Tải bản đầy đủ (.pdf) (80 trang)

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại LY hôn có yếu tốnước NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.62 MB, 80 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHÓA: 2009 - 2013
ĐỀ TÀI:

LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn:
ThS. Bùi Thị Mỹ Hương
Bộ môn Luật Thương mại

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Huỳnh Thương
MSSV: 5095570
Lớp: Luật TM3 – K35

Cần Thơ, tháng 5 năm 2013


Luậ n văn tố t nghiệp

Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luậ t Việt Nam

LỜI CẢM ƠN
Qua một thời gian nghiên cứu về đề tài, người viết đã
tìm hiểu thêm rất nhiều kiến thức liên quan đến chuyên


ngành cũng như một số kiến thức khác rất có ích cho người
viết trong việc nghiên cứu và trong cuộc sống sau này. Tuy
nhiên, để hoàn thành được đề tài, người viết đã nhờ sự giúp
sức của nhiều thầy cô, bạn bè xung quanh trong thời gian
học tập tại trường.
Người viết xin gởi lời cảm ơn chân thành đến các thầy
cô và các bạn trong khoa đã giúp đỡ nhiệt tình. Người viết
xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Cô – ThS. Bùi Thị
Mỹ Hương, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn
thành đề tài này. Đề tài khóa luận là công trình nghiên cứu
với sự tìm tòi và phân tích của cá nhân, do đó không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Người viết rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô và các bạn để
người viết có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp và có
những tiến bộ hơn trong những nghiên cứu tiếp theo của
mình.
Cần Thơ, tháng 05 năm 2013
Người viết
Nguyễn Thị Huỳnh Thương

GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Thương


Luậ n văn tố t nghiệp

Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luậ t Việt Nam

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2013


GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Thương


Luậ n văn tố t nghiệp

Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luậ t Việt Nam

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Từ được viết tắt

BLDS

Bộ luật dân sự

BLTTDS

Bộ luật tố tụng dân sự

ĐƯQT

Điều ước quốc tế

HĐTTTP

Hiệp định tương trợ tư pháp


HN&GĐ

Hôn nhân và gia đình

PLVN

Pháp luật Việt Nam

GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Thương


Luậ n văn tố t nghiệp

Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luậ t Việt Nam

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU.............................................................................................................1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1.1. Khái niệm ly hôn và ly hôn có yếu tố nước ngoài .........................................4
1.1.1. Khái niệm ly hôn......................................................................................4
1.1.2. Khái niệm ly hôn có yếu tố nước ngoài ....................................................5
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật điều chỉnh quan hệ ly
hôn có yếu tố nước ngoài.......................................................................................8
1.2.1. Pháp luật Việt Nam ..................................................................................8
1.2.1.1. Giai đoạn từ trước khi ban hành Luật hôn nhân và gia đình năm
1959 .............................................................................................................8
1.2.1.2. Giai đoạn từ khi ban hành Luật hôn nhân và gia đình năm 1959
đến trước khi ban hành Luật hôn nhân và gia đình năm 1986........................9

1.2.1.3. Giai đoạn từ năm 1986 đến trước khi ban hành Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000..................................................................................10
1.2.1.4. Giai đoạn từ khi ban hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
đến nay .......................................................................................................11
1.2.2. Điều ước quốc tế ....................................................................................11
1.2.2.1. Giai đoạn từ trước khi ban hành Luật hôn nhân và gia đình năm
1959 ...........................................................................................................11
1.2.2.2. Giai đoạn từ khi ban hành Luật hôn nhân và gia đình năm 1959
đến trước khi ban hành Luật hôn nhân và gia đình năm 1986......................12
1.2.2.3. Giai đoạn từ năm 1986 đến trước khi ban hành Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000..................................................................................12
1.2.2.4. Giai đoạn từ khi ban hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
đến nay .......................................................................................................13
1.3. Hệ quả pháp lý sau khi ly hôn .....................................................................14
1.3.1. Quan hệ nhân thân..................................................................................14
1.3.1.1. Quan hệ giữa vợ và chồng sau khi ly hôn .......................................14
1.3.1.2. Quan hệ giữa cha mẹ và con sau khi ly hôn....................................15
1.3.2. Quan hệ tài sản.......................................................................................15
1.3.2.1. Đối với tài sản riêng của vợ chồng .................................................15
1.3.2.2. Đối với tài sản chung của vợ chồng................................................16
1.4. Xung đột pháp luật và phương pháp giải quyết xung đột pháp luật
trong quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài.........................................................16
1.4.1. Xung đột pháp luật ................................................................................16
GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Thương


Luậ n văn tố t nghiệp


Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luậ t Việt Nam

1.4.1.1. Khái niệm xung đột pháp luật.........................................................16
1.4.1.2. Nguyên nhân dẫn đến xung đột pháp luật.......................................17
1.4.2. Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật trong quan hệ ly hôn có
yếu tố nước ngoài.............................................................................................18
1.4.2.1. Phương pháp thực chất...................................................................18
1.4.2.2. Phương pháp xung đột ...................................................................19
1.5. Các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
theo pháp luật Việt Nam .....................................................................................19
1.5.1. Các nguyên tắc chung ............................................................................19
1.5.1.1. Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài ở Việt Nam ....................................................................19
1.5.1.2. Nguyên tắc bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên .............20
1.5.1.3. Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài không trái với các
nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam .................................................21
1.5.1.4. Nguyên tắc áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình ..................22
1.5.2. Các nguyên tắc chuyên biệt....................................................................22
1.5.2.1. Nguyên tắc áp dụng luật quốc tịch của đương sự............................22
1.5.2.2. Nguyên tắc áp dụng luật nơi cư trú của đương sự ...........................23
1.5.2.3. Nguyên tắc áp dụng luật nơi có vật.................................................23
1.5.2.4. Nguyên tắc áp dụng luật nơi có tòa án, cơ quan có thẩm quyền
đối với những vấn đề phát sinh ...................................................................24
1.6. Nguồn luật điều chỉnh ly hôn có yếu tố nước ngoài....................................24
1.6.1. Pháp luật quốc gia..................................................................................24
1.6.2. Điều ước quốc tế ....................................................................................25
1.6.3. Mối quan hệ giữa pháp luật quốc gia và điều ước quốc tế trong điều
chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài.......................................................26
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC
NGOÀI

2.1. Thẩm quyền của Toà án trong giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài .....27
2.1.1. Thẩm quyền xét xử chung của Tòa án Việt Nam ....................................27
2.1.1.1. Ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài ..................27
2.1.1.2. Ly hôn giữa người nước ngoài với người nước ngoài .....................28
2.1.1.3. Ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân Việt Nam ...............31
2.1.2. Thẩm quyền xét xử riêng biệt của Tòa án Việt Nam...............................32
2.1.2.1. Điều kiện về chủ thể.......................................................................33
2.1.2.2. Điều kiện về nơi cư trú...................................................................33
GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Thương


Luậ n văn tố t nghiệp

Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luậ t Việt Nam

2.1.3. Thẩm quyền của mỗi Tòa án trong xét xử ly hôn có yếu tố nước
ngoài ................................................................................................................34
2.1.3.1. Cả hai cùng cư trú ở Việt Nam .......................................................34
2.1.3.2. Một bên cư trú ở Việt Nam một bên cư trú ở nước ngoài................35
2.1.3.3. Cả hai cùng cư trú ở nước ngoài.....................................................37
2.2. Quy định về pháp luật nội dung trong giải quyết ly hôn có yếu tố nước
ngoài.....................................................................................................................37
2.2.1. Ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài ..........................39
2.2.1.1. Cả hai bên đều thường trú tại Việt Nam .........................................39
2.2.1.2. Cả hai bên cùng thường trú ở nước ngoài và chung một nước ........40
2.2.1.3. Bên công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam và bên còn lại
thường trú ở nước ngoài..............................................................................41
2.2.1.4. Bên công dân Việt Nam không thường trú tại Việt Nam và mỗi

người thường trú ở một nước ......................................................................42
2.2.2. Ly hôn giữa người nước ngoài với người nước ngoài .............................43
2.2.2.1. Cả hai bên đều thường trú tại Việt Nam .........................................43
2.2.2.2. Cả hai bên không cùng thường trú tại Việt Nam.............................43
2.2.3. Ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân Việt Nam .......................45
2.2.3.1. Cả hai bên đều thường trú tại Việt Nam .........................................45
2.2.3.2. Một bên thường trú tại Việt Nam và một bên thường trú ở nước
ngoài...........................................................................................................45
2.2.3.3. Cả hai bên cùng thường trú ở nước ngoài và chung một nước ........46
2.2.3.4. Cả hai bên cùng thường trú ở nước ngoài nhưng mỗi người
thường trú ở một nước ................................................................................47
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN, HẬU QUẢ VÀ GIẢI PHÁP
TRONG VẤN ĐỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
3.1. Thực trạng về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài......................................48
3.1.1. Thực trạng vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài trong xã hội...................48
3.1.2. Thực trạng pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài..............................50
3.2. Nguyên nhân của vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài ................................52
3.2.1. Nguyên nhân bất đồng ngôn ngữ, văn hóa, xã hội ..................................52
3.2.2. Nguyên nhân về kinh tế gia đình sau khi kết hôn....................................54
3.2.3. Nguyên nhân thiếu hiểu biết về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước
ngoài................................................................................................................55
3.2.4. Bạo lực gia đình .....................................................................................56
3.3. Hậu quả của vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài........................................56
GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Thương


Luậ n văn tố t nghiệp


Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luậ t Việt Nam

3.3.1. Hậu quả đối với những đứa trẻ sau khi bố mẹ ly hôn..............................56
3.3.2. Hậu quả đối với các chủ thể ...................................................................57
3.3.3. Hậu quả đối với xã hội ...........................................................................57
3.3.4. Hậu quả cho quan hệ các nước ...............................................................58
3.4. Giải pháp khắc phục thực trạng về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài ...59
3.4.1. Giải pháp tự bảo vệ ................................................................................59
3.4.2. Giải pháp giáo dục .................................................................................60
3.4.3. Giải pháp kinh tế....................................................................................62
3.4.4. Giải pháp pháp luật ................................................................................63
KẾT LUẬN ...............................................................................................................69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Thương


Luậ n văn tố t nghiệp

Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luậ t Việt Nam

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và
hình thành nhân cách của mỗi cá nhân, chuẩn bị hành trang để con người hòa nhập vào
cộng đồng xã hội. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hôn nhân là cơ sở để hình thành gia
đình - tế bào của xã hội. Mỗi chế độ xã hội, gia đình đều thực hiện chức năng cơ bản
mang tính chất xã hội của nó. Gia đình ra đời tồn tại và phát triển trước hết là nhờ nhà

nước thừa nhận hôn nhân của nam nữ, đồng thời quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý
giữa họ. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân từ lâu nhà nước ta đã quan
tâm tới việc bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình (HN&GĐ).
Nhưng trong những năm gần đây, cùng với những thay đổi về kinh tế - xã hội,
quan hệ giữa con người với con người trong đó có quan hệ HN&GĐ cũng bị tác động
mạnh mẽ. Số vụ ly hôn tăng lên rất nhanh kéo theo nhiều hệ lụy. Ly hôn là mặt trái của
xã hội. Hậu quả của việc ly hôn là làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng xấu
đến con cái. Ly hôn không chỉ là vấn đề riêng của mỗi gia đình mà còn là vấn đề quan
tâm của cả xã hội. Dưới góc độ pháp lý, ly hôn được ghi nhận là một chế định độc lập
của Luật HN&GĐ, nó là cơ sở để Toà án và các bên đương sự giải quyết vấn đề ly hôn
một cách thấu tình đạt lý, góp phần giải phóng con người ra khỏi sự ràng buộc không
cần thiết khi tình cảm vợ chồng không còn.
Hiện nay, tình trạng ly hôn của nước ta xảy ra rất phổ biến, với những nguyên
nhân, lý do đa dạng phức tạp cả về chủ thể và nội dung. Vấn đề giải quyết hậu quả của
ly hôn cũng rất phức tạp, còn nhiều hạn chế, vướng mắc. Đặc biệt là vấn đề ly hôn có
yếu tố nước ngoài. Vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài ở nước ta hiện nay có khá
nhiều bất cập và thực trạng khó giải quyết: Số lượng ly hôn có yếu tố nước ngoài tăng
theo từng năm do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng nguyên nhân chủ yếu là do ý
thức người dân, họ kết hôn chủ yếu để cải thiện kinh tế gia đình, họ chưa hiểu đầy đủ
về việc kết hôn với người nước ngoài, dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc và ly hôn;
pháp luật điều chỉnh vấn đề này chưa rõ ràng; các hiệp định tương trợ tư pháp
(HĐTTTP) liên quan đến vấn đề này chưa đầy đủ. Vì thế, giải quyết tốt và triệt để vấn
đề này không những đem lại nhiều lợi ích trong việc quản lý mà còn góp phần hoàn
thiện những quyền cơ bản và thiết yếu của người dân. Hiểu được tầm quan trọng,
những tác động tiêu cực trong quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài, cũng như tìm hiểu
kỹ hơn các quy định về ly hôn có yếu tố nước ngoài trong pháp luật Việt Nam (PLVN),
trên cơ sở đó tìm ra nguyên nhân ly hôn, thực trạng của vấn đề ly hôn có yếu tố nước
ngoài hiện nay, từ đó đưa ra một số giải pháp góp phần hạn chế thực trạng, cũng như
phương hướng giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài. Đó là lý do người viết


GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

1

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Thương


Luậ n văn tố t nghiệp

Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luậ t Việt Nam

chọn đề tài “Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trọng tâm của đề tài được người viết xác định là tìm hiểu những quy định của
PLVN về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài. Bên cạnh đó, người viết nghiên cứu một
số vấn đề lý luận về ly hôn có yếu tố nước ngoài như: Khái niệm về ly hôn, ly hôn có
yếu tố nước ngoài và một số vấn đề liên quan đến ly hôn có yếu tố nước ngoài như: Hệ
quả pháp lý của ly hôn, các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố
nước ngoài theo PLVN… Qua phân tích những quy định của pháp luật trong nước về
ly hôn có yếu tố nước ngoài, từ đó chỉ ra những bất cập trong quy định của pháp luật
hiện hành. Tìm hiểu những thực trạng của vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài và bên
cạnh đó cũng tìm ra nguyên nhân chính dẫn đến ly hôn cũng như dẫn đến thực trạng ly
hôn có yếu tố nước ngoài như hiện nay. Song song đó, người viết còn tìm hiểu giải
pháp về pháp luật cũng như thực tiễn góp phần giải quyết tình hình ly hôn có yếu tố
nước ngoài như hiện nay. Từ những nghiên cứu trên người viết mong góp phần hoàn
thiện pháp luật, nhân rộng những giải pháp hiệu quả trong giải quyết ly hôn có yếu tố
nước ngoài.
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài, người viết tập trung nghiên cứu các
vấn đề chung về ly hôn có yếu tố nước ngoài, đồng thời đi sâu vào tìm hiểu PLVN về

xác định thẩm quyền của Tòa án trong xét xử ly hôn có yếu tố nước ngoài, và pháp
luật nội dụng được áp dụng để giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài. Ngoài ra, người
viết còn nghiên cứu thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề ly hôn có yếu tố nước
ngoài, và thực trạng về số vụ ly hôn có yếu tố nước ngoài tại thành phố Cần Thơ mà
trọng tâm là ly hôn giữa phụ nữ Việt Nam với người nước ngoài, người viết tìm hiểu
nguyên nhân, hậu quả của vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài, và đưa ra giải pháp
cũng để hoàn thiện pháp luật và khắc phục thực trạng về ly hôn có yếu tố nước ngoài
như hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm hoàn thiện bài viết một cách tốt nhất người viết đã vận dụng một số
phương pháp nghiên cứu để làm công cụ phục vụ cho việc nghiên cứu của mình như:
- Phương pháp tổng hợp, phân tích nghiên cứu lý luận trên tài liệu sách vở liên
quan đến ly hôn có yếu tố nước ngoài.
- Phương pháp phân tích luật viết để phân tích những quy định của pháp luật
hiện hành.
- Phương pháp đối chiếu, so sánh những quy định của pháp luật về cùng một
vấn đề, so sánh giữa lý luận và thực tiễn.
GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

2

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Thương


Luậ n văn tố t nghiệp

Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luậ t Việt Nam

Bên cạnh đó người viết còn sử dụng một số phương pháp thực tế như:
- Phương pháp sưu tầm, thống kê, tổng hợp số liệu thực tế về vấn đề kết hôn và

ly hôn có yếu tố nước ngoài.
- Phương pháp phỏng vấn một số phự nữ lấy chồng nước ngoài trên địa bàn
thành phố Cần Thơ.
5. Kết cấu của đề tài
Trong luận văn ngoài: Lời mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham
khảo thì kết cấu gồm ba chương:
Chương 1: Khái quát chung về ly hôn có yếu tố nước ngoài
Đây là chương lý luận chung về ly hôn có yếu tố nước ngoài nhằm làm rõ về
khái niệm ly hôn, ly hôn có yếu tố nước ngoài, lịch sử vấn đề ly hôn có yếu tố nước
ngoài, hệ quả pháp lý của ly hôn, các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh quan hệ ly hôn có
yếu tố nước ngoài theo PLVN. Đây là phần lý luận chung rất quan trọng làm cơ sở cho
việc nghiên cứu các phần tiếp theo của luận văn.
Chương 2: Pháp luật Việt Nam về ly hôn có yếu tố nước ngoài
Ở chương này, người viết tập trung phân tích quy định về ly hôn có yếu tố nước
ngoài trong pháp luật Việt Nam theo hai vấn đề lớn là: Thẩm quyền của Toà án trong
giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài; quy định về pháp luật nội dung trong giải
quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài. Người viết đi sâu phân tích theo từng trường hợp ly
hôn cụ thể, nhằm làm sáng tỏ và tìm ra một số vấn đề còn tồn tại làm cơ sở nêu lên
giải pháp ở chương 3.
Chương 3: Thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và giải pháp trong vấn đề ly hôn
có yếu tố nước ngoài
Ở chương 3, người viết tìm hiểu một số vấn đề như: Thực trạng, nguyên nhân và
hậu quả của vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài, từ đó người viết đưa ra một số giải
pháp góp phần hoàn thiện pháp luật quốc gia, hạn chế thực trạng ly hôn có yếu tố nước
ngoài hiện nay, nâng cao chất lượng cuộc sống hôn nhân, quyền tự do hôn nhân và
hạnh phúc gia đình.

GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

3


SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Thương


Luậ n văn tố t nghiệp

Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luậ t Việt Nam

CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Ly hôn là việc chấm dứt hôn nhân do một bên đơn phương yêu cầu chấm dứt
hoặc cả hai bên thuận tình ly hôn được Toà án công nhận bằng một bản án hoặc quyết
định có hiệu lực pháp luật. Chấm dứt hôn nhân bằng ly hôn là một sự kiện có tính chất
ý chí của một hoặc cả hai vợ chồng, ngoài hai vợ chồng không ai có quyền xin ly hôn.
Ly hôn là hiện tượng xã hội phức tạp vì nó liên quan đến lợi ích không chỉ của cả
hai vợ chồng mà còn ảnh hưởng đến con cái, người thân, xã hội. Ly hôn là mặt trái của
hôn nhân, để lại hậu quả cho cá nhân và xã hội. Vì thế, ly hôn không được nhà nước
khuyến khích dù là nhà nước bất kỳ chế độ nào, nhưng cũng không vì thế mà nhà nước
cấm ly hôn. Nhà nước công nhận quyền tự do ly hôn, giúp vợ chồng có quyền bảo vệ
hạnh phúc gia đình cũng như của bản thân khi mâu thuẫn giữa vợ chồng thực sự không
thể giải quyết được. Ly hôn có yếu tố nước ngoài còn có nhiều vấn đề phức tạp hơn,
do ảnh hưởng của nhiều hệ thống pháp luật, khoảng cách địa lý, nhiều nền văn hóa,
phong tục tập quán khác nhau. Do đó để có thể hiểu rõ được pháp luật ly hôn có yếu tố
nước ngoài cũng như đưa ra những giải pháp hoàn thiện cho PLVN thì trước hết cần
phải biết được một số vấn đề cơ bản về ly hôn, ly hôn có yếu tố nước ngoài, lịch sử
hình thành và phát triển của pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài, các nguyên tắc
cơ bản điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài theo PLVN... đó là nội dung sẽ
được người viết tìm hiểu Chương 1.
1.1. Khái niệm ly hôn và ly hôn có yếu tố nước ngoài
Trong PLVN không có định nghĩa ly hôn có yếu tố nước ngoài là gì. Tuy nhiên,

có thể tổng hợp được định nghĩa đó thông qua định nghĩa ly hôn và quan hệ hôn nhân
và gia đình có yếu tố nước ngoài. Trước nhất cần tìm hiểu khái niệm ly hôn.
1.1.1. Khái niệm ly hôn
Hôn nhân là sự liên kết tự nguyện, bình đẳng, theo quy định pháp luật giữa một
người đàn ông và một người đàn bà, nhằm chung sống suốt đời với tư cách là
vợ chồng, vì mục đích xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền
vững. Tuy nhiên, không phải lúc nào mục đích của hôn nhân cũng đạt được. Khi một
cuộc hôn nhân đã thực sự tan vỡ thì ly hôn là việc cần thiết, khi đó tất cả mọi người,
vợ chồng, các con, các thành viên trong gia đình sẽ được giải phóng, thoát khỏi sự
xung đột, mâu thuẫn bế tắc trong cuộc sống chung. Ly hôn là mặt trái của hôn nhân,
nhưng cũng không thể thiếu một khi mục đích hôn nhân không còn nữa, đây là quyền
của cả vợ và chồng, quyền tự do hôn nhân, đảm bảo nguyên tắc hôn nhân tự nguyện,
tiến bộ.
Trong mỗi hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau, vấn đề ly hôn được
GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

4

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Thương


Luậ n văn tố t nghiệp

Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luậ t Việt Nam

quy định không giống nhau. Một số nước theo đạo thiên chúa cấm vợ chồng ly hôn,1
bởi vì theo họ quan hệ vợ chồng bị ràng buộc thiêng liêng theo ý chúa, và không thể
nào tách rời. Trước đây, trong xã hội phong kiến, pháp luật hạn chế quyền ly hôn của
các bên, hay giải quyết ly hôn dựa trên yếu tố lỗi của vợ chồng. Người chồng ly hôn
khi người vợ phạm phải điều nghĩa tuyệt: Không con, ghen tuông, ác tật, dâm đãng,

không kính cha mẹ, lắm lời, trộm cắp (Điều 310 Bộ luật Hồng Đức), hay người vợ ly
hôn do lỗi của người chồng, khi chồng bỏ lửng vợ 5 tháng không đi lại (trừ khi chồng
có việc phải đi xa), hoặc là con rễ lấy điều thị phi mắng nhiếc cha mẹ vợ (Bộ luật
Hồng Đức). Ngày nay, xã hội phát triển, vấn đề ly hôn không còn bị cấm đoán như
trước. Pháp luật đã công nhận quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng, không
cấm hoặc đặt ra những điều kiện nhằm hạn chế quyền tự do hôn nhân. Ly hôn dựa trên
sự tự nguyện của vợ chồng, đó là kết quả của hành vi có ý chí của vợ chồng khi thực
hiện quyền tự do hôn nhân của mình. Nhà nước bằng pháp luật không thể cưỡng ép
nam, nữ phải yêu nhau và kết hôn với nhau, thì cũng không thể bắt buộc vợ chồng phải
chung sống với nhau, phải duy trì quan hệ hôn nhân khi tình cảm yêu thương gắn bó
giữa họ đã hết và mục đích của hôn nhân đã không thể đạt được. Việc giải quyết ly hôn
là tất yếu đối với quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ. Khi đó, các bên có quyền được
chấm dứt cuộc sống chung và được Tòa án công nhận hoặc quyết định cho ly hôn.
Như vậy, ly hôn là sự chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhận hoặc
quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng.2
1.1.2. Khái niệm ly hôn có yếu tố nước ngoài
Để xác định khái niệm ly hôn có yếu tố nước ngoài, cần tìm hiểu quy định về
quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài tại khoản 14 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2000,
theo đó quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài bao gồm quan hệ hôn nhân và gia
đình:
- Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài;
- Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam;
- Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt
quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước
ngoài.3
Trong quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng như trong quan hệ hôn nhân và
gia đình có yếu tố nước ngoài, yếu tố nước ngoài được xác định dựa vao chủ thể, khi
đó phải xem xét quốc tịch của các bên có phải là người nước ngoài hay không. Thông
1


Người đưa tin, Lạ lùng luật cấm ly hôn, />tml, [ngày truy cập: 22/1/2013]
2
Khoản 8 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2000
3
Khoản 14 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2000

GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

5

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Thương


Luậ n văn tố t nghiệp

Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luậ t Việt Nam

thường thì mỗi người sẽ có một quốc tịch, nhưng trong một số trường hợp đặc biệt
người này có thể có nhiều hơn một quốc tịch hay không có quốc tịch nào cả. Đối với
những người có nhiều hơn một quốc tịch thì phải xét tất cả các quốc tịch của họ, nếu
họ vừa có quốc tịch Việt Nam và vừa mang quốc tịch của nước khác thì họ vẫn được
xem là công dân Việt Nam, chỉ khi nào tất cả các quốc tịch mà họ đang mang đều
không phải của Việt nam thì họ mới được xem là người nước ngoài. Do đó, người
nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm công dân nước ngoài và
người không quốc tịch. Trong giải quyết ly hôn của hai người nước ngoài với nhau thì
phải có điều kiện là cùng thường trú tại Việt Nam, khi đó họ phải có giấy phép thường
trú tại Việt Nam thì mới được xem là chủ thể của quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
theo pháp luật HN&GĐ của Việt Nam. Như vậy, khi xác định yếu tố nước ngoài dựa
vào chủ thể của quan hệ ly hôn thì ta có các trường hợp sau: Ly hôn giữa công dân Việt
Nam với công dân nước ngoài, ly hôn giữa công dân Việt Nam với người không quốc

tịch, ly hôn giữa công dân nước ngoài với công dân nước ngoài cùng thường trú tại
Việt Nam, ly hôn giữa công dân nước ngoài với người không quốc tịch cùng thường
trú tại Việt Nam, và ly hôn giữa người không quốc tịch với người không quốc tịch
cùng thường trú tại Việt Nam.
Đồng thời, theo khoản 4 Điều 100 Luật HN&GĐ quy định quan hệ HN&GĐ có
yếu tố nước ngoài giữa hai công dân Việt Nam với nhau: “Các quy định của Chương
này cũng được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam
với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài”. Điều này có nghĩa là các
quy định của Chương quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài nói chung hay quan hệ
ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng cũng được áp dụng đối với trường hợp ly hôn
giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài.
Do đó, ly hôn giữa hai công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc hai bên định cư ở
nước ngoài cũng được xem là quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Như vậy, đối với trường hợp hai công dân Việt Nam ly hôn thì chỉ được xem là
có yếu tố nước ngoài khi: Tài sản liên quan đến quan hệ hôn nhân ở nước ngoài; hoặc
có một hoặc cả hai bên cùng định cư ở nước ngoài; hoặc sự kiện pháp lý chấm dứt hôn
nhân ở nước ngoài.
Thứ nhất, có tài sản liên quan đến quan hệ hôn nhân ở nước ngoài. Theo pháp
luật dân sự thì tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá, và các quyền tài sản.4 Do đó,
tài sản liên quan đến quan hệ hôn nhân ở nước ngoài là vật, tiền, giấy tờ có giá, và các
quyền tài sản của hai vợ chồng trên lãnh thổ nước ngoài. Không nhất thiết họ phải có
tất cả tài sản ở nước ngoài, mà chỉ cần họ có một trong số các loại tài sản trên trên lãnh
4

Điều 163 Bộ Luật dân sự năm 2005

GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

6


SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Thương


Luậ n văn tố t nghiệp

Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luậ t Việt Nam

thổ nước ngoài khi ly hôn, thì quan hệ ly hôn của họ sẽ được áp dụng pháp luật tại
Chương quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài để giải quyết, vì lúc này, quan hệ ly
hôn giữa họ được xem là quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Thứ hai, công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài là một trường hợp của người
Việt Nam định cư ở nước ngoài.5 Khi nói người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì có
thể sẽ bao gồm cả công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài
ở nước ngoài. Người gốc Việt Nam có nghĩa là hiện tại người này không còn mang
quốc tịch Việt Nam, không phải là công dân Việt Nam. Còn công dân Việt Nam định
cư ở nước ngoài có nghĩa là người này vẫn còn quốc tịch Việt Nam, có thể lúc này họ
đang mang cả hai quốc tịch, một của Việt Nam và một quốc tịch của quốc gia nơi họ
đang định cư, cư trú, sinh sống lâu dài. Hai khái niệm này có nét tương đồng, tuy
nhiên khái niệm công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài hẹp hơn, và chỉ xét trên
phạm vi những người vẫn còn quốc tịch Việt Nam định cư ở nước ngoài, không bao
gồm người hiện tại không còn quốc tịch Việt Nam. Trong quan hệ ly hôn có yếu tố
nước ngoài sử dụng khái niệm công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài. Do đó, quan
hệ ly hôn được xem là có yếu tố nước ngoài khi cả hai vợ chồng phải cùng có quốc
tịch Việt Nam, và có ít nhất một người định cư ở nước ngoài, khi đó có thể chồng định
cư ở nước ngoài, hoặc vợ, hoặc cả hai vợ chồng cùng định cư ở nước ngoài. Đối với
trường hợp cả hai vợ chồng cùng định cư ở nước ngoài thì có thể mỗi người ở một
nước khác nhau, hoặc cả hai cùng sống chung tại một quốc gia, thì đều được xem là có
yếu tố nước ngoài.
Thứ ba, trong quan hệ hôn nhân thì bao gồm cả kết hôn và ly hôn. Kết hôn là sự
kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân, còn ly hôn là sự kiện pháp lý làm chấm

dứt quan hệ hôn nhân. Theo đó, khi có căn cứ chấm dứt hôn nhân ở nước ngoài thì vụ
ly hôn giữa hai công dân Việt Nam được xem là ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Kết hợp khái niệm hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại khoản 14 Điều
8 và khoản 4 Điều 100 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, có thể suy ra khái niệm ly
hôn có yếu tố nước ngoài như sau:
Ly hôn có yếu tố nước ngoài là quan hệ ly hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài; giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; giữa hai
công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên đều định cư ở nước ngoài; giữa
hai công dân Việt Nam với nhau mà tài sản liên quan đến quan hệ ly hôn ở nước ngoài
hoặc căn cứ để chấm dứt quan hệ hôn nhân theo pháp luật nước ngoài.

5

Khoản 3 Điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam

GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

7

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Thương


Luậ n văn tố t nghiệp

Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luậ t Việt Nam

1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn
có yếu tố nước ngoài
Ly hôn có yếu tố nước ngoài là một lĩnh vực có sự điều chỉnh không chỉ của
PLVN mà còn chịu sự tác động của pháp luật nước ngoài và điều ước quốc tế

(ĐƯQT). Do vậy, khi nghiên cứu về ly hôn có yếu tố nước ngoài ta nên nghiên cứu
lịch sử hình thành pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài, để thấy rõ sự hình thành
phát triển của vấn đề nghiên cứu.
1.2.1. Pháp luật Việt Nam
Dựa vào ba mốc thời gian ban hành của các Luật hôn nhân và gia đình năm
1959, năm 1986 và năm 2000, có thể chia lịch sử pháp luật Việt Nam thành bốn giai
đoạn để tìm hiểu pháp luật về hôn nhân và gia đình cụ thể là ly hôn có yếu tố nước
ngoài.
1.2.1.1. Giai đoạn từ trước khi ban hành Luật hôn nhân và gia đình
năm 1959
Trong giai đoạn này nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập, tuy nhiên
còn non trẻ và tiếp tục chống chọi với thù trong giặc ngoài. Chỉ đạo chiến lược ở giai
đoạn này đánh giặc bảo vệ đất nước, nên toàn bộ nhân lực của đất nước tập trung chiến
đấu nhắm mục đích bảo vệ đất nước, vì thế giai đoạn này rất ít văn bản pháp luật điều
chỉnh về các quan hệ dân sự trong đó quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung và ly
hôn nói riêng.
Sắc lệnh số 51-SL ngày 17/4/1946 ra đời thể hiện bước phát triển của pháp luật
trong giai đoạn này. Điều 1 của sắc lệnh số 51-SL ngày 17/4/1946 quy định thẩm
quyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài:
“Trong toàn cõi Việt Nam, các Tòa án Việt Nam có thẩm quyền đối với mọi người, bất
cứ quốc tịch nào”. Tuy nhiên, quy định này quy định chung chung và không rõ ràng.
Ngoài ra, giai đoạn này có Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 của Chủ tịch
nước. Sắc lệnh này quy định thủ tục tố tụng đề cập đến vấn đề hòa giải các vụ kiện dân
sự trong đó có cả việc ly hôn đây là một quy định mới trong việc giải quyết vụ ly hôn
có yếu tố nước ngoài. Sắc lệnh số 97 –SL quy định sửa đổi một số quy lệ và chế định
dân luật. Theo sắc lệnh thì các điều khoản trong Dân pháp điển Trung kỳ, Dân pháp
điển Bắc kỳ, Pháp quy giản yếu và những luật lệ sau đó trái với các nguyên tắc tiến bộ
trong quan hệ hôn nhân và gia đình của Việt Nam thì đều bị bãi bỏ. Trong giai đoạn
này pháp lệnh số 159-SL ban hành 17/11/1950 ra đời, pháp lệnh này đề cập đến vấn đề
ly hôn. Sắc lệnh này là bước tiến mới trong quan niệm hôn nhân và gia đình về vấn đề

ly hôn. Tuy chưa có nhiều quy định đề cập đến lĩnh vực hôn nhân có yếu tố nước ngoài
nhưng đây là nền tảng cho pháp luật nước ta về vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài
GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

8

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Thương


Luậ n văn tố t nghiệp

Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luậ t Việt Nam

nước ta phát triển sau này.
1.2.1.2. Giai đoạn từ khi ban hành Luật hôn nhân và gia đình năm 1959
đến trước khi ban hành Luật hôn nhân và gia đình năm 1986
Pháp luật điều chỉnh vấn đề HN&GĐ nói chung và ly hôn có yếu tố nước
ngoài nói riêng giai đoạn này có bước phát triển hơn. Tuy không có nhiều văn bản điều
chỉnh hay những điều luật cụ thể nhưng có thể thấy được pháp luật điều chỉnh nội
dung đã có những điểm tiến bộ, phần nào quan tâm hơn vấn đề hôn nhân có yếu tố
nước ngoài.
Trong giai đoạn này Luật HN&GĐ năm1959 ra đời đánh dấu một bước ngoặc
trong việc giải quyết các vấn đề liên quan HN&GĐ trong thời gian bấy giờ. Trên cơ sơ
của Hiến pháp quy định cụ thể như hòa giải, chấp nhận thuận tình ly hôn của vợ
chồng... quan hệ HN&GĐ tách ra khỏi ngành luật dân sự. Tuy vậy, cho đến thời điểm
này thì vẫn chưa có quy định riêng cho việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Ngoài ra, trong giai đoạn này có các Thông tư số 09/TATC ngày 28/6/1974 hướng
dẫn việc xét xử ly hôn ở biên giới Việt – Trung. Theo thông tư Tòa án nhân dân tối cao
hướng dẫn việc giải quyết các vụ ly hôn ở vùng biên giới Việt – Trung: “Tòa án nhân
dân của ta có thẩm quyền thụ lý để hoà giải và xét xử những việc xin ly hôn, những

tranh chấp về con cái, về phí tổn nuôi con, về tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn, những
việc kiện của bên nhà trai đòi bồi hoàn tiền lễ cưới khi bên nhà gái từ hôn, những việc
xin tiêu hủy hôn nhân bất hợp pháp v.v... trong đó có một bên đương sự là công dân
Việt Nam và một bên là công dân Trung Quốc [...] nhưng phải với điều kiện là lúc
nhận đơn kiện phải có ít nhất một bên đương sự cư trú tại nước ta” .6
Thông tư số 11/TATC ngày 12/7/1974 ban hành góp phần điều chỉnh quan hệ ly
hôn có yếu tố nước ngoài. Thông tư nêu ra một số nguyên tắc về thủ tục ly hôn có yếu
tố nước ngoài trong đó có quy định về việc thực hiện ủy thác trong tư pháp quốc tế.7
Trong thông tư còn quy định Tòa án nhân dân của ta có thẩm quyền thụ lý để điều tra,
hòa giải và xét xử các việc xin ly hôn có nhân tố nước ngoài trong những trường hợp
sau đây: Việc xin ly hôn giữa một bên đương sự là công dân nước ta và một bên là
công dân nước ngoài, cả hai bên đương sự này đều đang cư trú ở nước ta.8 Trong giai
đoạn này pháp luật hôn nhân và gia đình phát triển mạnh hơn quan tâm vấn đề ly hôn
có yếu tố nước ngoài nhiều hơn.

6

Đỗ Văn Đại - Mai Hồng Quỳ, Tư pháp quốc tế Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, trang 359, 360
Phan Thị Thu Hà, Giới thiệu chung về luật tương trợ tư pháp, .v n/portal /pl s/portal/docs
/717227.PDF, [ngày truy cập: 22/03/2013]
8
Đỗ Văn Đại - Mai Hồng Quỳ, Tư pháp quốc tế Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, trang 359, 360
7

GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

9

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Thương



Luậ n văn tố t nghiệp

Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luậ t Việt Nam

1.2.1.3. Giai đoạn từ năm 1986 đến trước khi ban hành Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000
Tình hình mới của đất nước và thế giới đòi hỏi chúng ta phải có sự thay đổi sao
cho phù hợp. Một trong những nội dung đổi mới đó là cần sửa đổi, bổ sung pháp luật
trên tất cả các vấn đề pháp lý, trong đó cần mở rộng hơn nữa quy định pháp lý về ly
hôn có yếu tố nước ngoài.
Luật HN&GĐ năm 1986 ra đời thay thế cho Luật HN&GĐ năm 1959, đã dành
hẳn một chương quy định về quan hệ vợ chồng, quan hệ tài sản, quan hệ cha mẹ và
con, ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài... với những quy định khá
cụ thể đã thể hiện sự quan tâm của nhà nước tới lĩnh vực này.
Pháp lệnh về HN&GĐ giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được Chủ
tịch nước công bố ngày 15/12/1993, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/1994 đã đánh
dấu sự phát triển quan trọng của PLVN trong việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu
tố nước ngoài, trong đó việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
được quy định thành một mục riêng (Mục 4, Chương 2). Theo đó, nguyên tắc lựa chọn
pháp luật giải quyết việc ly hôn được quy định khoản 1 Điều 12: “Việc ly hôn giữa
công dân Việt Nam và người nước ngoài cũng như các việc phát sinh từ ly hôn, được
giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của họ vào thời điểm đưa
đơn ly hôn; nếu họ không có nơi thường trú chung vào thời điểm đó thì theo pháp luật
của nước nơi thường trú chung cuối cùng của họ, nếu họ chưa có nơi thường trú
chung thì theo PLVN”.
Trong giai đoạn này, góp phần không nhỏ vào việc điều chỉnh các quan hệ ly hôn
đó là sự ra đời của BLDS năm 1995 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 28/10/1995. Về quyền ly hôn được
quy định tại Điều 38: “Ly hôn được coi là quyền của mỗi bên vợ chồng, theo đó vợ

hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Tòa án cho chấm dứt quan hệ hôn
nhân khi có ly do chính đáng”.
Ngoài ra, còn phải kể đến Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998, Nghị định số
83/1993/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của chính phủ về đăng ký hộ tịch. Hai văn bản này
có một số quy định về hộ tịch trong vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Trong giai đoạn này đã có những bước tiến trong việc quy định về ly hôn có yếu
tố nước ngoài so với hai giai đoạn trước khi ban hành Luật hôn nhân và gia đình năm
1959 và trước khi ban hành Luật hôn nhân và gia đình năm 1986.

GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

10

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Thương


Luậ n văn tố t nghiệp

Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luậ t Việt Nam

1.2.1.4. Giai đoạn từ khi ban hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
đến nay
Luật HN&GĐ năm 2000 ban hành trên cơ sở cụ thể hóa Hiến pháp năm 1992,
các quy định của BLDS về HN&GĐ. Kế thừa và phát huy những nguyên tắc cơ bản,
các quy định còn phù hợp của Luật hôn nhân gia đình 1986 là một yêu cầu bức thiết,
đáp ứng yêu cầu của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Luật hôn nhân gia đình năm 2000, đã dành một chương riêng (Chương XI) gồm
7 điều quy định về chế độ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài. Riêng vấn đề ly hôn có yếu
tố nước ngoài được quy định tại các Điều 102 và 104 Luật hôn nhân gia đình năm
2000. Ngoài ra, chính phủ ban hành các Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002

Quy định chi tiết một số điều của Luật HN&GĐ có yếu tố nước ngoài và Nghị định số
69/2006/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
68/2002/NĐ-CP. Nghị định số 24/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật HN&GĐ về quan hệ
HN&GĐ có yếu tố nước ngoài, Nghị định này có hiệu lực từ ngày 15/5/2013 thay thế
cho Nghị định 68/2002/NĐ-CP.
1.2.2. Điều ước quốc tế
Ở Việt Nam trước đây, hôn nhân có yếu tố nước ngoài là một loại quan hệ không
phổ biến. Tuy nhiên, trong gần hai thập kỷ qua, đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế, hôn nhân có yếu tố nước ngoài không còn là hiện tượng hiếm hoi trong đời
sống xã hội. Hiện nay một số nơi, hôn nhân có yếu tố nước ngoài đã trở thành một
hiện tượng khá phổ biến. Cũng như quan hệ khác trong tư pháp quốc tế, quan hệ hôn
nhân có yếu tố nước ngoài cần có sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia cũng như
ĐƯQT. Hiện nay, việc ký kết, tham gia các ĐƯQT về vấn đề dân sự và gia đình là vô
cùng cần thiết.
1.2.2.1. Giai đoạn trước khi ban hành Luật hôn nhân và gia đình năm
1959
Giai đoạn này đất nước bị sự thống trị của giặc ngoại xâm, chịu sự áp bức bóc lột
nặng nề, không độc lập, không tự do, không quyền làm chủ đất nước, mặc dù đến năm
1945 nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập nhưng vẫn phải tiếp tục chống
thù trong giặc ngoài. Bởi vậy, chỉ đạo chiến lược trong lúc này phải tập trung giải
quyết nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Vì thế, pháp luật điều chỉnh các quan hệ trong giai
đoạn này không được chú trọng lắm và không tập trung ký kết các ĐƯQT. Các quan
hệ dân sự nói chung, quan hệ HN&GĐ nói riêng giai đoạn này chủ yếu được điều
chỉnh bởi Bộ luật dân. Vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài chưa đề cập một cách cụ
thể và giai đoạn này nước ta không ký kết, tham gia ĐƯQT liên quan dân sự và gia
đình.
GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

11


SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Thương


Luậ n văn tố t nghiệp

Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luậ t Việt Nam

1.2.2.2. Giai đoạn từ khi ban hành Luật hôn nhân và gia đình năm 1959
đến trước khi ban hành Luật hôn nhân và gia đình năm 1986
Trong giai đoạn này tuy đất nước còn gặp nhiều khó khăn nhưng vấn đề pháp
luật nói chung và vấn đề quan hệ HN&GĐ nói riêng cũng được quan tâm. Có một số
ĐƯQT liên quan dân sự và gia đình Việt Nam ký kết với một số nước thể hiện sự quan
tâm nhà nước đối với vấn đề này.
HĐTTTP và pháp lý về dân sự và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam và nước Tiệp Khắc (Séc và Xlô-va-ki-a kế thừa) ký ngày 12/10/1982 và có
hiệu lực ngày16/4/1984.
HĐTTTP về các vấn đề dân sự, gia đình, lao động và hình sự giữa nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Cu Ba ký ngày 30/11/1984 và đang
có hiệu lực.
HĐTTTP về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Hung-ga-ri ký ngày 18/1/1985 và
đang có hiệu lực.
Việc ký kết nhiều HĐTTTP trong giai đoạn này thể hiện sự quan tâm của nhà
nước về vấn đề dân sự và gia đình có yếu tố nước ngoài.
1.2.2.3. Giai đoạn từ năm 1986 đến trước khi ban hành Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000
Trong giai đoạn này tình hình đất nước có nhiều thay đổi theo hướng tính cực, có
nhiều bước phát triển đáng kể. Trong giai đoạn này các HĐTTTP về vấn đề dân sự và
gia đình cũng được nước ta quan tâm và ký kết, có một số HĐTTTP được ký kết trong
giai đoạn này. Thể hiện sự quan tâm của nhà nước ở mức độ cao hơn về vấn đề

HN&GĐ.
HĐTTTP về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Ba Lan ký ngày 22/3/1993 và có hiệu lực
18/1/1995.
HĐTTTP về dân sự và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
và nước Lào ký ngày 6/7/1998 và có hiệu lực 19/2/2000.
HĐTTTP và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam và nước Nga ký ngày 25/8/1998 và có hiệu lực 27/8/2012.
HĐTTTP về các vấn đề dân sự và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam và Trung Quốc ký ngày 19/10/1998 và có hiệu lực 25/12/1999.
HĐTTTP và pháp lý trong các vấn đề về dân sự và hình sự giữa nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Ucraina ký ngày 6/4/2000 và có hiệu lực
19/8/2002.
GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

12

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Thương


Luậ n văn tố t nghiệp

Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luậ t Việt Nam

1.2.2.4. Giai đoạn từ khi ban hành Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 đến nay
Ở giai đoạn này, pháp luật trong nước điều chỉnh vấn đề ly hôn có yếu tố nước
ngoài gần như được hoàn thiện từ pháp luật nội dung đến pháp luật hình thức đã tạo
điều kiện thuận lợi trong việc giải quyết vấn đề liên quan trong ly hôn có yếu tố nước
ngoài. Bên cạnh đó, nhà nước cũng quan tâm đến ký kết, tham gia các HĐTTTP về

vấn đề trên để thuận tiện hơn trong quá trình giải quyết, tránh tranh chấp không có lợi
xảy ra, góp phần bảo vệ quyền lợi của người dân. Một số HĐTTTP trong giai đoạn
này.
HĐTTTP và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình, lao động và hình sự giữa
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Bê-la-rút ký ngày 14/9/2000 và có
hiệu lực 18/10/2001.
HĐTTTP trong các vấn đề dân sự và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam và nước Triều Tiên ký ngày 4/5/2002 và có hiệu lực 24/2/2004.
Nghị định thư bổ sung HĐTTTP và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự giữa
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Nga ký ngày 23/4/2003 và có hiệu
lực 27/7/2012.
HĐTTTP trong lĩnh vực dân sự và thương mại giữa nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam và An-giê-ri ký ngày 14/4/2010 và có hiệu lực 24/6/2012.9
Ngày nay, không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển một cách biệt lập
mà không có quan hệ với các quốc gia khác. Nói cách khác, quan hệ hợp tác quốc tế
không chỉ là nhu cầu nội tại thiết thực của bản thân mỗi quốc gia nhằm thúc đẩy mạnh
mẽ sự phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi nước, mà còn là trách nhiệm - nghĩa vụ của các
quốc gia xét dưới góc độ pháp luật quốc tế. Tương trợ tư pháp quốc tế là một biểu hiện
của nguyên tắc về nghĩa vụ hợp tác giữa các quốc gia - một trong các nguyên tắc cơ
bản của Luật quốc tế hiện đại. Việc ký kết các HĐTTTP về dân sự, HN&GĐ có ý
nghĩa rất lớn đối với nước ta, cũng như trong việc bảo vệ quyền lợi đặc biệt là quyền
lợi của người phụ nữ.
Luật HN&GĐ năm 1986 ghi nhận nhiều các quy định điều chỉnh quan hệ hôn
nhân có yếu tố nước ngoài. Trên cơ sở của các quy định này, nhiều văn bản pháp luật
quan trọng về hôn nhân có yếu tố nước ngoài lần lượt ra đời. Trong quan hệ quốc tế,
Việt Nam đã ký kết nhiều HĐTTTP với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới.
Trong các hiệp định này, vấn đề liên quan tới việc giải quyết quan hệ hôn nhân có yếu
9

Bộ Ngoại giao Việt Nam, Danh mục các hiệp định về tương trợ tư pháp tương trợ tư pháp và pháp lý giữa Việt

Nam và các nước, />?List=dc7c7d75-6a32-4215-afeb-47d4bee70eee&ID=414, [ngày truy cập: 22/03/2013]

GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

13

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Thương


Luậ n văn tố t nghiệp

Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luậ t Việt Nam

tố nước ngoài được ghi nhận. Có thể nói, nội dung của các văn bản pháp luật trong
nước và các ĐƯQT trên đây đã đóng góp một phần rất quan trọng trong việc điều
chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian qua.10
1.3. Hệ quả pháp lý sau khi ly hôn
Kết hôn là cơ sở pháp lý để hình thành các quan hệ nhân thân và tài sản vì vậy ly
hôn cũng là cơ sở pháp lý làm thay đổi chấm dứt quan hệ đó. Ở Việt Nam, việc giải
quyết quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản trong ly hôn có yếu tố nước ngoài thường
tuân theo pháp luật của nước nơi vợ chồng mang quốc tịch hoặc nơi cư trú, đối với
trường hợp quan hệ ly hôn có liên quan đến tài sản là bất động sản thì khi giải quyết
vấn đề tài sản phải tuân theo pháp luật nơi có tài sản. Thẩm phán áp dụng Luật
HN&GĐ, Bộ luật dân sự (BLDS) và các văn bản có liên quan để giải quyết các vấn đề
về hậu quả pháp lý của việc ly hôn, bao gồm quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản.
1.3.1. Quan hệ nhân thân
1.3.1.1. Quan hệ giữa vợ và chồng sau khi ly hôn
Theo nguyên tắc chung, khi bản án, quyết định ly hôn của Toà án có hiệu lực
pháp luật, quan hệ vợ chồng được chấm dứt. Người vợ, người chồng đã ly hôn có
quyền kết hôn với người khác. Sau khi ly hôn, các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa

vợ chồng sẽ chấm dứt hoàn toàn, dù vợ chồng có thỏa thuận được hay không thì Toà
án cũng sẽ quyết định. Nghĩa là những quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng
phát sinh từ khi kết hôn, gắn bó tương ứng giữa vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (như
nghĩa vụ thương yêu, quý trọng, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau, nghĩa vụ chung thủy giữa
vợ chồng, quyền đại diện cho nhau…) sẽ đương nhiên chấm dứt. Một số quyền nhân
thân khác mà vợ, chồng với tư cách là công dân thì không ảnh hưởng, không thay đổi
dù vợ chồng ly hôn.
Như vậy, ly hôn là căn cứ làm chấm dứt quan hệ vợ chồng. Việc chấm dứt này
do một bên yêu cầu hoặc do cả hai thuận tình ly hôn và phải được Tòa án công nhận
bằng bản án hoặc quyết định giải quyết ly hôn. Sau khi bản án hoặc quyết định có hiệu
lực thì quan hệ vợ chồng chấm dứt.
1.3.1.2. Quan hệ giữa cha, mẹ và con cái sau khi ly hôn
Ly hôn làm chấm dứt quan hệ vợ chồng tuy nhiên không làm chấm dứt quan hệ
giữa cha mẹ và con cái. Theo luật định, vợ và chồng (với tư cách là cha là mẹ của con)
đều có quyền và nghĩa vụ bình đẳng trong việc thương yêu, nuôi dưỡng, chăm sóc,
giáo dục con cái. Sau khi ly hôn, việc giáo dục con chưa thành niên hoặc đã thành niên
10

Lê Thị Hoàng Thanh - Trương Hồng Quang, pháp luật Việt Nam về hôn nhân có yếu tố nước ngoài, http://taili
eu.vn/xem-tai-lieu/bao-cao-phap-luat-viet-nam-ve-quan-he-hon-nhan-co-yeu-to-nuoc-ngoai-.1351099.html,
[ngày truy cập: 22/03/2013]

GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

14

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Thương


Luậ n văn tố t nghiệp


Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luậ t Việt Nam

bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài
sản để tự nuôi mình cho bên nào trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phải căn
cứ vào điều kiện thực tế của vợ chồng và phải bảo đảm vì lợi ích mọi mặt của con.
Việc nuôi dạy và giáo dục con cái là quyền lợi cũng là nghĩa vụ của cha mẹ trước và
sau khi ly hôn. Tuy nhiên, sau khi ly hôn sẽ phát sinh một số vấn đề trong quan hệ
giữa cha mẹ và con cái: Con không được sống chung với cả cha lẫn mẹ, ai được quyền
nuôi con, ai phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Do vậy, việc giao con chưa thành niên
cho cha hoặc mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là điều cần thiết, việc giao con cho
cha hoặc mẹ nuôi không tước quyền làm cha hoặc mẹ của bên kia. Bên cạnh vấn đề
giao con cho cha hoặc mẹ, việc cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn, thay đổi nuôi con sau
ly hôn, quyền thăm con sau khi ly hôn cũng là vấn đề phát sinh trong quan hệ giữa cha
mẹ và con cái sau khi ly hôn.
1.3.2. Quan hệ tài sản
Việc chia tài sản sau khi ly hôn là vấn đề hết sức phức tạp, từ việc chia tài sản
chung của vợ chồng đến việc xác định tài sản riêng của các bên trong thời kỳ hôn
nhân. Đặc biệt, việc giải quyết quan hệ tài sản trong ly hôn có yếu tố nước ngoài còn
gặp nhiều khó khăn hơn nữa bởi việc xác định khối tài sản đó ở nước ngoài, việc lựa
chọn áp dụng pháp luật nước ngoài trong trường hợp tài sản là bất động sản ở nước
ngoài. Do đó, khi giải quyết vấn đề tài sản trong ly hôn có yếu tố nước ngoài theo
PLVN phải kết hợp việc vận dụng các văn bản pháp luật trong nước, ĐƯQT, đôi khi cả
pháp luật nước ngoài.
1.3.2.1. Đối với tài sản riêng của vợ chồng
Trước hết, theo các nguyên tắc quy định tại Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2000
thì việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì
yêu cầu Toà án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên
đó.11 Nếu vợ chồng không thỏa thuận được với nhau thì yêu cầu Toà án giải quyết. Sau
khi ly hôn vợ, chồng có tài sản riêng thì có toàn quyền sở hữu tài sản riêng của mình,

và tài sản đó sẽ không phải phân chia cho bên còn lại. Tuy nhiên, người có tài sản
riêng phải chứng minh được đó là tài sản riêng của mình. Việc chứng minh có thể bằng
sự công nhận của bên kia hoặc bằng các giấy tờ xác nhận quyền sở hữu riêng của mình
(các văn tự, di chúc hoặc các chứng từ khác chứng tỏ tài sản đó là tài sản riêng của vợ,
chồng). Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang
có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.12
Khi chia tài sản là tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng mà có tranh chấp, cần
11
12

Khoản 1, Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2000
Khoản 3, Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000

GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

15

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Thương


Luậ n văn tố t nghiệp

Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luậ t Việt Nam

xem xét đã có sự trộn lẫn, ẩn chứa các loại tài sản chung và tài sản riêng trong quá
trình sử dụng ở thời kì hôn nhân. Trường hợp vợ, chồng đã tự nguyện nhập tài sản
riêng vào tài sản chung của vợ chồng hoặc tài sản riêng đã chi dùng cho gia đình mà
không còn nữa thì người có tài sản riêng không có quyền đòi lại hoặc đền bù. Trong
trường hợp tài sản riêng tăng giá trị lên rất nhiều lần vì người có tài sản riêng đã dùng
tài sản chung để tu sửa làm tăng giá trị cho tài sản riêng của mình, Khi đó, Toà án sẽ

xác định phần tăng giá trị đó và nhập vào tài sản chung.
1.3.2.2. Đối với tài sản chung của vợ chồng
Về nguyên tắc, phần tài sản của vợ, chồng trong khối tài sản chung là ngang
bằng nhau, do đó khi vợ chồng ly hôn, tài sản chung được chia đôi. Tuy nhiên, để bảo
vệ quyền và lợi ích của các bên và các lợi ích khác, trong từng trường hợp cụ thể, tài
sản chung của vợ chồng không thể chia đôi mà còn phải tuân thủ các nguyên tắc khác
như: Tình trạng tài sản, hoàn cảnh của mỗi bên và công sức đóng góp của họ vào việc
tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản; khi chia tài sản chung của vợ chồng, phải bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên, hoặc con đã thành niên bị
tàn tật hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự không có khả năng lao động và không có
tài sản để tự nuôi mình, để đảm bảo cho họ được ổn định cuộc sống; bảo vệ lợi ích
chính đáng của các bên trong sản xuất kinh doanh và nghề nghiệp; tài sản chung của
vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị. Chia tài sản không thể làm mất giá
trị sử dụng của tài sản đó. Người được nhận tài sản có giá trị lớn hơn so với giá trị
phần tài sản họ được chia thì họ phải trả cho bên kia phần giá trị chênh lệch đó.
1.4. Xung đột pháp luật và phương pháp giải quyết xung đột pháp luật trong
quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
1.4.1. Xung đột pháp luật
1.4.1.1. Khái niệm xung đột pháp luật
Trong khoa học về tư pháp quốc tế, hiện tượng pháp luật của hai hay nhiều nước
khác nhau cùng có thể áp dụng để điều chỉnh một quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có
yếu tố nước ngoài được gọi là hiện tượng xung đột pháp luật. 13
Hôn nhân và gia đình là một trong những mối quan hệ trong tư pháp quốc tế.
Mà ly hôn có yếu tố nước ngoài là một quan hệ thuộc quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước
ngoài. Như vậy, trong giải quyết một vụ ly hôn cũng có thể xảy ra xung đột pháp luật
khi có hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia điều chỉnh quan hệ ly hôn có
yếu tố nước ngoài đó.
Hiện tượng xung đột pháp luật có tác động tiêu cực nhất định đến cơ quan có
13


Cao Nhất Linh – Diệp Ngọc Dũng: Tập bài giàng tư pháp quốc tế, Khoa luật Trường đại học Cần Thơ năm
2002 trang 14,15

GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

16

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Thương


Luậ n văn tố t nghiệp

Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luậ t Việt Nam

thẩm quyền của các quốc gia liên quan, cũng như các chủ thể trong quan hệ ly hôn: Có
nhiều hệ thống pháp luật để điều chỉnh, khi đó việc chọn pháp luật của quốc gia nào để
giải quyết đôi khi gây khó khăn cho cơ quan Tòa án, đồng thời khi áp dụng hệ thống
pháp luật này, hay một hệ thống pháp luật khác có thể làm thay đổi, cũng như hạn chế
quyền lợi của các bên.
Bên cạnh những tác động tiêu cực thì xung đột pháp luật cũng có những tác động
tích cực: Việc tiếp cận với những khác biệt trong mỗi hệ thống pháp luật sẽ giúp các cơ
quan có thẩm quyền của quốc gia liên quan nhận thấy các điểm mạnh yếu của hệ thống
pháp luật quốc gia trong tương quan với các hệ thống pháp luật khác trên thế giới, qua
đó giúp hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia.
1.4.1.2. Nguyên nhân dẫn đến xung đột pháp luật
Từ định nghĩa xung đột pháp luật về ly hôn nêu trên có thể thấy các nguyên nhân
chủ yếu làm phát sinh xung đột pháp luật về ly hôn là: Do pháp luật về hôn nhân gia
đình của các nước quy định khác nhau; do đặc điểm về nội dung của tư pháp quốc tế
điều chỉnh quan hệ hôn nhân gia đình.
Thứ nhất, do pháp luật HN&GĐ các nước quy định khác nhau khi điều chỉnh

một quan hệ ly hôn cụ thể. Nếu như nội dung pháp luật của các nước quy định giống
nhau khi giải quyết một trường hợp cụ thể thì hiện tượng xung đột pháp luật sẽ không
xảy ra vì trong trường hợp này việc áp dụng pháp luật của nước nào cũng sẽ đem lại hệ
quả pháp lý như nhau. Do đó, cơ quan có thẩm quyền sẽ không phải đứng trước việc
lựa chọn pháp luật áp dụng. Nhưng xuất phát từ điều kiện kinh tế xã hội, từ quan điểm
chính trị, từ phong tục tập quán, từ đặc điểm các hệ thống pháp luật nên pháp luật các
nước, không thể giống nhau hoàn toàn.14 Khi đó, cần phải xác định một hê thống pháp
luật nhất định đảm bảo quyền lợi cho các bên khi giải quyết ly hôn.
Thứ hai, do đặc điểm về nội dung của tư pháp quốc tế điều chỉnh quan hệ dân sự
theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, trong đó có quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố
nước ngoài. Vì thế, trong rất nhiều trường hợp khi một quan hệ ly hôn có yếu tố nước
ngoài xuất hiện đã làm phát sinh tình trạng pháp luật của các nước liên quan cùng có
thể được áp dụng và làm nảy sinh vấn đề cần phải chọn pháp luật của một nước cụ thể
để áp dụng. Từ đó xảy ra hiện tượng xung đột pháp luật. Trong khi đó, đối với các
quan hệ hình sự, hành chính, tố tụng…là các quan hệ mang tính chất lãnh thổ, các nhà
nước không thừa nhận khả năng áp dụng pháp luật nước ngoài trong các quan hệ trên,
do đó không thừa nhận hiện tượng xung đột pháp luật. Như vậy, xung đột pháp luật chỉ
có thể phát sinh trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, trong đó có quan hệ ly
14

Lê Thị Nam Giang, Tư pháp quốc tế, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2011, trang
109

GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

17

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Thương



×