được công chứng sẽ có hai giá trị pháp lý cơ
bản sau đây:
Một là, giá trị thi hành của văn bản công chứng. Nói văn bản công chứng có giá
trị thi hành có nghĩa là những gì đã thoả thuận trong văn bản công chứng thì có hiệu
lực bắt buộc thi hành đối với các bên hợp đồng, giao dịch đồng thời đối với cả bên
thứ ba. Trước hết, xét trong mối quan hệ giữa các bên giao kết hợp đồng thì hiển
nhiên là những gì mà họ đã cam kết trong hợp đồng, giao dịch thì họ phải có nghĩa
vụ thực hiện, không được bội ước. Đó cũng là nguyên tắc của luật dân sự. Mặt khác,
xét trong mối quan hệ với người thứ ba thì văn bản công chứng cũng có hiệu lực bắt
buộc người thứ ba phải tôn trọng và thi hành. Điều này cũng là xuất phát từ nguyên
tắc tôn trọng quyền tự do giao kết hợp đồng của chủ thể.
Hai là, giá trị chứng cứ không phải chứng minh trước Toà án. Vấn đề giá trị
chứng cứ của văn bản công chứng không phải chứng minh cũng đã được quy định tại
Điều 80 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004. Cơ sở của quy định này là xuất phát
từ việc thừa nhận chức năng của Công chứng viên về chứng nhận tính xác thực của
các hợp đồng, giao dịch như đã nêu trên. Tính xác thực do Công chứng viên chứng
nhận biến các tình tiết, sự kiện có trong hợp đồng, giao dịch trở thành chứng cứ hiển
nhiên trước tòa. Tại điều 6 của Luật Công chứng cũng khẳng định là giá trị chứng cứ
của văn bản công chứng sẽ bị bác bỏ khi bị Tòa án tuyên là vô hiệu. Nhưng như vậy
cũng không có nghĩa là Tòa án có thể tuyên vô hiệu một cách tùy tiện. Một người
muốn yêu cầu Tòa án tuyên bố một văn bản công chứng là vô hiệu thì phải chứng
minh được văn bản công chứng đó được lập một cách trái pháp luật. Nếu không
chứng minh được điều đó thì văn bản công chứng sẽ được công nhận là chứng cứ
hiển nhiên trước Tòa án. Có thể nói, vai trò phòng ngừa của Công chứng viên thể
hiện ở chỗ: ngay khi hợp đồng,giao dịch được công chứng, các bên giao kết hợp
đồng đã củng cố được chứng cứ về việc ký kết hợp đồng đó để đề phòng các tranh
chấp về sau.
GVHD: Th.s Tăng Thanh Phương
Trang 15
SVTH: Bùi Minh Tâm
Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn
1.3 Vai trò của công chứng
Công chứng là hoạt động có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, thể hiện:
Thứ nhất: Công chứng là một biện pháp tích cực hỗ trợ cho công dân và các tổ
chức, bảo đảm an toàn cho họ trong các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại bằng
cách tạo lập “văn bản công chứng” - một loại chứng cứ không thể phản bác. Bằng sự
tinh thông nghề nghiệp của công chứng viên, với trình tự, thể thức chặt chẽ, nghiêm
ngặt trong quá trình lập văn bản công chứng, công chứng đảm bảo sự bình đẳng, tự
nguyện, tự do ý chí, khách quan của các bên giao kết hợp đồng, tránh bị lừa dối, đe
dọa, nài ép, tránh sự nhầm lẫn về chủ thể, đối tượng và nội dung của các hợp đồng
giao dịch.
Với vai trò hỗ trợ cho công dân, tổ chức trong các quan hệ dân sự, kinh tế,
thương mại, công chứng là một biện pháp phòng ngừa có hiệu quả và quan trọng ở cả
hai khía cạnh: tạo cho công dân ý thức thận trọng, có trách nhiệm hơn trong việc thể
hiện ý chí của mình phù hợp với pháp luật, với đạo đức xã hội khi tham gia các quan
hệ giao dịch; đồng thời nếu có xảy ra tranh chấp trong các quan hệ pháp lý đó, thì đã
có cơ sở pháp lý chắc chắn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Với vai
trò truyền thống nói trên, trong điều kiện kinh tế thị trường và Nhà nước pháp quyền,
quyền tự do kinh doanh, tự do sở hữu, tự do định đoạt được khẳng định và đảm bảo
thực hiện, vai trò công chứng ngày càng được khẳng định. Đối với nước ta, công
chứng còn là một trong các thiết chế bảo đảm quyền dân chủ. Hoạt động công chứng
góp phần đảm bảo trật tự, ổn định xã hội, làm lành mạnh hóa thị trường giao dịch,
tạo điều kiện để công dân thực hiện tốt hơn quyền tự do kinh doanh, tự do sở hữu, tự
do định đoạt, đảm bảo các nguyên tắc của kinh tế thị trường.
Như vậy, công chứng chính là một trong các phương tiện, công cụ tạo ra khả
năng để công dân tự bảo vệ các quyền và lợi ích của mình; đồng thời góp phần nâng
cao dân trí pháp lý, mở rộng dân chủ, đề cao trách nhiệm công dân trong các giao lưu
dân sự, kinh tế, thương mại; tạo môi trường pháp lý an toàn, lành mạnh để các giao
lưu dân sự, kinh tế, thương mại phát triển, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát
triển.
Thứ hai: Bản thân công chứng không phải là một hoạt động quản lý hành chính
nhà nước, nhưng nó góp phần hỗ trợ tích cực cho Nhà nước thực hiện chức năng
quản lý kinh tế, quản lý xã hội bằng pháp luật, một yêu cầu cốt lõi của Nhà nước
pháp quyền.
Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường, có sự quản lý vĩ mô của nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong vai trò quản lý nền kinh tế, nhà nước cần
GVHD: Th.s Tăng Thanh Phương
Trang 16
SVTH: Bùi Minh Tâm
Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn
có trách nhiệm sử dụng nhiều biện pháp để đảm bảo cho các nhân, tổ chức khi tham
gia các giao dịch dân sự thật an toàn, không bị lừa dối, đảm bảo cho các giao dịch
của họ là hợp pháp. Trách nhiệm đó của Nhà nước đã được các cơ quan, tổ chức thực
hiện hoạt động công chứng đảm đương. Vì vậy, hoạt động công chứng đã hỗ trợ đắc
lực cho nhà nước trong việc quản lý nền kinh tế của quốc gia.
Ngoài ra, bằng cách tạo ra chứng cứ không thể phản bác cho các bên trong
giao dịch, công chứng tạo thuận lợi cho hoạt động xét xử của tòa án nếu có tranh
chấp xảy ra. “Văn bản công chứng” là một hình thức vật chất thể hiện ý chí của các
bên trong một hợp đồng, giao dịch, là một thứ chứng cứ không cần chứng minh.
Công chứng được xem như là một hoạt động bổ trợ tư pháp bởi lẽ “văn bản công
chứng” do hoạt động này tạo ra sẽ giúp cho cơ quan Tòa án không phải tốn nhiều
công sức để tìm chứng cứ xác thực. Tòa án có thể có được văn bản công chứng do
các bên tranh chấp cung cấp hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức hành nghề công chứng
cho xem văn bản này. Có thể nói, công chứng giúp cơ quan xét xử thực hiện chức
năng của mình một cách dễ dàng, nhanh chóng và chính xác, góp phần đem lại công
bằng xã hội.
1.4 Lịch sử phát triển hoạt động công chứng ở Việt nam
1.4.1 Hoạt động công chứng ở nước ta trước cách mạng tháng 8/1945
Hoạt động công chứng xuất hiện là do yêu cầu của việc quản lý của nhà nước
đối với các hoạt động giao dịch, yêu cầu cung cấp chứng cứ cho cơ quan tài phán. Ở
nước ta trước thời kỳ pháp thuộc, chưa thấy xuất hiện thuật ngữ công chứng. Nhưng
nếu xét về lịch sử ra đời và phát triển của nhà nước phong kiến ở việt Nam thì thấy
đã có mầm mống về hoạt động công chứng. Dưới thời Lê, di chúc được làm dưới
dạng chúc thư; để có giá trị thì chúc thư phải được lập thành văn bản dưới hình thức
nhất định, nếu người làm chúc thư không biết chữ thì chúc thư phải được xã trưởng
viết hộ và chứng thực nhằm ngăn ngừa việc gian lận đối với chúc thư, đồng thời luật
cũng quy định việc xử phạt đối với việc làm giả mạo giấy tờ.
Vào thời kỳ bảo hộ của Pháp, công chứng với tư cách là thể chế bắt đầu xuất
hiện và áp dụng tại Việt nam cùng với sự thành lập tổ chức và hoạt động của tòa án
Pháp tại Việt nam và được tổ chức theo mô hình công chứng của Pháp. Trong giai
đoạn này, hoạt động công chứng được xác lập bằng sắc lệnh ngày 24/8/1931 của
Tổng thống Cộng hòa pháp về tổ chức công chứng được áp dụng ở Đông Dương.
Hoạt động công chứng ở nước ta chịu sự chi phối bởi pháp luật công chứng của
Pháp. Chưởng ấn Bộ trưởng tư pháp bổ nhiệm công chứng viên, thành lập văn phòng
công chứng, giám sát hoạt động nghề nghiệp của công chứng viên. Hội đồng công
GVHD: Th.s Tăng Thanh Phương
Trang 17
SVTH: Bùi Minh Tâm
Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn
chứng tối cao được đặt bên cạnh Bộ tư pháp chịu trách nhiệm quản lý điều hành hội
đồng công chứng các khu vực. Hội đồng công chứng các khu vực chịu sự giám sát
của Tòa thượng thẩm. Mô hình công chứng được thiết lập theo mô hình công chứng
hệ la tinh, công chứng viên đứng ra tổ chức và điều hành mọi hoạt động của văn
phòng công chứng, chịu trách nhiệm về hành vi công chứng.
1.4.2 Hoạt động công chứng ở nước ta từ 1945-1991
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt nam dân chủ cộng hòa ra đời.
Ngày 01/10/1945, Bộ trưởng Bộ tư pháp đã ký nghị định bổ nhiệm ông Vũ Quý Vỹ
mang quốc tịch Việt nam làm công chứng viên tại văn phòng công chứng ở Hà Nội,
nghị định quy định các luật lệ cũ về công chứng vẫn được thi hành, trừ những điều
khoản không phù hợp với nền độc lập và chính thể dân chủ cộng hòa Việt Nam. Có
thể nói đây là tổ chức công chứng đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa. Tổ chức công chứng mang đậm dấu ấn của công chứng Pháp.
Ngày 15/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành sắc lệnh 59/SL ấn định
thể lệ về thị thực các giấy tờ. Theo sắc lệnh này, việc thị thực chỉ là thủ tục hành
chính, quyền thị thực các giấy tờ trước đây giao cho lý trưởng các làng và trưởng
phố, ở thành thị thì nay giao về Ủy ban nhân dân của làng hoặc Ủy ban nhân dân
hàng phố. Ủy ban làm nhiệm vụ thị thực phải là Ủy ban nơi trú quán của một hoặc
các bên đương sự lập khế ước; đối với bất động sản phải là Ủy ban nơi có bất động
sản đó thị thực, nếu có nhiều bất động sản ở nhiều nơi thì giấy tờ lập ra về những bất
động sản ấy phải do Ủy ban mỗi nơi có bất động sản đó thị thực. Các ủy ban thị thực
phải có trách nhiệm về việc thị thực, khi xảy ra thiệt hại đến tư nhân vì sự thực
không đúng, công quỹ của làng hay của hàng phố phải bồi thường. Ngày 29/2/1952,
Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra Sắc lệnh 85/SL về việc mua bán, trao
đổi nhà cửa , ruộng đất.
Hai sắc lệnh nói trên là cơ sở chủ yếu cho hoạt động thị thực của Ủy ban hành
chính kháng chiến và sau này là Ủy ban nhân dân trong gần nửa thế kỷ. Nguyên nhân
của hoạt động công chứng không được phát triển trong giai đoạn này là do điều kiện
kinh tế, xã hội, hoàn cảnh chiến tranh của nước ta trong thời kỳ này và việc không
chấp nhận chế độ sỡ hữu các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể. Vì thế,
tổ chức công chứng không được thành lập, mọi giao lưu kinh tế dân sự đều dựa trên
quan hệ hành chính, hoạt động công chứng rất đơn giản.
Từ sau năm 1954 kéo dài đến cuối những năm 70, Nhà nước ta thiết lập một
nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, bằng cách phát triển và cải tạo nền kinh tế
quôc dân theo chủ nghĩa xã hội, biến nền kinh tế nhiều thành phần thành nền kinh tế
GVHD: Th.s Tăng Thanh Phương
Trang 18
SVTH: Bùi Minh Tâm
Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn
xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, thiếu thủ tục hành chính và các thủ tục thể hiện vai
trò kiểm soát kinh tế có hiệu quả của nhà nước, không đủ các thủ tục tài phán hành
chính để điều hòa mối quan hệ giữa nhà nước và công dân. Xuất phát từ những
nguyên nhân trên, dẫn đến hoạt động công chứng không có điều kiện để phát triển.
1.4.3 Hoạt động công chứng ở nước ta từ 1991 đến nay
Trên tinh thần Nghị quyết của đại hội Đảng lần thứ VII, đặc biệt là cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nước ta tiếp tục phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền
kinh tế theo cơ chế thị trường đã tạo ra những mối quan hệ mới trong lĩnh vực phát
triển và quản lý nền kinh tế, các giao dịch trong các lĩnh vực dân sự, kinh tế, thương
mại phát triển mạnh mẽ đòi hỏi phải có thể chế phù hợp phục vụ cho cơ chế kinh tế
đó. Trong lĩnh vực công chứng đặt ra nhiệm vụ mới, cần phải có một tổ chức hoạt
động chuyên nghiệp. Trên cơ sở đó, ngày 27/2/1991 Hội đồng Bộ trưởng đã ban
hành Nghị định số 45/HĐBT về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước. Nghị
định quy định về tổ chức công chứng nhà nước (chưa cho phép tư nhân tham gia
thực hiện hoạt động công chứng), trình tự thủ tục thực hiện các việc công chứng,
quản lý tổ chức và hoạt động công chứng, tiêu chuẩn công chứng viên, giá trị pháp lý
của văn bản công chứng. Nghị định 45/HĐBT ra đời đánh dấu một sự tiến triển mới
của mối liên hệ giữa hoạt động phòng ngừa tranh chấp và hoạt động tài phán, tổ chức
hoạt động công chứng thay thế công việc của Ủy ban nhân dân về công chứng, đối
với những nơi chưa thành lập Phòng công chứng thì Ủy ban nhân dân được phép tiếp
tục thực hiện một số việc công chứng. Tuy nhiên, sự phát triển các quan hệ xã hội
với điều kiện nền kinh tế thị trường bắt đầu phát triển dẫn đến Nghị định 45/HĐBT
trở nên không còn phù hợp. Ngày 18/5/1996, chính phủ đã ban hành Nghị định
31/CP về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước thay thế cho Nghị định
45/HĐBT. Do nhu cầu phục vụ sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, ngày
08/12/2000 Chính phủ đã ban hành Nghị định 75/2000/NĐ-CP về công chứng chứng
thực. Nghị định này quy định về phạm vi công chứng, chứng thực, tổ chức Phòng
công chứng, nguyên tắc hoạt động, thủ tục, trình tự thực hiện việc công chứng,
chứng thực, công tác chứng thực của Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh và Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của cá nhân, tổ chức về công chứng, đồng
thời tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng. Ngày 29/11/2006,
Luật công chứng ra đời đưa ra định hướng đúng đắn về xã hội hóa hoạt động công
chứng. Bên cạnh các phòng công chứng nhà nước thì các văn phòng công chứng ra
GVHD: Th.s Tăng Thanh Phương
Trang 19
SVTH: Bùi Minh Tâm
Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn
đời (do tư nhân thành lập theo trình tự luật định), đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các cá
nhân, tổ chức trong các giao dịch dân sự. Tác phong phục vụ, lề lối làm việc cũng tốt
hơn, bớt đi tình trạng cửa quyền, khó khăn của các phòng công chứng trước kia.
Xét về việc thực hiện hoạt động công chứng hiện nay thì bao gồm Phòng công
chứng và Văn phòng công chứng là cơ quan chuyên trách. Ngoài ra thì cơ quan đại
diện của Việt Nam ở nước ngoài cũng có thẩm quyền công chứng một số việc theo
quy định của Luật công chứng.
1.5 Các nguyên tắc thực hiện hoạt động công chứng
Nguyên tắc của việc thực hiện hoạt động công chứng là những tư tưởng chỉ đạo
về việc xây dựng cơ cấu, tổ chức và cơ chế hoạt động trong lĩnh vực công chứng. Đó
là những yêu cầu khách quan của đời sống xã hội được thể chế hóa thành các quy
định cụ thể về tổ chức và hoạt động công chứng.
Nghị định 45/CP (ngày 27/2/1991), Nghị định 31/CP (ngày 18/5/1996), Nghị
định 75/2000/NĐ-CP (ngày 8/12/2000) đã quy định những nguyên tắc về việc thực
hiện hoạt động công chứng. Một lần nữa Luật công chứng năm 2006 đã khẳng định
lại những nguyên tắc đó (tại Điều 3), thể hiện một cách xúc tích nhưng đầy đủ và
hoàn thiện hơn. Những nguyên tắc đó là những nguyên tắc liên quan đến việc xây
dựng cơ cấu tổ chức, mối quan hệ công tác giữa cơ quan công chứng với các cơ quan
khác của Nhà nước và các tổ chức xã hội. Do đó, toàn bộ những nguyên tắc mà Luật
công chứng năm 2006 quy định về công chứng đã thể hiện rõ vai trò của hoạt động
công chứng và yêu cầu công tác chứng nhận phải khách quan, chính xác, đồng thời
công chứng còn phải tham gia tích cực vào công việc đấu tranh phòng ngừa những
việc làm vi phạm pháp luật.
1.5.1 Nguyên tắc độc lập thực hiện công chứng và chịu trách nhiệm cá nhân trước
pháp luật
Đối với hoạt động công chứng ở nước ta, trong khi thực hiện nhiệm vụ thì công
chứng viên thực hiện hành vi công chứng một cách độc lập, hoạt động công chứng
không bị chi phối hoặc áp đặt bởi bất cứ một tổ chức hoặc cá nhân nào. Người thực
hiện hành vi công chứng phải chịu trách nhiệm cá nhân về công việc mà mình thực
hiện.
Công chứng là lĩnh vực hoạt động tư pháp chuyên sâu, cho nên đòi hỏi phải có
viên chức chuyên trách là công chứng viên thực hiện công việc này. Ở nước ta công
chứng viên là một chức danh tư pháp, công chứng là một nghề trong số các nghề bổ
trợ tư pháp. Công chứng viên được đào tạo theo một quy trình chặt chẽ. Công chứng
viên hoạt động độc lập, tuân theo pháp luật, thủ trưởng cơ quan công chứng không
GVHD: Th.s Tăng Thanh Phương
Trang 20
SVTH: Bùi Minh Tâm
Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn
chịu trách nhiệm về văn bản công chứng do công chứng viên thực hiện. Tương tự
như vậy, những người có thẩm quyền thực hiện công chứng ở cơ quan đại diện ngoại
giao của Việt Nam ở nước ngoài cũng chịu trách nhiệm cá nhân về các việc công
chứng, chứng thực do mình thực hiện.
Theo quy định hiện nay, quan hệ giữa công chứng viên và trưởng phòng công
chứng chỉ là quan hệ hành chính khi được phân công thực hiện các việc công chứng,
còn khi thực hiện các hành vi công chứng thì công chứng viên nhân danh cá nhân
mình với tư cách là công chứng viên (được Nhà nước bổ nhiệm làm công chứng
viên) giống như quan hệ giữa Chánh án và Thẩm phán của Tòa án. Vì vậy, có thể nói
độc lập trong hành vi công chứng là nguyên tắc song hành với nguyên tắc chịu trách
nhiệm cá nhân trong hoạt động công chứng.
1.5.2 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Công chứng ở nước ta hoạt động động theo nguyên tắc việc công chứng phải
tuân theo các quy định của pháp luật về công chứng. Thực hiện nguyên tắc pháp chế
xã hội chủ nghĩa trong hoạt động công chứng có nghĩa là những người thực hiện
hành vi công chứng và những người yêu cầu công chứng phải nghiêm chỉnh và triệt
để tuân thủ pháp luật khi thực hiện quyền hạn và nghĩa vụ của mình, đồng thời cơ
quan quản lý công chứng phải thực hiện việc quản lý điều hành, phải tuân thủ đúng
các quy định của pháp luật về công chứng, đảm bảo cho pháp luật được tôn trọng và
thi hành nghiêm minh. Mọi công dân, tổ chức có quyền yêu cầu thực hiện công
chứng trong khuôn khổ pháp luật quy định, đảm bảo sự thống nhất về kỷ cương, trật
tự, hiệu lực quản lý các hoạt động giao dịch, bảo đảm dân chủ và công bằng xã hội,
đồng thời tránh khuynh hướng tùy tiện trong hoạt động chứng nhận của những người
có thẩm quyền thực hiện hành vi công chứng. Khi thực hiện công chứng phải tuân
thủ các nguyên tắc, trình tự, thủ tục được quy định trong Nghị định về tổ chức và
hoạt động công chứng, các quy định khác của pháp luật và các điều ước quốc tế mà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc công nhận. Hoạt động công
chứng nhà nước nhằm giúp đỡ pháp lý cho công dân, tổ chức trong việc thực hiện
quyền và bảo vệ lợi ích hợp pháp của họ. Vì vậy những người thực hiện công chứng
phải có trách nhiệm giải thích cho đương sự hiểu rõ quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp
pháp của họ, cũng như ý nghĩa pháp lý của việc công chứng mà họ yêu cầu. Phải bảo
đảm thực hiện đúng các quy định về địa điểm, thời hạn. Việc từ chối thực hiện công
chứng phải theo đúng các quy định về trình tự, thủ tục, nội dung lập và lưu giữ văn
bản công chứng.
GVHD: Th.s Tăng Thanh Phương
Trang 21
SVTH: Bùi Minh Tâm
Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn
Để đảm bảo được nguyên tắc này đòi hỏi, thứ nhất, pháp luật về công chứng
của nước ta phải đầy đủ, kịp thời và đồng bộ, tăng cường công tác đào tạo cán bộ
quản lý công chứng và công chứng viên; thứ hai, triển khai công tác tuyên truyền
giáo dục, giải thích pháp luật về công chứng; thứ ba, xử lý nghiêm minh các hành vi
vi phạm pháp luật trong hoạt động công chứng, chứng nhận.
1.5.3 Nguyên tắc giữ bí mật về nội dung công chứng và những thông tin có liên
quan đến việc công chứng
Đây là một nguyên tắc có tính đặc thù trong hoạt động công chứng. Ngoài
việc thực hiện các nguyên tắc công khai lắng nghe và tôn trọng việc bày tỏ ý chí của
công dân và tổ chức có yêu cầu công chứng , công chứng viên và những người có
liên quan phải tuyệt đối giữ bí mật về nội dung công chứng, trừ những trường hợp cơ
quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu bằng văn bản về việc cung cấp hồ sơ công
chứng hoặc hồ sơ chứng thực phục vụ cho công tác kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy
tố, xét xử có liên quan đến việc đã công chứng, thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền
công chứng có trách nhiệm cung cấp bản sao văn bản công chứng và các giấy tờ
khác có liên quan. Việc đối chiếu bản sao hồ sơ văn bản công chứng chỉ thực hiện tại
cơ quan có thẩm quyền công chứng nơi đang lưu trữ hồ sơ.
1.5.4 Nguyên tắc bảo đảm tính khách quan, trung thực, chính xác trong hoạt động
công chứng
Khi thực hiện công chứng, người thực hiện hành vi công chứng phải khách
quan, trung thực và phải chịu trách nhiệm về việc công chứng của mình; trong
trường hợp biết hoặc phải biết việc công chứng hoặc nội dung công chứng là trái
pháp luật, đạo đức xã hội thì không được thực hiện công chứng. Đây là nội dung
quan trọng quyết định tính xác thực trong hoạt động công chứng. Công chứng viên
phải làm tròn bổn phận theo chức trách được giao thể hiện bằng sự trung thành với
Nhà nước, tận tâm phục vụ nhân dân, tận tụy với công việc; thực hiện đúng quy chế
làm việc, không được làm bất cứ điều gì có hại cho Nhà nước, tập thể và công dân;
không được lợi dụng danh nghĩa công việc mình thực hiện mà tiến hành các hoạt
động tư lợi. Công chứng viên không được phép thiên vị trong khi thực hiện công
chứng.
Để đảm bảo được nguyên tắc này, pháp luật về công chứng của các nước trên
thế giới đều quy định: công chứng viên không được thực hiện công chứng cho bản
GVHD: Th.s Tăng Thanh Phương
Trang 22
SVTH: Bùi Minh Tâm
Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn
thân mình, cho vợ (chồng) mình hoặc cho bố, mẹ, các con, anh, chị em ruột của
mình.
Tính khách quan, chính xác của văn bản công chứng thể hiện ở chỗ các văn bản
công chứng phải dựa trên cơ sở các sự việc có thật, để sao cho kết luận của công
chứng viên là có căn cứ. Để làm được việc này, trong một số trường hợp cần thiết,
công chứng viên không những chỉ kiểm tra, xem xét những giấy tờ mà đương sự xuất
trình, mà còn phải tự ý yêu cầu thêm các thông tin cần thiết khác phục vụ cho việc
công chứng của mình.
GVHD: Th.s Tăng Thanh Phương
Trang 23
SVTH: Bùi Minh Tâm
Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn
CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG
CHỨNG
2.1 Chủ thể thực hiện hành vi công chứng - Công chứng viên
Theo quy định của pháp luật hiện nay thì không có chủ thể nào khác ngoài công
chứng viên có thẩm quyền thực hiên hành vi công chứng (điều 2 Luật công chứng
2006 quy định: "Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận ...." ). Theo sự
phát triển đi lên của kinh tế xã hội ngày nay thì lượng hợp đồng giao dịch cần phải
công chứng cũng có xu thế tăng lên vì vậy số lượng công chứng viên đã được bổ
nhiệm cũng tăng rất nhanh. Theo thống kê, đến đầu năm 2012 cả nước ta đã có hơn
con số 900 công chứng viên đang hành nghề trên địa bàn cả nước.
2.1.1 Tiêu chuẩn để trở thành công chứng viên
Xin nhắc lại rằng, một hợp đồng, giao dịch khi đã được công chứng thì có giá
trị pháp lý (giá trị chứng cứ và giá trị thi hành) rất cao. Nếu trong hợp đồng, giao
dịch ẩn chứa những vi phạm pháp luật mà công chứng viên không nhận ra hoặc do
công chứng viên tạo ra những vi phạm đó nhằm trục lợi cho cá nhân thì sẽ gây thiệt
hại về tài sản rất lớn cho người dân tham gia giao dịch. Vì vậy, hành vi công chứng
là một hành vi đòi hỏi người thực hiện nó phải trung thực, khách quan, có đầy đủ tiêu
chuẩn luật định để trở thành một công chứng viên. Khi có đầy đủ các tiêu chuẩn để
trở thành Công chứng viên thì cá nhân mới được quyền đề nghị Bộ trưởng Bộ tư
pháp xem xét bổ nhiệm công chứng viên. Các tiêu chuẩn này được quy định tại
"Điều 13 của Luật công chứng năm 2006", cụ thể phải là công dân Việt Nam thường
trú tại Việt Nam, trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm
chất đạo đức tốt và có đủ sức khoẻ bảo đảm hành nghề công chứng, ngoài ra còn
phải đạt các tiêu chuẩn quan trọng sau đây:
Một là, Công chứng viên phải có bằng cử nhân luật, có thời gian công tác pháp
luật từ năm năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức. Ở đây, điều cần nói rõ là "các cơ
quan, tổ chức" được đề cập đến không nhất thiết phải là các cơ quan, tổ chức của nhà
nước. Việc công tác pháp luật của các cá nhân có thể là tại các cơ quan điển hình
như: Văn phòng luật sư, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân…
Hai là, Công chứng viên phải có giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công
chứng. Để có được giấy chứng nhận này thì cá nhân (bắt buộc có bằng cử nhân luật)
phải hoàn thành chương trình đào tạo nghề công chứng tại các cơ sở đào tạo nghề
công chứng. Thời gian của khóa đào tạo là 6 tháng. Tuy nhiên, có những chủ thể
được miễn đào tạo nghề công chứng, đó là những người: đã là thẩm phán, kiểm sát
viên, điều tra viên; luật sư đã hành nghề từ ba năm trở lên; giáo sư, phó giáo sư
GVHD: Th.s Tăng Thanh Phương
Trang 24
SVTH: Bùi Minh Tâm
Hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn
chuyên ngành luật, tiến sỹ luật; đã là thẩm tra viên cao cấp ngành toà án, kiểm tra
viên cao cấp ngành kiểm sát; chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng
viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật.
Ba là, Công chứng viên phải qua thời gian tập sự hành nghề công chứng. Sau
khi có giấy chứng nhận đào tạo nghề công chứng thì cá nhân có thể tự liên hệ tập sự
hành nghề công chứng tại một tổ chức hành nghề công chứng hoặc đề nghị Sở Tư
pháp bố trí tập sự tại một tổ chức hành nghề công chứng. Thời gian tập sự hành nghề
công chứng là mười hai tháng. Một điều cần lưu ý là những đối tượng được miễn đào
tạo nghề công chứng thì không cần phải tập sự hành nghề công chứng.
Bên cạnh việc đạt được những tiêu chuẩn quy định tại Điều 13 Luật công chứng
thì cá nhân muốn trở thành Công chứng viên phải không rơi vào những trường hợp
không được bổ nhiệm công chứng viên quy định tại Điều 19 của Luật này, cụ thể đó
là những trường hợp: đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án mà chưa
được xoá án tích về tội phạm do vô ý; đã bị kết án về tội phạm do cố ý; bị áp dụng
biện pháp xử lý hành chính khác theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính; bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cán bộ, công chức, viên chức
bị buộc thôi việc; Người bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư do bị xử lý kỷ luật
bằng hình thức xoá tên khỏi danh sách của Đoàn luật sư, bị tước quyền sử dụng
chứng chỉ hành nghề luật sư.
2.1.2 Hoạt động của Công chứng viên
Có thể nói, các tổ chức hành nghề công chứng không thể hoạt động mà không
có Công chứng viên đồng thời Công chứng viên thì buộc phải thực hiện hoạt động
nghề nghiệp của mình tại một tổ chức hành nghề công chứng nhất định. Công chứng
viên có thể thực hiện hàng vi công chứng của mình một cách độc lập, không bị ai chi
phối, tùy trường hợp mà có thể thực hiện công chứng bên trong hoặc bên ngoài trụ sở
công chứng. Địa bàn để thực hiện hoạt động nghề nghiệp của mình do công chứng tự
lựa chọn (trừ công chứng viên của tổ chức công chứng nhà nước). Trong quá trình
hoạt động, để phục vụ cho công việc công chứng của mình, Công chứng viên có
quyền đề nghị cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu để
thực hiện công việc công chứng một cách chính xác, khách quan. Bên cạnh đó, Công
chứng viên cũng phải có trách nhiệm tuân thủ đúng quy tắc hành nghề công chứng,
tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu công chứng.
Hoạt động chủ yếu của Công chứng viên là việc thực hiện hành vi công chứng.
Hành vi đó không chỉ đơn thuần là việc làm chứng mà nên hiểu đó là việc Công
chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch.
GVHD: Th.s Tăng Thanh Phương
Trang 25
SVTH: Bùi Minh Tâm