BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN KHÁNH VÂN
PHÂN BIỆT CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU VỚI CÁC
VI PHẠM TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ VỀ TÀI SẢN
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN VĂN HƢƠNG
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không trùng với
bất kỳ một công trình nghiên cứu nào đã đƣợc công bố trƣớc đó, mọi trích dẫn trong
bài viết đều đƣợc chú thích và dẫn nguồn rõ ràng, đầy đủ.
Hà Nội, ngày 22 tháng 5 năm 2014
Người viết luận văn
Nguyễn Khánh Vân
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………………………… 1
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc phân biệt các tội xâm
phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản……….
5
1.1. Cơ sở lý luận……………………………………………………………… 5
1.2. Cơ sở thực tiễn……………………………………………………………. 15
Chƣơng 2: Sự khác biệt giữa các tội xâm phạm sở hữu và các vi phạm trong
giao dịch dân sự về tài sản………………………………………………
24
2.1. Những dấu hiệu khác nhau cơ bản giữa các tội xâm phạm sở hữu với các vi
phạm trong giao dịch dân sự về tài sản…………………………………..
24
2.2. Biểu hiện cụ thể của những dấu hiệu khác nhau cơ bản.............................. 35
2.2.1. Biểu hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt ở các tội “lừa đảo chiếm đoạt
tài sản” và “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”……………….
36
2.2.2. Biểu hiện của yếu tố lỗi ở tội “hủy hoại hoặc cố ý làm hƣ hỏng tài
sản”…………………………………………………………………….
52
Chƣơng 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự để làm rõ sự phân
biệt giữa các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về
tài sản…………………….........................................................................
58
3.1. Kiến nghị hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm
sở hữu ……………………………………………………………………
58
3.1.1. Hoàn thiện quy định của Điều 140 BLHS………………………... 58
3.1.2. Hoàn thiện quy định của Điều 143 và Điều 144 BLHS………….. 59
3.1.3. Hoàn thiện quy định của Điều 142 BLHS và một số tội xâm phạm sở
hữu khác………………………………………………………………
62
3.2. Kiến nghị xây dựng văn bản giải thích pháp luật và nâng cao hiệu lực
thực thi pháp luật hình sự về các tội xâm phạm sở hữu ………………………. 64
KẾT LUẬN……………………………………………………………………. 68
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Các tội xâm phạm sở hữu và các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản
trong nhiều trƣờng hợp có sự tƣơng đồng, xuất phát từ sự tƣơng đồng này nên
trong thực tiễn áp dụng pháp luật, khi biểu hiện cụ thể của những dấu hiệu khác
nhau cơ bản giữa chúng không đƣợc làm rõ sẽ dẫn đến việc lựa chọn sai quy
phạm pháp luật để xử lý các hành vi vi phạm mà trong một số sách báo thƣờng
gọi là “hình sự hóa dân sự” hoặc “dân sự hóa hình sự”, thực chất đó là tình trạng
áp dụng luật hình sự để xử lý các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản hoặc
giải quyết các vụ việc có dấu hiệu của các tội xâm phạm sở hữu bằng pháp luật
dân sự. Việc làm đó gây ra oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm. Tình trạng trên còn
xuất phát từ một số bất cập của Bộ luật hình sự (BLHS) hiện hành về các tội xâm
phạm sở hữu. Vì vậy, việc nghiên cứu để làm rõ những dấu hiệu khác nhau cơ
bản giữa hai loại hành vi vi phạm nói trên đồng thời hoàn thiện quy định của
BLHS về các tội xâm phạm sở hữu là việc làm mang tính cấp thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Là một vấn đề đƣợc dƣ luận xã hội đặc biệt quan tâm nên việc phân biệt
giữa các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản
đã đƣợc nhiều học giả nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau.
PGS. TS. Nguyễn Ngọc Chí (Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm
phạm sở hữu, luận án tiến sĩ luật học), TS. Phạm Quang Huy (Ranh giới giữa tội
phạm và không phải là tội phạm trong luật hình sự Việt Nam, luận án tiến sĩ luật
học), Nguyễn Trƣờng Thiệp (Phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác,
luận văn thạc sỹ luật học), Lƣơng Văn Thức (Các tội xâm phạm sở hữu trong
2
luật hình sự Việt Nam, luận văn thạc sỹ luật học) đã có những nghiên cứu khá chi
tiết về các tội xâm phạm sở hữu, nhất là các tội có tính chiếm đoạt, và có nêu
một số vấn đề phân biệt các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt với các vi
phạm trong giao dịch dân sự về tài sản đồng thời cũng đã đƣa ra một số dấu hiệu
để nhận biết hành vi “chiếm đoạt”.
Xuất phát từ góc độ nghiên cứu hiện tƣợng “hình sự hoá giao dịch dân sự,
kinh tế”, các tác giả: TS. Nguyễn Văn Vân (Về hiện tượng hình sự hóa các quan
hệ kinh tế, dân sự trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng), Lại Việt Hợp (Thực trạng
tình hình hình sự hoá giao dịch dân sự, kinh tế hiện nay, Báo Diễn đàn doanh
nghiệp, số 63 ngày 6/11/2000), Trần Hữu Huỳnh (Hình sự hoá các quan hệ dân
sự, kinh tế: nguyên nhân và giải pháp, Tham luận tại Diễn đàn doanh nghiệp
“Chống hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế”, TP. Hồ Chí Minh, ngày
10/11/2000), Vũ Thế Vậc (Một số giải pháp khắc phục tình trạng hình sự hoá
các quan hệ dân sự, kinh tế trong hoạt động ngân hàng), Nguyễn Đình Cung
(Báo cáo tổng quát về hiện tượng hình sự hoá giao dịch dân sự kinh tế), Nguyễn
Văn Hiện (Những biểu hiện của tình trạng hình sự hoá các giao dịch dân sự,
kinh tế trong công tác xét xử và biện pháp khắc phục) đã phân tích hiện tƣợng áp
dụng các tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản” để giải quyết các vi phạm dân sự, kinh tế, đồng thời khẳng định dấu hiệu
quan trọng nhất để phân biệt giữa các tội nói trên với các vi phạm dân sự, kinh tế
là dấu hiệu chiếm đoạt; ThS. Đinh Văn Quế (Bình luận án, Nxb. TP. Hồ Chí
Minh, 1998) và TS. Nguyễn Văn Hiện đã xác định các vấn đề quan trọng trong
việc chứng minh hành vi chiếm đoạt tài sản. Tuy tiếp cận vấn đề từ góc độ
nghiên cứu hiện tƣợng “hình sự hoá giao dịch dân sự, kinh tế” (với nghĩa là sự
lạm dụng pháp luật hình sự để xử lý những vi phạm trong giao dịch dân sự, kinh
3
tế), trong đó chủ yếu là “hình sự hóa” giao dịch kinh tế, nhƣng có thể nói những
tài liệu trên đã đƣa ra đƣợc những kết quả nghiên cứu có ý nghĩa trong việc phân
biệt các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản.
Trên cơ sở phân tích toàn diện những trƣờng hợp có sự tƣơng đồng giữa
các tội xâm phạm sở hữu và các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản, từ đó
làm rõ những dấu hiệu khác nhau cơ bản giữa chúng - cách tiếp cận mới của luận
văn này đã làm rõ đƣợc sự khác biệt giữa các tội xâm phạm sở hữu với các vi
phạm trong giao dịch dân sự về tài sản một cách toàn diện. Qua đó, luận văn đã
có những đề xuất khắc phục các bất cập của luật hình sự có liên quan đến việc
phân biệt các vi phạm pháp luật nêu trên.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Đề tài đƣợc nghiên cứu dƣới góc độ luật hình sự, trên cơ sở phân tích
những trƣờng hợp có sự tƣơng đồng giữa các tội xâm phạm sở hữu và các vi
phạm trong giao dịch dân sự về tài sản, rút ra những dấu hiệu khác nhau cơ bản
giữa chúng và làm rõ những dấu hiệu đó, đó là nội dung chính của việc phân biệt
các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở phƣơng pháp luận duy vật biện chứng, trong quá trình nghiên
cứu luận văn, tác giả đã sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
- Phƣơng pháp bình luận;
- Phƣơng pháp so sánh luật học;
- Phƣơng pháp phân tích;
- Phƣơng pháp tổng hợp…
4
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
5.1: Mục đích: Làm rõ những dấu hiệu khác nhau cơ bản giữa các tội xâm
phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản và đề xuất hƣớng
hoàn thiện các quy định của BLHS về các tội xâm phạm sở hữu.
5.2: Nhiệm vụ: Phân tích những trƣờng hợp có sự tƣơng đồng giữa các tội
xâm phạm sở hữu và các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản, từ đó rút ra
những dấu hiệu khác nhau cơ bản giữa chúng và làm rõ biểu hiện cụ thể của
những dấu hiệu đó. Từ đó đề xuất hƣớng hoàn thiện các quy định của BLHS về
các tội xâm phạm sở hữu.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Luận văn đã làm rõ đƣợc sự khác nhau giữa các tội xâm phạm sở hữu với
các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản. Trên cơ sở đó, đề xuất hƣớng hoàn
thiện BLHS về các tội xâm phạm sở hữu.
7. Cơ cấu của luận văn
Luận văn gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc phân biệt các tội
xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản.
Chương 2: Sự khác biệt giữa các tội xâm phạm sở hữu và các vi phạm
trong giao dịch dân sự về tài sản.
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự để làm rõ sự phân
biệt giữa các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về
tài sản.
5
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÂN BIỆT CÁC TỘI
XÂM PHẠM SỞ HỮU VỚI CÁC VI PHẠM TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ
VỀ TÀI SẢN
1.1.
Cơ sở lý luận
Quan hệ sở hữu là quan hệ xã hội chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự
nhƣng đồng thời cũng là khách thể đƣợc pháp luật hình sự bảo vệ. Là những
hành vi vi phạm pháp luật xâm hại đến quan hệ sở hữu nên giữa các tội xâm
phạm sở hữu và các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản có những điểm
tƣơng đồng nhất định. Xuất phát từ những điểm tƣơng đồng đó, trong những
trƣờng hợp sự khác nhau giữa các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong
giao dịch dân sự về tài sản chƣa đƣợc làm rõ, có thể dẫn đến sự nhầm lẫn giữa
hai loại vi phạm pháp luật này.
Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực
trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo
vệ [7; 211]. Các vi phạm pháp luật đều có tính nguy hiểm cho xã hội. Tính nguy
hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm thể hiện ở 4 yếu tố cấu thành: Khách thể,
mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể. Dựa trên tính nguy hiểm cho xã hội, các
vi phạm pháp luật đƣợc phân loại thành tội phạm (vi phạm pháp luật hình sự) và
các vi phạm pháp luật khác (trong đó có vi phạm dân sự); Trong đó, tội phạm là
vi phạm có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội, các vi phạm pháp luật khác là
những vi phạm có tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể.
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự
và phải chịu hình phạt [9; 42]. Tội phạm có các đặc điểm:
6
- Là hành vi có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội;
- Có lỗi;
- Trái pháp luật hình sự (xuất phát từ 2 đặc điểm trên).
- Phải chịu hình phạt (xuất phát từ 3 đặc điểm trên).
Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi có lỗi gây thiệt hại hoặc đe
dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại này thể hiện được đầy
đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi. [9; 5].
BLHS hiện hành quy định các tội xâm phạm sở hữu tại Chƣơng XIV, gồm
13 Điều, từ 133 đến 145. Bao gồm các tội:
- Cƣớp tài sản (Điều 133);
- Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134);
- Cƣỡng đoạt tài sản (Điều 135);
- Cƣớp giật tài sản (Điều 136);
- Công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137);
- Trộm cắp tài sản (Điều 138);
- Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139);
- Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140);
- Sử dụng trái phép tài sản (Điều 141);
- Chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 142);
- Hủy hoại hoặc cố ý làm hƣ hỏng tài sản (Điều 143);
7
- Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc
(Điều 144);
- Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145).
Các hành vi khách quan ở các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy
hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quan hệ sở hữu. Bao gồm các hành vi:
Thứ nhất: Hành vi có dấu hiệu chiếm đoạt. Hành vi có dấu hiệu chiếm
đoạt là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của
chủ tài sản thành tài sản của mình; hành vi có dấu hiệu chiếm đoạt có đặc điểm:
là hành vi làm mất hẳn khả năng thực hiện quyền sở hữu của chủ tài sản và tạo
khả năng đó cho chủ thể hành vi, đƣợc thực hiện đối với tài sản đang trong sự
chiếm hữu, quản lý của chủ tài sản và với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi có dấu hiệu
chiếm đoạt là hành vi khách quan ở 8 trong số 13 tội xâm phạm sở hữu. Trong
đó, ở các tội “cƣớp tài sản”, “bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”, “cƣỡng đoạt tài
sản”, hành vi có dấu hiệu chiếm đoạt đồng thời xâm phạm đến cả quan hệ nhân
thân và quan hệ sở hữu, nên cấu thành tội phạm ở những tội này là cấu thành
hình thức, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc ở những tội này. Ở tội “cƣớp
giật tài sản”, hành vi chiếm đoạt ngoài xâm phạm đến quan hệ sở hữu còn xâm
phạm đến hoặc đe dọa xâm phạm đến quan hệ nhân thân nên cấu thành ở tội này
cũng là cấu thành hình thức. Ở các tội “công nhiên chiếm đoạt tài sản”, “trộm
cắp tài sản”, “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản”, hành vi chiếm đoạt chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, nên để hành vi có
dấu hiệu chiếm đoạt ở những tội này thể hiện đầy đủ tính chất nguy hiểm đáng
kể cho xã hội, thì dấu hiệu hậu quả và quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
là dấu hiệu bắt buộc, tài sản bị chiếm đoạt (hoặc bị đe dọa chiếm đoạt) phải có
8
giá trị theo luật định thì hành vi mới cấu thành tội phạm; trong trƣờng hợp tài sản
bị chiếm đoạt không đủ giá trị theo luật định thì dấu hiệu chủ thể có nhân thân
xấu (đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội
chiếm đoạt tài sản, chƣa đƣợc xóa án tích) có thể bổ sung cho dấu hiệu hậu quả
để hành vi chiếm đoạt cấu thành tội phạm; nhƣ vậy, cấu thành tội phạm ở những
tội này là cấu thành vật chất. Lỗi ở các tội này đều phải là lỗi cố ý trực tiếp và
chủ thể là chủ thể thƣờng.
Thứ hai: Hành vi sử dụng trái phép tài sản. Hành vi sử dụng trái phép tài
sản là hành vi khách quan ở tội “sử dụng trái phép tài sản”. Lỗi ở tội này là lỗi cố
ý. Cùng là các hành vi xâm phạm quan hệ sở hữu có mục đích tƣ lợi, nhƣng khác
với hành vi có dấu hiệu chiếm đoạt, hành vi sử dụng trái phép tài sản không làm
cho chủ tài sản mất hẳn khả năng thực hiện các quyền sở hữu của mình mà chỉ
xâm phạm đến quyền sử dụng của chủ tài sản trong một thời gian nhất định. Do
vậy, để hành vi sử dụng trái phép tài sản có đầy đủ tính nguy hiểm đáng kể cho
xã hội thì cần có thêm những dấu hiệu khác: Tài sản bị sử dụng trái phép phải có
giá trị từ 50 triệu đồng trở lên (đặc điểm của đối tƣợng tác động) và hành vi phải
gây hậu quả nghiêm trọng (dấu hiệu “hậu quả nghiêm trọng” đƣợc hƣớng dẫn cụ
thể tại Thông tƣ liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP
ngày 25/12/2001 của TAND Tối cao, VKSND Tối cao, Bộ công an, Bộ tƣ pháp);
trong trƣờng hợp hành vi không gây hậu quả nghiêm trọng thì dấu hiệu nhân
thân xấu của chủ thể (đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án
về tội này, chƣa đƣợc xóa án tích) có thể bổ sung hoặc thay thế cho dấu hiệu đó
để hành vi sử dụng trái phép tài sản cấu thành tội phạm. Nhƣ vậy, cấu thành tội
phạm (CTTP) của tội này rất đặc biệt: cùng một tội phạm (trong cùng Điều,
Khoản) lại có hai loại CTTP khác nhau, trong trƣờng hợp chủ thể là chủ thể có
9
nhân thân xấu (nhƣ đã nêu ở trên) thì CTTP là cấu thành hình thức, trong trƣờng
hợp chủ thể là chủ thể thƣờng (không có đặc điểm nhân thân xấu nêu trên) thì
CTTP là cấu thành vật chất. Trƣờng hợp thứ nhất chính là một điểm bất cập của
BLHS hiện hành (sẽ đƣợc phân tích cụ thể ở phần sau).
Thứ ba: Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản. Hành vi chiếm giữ trái phép
tài sản là hành vi khách quan ở tội “chiếm giữ trái phép tài sản”. Hành vi chiếm
giữ trái phép tài sản là hành vi cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, ngƣời quản
lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản bị giao
nhầm hoặc do mình tìm đƣợc, bắt đƣợc… Cùng là các hành vi xâm phạm quan
hệ sở hữu với mục đích tƣ lợi, nhƣng khác với hành vi có dấu hiệu chiếm đoạt,
hành vi chiếm giữ trái phép tài sản tác động đến tài sản đã thoát li khỏi sự chiếm
hữu của chủ sở hữu hoặc tài sản chƣa có chủ sở hữu. Nên nếu không xét đến các
dấu hiệu khác của CTTP thì hành vi chiếm giữ trái phép tài sản có tính nguy
hiểm cho xã hội không cao bằng hành vi có dấu hiệu chiếm đoạt. Để hành vi
chiếm giữ trái phép tài sản có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội thì cần có thêm
dấu hiệu khác: Tài sản bị chiếm giữ trái phép phải có giá trị từ 10 triệu đồng trở
lên hoặc là cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa. Lỗi ở tội này là lỗi cố ý
trực tiếp: Ngƣời phạm tội biết tài sản đang có không phải là tài sản của mình và
biết mình có nghĩa vụ phải trả lại hoặc giao nộp tài sản cho chủ sở hữu, ngƣời
quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm nhƣng không thực hiện nghĩa vụ
đó vì mong muốn biến tài sản đó thành tài sản của mình. Ngoài dấu hiệu lỗi, thái
độ cố tình là một dấu hiệu bắt buộc khác thuộc mặt chủ quan của tội này, đó là
thái độ cƣơng quyết, dứt khoát không chịu giao nộp hoặc không chịu trả lại tài
sản mặc dù đã đƣợc chủ tài sản hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu đƣợc nhận
lại tài sản đó theo quy định của pháp luật. Chủ thể của tội này là chủ thể thƣờng.
10
Thứ tư: Hành vi hủy hoại, làm hƣ hỏng, làm mất mát, làm lãng phí tài
sản. Hành vi hủy hoại tài sản là hành vi làm cho tài sản mất giá trị sử dụng ở
mức độ không còn hoặc khó có khả năng khôi phục lại đƣợc, hành vi này đƣợc
thực hiện với lỗi cố ý, và là hành vi khách quan của tội “hủy hoại tài sản”. Hành
vi làm hƣ hỏng tài sản là hành vi làm giá trị sử dụng của tài sản bị mất ở mức độ
còn điều kiện khôi phục lại đƣợc, hành vi này có thể đƣợc thực hiện với lỗi cố ý
(là hành vi khách quan của tội “cố ý làm hƣ hỏng tài sản”) hoặc lỗi vô ý (hành vi
khách quan của tội “thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của
Nhà nƣớc” hoặc tội “vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản”). Hành vi làm
mất mát hoặc làm lãng phí tài sản là những hành vi làm mất toàn bộ hoặc một
phần giá trị của tài sản đã đƣợc giao cho chủ thể để quản lý, sử dụng, bảo
quản…; nhƣng lỗi của chủ thể ở những hành vi này là lỗi vô ý, đây chính là điểm
phân biệt giữa những hành vi này với hành vi chiếm đoạt toàn bộ hoặc một phần
tài sản; Các hành vi làm mất mát hoặc làm lãng phí tài sản là hành vi khách quan
của tội “thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc”
hoặc tội “vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản”. Các hành vi hủy hoại hoặc
cố ý làm hƣ hỏng tài sản thể hiện tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội khi phần giá
trị tài sản bị hủy hoại hoặc bị hƣ hỏng từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dƣới 2 triệu
đồng nhƣng chủ thể đã bị xử lý hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về
tội này, chƣa đƣợc xóa án tích. Do đƣợc thực hiện với lỗi vô ý nên các hành vi
làm mất mát, làm lãng phí, vô ý làm hƣ hỏng tài sản chỉ thể hiện tính nguy hiểm
cho xã hội khi giá trị phần tài sản bị thiệt hại từ 50 triệu đồng trở lên. Trong số
các tội này, ngoại trừ tội “thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài
sản của Nhà nƣớc” đòi hỏi chủ thể phải là chủ thể đặc biệt, chủ thể của các tội
còn lại đều là chủ thể thƣờng.
11
Như vậy, bản chất của các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi có tính
nguy hiểm đáng kể cho xã hội, xâm phạm đến quan hệ sở hữu và sự xâm phạm
này thể hiện được đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Tính
nguy hiểm cho xã hội của mỗi tội xâm phạm sở hữu lại được thể hiện qua những
dấu hiệu khác nhau. Tính nguy hiểm cho xã hội của các tội xâm phạm sở hữu
thường được thể hiện qua: Tính chất, đặc điểm của hành vi; đặc điểm của đối
tượng tác động; hậu quả của hành vi; lỗi; nhân thân của chủ thể.
Vi phạm dân sự là những hành vi trái pháp luật, có lỗi do các chủ thể có
năng lực trách nhiệm dân sự thực hiện, xâm hại tới những quan hệ tài sản, quan
hệ nhân thân có liên quan tới tài sản, quan hệ phi tài sản [7; 215]. Vi phạm dân
sự có tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể. Đây là sự khác nhau về bản chất
giữa vi phạm dân sự và tội phạm.
Theo Điều 121 Bộ luật dân sự (BLDS) 2005, “Giao dịch dân sự là hợp
đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự. Giao dịch dân sự về tài sản là những giao dịch dân sự có
đối tƣợng là tài sản, bao gồm các giao dịch: Mua bán, trao đổi, vay, thuê, mƣợn,
vận chuyển, gia công, sửa chữa, gửi giữ, bảo vệ… tài sản; bảo hiểm; hứa thƣởng
và thi có giải. Trong các giao dịch đó, các bên trong giao dịch có các nghĩa vụ:
- Thanh toán (gồm cả phần lãi nếu có).
- Giao tài sản.
- Trả lại tài sản.
- Bảo quản tài sản.
- Sử dụng tài sản đúng công dụng và đúng mục đích đã thỏa thuận.
12
- Bảo hành tài sản trong hợp đồng mua bán tài sản có bảo hành.
- Bảo đảm giá trị sử dụng của tài sản thuê và bảo đảm quyền sử dụng tài
sản của bên thuê trong hợp đồng thuê tài sản.
- Cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết theo luật định.
- Mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật (trong
hợp đồng vận chuyển tài sản) và thanh toán các chi phí hợp lý phát sinh trong
quá trình thực hiện giao dịch theo luật định.
- Giữ bí mật các thông tin về quy trình gia công và sản phẩm gia công
trong hợp đồng gia công tài sản.
- Thực hiện các biện pháp phòng ngừa thiệt hại (nghĩa vụ của bên đƣợc
bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm).
…
Vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản là một dạng của vi phạm dân sự.
Đó là những hành vi vi phạm nghĩa vụ trong giao dịch dân sự về tài sản. Bao
gồm 3 loại vi phạm chính:
Loại thứ nhất: Không thực hiện nghĩa vụ.
Loại thứ hai: Thực hiện không đúng nghĩa vụ. Bao gồm: Không đúng địa
điểm, không đúng thời hạn, không đúng đối tƣợng, không đúng phƣơng thức
thực hiện.
Loại thứ ba: Thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ. Trong các giao dịch dân
sự về tài sản, các bên trong giao dịch có thể có một hoặc nhiều nghĩa vụ trong số
các nghĩa vụ đã nêu ở trên. Việc ngƣời có nghĩa vụ thực hiện không đầy đủ các
13
nghĩa vụ đã thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định cũng là hành vi vi phạm
nghĩa vụ.
Ngƣời thực hiện những hành vi vi phạm nói trên phải chịu trách nhiệm
dân sự. “Khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà người có nghĩa vụ không thực
hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ, thì sẽ phát sinh trách nhiệm
dân sự với người có quyền” [8; 47]. Trong số các hành vi đó có những hành vi
gây thiệt hại về tài sản cho ngƣời khác, qua đó xâm hại đến quan hệ sở hữu.
Là một dạng của vi phạm dân sự, các vi phạm trong giao dịch dân sự về
tài sản cũng có bản chất là những hành vi có tính nguy hiểm không đáng kể cho
xã hội. Nhƣng trong số đó, có những hành vi gây thiệt hại về tài sản cho ngƣời
khác, qua đó xâm hại đến quan hệ sở hữu, bản thân những hành vi này chƣa có
tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội, nhƣng khi những hành vi đó có thêm những
dấu hiệu làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội đến mức đáng kể thì hành vi đó
trở thành tội phạm, và trong trƣờng hợp sự xâm hại đến quan hệ sở hữu thể hiện
đƣợc đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi thì hành vi đó cấu
thành các tội xâm phạm sở hữu. Khi đó, các hành vi này không còn đơn thuần là
hành vi vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản nữa.
Như vậy, sự khác nhau về bản chất giữa các tội xâm phạm sở hữu với các
vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản là tính nguy hiểm cho xã hội của vi
phạm. Thể hiện ở chỗ: Những hành vi vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản
là những hành vi có tính nguy hiểm không đáng kể cho xã hội, chỉ khi những
hành vi đó có thêm những dấu hiệu làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội đến
mức đáng kể và sự xâm hại đến quan hệ sở hữu thể hiện được đầy đủ nhất bản
14
chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi thì hành vi đó mới cấu thành các tội xâm
phạm sở hữu.
Xem xét các dạng và loại vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản đã nêu
ở trên, chúng ta thấy:
- Các hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ
nghĩa vụ thanh toán, giao tài sản hoặc trả lại tài sản có nhiều điểm tƣơng đồng
với hành vi chiếm đoạt tài sản ở các tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
và “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Ví dụ: hành vi chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ
trong một thời gian dài có nhiều biểu hiện khách quan giống với hành vi chiếm
đoạt số tiền nợ…
- Hành vi vi phạm nghĩa vụ sử dụng tài sản đúng mục đích đã thỏa thuận
trong giao dịch dân sự về tài sản có nhiều điểm tƣơng đồng với hành vi khách
quan của tội “sử dụng trái phép tài sản”.
- Hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo quản tài sản hoặc nghĩa vụ sử dụng tài sản
đúng công dụng của tài sản (dẫn đến việc tài sản bị hƣ hỏng) có nhiều biểu hiện
khách quan giống với hành vi khách quan ở các tội “hủy hoại hoặc cố ý làm hƣ
hỏng tài sản”, “vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản”, “thiếu trách nhiệm
gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc”.
Xuất phát từ những trƣờng hợp có sự tƣơng đồng đó nên trong thực tiễn áp
dụng pháp luật, nếu không xác định rõ những dấu hiệu khác nhau cơ bản giữa
những hành vi là vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản và những hành vi là
hành vi khách quan ở các tội xâm phạm sở hữu thì sẽ dẫn đến những nhận định
sai lầm của cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng: Có những hành vi thực chất chỉ là
vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản nhƣng lại bị quy kết là tội xâm phạm
15
sở hữu, có những hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu nhƣng chỉ đƣợc coi là vi
phạm trong giao dịch dân sự về tài sản; Từ những nhận định sai lầm đó dẫn đến
việc lạm dụng các tội xâm phạm sở hữu để giải quyết các tranh chấp dân sự hoặc
ngƣợc lại là giải quyết các vụ việc có dấu hiệu của các tội xâm phạm sở hữu
bằng pháp luật dân sự; Thực chất, đó là việc gây oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm.
Vì vậy, việc nghiên cứu để tìm ra những dấu hiệu khác nhau cơ bản giữa
các tội xâm phạm sở hữu và các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản là việc
làm mang tính cấp thiết, nhằm khắc phục tình trạng lạm dụng các tội xâm phạm
sở hữu để giải quyết các tranh chấp dân sự hoặc ngƣợc lại là giải quyết các vụ
việc có dấu hiệu của các tội xâm phạm sở hữu bằng pháp luật dân sự, góp phần
chống oan, sai và bỏ lọt tội phạm. Đó là ý nghĩa và yêu cầu của việc phân biệt
các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản.
1.2.
Cơ sở thực tiễn
Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, do những dấu hiệu khác nhau cơ bản
giữa các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản
trong các trƣờng hợp hành vi của chúng có sự tƣơng đồng còn chƣa đƣợc làm rõ
nên đã dẫn đến những nhận định sai lầm của các cơ quan áp dụng pháp luật.
Điều này dẫn đến tình trạng lạm dụng các tội xâm phạm sở hữu để giải quyết các
tranh chấp dân sự hoặc ngƣợc lại là giải quyết các vụ việc có dấu hiệu của các tội
xâm phạm sở hữu bằng pháp luật dân sự.
Tình trạng đó xảy ra phổ biến nhất là ở các tội “lừa đảo chiếm đoạt tài
sản” và “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Điều đó xuất phát từ việc:
Hành vi khách quan ở các tội này - hành vi chiếm đoạt - có nhiều điểm tƣơng
đồng với các hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ
16
nghĩa vụ thanh toán, giao tài sản hoặc trả lại tài sản trong các giao dịch dân sự về
tài sản. Sau đây là một số trƣờng hợp cụ thể:
Năm 2001, bà Phan Thị H (sống ở nước ngoài) mua lô đất của ông
Nguyễn Thượng Uyển với giá 194 ngàn USD, đặt cọc 30 ngàn USD, 164 ngàn
USD còn lại bà H đưa cho em gái là bà Phan Thị T giữ hộ để trả tiếp cho ông
Uyển sau khi hoàn tất thủ tục mua bán. Sau đó, việc mua bán đất không thành,
ông Uyển trả tiền cọc lại cho bà T (giữ hộ bà H). Thời gian sau đó, bà T sử dụng
số tiền trên để mua bất động sản. Khi về Việt Nam, bà H phát hiện nên đòi lại
tiền. Sau khi cấn trừ nợ bằng 2 lô đất, bà T viết giấy nhận còn nợ bà H 50 ngàn
USD, 50 triệu đồng và 5 lượng vàng. Ngày 25/5/2005, cơ quan điều tra khởi tố
vụ án, khởi tố bị can đối với bà T, và ngày 21/2/2006, TAND tỉnh B đã tuyên
phạt bà T 14 năm tù về tội "lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản". Tháng
6/2006, bản án này bị Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM tuyên hủy để
điều tra, xét xử lại. Ngày 5/2/2007, vụ án được đưa ra xét xử sơ thẩm lần 2 và bà
T đã được trả tự do ngay tại tòa vì không phạm tội, hành vi của bà T chỉ là vi
phạm nghĩa vụ dân sự. Lúc này, bà T đã bị tạm giam 20 tháng. Viện KSND tỉnh
B kháng nghị phúc thẩm và người bị hại kháng cáo nhưng đã bị Tòa phúc thẩm
TAND tối cao tại TP.HCM bác kháng nghị và kháng cáo [16]. Trong vụ án này,
do mắc sai lầm khi nhận định hành vi chậm thực hiện nghĩa vụ trả lại tài sản của
bà T là hành vi chiếm đoạt, nên cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) tỉnh B đã
quy kết bà T phạm tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, gây oan sai cho
bà T, mặc dù Tòa án đã tuyên bà T không phạm tội, nhƣng quá trình tố tụng kéo
dài cùng với việc bị tạm giam 20 tháng đã gây những thiệt hại không nhỏ về vật
chất và tinh thần cho bà T. Việc làm đó của các CQTHTT thực chất là lạm dụng
17
pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp dân sự, gây oan sai cho ngƣời tham
gia giao dịch dân sự.
Bên cạnh mặt khách quan của hành vi, ý định chiếm đoạt trong ý thức chủ
quan của chủ thể là một yếu tố quan trọng để xác định hành vi không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán, giao tài sản hoặc
trả lại tài sản trong các giao dịch dân sự về tài sản có phải là hành vi chiếm đoạt
hay không. Trong thực tế có những trƣờng hợp, mặc dù chủ thể có hành vi chậm
thực hiện nghĩa vụ và đồng thời có những hành vi gian dối nhất định, nhƣng do
không có ý định chiếm đoạt nên hành vi đó không phải là hành vi chiếm đoạt.
Vụ án sau đây là một trƣờng hợp nhƣ thế: Năm 2005, ông Lê Duy N vay của bà S
tổng cộng 375.000.000 đồng để kinh doanh và thỏa thuận đến đầu năm 2006 sẽ
trả đầy đủ cả lãi và vốn; nhưng do kinh doanh thua lỗ dẫn đến chưa có khả năng
trả nợ, nên để hoãn thời gian trả nợ, ông N đã dùng giấy tờ đất của người khác
thế chấp cho bà S và làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 1.400 m2 đất
của ông N (đã thế chấp ở Ngân hàng) cho bà S; Khi phát hiện ra sự việc đó, bà S
tố cáo; Ông N bị khởi tố, bắt tạm giam về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản”; Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên ông N không phạm tội, Viện kiểm sát kháng
nghị nhưng Tòa án cấp phúc thẩm bác kháng nghị; Theo VKSND Tối cao, mặc
dù ông N đã có những hành vi gian dối nhất định, nhƣng hành vi đó chỉ nhằm
hoãn thời gian trả nợ, ông N không có ý định chiếm đoạt tài sản nên hành vi đó
không phải là hành vi chiếm đoạt [13]. Điều đó cho thấy, do xác định không
chính xác ý thức chủ quan thông qua biểu hiện khách quan của hành vi nên
CQTHTT đã nhận định hành vi trên là hành vi chiếm đoạt và xử lý hình sự đối
với ông N, gây oan sai cho ngƣời tham gia giao dịch dân sự.
18
Ở một khía cạnh khác, việc xác định hành vi vắng mặt khỏi nơi cƣ trú có
phải là hành vi chiếm đoạt bằng thủ đoạn bỏ trốn hay không cũng là một vấn đề
phức tạp. Trong vụ án sau đây, do xác định không chính xác hành vi vắng mặt tại
nơi cƣ trú của bà H có phải là hành vi chiếm đoạt bằng thủ đoạn bỏ trốn hay
không nên cơ quan điều tra đã lạm dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh
chấp dân sự: Năm 2008, bà Trương Thị H vay của bà Nguyễn Thị Khánh T tổng
cộng 950.000.000 đồng để kinh doanh và đã trả 550.000.000 đồng; nhưng do
kinh doanh thua lỗ nên bà H vào thành phố Hồ Chí Minh để kinh doanh, kiếm
tiền trả nợ; trước khi đi, bà H đã thông báo trước cho bà T biết và đã đăng ký
tạm trú, tạm vắng; Tuy nhiên, cuối năm 2009, bà T đã tố cáo bà H chiếm đoạt số
tiền 400.000.000 đồng và trốn khỏi địa phương, cơ quan điều tra đã khởi tố, bắt
tạm giam đối với bà H [14]. Trong vụ án này, mặc dù bà H đã có hành vi chậm
thực hiện nghĩa vụ thanh toán và đồng thời có hành vi vắng mặt khỏi nơi cƣ trú,
nhƣng hành vi đó không phải là hành vi bỏ trốn, vì hành vi đó đƣợc thực hiện
một cách công khai và nhằm mục đích là đi kinh doanh để kiếm tiền trả nợ.
Nội dung của khái niệm “hành vi gian dối” trong các tội “lừa đảo chiếm
đoạt tài sản” và “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” cũng có nhiều quan
điểm, cách hiểu khác nhau. Vụ án sau đây là một trƣờng hợp thể hiện quan điểm
trái ngƣợc nhau giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong việc nhận định hành vi gian
dối: Năm 2004, trong quá trình giải quyết vụ án dân sự kiện đòi tài sản giữa bị
đơn là Phạm Thị D và nguyên đơn là các chủ nợ của bà D, bà D không thừa
nhận chữ ký trong các giấy vay nợ là của mình; Qua giám định, Tòa án đã xác
định được chữ ký trên các giấy vay nợ đó là của bà D; Nhận thấy việc bà D chối
bỏ nội dung của hợp đồng vay tài sản là hành vi chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian
dối nên Tòa án gửi công văn đến Viện kiểm sát đề nghị truy cứu trách nhiệm
19
hình sự đối với bà D, nhưng Viện kiểm sát đã bác bỏ quan điểm trên vì cho rằng
hành vi nói trên không phải là hành vi chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối [17].
Nhƣ vậy, mặc dù bà D đã có hành vi cố ý (trực tiếp) không thực hiện nghĩa vụ
thanh toán trong giao dịch vay tài sản, nhƣng do có nhận thức khác nhau về khái
niệm “hành vi gian dối” nên đã dẫn đến quan điểm khác nhau giữa các CQTHTT
trong việc nhận định hành vi của bà D có phải là hành vi chiếm đoạt bằng thủ
đoạn gian dối hay không.
Hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo quản tài sản hoặc nghĩa vụ sử dụng tài sản
đúng công dụng của tài sản (dẫn đến việc tài sản bị hƣ hỏng) trong các giao dịch
dân sự về tài sản có nhiều biểu hiện khách quan giống với hành vi “hủy hoại
hoặc cố ý làm hƣ hỏng tài sản”, “vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản”,
“thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nƣớc”. Trên
thực tế có những trƣờng hợp, biểu hiện khách quan của những điểm khác nhau
cơ bản giữa các hành vi này với các tội nói trên không đƣợc thể hiện rõ, nên đã
có những quan điểm khác nhau về đƣờng lối giải quyết vụ việc. Ví dụ: Nguyễn
Đình T cùng vợ thuê căn nhà gỗ lợp pro xi măng của Hà Thị Tuyến để mở quán
cắt tóc, gội đầu. Ngày 01/12/2013, do ghen tuông nên T đã gom toàn bộ quần
áo, giường tủ… của T và vợ đem đốt. Ngọn lửa cháy lan ra, T liền hô gọi mọi
người đến dập lửa; ngọn lửa sau đó đã được dập tắt nhưng đã thiêu cháy một số
kèo và xà gỗ, 73 mét dây dẫn nước bằng nhựa PVC và làm nứt một phần mái pro
xi măng của ngôi nhà, tổng giá trị thiệt hại là 9.030.000 đồng. Tòa án cấp sơ
thẩm đã xử phạt Nguyễn Đình T 18 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” [6]. Quan
điểm thứ nhất cho rằng, T có lỗi cố ý gián tiếp nên hành vi của T đã phạm tội
“hủy hoại tài sản”. Quan điểm thứ hai cho rằng, T có lỗi vô ý (vì quá tự tin) do T
không có ý thức mong muốn hay để mặc cho hậu quả xảy ra, mà T cho rằng hậu
20
quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn đƣợc, hành vi của T không phạm
tội “hủy hoại tài sản” và cũng không phạm tội “cố ý làm hƣ hỏng tài sản”.
Trên đây là một số trong số rất nhiều các trƣờng hợp trong thực tiễn có
nhiều quan điểm khác nhau về đƣờng lối giải quyết vụ việc; Trong đó có những
trƣờng hợp cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng đã lạm dụng pháp luật hình sự để
giải quyết tranh chấp dân sự, cũng có những trƣờng hợp là giải quyết các vụ việc
có dấu hiệu của các tội xâm phạm sở hữu bằng pháp luật dân sự; Điều đó gây
oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm. Từ đó dẫn đến những hậu quả rất lớn cho xã hội.
Việc lạm dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp dân sự trƣớc hết
sẽ xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Trong số các vụ án oan,
sai do CQTHTT lạm dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp dân sự, có
nhiều trƣờng hợp, ngƣời bị oan, sai đã bị áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm
giam. Việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong các trƣờng hợp này đã
xâm hại đến quyền tự do thân thể của công dân; đồng thời gây tổn thƣơng nặng
nề đến tâm lý của họ. Uy tín của ngƣời bị oan sai sẽ bị tổn hại rất nghiêm trọng.
Thêm vào đó, việc tạm giữ, tạm giam oan, sai một mặt gây lãng phí thời gian của
ngƣời bị tạm giữ, tạm giam, mặt khác sẽ khiến cho ngƣời thân của họ cũng lãng
phí thời gian và tiền bạc trong cả quá trình kêu oan cho ngƣời thân của mình.
Trong việc làm này, thời gian của các CQTHTT cũng bị tiêu tốn một cách vô
ích.
Đối với biện pháp kê biên, niêm phong tài sản, tài sản của ngƣời bị oan sai
(có thể lên đến hàng tỷ đồng) sẽ không đƣợc đƣa vào quá trình sản xuất, kinh
doanh. Điều đó không chỉ gây thiệt hại đến lợi ích vật chất của những ngƣời có
liên quan mà còn ảnh hƣởng đến lợi ích của toàn xã hội.
21
Xét ở góc độ kinh tế - xã hội, lạm dụng pháp luật hình sự để giải quyết
tranh chấp dân sự để lại hậu quả tiêu cực mang tính dây chuyền. Bởi vì, bất cứ
một doanh nghiệp nào cũng có các mối quan hệ lợi ích với các doanh nghiệp
khác, bạn hàng, ngƣời lao động… Khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn
do ngƣời đại diện hay ngƣời quản lý bị bắt giam hoặc điều tra sẽ gây ra hiệu ứng
dây chuyền cho các quan hệ xã hội có liên quan. Khi đó, doanh nghiệp sẽ bị các
doanh nghiệp khác và bạn hàng từ chối quan hệ giao dịch, gây tổn thất nặng nề
cho doanh thu, còn có thể dẫn đến phá sản, ngƣời lao động thì mất việc làm. Đối
với những thiệt hại nói trên, việc đặt ra vấn đề bồi thƣờng thiệt hại cho các
doanh nghiệp hay ngƣời bị oan sai rất khó bù đắp đúng mức.
Một hậu quả khác của việc lạm dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh
chấp dân sự là sẽ làm giảm lòng tin của nhân dân vào nền công lý nƣớc nhà.
Tình trạng này khiến cho các cơ quan bảo vệ công lý, chỗ dựa của công dân, các
doanh nghiệp hoạt động hợp pháp thì nay lại trở thành ngƣời xâm hại đến lợi ích
hợp pháp của họ.
Ngƣợc lại với tình trạng trên là tình trạng giải quyết các vụ việc có dấu
hiệu của các tội xâm phạm sở hữu bằng pháp luật dân sự, nghĩa là đối với những
vụ việc có dấu hiệu của các tội xâm phạm sở hữu nhƣng các cơ quan áp dụng
pháp luật cho rằng đó chỉ là vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản nên đã
hƣớng dẫn ngƣời dân tự giải quyết hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết bằng pháp
luật dân sự. Việc đó dẫn đến bỏ lọt tội phạm, gây tâm lý coi thƣờng pháp luật
trong ngƣời dân, tạo ra tiền lệ xấu cho nền tƣ pháp khi giải quyết những vụ việc
tƣơng tự sau này…
22
Nếu nhƣ những vụ việc áp dụng luật hình sự để xử lý các vi phạm trong
giao dịch dân sự về tài sản có thể đƣợc phát hiện trong quá trình tố tụng hình sự
vốn dĩ rất nghiêm ngặt, chặt chẽ, cùng với nhiều cơ quan giám sát, kiểm tra,
kiểm sát, thì những vụ việc có dấu hiệu của các tội xâm phạm sở hữu đƣợc giải
quyết bằng biện pháp dân sự lại thƣờng rất khó phát hiện; nhất là đối với những
vụ việc mà sau khi đƣợc cán bộ pháp luật “hƣớng dẫn”, ngƣời dân đã lựa chọn
con đƣờng tự giải quyết, tự thỏa thuận, vụ việc tƣởng chừng nhƣ đã đƣợc giải
quyết ổn thỏa, nhƣng thực chất cách giải quyết nhƣ vậy lại ẩn chứa nhiều hệ lụy
lâu dài cho xã hội. Và cũng chính vì khó bị phát hiện nên việc khắc phục sai lầm
của các cơ quan pháp luật lại càng trở thành vấn đề khó khăn, phức tạp.
Nói chung, dù là lạm dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp dân
sự hay giải quyết các vụ việc có dấu hiệu của các tội xâm phạm sở hữu bằng
pháp luật dân sự thì cũng đều là những hiện tƣợng tiêu cực trong hoạt động áp
dụng pháp luật, đều gây nên những tác động tiêu cực cho xã hội nói chung và
cho nền tƣ pháp nói riêng. Những tác động đó không chỉ là nhất thời mà còn
mang tính lâu dài, dai dẳng về sau; không chỉ là cá biệt mà còn ảnh hƣởng chung
trong toàn xã hội. Việc các hiện tƣợng nói trên đang dần trở nên phổ biến là một
tình trạng rất đáng lo ngại. Chính vì vậy, việc tìm ra hệ thống các giải pháp nhằm
khắc phục, hạn chế tình trạng trên là vấn đề cần đƣợc quan tâm đúng mức. Việc
nghiên cứu để phân biệt các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao
dịch dân sự về tài sản là một trong những cố gắng nhằm khắc phục, hạn chế tình
trạng trên.
Nguyên nhân của tình trạng trên là do những dấu hiệu phân biệt giữa các
tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản còn chƣa
đƣợc làm rõ; bên cạnh đó, các quy định của BLHS hiện hành về các tội xâm