Tải bản đầy đủ (.pdf) (83 trang)

Quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.03 MB, 83 trang )

y
o

c u -tr a c k

.c

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LƯU THÚY HÒA

QUYỀN NHÂN THÂN TRONG LĨNH VỰC BÁO CHÍ

Chuyên ngành
Mã số

: Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự
: 60380103

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Lê Đình Nghị

HÀ NỘI - 2015

.d o


m

o

w

w

w

.d o

C

lic

k

to

bu

y
bu
to
k
lic
C

w


w

w

N

O
W

!

h a n g e Vi
e

N

PD

!

XC

er

O
W

F-


w

m

h a n g e Vi
e

w

PD

XC

er

F-

c u -tr a c k

.c


y
o

c u -tr a c k

.c

.d o


LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn khoa học
luận văn của tôi, TS. Lê Đình Nghị, xin cảm ơn thầy đã luôn tạo mọi điều kiện
tốt nhất hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi về mọi mặt . Trong suốt quá trình
học tập và nghiên cứu, thầy đã kiên nhẫn, tận tình chỉ dẫn bằng tất cả tri thức
khoa học uyên thâm cũng như kinh nghiệm và thái độ nghiêm túc trong nghiên
cứu khoa học để tôi có thể hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Luật Hà Nội nói chung, Khoa
Sau đại học và Khoa Pháp luật Dân sự nói riêng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
và làm việc với tinh thần trách nhiệm cao để tôi hoàn thành luận văn đúng tiến
độ và thủ tục.
Tôi cũng xin cảm ơn gia đình, thầy cô, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên,
đồng hành cùng tôi mọi lúc mọi nơi và giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn,
rào cản để tôi có thể hoàn thành luận văn của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn !

m

o

w

w

w

.d o

C


lic

k

to

bu

y
bu
to
k
lic
C

w

w

w

N

O
W

!

h a n g e Vi

e

N

PD

!

XC

er

O
W

F-

w

m

h a n g e Vi
e

w

PD

XC


er

F-

c u -tr a c k

.c


y
o

c u -tr a c k

.c

.d o

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các nghiên cứu, đánh giá, kiến nghị nêu trong luận văn chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả

Lưu Thúy Hòa

m


o

w

w

w

.d o

C

lic

k

to

bu

y
bu
to
k
lic
C

w

w


w

N

O
W

!

h a n g e Vi
e

N

PD

!

XC

er

O
W

F-

w


m

h a n g e Vi
e

w

PD

XC

er

F-

c u -tr a c k

.c


y
o

c u -tr a c k

.c

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

1

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN NHÂN THÂN

6

TRONG LĨNH VỰC BÁO CHÍ

1.1.

Khái niệm và đặc điểm pháp lý của quyền nhân thân

6

1.1.1.

Khái niệm quyền nhân thân

6

1.1.2.

Đặc điểm của quyền nhân thân

11

1.2.


Khái niệm quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí

12

1.3.

Đặc điểm của quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí

15

1.3.1.

Quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí có đối tượng tương ứng
với đối tượng tác nghiệp trong hoạt động báo chí như thông tin,
hình ảnh, họ tên,... sử dụng làm nên tác phẩm, bản tin báo chí

15

1.3.2.

Quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí là quyền nhân thân
không gắn với tài sản

17

1.3.3.

Quyền nhân thân trong lĩnh vực quyền nhân thân là quyền nhân
thân được bảo hộ ngay cả khi chủ thể quyền chết


17

1.4.

Ranh giới giữa quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí
và quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí

18

1.5.

Pháp luật của một số quốc gia về quyền nhân thân trong lĩnh vực
báo chí

20

1.5.1.

Pháp luật Hoa Kỳ

20

1.5.2.

Pháp luật Pháp

22

.d o


m

o

w

w

w

.d o

C

lic

k

to

bu

y
bu
to
k
lic
C

w


w

w

N

O
W

!

h a n g e Vi
e

N

PD

!

XC

er

O
W

F-


w

m

h a n g e Vi
e

w

PD

XC

er

F-

c u -tr a c k

.c


y
o

c u -tr a c k

.c

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN NHÂN THÂN


23

TRONG LĨNH VỰC BÁO CHÍ VÀ HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN
NHÂN THÂN TRONG LĨNH VỰC BÁO CHÍ

2.1.

Thực trạng pháp luật về quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí

23

2.1.1.

Quy định của pháp luật dân sự về quyền nhân thân trong lĩnh vực
báo chí

23

2.1.2.

Quy định của Luật báo chí về quyền nhân thân trong lĩnh vực báo
chí

35

2.2.

Các hành vi xâm phạm quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí


39

2.2.1.

Hành vi sử dụng thông tin liên quan đến quyền nhân thân của cá

40

nhân mà không được sự cho phép của chủ thể quyền trên báo chí
2.2.2.

Hành vi thông tin sai sự thật ảnh hưởng đến quyền nhân thân của
cá nhân, tổ chức trên báo chí

44

2.2.3.

Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, tổ
chức

47

2.2.4.

Hành vi sử dụng các biện pháp ẩn dụ, ám chỉ gây ảnh hưởng đến
quyền nhân thân của đối tượng được đề cập trên báo chí

49


Chương 3: THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VÀ KIẾN NGHỊ

51

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN NHÂN THÂN TRONG LĨNH
VỰC BÁO CHÍ

3.1.

Thực tiễn thi hành pháp luật về quyền nhân thân trong lĩnh vực

51

báo chí
3.2.

Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền nhân thân

61

trong lĩnh vực báo chí
3.2.1.

Cần bổ sung quy định pháp luật giải thích các thuật ngữ về

62

.d o

m


o

w

w

w

.d o

C

lic

k

to

bu

y
bu
to
k
lic
C

w


w

w

N

O
W

!

h a n g e Vi
e

N

PD

!

XC

er

O
W

F-

w


m

h a n g e Vi
e

w

PD

XC

er

F-

c u -tr a c k

.c


y
o

c u -tr a c k

.c

quyền nhân nhân
3.2.2.


Cần thiết có sự thống nhất của pháp luật về mối quan hệ giữa

63

Luật Dân sự và Luật Báo chí
3.2.3.

Cần có quy định của pháp luật về quyền đưa tin về người nổi

64

tiếng trong lĩnh vực báo chí
3.2.4.

Cần hoàn thiện quy định pháp luật về phương thức khiếu nại,

66

tố cáo xử lý các hành vi vi phạm quyền nhân thân trên báo chí
3.2.5.

Cần bổ sung căn cứ xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại

68

do vi phạm quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí
KẾT LUẬN

70


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

72

.d o

m

o

w

w

w

.d o

C

lic

k

to

bu

y

bu
to
k
lic
C

w

w

w

N

O
W

!

h a n g e Vi
e

N

PD

!

XC


er

O
W

F-

w

m

h a n g e Vi
e

w

PD

XC

er

F-

c u -tr a c k

.c


y

o

c u -tr a c k

.c

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS

: Bộ luật Dân sự

TAND

: Tòa án nhân dân

.d o

m

o

w

w

w

.d o

C


lic

k

to

bu

y
bu
to
k
lic
C

w

w

w

N

O
W

!

h a n g e Vi

e

N

PD

!

XC

er

O
W

F-

w

m

h a n g e Vi
e

w

PD

XC


er

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
bu

y
.c

to
k

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thời gian gần đây, quyền nhân thân là một chế định ngày càng được khoa
học pháp lý và xã hội quan tâm, đề cập tới với tư cách là quyền dân sự của mỗi cá
nhân, chủ thể. Bởi vì bên cạnh quyền tài sản, quyền nhân thân là vấn đề hết sức
quan trọng, là giá trị cốt lõi để đảm bảo đời sống tinh thần, những giá trị nhân thân
của mỗi cá nhân và cả pháp nhân, tổ chức trong xã hội. Chế định quyền nhân thân
vẫn còn nhiều nội dung mới cần nghiên cứu, bàn luận và hoàn thiện để đảm bảo
quyền lợi cho các chủ thể, trong đó có quyền nhân thân trong những lĩnh vực báo

chí.
Nghiên cứu về quyền nhân thân trong một lĩnh vực báo chí là một nội dung
còn khá mới mẻ trong khoa học pháp lý Việt Nam và trên thế giới. Tuy nhiên, cần
thiết đặt ra nghiên cứu trong lĩnh vực báo chí bởi lẽ, trong thời buổi tự do báo chí,
tự do ngôn luận trên báo chí và bùng nổ thông tin đại chúng như hiện nay, báo chí
là một vấn đề mang tính thời sự hết sức nóng bỏng và có tác động rất lớn đến mọi
mặt xã hội. Báo chí là một lĩnh vực mà việc sử dụng thông tin, dữ liệu, hình ảnh
của cá nhân trong đăng bài, đưa tin là một hoạt động thuộc về chuyên môn nghiệp
vụ. Pháp luật cho phép cơ quan báo chí được phép tự do trong đưa tin để đáp ứng
quyền được thông tin của người dân. Quyền nhân thân là quyền cơ bản của cá nhân,
tổ chức, tuy nhiên phạm vi quyền này cũng bị pháp luật hạn chế trong một số
trường hợp. Vậy đâu là ranh giới giữa quyền tự do báo chí, tự do thông tin và tự do
ngôn luận trên báo chí với quyền nhân thân của cá nhân, pháp nhân trong lĩnh vực
báo chí? Vì vậy, học viên mạnh dạn nghiên cứu, tìm hiểu thực tế xã hội, tìm hiểu
pháp luật để có thể đưa ra được cách tiếp cận và bảo vệ quyền nhân thân trong một
lĩnh vực cụ thể một cách chuyên biệt, hiệu quả.

.d o

m

o

o

c u -tr a c k

w

lic

w

w

w

.d o

1  

m

C

lic

k

to

 

w

w

w

C


bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC


er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
bu

y
.c

to
k

Mặc dù quyền nhân thân và báo chí là hai vấn đề được pháp luật điều chỉnh
và bảo vệ một cách tuyệt đối nhưng trên thực tế quy định pháp luật và việc áp dụng
pháp luật để đảm bảo quyền nhân thân nói chung, quyền nhân thân trong lĩnh vực
báo chí nói riêng còn nhiều bất cập. Một trong những nguyên nhân chính của thực
trạng này là quy định pháp luật chưa rõ ràng và chưa đầy đủ. Cụ thể, pháp luật dân
sự chưa có một quy định hướng dẫn cụ thể định nghĩa thế nào là quyền nhân thân

trong lĩnh vực báo chí; những quyền nhân thân cụ thể nào là quyền nhân thân trong
lĩnh vực báo chí; những hành vi xâm phạm và các biện pháp bảo vệ quyền nhân
thân, xử lý hành vi vi phạm quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí ra sao và thủ
tục giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí vẫn
còn bỏ ngỏ. Thêm vào đó là sự tương thích giữa pháp luật dân sự và luật báo chí
chuyên ngành còn nhiều hạn chế. Những bất cập này của pháp luật đã hạn chế điều
kiện được hiểu đúng, hiểu đủ về quyền lợi và bảo vệ quyền lợi chính đáng của chủ
thể quyền nhân thân, đồng thời gây khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền trong quá
trình áp dụng pháp luật, giải quyết các tranh chấp phát sinh. Xuất phát từ thực tế và
những lý do trên đây, học viên đã lựa chọn đề tài: "Quyền nhân thân trong lĩnh
vực báo chí" làm luận văn tốt nghiệp cao học luật chuyên ngành Luật Dân sự và Tố
tụng dân sự của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quyền nhân thân nói chung và các quyền nhân thân cụ thể đã được nghiên
cứu, tìm hiểu qua khá nhiều các công trình nghiên cứu. Tuy nhiên, trong khoa học
pháp lý, tính đến thời điểm này chưa có công trình nào nghiên cứu quyền nhân thân
trong lĩnh vực báo chí một cách có hệ thống và quy mô, từ lý luận đến thực tiễn.
Những công trình nghiên cứu có liên quan mới chỉ đề cập tới quyền nhân thân trong
lĩnh vực báo chí ở mức độ là một khía cạnh hoặc một vấn đề rất nhỏ trong việc ghi
nhận bảo vệ một quyền nhân thân cụ thể như: Thực trạng bảo vệ quyền nhân thân

.d o

m

o

o

c u -tr a c k


w

lic
w

w

w

.d o

2  

m

C

lic

k

to

 

w

w


w

C

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e


!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
bu

y
.c

to
k

của cá nhân đối với hình ảnh trong trường hợp quyền đăng hình ảnh của báo chí
trong Luận văn Thạc sỹ luật học do Phùng Bích Ngọc thực hiện năm 2011: "Một số

vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh trong
pháp luật dân sự Việt Nam"; trong công trình nghiên cứu khoa học cấp trường năm
2008 do ThS. Lê Đình Nghị làm chủ nhiệm đề tài: “Quyền nhân thân của cá nhân
và bảo vệ quyền nhân thân trong pháp luật dân sự” và đề tài "Trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do xâm phạm các quyền nhân thân của cá nhân" do PGS. TS.
Phùng Trung Tập chủ nhiệm đề tài năm 2014 có đề cập tới hành vi xâm phạm các
quyền nhân thân trên báo chí và bảo vệ quyền nhân thân nói chung; hay trong Luận
văn tốt nghiệp của ThS. Hoàng Ngọc Hưng về "Quyền đối với họ, tên – Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn" cũng nhắc tới hành vi vi phạm quyền nhân thân đối với họ
tên trên báo chí. Những công trình nghiên cứu đã nêu trên đây chỉ mới đề cập tới
quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí ở những khía cạnh chung chung, hoặc nội
dung nhất định mà không nghiên cứu một cách đầy đủ, chuyên sâu và có hệ thống
về quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài với mục đích đầu tiên xây dựng được khái niệm về quyền
nhân thân trong lĩnh vực báo chí và các đặc trưng cơ bản của quyền nhân thân trong
lĩnh vực báo chí. Thứ hai là làm rõ được quy định của BLDS 2005, Luật Báo chí và
các văn bản pháp luật liên quan về quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí. Trên cơ
sở đó, mục đích thứ ba là nhận xét, đánh giá được việc áp dụng pháp luật và bảo vệ
quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí trên thực tế. Hướng tới mục đích tiếp theo
là tìm ra những bất cập trong quy định của pháp luật, chỉ ra những điểm chưa phù
hợp với thực tế để từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật. Cuối cùng,

.d o

m

o


o

c u -tr a c k

w

lic
w

w

w

.d o

3  

m

C

lic

k

to

 

w


w

w

C

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD


h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
bu

y
.c

to
k


mục đích nghiên cứu đề tài này sẽ tạo một nguồn tham khảo cho những đối tượng
quan tâm, nghiên cứu luật học và các cơ quan áp dụng pháp luật.
*Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu được xác định
như sau:
- Trình bày khái quát cơ sở lý luận chung về quyền nhân thân trong lĩnh vực
báo chí.
- Phân tích, đánh giá nội dung pháp luật liên quan đến quyền nhân thân trong
lĩnh vực báo chí.
- Đưa ra phương hướng và các giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật về
quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí.
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ luật học, học viên chỉ tập trung
nghiên cứu, làm rõ những nội dung cơ bản liên quan đến quyền nhân thân trong
lĩnh vực báo chí: Khái niệm và đặc trưng phân biệt quyền nhân thân trong lĩnh vực
báo chí; quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí điển hình: quyền bí mật đời tư,
quyền đối với hình ảnh của cá nhân, quyền được đảm bảo danh dự, nhân phẩm, uy
tín và quyền đối với họ, tên; sự ghi nhận và bảo vệ quyền nhân thân trong lĩnh vực
báo chí. Bên cạnh những những phân tích mang tính lý luận là những vụ việc thực
tế liên quan trực tiếp đến quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Phương pháp nghiên cứu đề tài được xác định như sau:
- Phương pháp so sánh luật: nghiên cứu các quy định pháp lý của Việt Nam
về quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí, các quy định pháp lý cơ bản của nước
ngoài về quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí, từ đó rút ra những điểm tương
đồng, khác biệt phục vụ cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật.

.d o


m

o

o

c u -tr a c k

w

lic
w

w

w

.d o

4  

m

C

lic

k

to


 

w

w

w

C

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-


w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
bu

y

.c

to
k

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đối với mỗi một quan điểm khoa học
đưa ra, học viên đã phân tích, tổng hợp để rút ra những điểm ưu, nhược và dẫn đến
cách nhìn nhận của bản thân.
- Ngoài ra học viên còn sử dụng một số phương pháp khác như quy nạp, diễn
giải…
6. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn có những điểm mới sau đây:
- Luận văn là một công trình nghiên cứu với cái nhìn tương đối cơ bản, toàn
diện mang tính pháp lý về quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí.
- Luận văn đưa ra khái niệm về quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí và
chỉ ra những đặc điểm của quyền nhân thân này; đồng thời đưa ra khái niệm báo chí
một cách bao quát nhất.
- Luận văn đưa những đánh giá thực tế những bất cập trong quy định pháp
luật về quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí cũng như thực trạng áp dụng pháp
luật và bảo vệ quyền nhân thân trong lĩnh vực này;
- Luận văn đã đưa ra những giải pháp cụ thể mang tính hoàn thiện những quy
định pháp luật về quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn Thạc sĩ luật học với đề tài: “Quyền nhân thân trong lĩnh vực báo
chí” có kết cấu gồm phần Mở đầu, phần nội dung chính, Kết luận, Danh mục tài
liệu tham khảo. Nội dung chính của luận văn gồm:
Chương 1: Khái quát chung về quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí và
các hành vi xâm phạm quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí
Chương 3: Thực tiễn thi hành pháp luật và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về

quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí

.d o

m

o

o

c u -tr a c k

w

lic
w

w

w

.d o

5  

m

C

lic


k

to

 

w

w

w

C

bu

y

N

O
W

!

XC

er


O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e


N
bu

y
.c

to
k

Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ
QUYỀN NHÂN THÂN TRONG LĨNH VỰC BÁO CHÍ
1.1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của quyền nhân thân
1.1.1. Khái niệm quyền nhân thân
Cùng với sự phát triển vượt bậc về mọi mặt của xã hội, vấn đề con người
ngày càng được coi trọng và đảm bảo về cả yếu tố vật chất và tinh thần. Trong đó,
phải kể đến giá trị về nhân thân của con người - giá trị cốt lõi của mỗi cá nhân con
người – đã và đang được xã hội quan tâm, được pháp luật công nhận và bảo hộ với
tư cách là một “Quyền” đó là quyền nhân thân.
“Quyền” hiểu dưới góc độ pháp lý là khả năng được phép xử sự mà pháp luật
công nhận cho chủ thể thực hiện và bảo vệ lợi ích của mình. Có nhiều cách để
phân loại quyền dựa trên những cơ sở khác nhau, có thể phân loại quyền theo các
lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Quyền nhân thân được ghi nhận là
một trong những quyền dân sự của cá nhân và được cụ thể hóa trong các quy định
của pháp luật dân sự.
Về khái niệm quyền nhân thân, hiện nay vẫn tồn tại nhiều định nghĩa khác
nhau về quyền nhân thân mà chưa có một định nghĩa thống nhất. Qua việc tìm hiểu
và phân tích các quan điểm khác nhau định nghĩa về quyền nhân thân, luận văn có
những đánh giá và đưa ra quan điểm cá nhân.
Lần đầu tiên thuật ngữ quyền nhân thân được nhắc đến với tư cách là một

thuật ngữ pháp lý là trong quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 (BLDS 1995).
Theo đó, quyền nhân thân được quy định trong BLDS 1995 là quyền dân sự gắn
liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác. Đây là một trong những điểm mới tiêu biểu của BLDS 1995
và đánh dấu bước tiến lớn của pháp luật dân sự cũng như hệ thống pháp luật Việt

.d o

m

o

o

c u -tr a c k

w

lic
w

w

w

.d o

6  

m


C

lic

k

to

 

w

w

w

C

bu

y

N

O
W

!


XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c



h a n g e Vi
e

N
bu

y
.c

to
k

Nam thời bấy giờ. Quy định về quyền nhân thân trong BLDS là sự thể chế hóa
những quy định của Hiến pháp về quyền dân sự của công dân, cụ thể là quy định
các quyền nhân thân của cá nhân. Việc ghi nhận quyền nhân thân với tư cách là
một quyền dân sự như bao quyền về tài sản khác trong BLDS 1995 đã đặt nền
móng cho sự phát triển của định nghĩa quyền nhân thân nói riêng và các quyền
nhân thân nói chung.
Theo công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Tòa án nhân dân Tối cao
về đề tài: “Vai trò của TAND trong việc bảo vệ quyền nhân thân được đề cập trong
việc bảo vệ quyền nhân thân của công dân theo quy định của BLDS” (Số đăng ký:
96 – 98 – 063/ĐT) thì định nghĩa quyền nhân thân được xem xét dưới hai giác độ:
Dưới giác độ chủ thể, quyền nhân thân về dân sự được hiểu là quyền con người về
dân sự gắn liền với mỗi cá nhân được thụ hưởng với tư cách là thành viên của cộng
đồng kể từ thời điểm người đó được sinh ra và bằng các quyền đó, mỗi cá nhân
được khẳng định địa vị pháp lý của mình trong giao lưu dân sự, do đó mỗi cá nhân
đều có quyền nhân thân riêng và quyền này không thể chuyển giao cho người khác,
trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Dưới giác độ khách thể, quyền nhân
thân về dân sự của cá nhân được hiểu là chế định pháp luật bao gồm các quy định

của pháp luật về các quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân để đảm bảo địa vị pháp
lý cho mọi cá nhân, là cơ sở pháp lý để cá nhân được thực hiện các quyền con
người về dân sự trong sự bảo hộ của nhà nước và pháp luật. Theo cách hiểu này,
quyền nhân thân là quyền con người được toàn quyền hưởng trong lĩnh vực dân sự
từ khi người đó sinh ra và có toàn quyền tự định đoạt, để phân biệt các cá nhân với
nhau; là quyền được nhà nước và pháp luật bảo vệ. Quan điểm này nhìn nhận quyền
nhân thân trên hai yếu tố cơ bản là chủ thể quyền và khách thể của quyền nhân thân
để đưa ra khái niệm. Tuy nhiên, sự tách bạch hai yếu tố này của quyền nhân thân sẽ
làm cho định nghĩa quyền nhân thân không có được tính khái quát và tính nhận

.d o

m

o

o

c u -tr a c k

w

lic
w

w

w

.d o


7  

m

C

lic

k

to

 

w

w

w

C

bu

y

N

O

W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-


c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
bu

y
.c

to
k

diện cao. Hay theo cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ luật học” của Trường Đại
học Luật Hà Nội thì: “Giá trị nhân thân của cá nhân, tổ chức được pháp luật ghi
nhận và bảo vệ. Chỉ trong những giá trị nhân thân được pháp luật ghi nhận mới
được coi là quyền nhân thân. Quyền nhân thân luôn gắn với chủ thể và không thể
chuyển giao cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy định…” [14; tr.105].
Với cách định nghĩa quyền nhân thân của Từ điển giải thích thuật ngữ luật học thì
chỉ có những giá trị nhân thân nào được ghi nhận bằng pháp luật mới là quyền nhân
thân, không được ghi nhận thì sẽ không được gọi là quyền nhân thân. Quan điểm
này đã bó hẹp quyền nhân thân của cá nhân, con người.
Khác với hai quan điểm nêu trên, Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005) tại
Điều 24 và Dự thảo BLDS sửa đổi 2015 (Điều 30) đều quy định: “Quyền nhân thân
được quy định trong bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không
thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Định

nghĩa quyền nhân thân theo BLDS 2005 và Dự thảo BLDS là sự kế thừa tinh thần
của BLDS 1995, nhìn nhận quyền nhân thân trên hai điểm là quyền dân sự gắn liền
với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao. Tuy nhiên, định nghĩa này chưa thực sự
thuyết phục các nhà nghiên cứu luật học, tiêu biểu là những bất cập trong quy định
của Điều 24 BLDS 2005 đã được tác giả Bùi Đăng Hiếu – Trường Đại học Luật Hà
Nội thể hiện trong bài viết “Khái niệm và phân loại quyền nhân thân” đăng trên
Tạp chí Luật học số 7/2009: Thứ nhất, khái niệm quyền nhân thân tại Điều 24
BLDS 2005 dựa vào hai đặc điểm: gắn liền với cá nhân, không chuyển dịch là chưa
thấu đáo, bởi lẽ có một số quyền dân sự thỏa mãn cả hai đặc điểm nêu trên nhưng
lại không phải là quyền nhân thân. Minh chứng cụ thể cho lập luận của mình, tác
giả bài viết đề cập đến Điều 50 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 về nghĩa vụ
cấp dưỡng: “Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con, giữa anh chị
em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa vợ và chồng theo quy

.d o

m

o

o

c u -tr a c k

w

lic
w

w


w

.d o

8  

m

C

lic

k

to

 

w

w

w

C

bu

y


N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er


PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

w

N
y
bu
to
k
lic

.c

định của Luật này.Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và
không thể chuyển giao cho người khác”, theo đó quyền được cấp dưỡng và nghĩa
vụ cấp dưỡng cũng được gắn liền với những cá nhân nhất định như: giữa cha mẹ và
con, giữa anh chị em với nhau, giữa ông bà và cháu, giữa vợ và chồng và không thể
chuyển giao, thỏa mãn hai điều kiện của một quyền nhân thân. Tuy nhiên, theo tác
giả, quyền dân sự về cấp dưỡng là một loại quyền tài sản chứ không phải là quyền
nhân thân. Thứ hai, tác giả bài viết tiếp tục chỉ ra điểm bất cập của Điều 24 BLDS

2005 với quy định cho rằng quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân. Trong khi
các quy định pháp luật dân sự lại chỉ ra rằng pháp nhân và các chủ thể khác của
quan hệ pháp luật dân sự cũng có các quyền nhân thân như tại Điều 604 và Điều
611 BLDS 2005 ghi nhận “danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác”. Hay tại
Điều 1 Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP ngày 28/04/2004, cũng như Điều 1 Nghị
quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 của Hội đồng thẩm phán Toà án
nhân dân Tối cao đều nhắc đến thiệt hại do tổn thất tinh thần của pháp nhân và tổ
chức như: danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín
nhiệm, lòng tin … vì bị hiểu nhầm và bồi thường những thiệt hại về tinh thần đó.
Với những dẫn chứng, lập luận thuyết phục, tác giả đã chỉ ra rằng các quy định của
pháp luật dân sự đều hướng tới sự thừa nhận các quyền nhân thân đối với pháp
nhân và các chủ thể khác. Mặc dù quyền nhân thân là một loại quyền con người
nhưng quyền nhân thân không chỉ gắn với con người với tư cách cá nhân trong
quan hệ pháp luật dân sự, mà còn được pháp luật công nhận gắn với các chủ thể
khác trong pháp luật dân sự. Từ những phân tích đó, tác giả Bùi Đăng Hiếu cũng đã
đưa ra quan điểm cá nhân khi định nghĩa về quyền nhân thân: “Quyền nhân thân là
quyền dân sự gắn với đời sống tinh thần của mỗi chủ thể, không định giá được
bằng tiền và không thể chuyển giao cho chủ thể khác, trừ trường hợp pháp luật có
quy định khác” [32; tr. 80].

.d o

m

o

w

o


c u -tr a c k

9  
w

w

.d o

m

C

lic

k

to

 

w

w

w

C

bu


y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC


er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
bu

y
.c

to
k

Bàn về khái niệm quyền nhân thân, TS. Lê Đình Nghị đã có đóng góp quan
điểm cá nhân khi xây dựng khái niệm quyền nhân thân trên hai phương diện khách
quan và chủ quan trong Luận án Quyền bí mật đời tư theo quy định của pháp luật
dân sự Việt Nam (năm 2008). Cụ thể, nghĩa khách quan: “quyền nhân thân được
hiểu là một phạm trù pháp lý bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà
nước ban hành, trong đó có nội dung quy định cho các cá nhân có các quyền nhân
thân gắn liền với bản thân mình và đây là cơ sở để cá nhân thực hiện quyền của

mình”; theo nghĩa chủ quan thì: “quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan gắn
liền với cá nhân do nhà nước quy định cho mỗi cá nhân và cá nhân không thể
chuyển giao quyền này cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
Có thể thấy rằng tác giả đưa ra khái niệm quyền nhân thân với cách tiếp cận đa
chiều, có tính khái quát cao và tương đối đồng tình với quan điểm của nhà làm luật
khi xây dựng khái niệm quyền nhân thân.
Qua việc tìm hiểu những quan điểm khác nhau về khái niệm quyền nhân thân,
có thể thấy rằng các khái niệm đều tập trung làm rõ bản chất cốt lõi của quyền nhân
thân trên các yếu tố chủ thể, khách thể và nội dung quyền. Tuy nhiên mỗi quan
điểm lại có sự khác biệt trong cách xác định chủ thể quyền nhân thân là cá nhân hay
bao gồm cả pháp nhân như quan điểm của PGS.TS. Bùi Đăng Hiếu; việc xác định
khách thể là các giá trị nhân thân ở phạm vi rộng hẹp khác nhau cũng đã hình thành
các quan điểm khác nhau, chưa kể tới nội dung quyền nhân thân được khái quát
trong khái niệm cũng có nhiều ý kiến trái chiều. Trên cơ sở tiếp thu và đánh giá các
quan điểm khác nhau định nghĩa về quyền nhân thân, luận văn nhận thấy cần xây
dựng một khái niệm quyền nhân thân chứa đựng đầy đủ các yếu tố về chủ thể,
khách thể và nội dung quyền nhân thân và thể hiện được dấu hiệu phân biệt quyền
nhân thân với các quyền khác. Có thể đưa ra khái niệm quyền nhân thân như sau:

.d o

m

o

o

c u -tr a c k

w


lic
w

w

w

.d o

10  

m

C

lic

k

to

 

w

w

w


C

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!


XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
bu

y
.c

to
k

Quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan gắn liền với đời sống tinh thần
của chủ thể do nhà nước quy định cho mỗi chủ thể, không định giá được bằng tiền
và không thể chuyển giao quyền này cho chủ thể khác, trừ trường hợp pháp luật có
quy định khác

1.1.2. Đặc điểm của quyền nhân thân
Quyền nhân thân là một quyền dân sự đặc biệt nên cũng có những đặc điểm
riêng, phân biệt với các quyền dân sự khác. Việc nghiên cứu đặc điểm quyền nhân
thân trong khoa học pháp lý có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc thực hiện và
áp dụng pháp luật có hiệu quả. Quyền nhân thân có những đặc điểm sau:
1.1.2.1. Đặc điểm thứ nhất: Quyền nhân thân mang tính chất phi tài sản
Quyền nhân thân có khách thể là những giá trị tinh thần với bản chất là các
giá trị phi tài sản. Do vậy, quyền nhân thân không bao giờ là tài sản và không bao
giờ trị giá được thành tiền, chỉ có quyền nhân thân gắn với tài sản hay không gắn
với tài sản mà thôi. Tính phi tài sản của quyền nhân thân được thể hiện trên hai khía
cạnh đó là không thể là đối tượng để trao đổi, mua bán, tặng cho,... và không có yếu
tố tiền bạc. Đây là đặc điểm khác biệt giữa quyền nhân thân với quyền tài sản. Vì
cùng là quyền dân sự nhưng quyền tài sản luôn mang tính chất tài sản nên luôn xác
định được bằng một giá trị vật chất nhất định – dựa trên nguyên tắc đền bù ngang
giá.
1.1.2.2. Đặc điểm thứ hai: Quyền nhân thân luôn gắn liền với chủ thể quyền,
không thể chuyển giao cho người khác
Pháp luật dân sự thừa nhận quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với
mỗi cá nhân, tổ chức mà không thể chuyển dịch cho chủ thể khác. Các quyền dân
sự nói chung, quyền nhân thân nói riêng do Nhà nước quy định cho các chủ thể dựa
trên điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Do vậy về mặt nguyên tắc thì chủ thể
quyền không thể chuyển dịch quyền nhân thân cho chủ thể khác, nói cách khác là

.d o

m

o

o


c u -tr a c k

w

lic
w

w

w

.d o

11  

m

C

lic

k

to

 

w


w

w

C

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD


h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
bu

y
.c

to
k


quyền nhân thân không thể là đối tượng trong các giao dịch dân sự. Ví dụ người
này không thể đổi tên cho người khác và ngược lại hoặc một người không thể ủy
quyền cho người khác thực hiện quyền tự do kết hôn của mình. Điều này có nghĩa
rằng bản thân chủ thể hưởng quyền nhân thân chứ họ không thể ủy quyền cho ai
khác và thông thường cũng không ai có thể đại diện cho họ để thực hiện quyền này
trừ những trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định (Theo quy định của pháp luật,
việc xác định lại dân tộc của người chưa thành niên có thể do cha mẹ đẻ của người
này thực hiện trong trường hợp pháp luật quy định tại Điều 28 BLDS 2005). Tuy
nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, theo quy định của pháp luật thì quyền nhân
thân có thể chuyển giao cho chủ thể khác ví dụ như quyền công bố, phổ biến tác
phẩm của tác giả, khi tác giả chết đi thì quyền này có thể chuyển giao cho người
thừa kế của tác giả - chủ thể khác. Mạc dù vậy nhưng những yếu tố luôn gắn liền
với chủ thể như quyền đứng tên tác giả hay quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm
thì vẫn không thể thay đổi hay chuyển giao được.
1.2. Khái niệm quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí
Trên cơ sở tìm hiểu và xây dựng khái niệm quyền nhân thân nêu trên, luận
văn đi sâu nghiên cứu khái niệm quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí bằng cách
tiếp cận khái niệm báo chí kết hợp với khái niệm quyền nhân thân.
Trước hết, chúng tôi tìm hiểu về khái niệm báo chí:
Trong xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra một cách mạnh mẽ trên thế giới hiện
nay, báo chí đã và đang có những bước phát triển mạnh mẽ, chú trọng vào cả chất
và lượng. Đặc biệt là trong mấy thập kỷ gần đây, thông tin trên báo chí nước ta đã
góp phần quan trọng vào mọi mặt của đời sống xã hội, phấn đấu vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và thể hiện vai trò hết sức
quan trọng trên mọi phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và đấu tranh
phòng chống tội phạm. Báo chí đã thực sự trở thành một trong những công cụ hữu

.d o

m


o

o

c u -tr a c k

w

lic
w

w

w

.d o

12  

m

C

lic

k

to


 

w

w

w

C

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-


w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
bu

y
.c


to
k

hiệu thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước; là kênh thông tin quan trọng hàng đầu, phát hiện và phản
ảnh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân,… Bên cạnh đó, báo chí còn góp phần giáo
dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu ngày càng
cao và đa dạng, phong phú về đời sống tinh thần của nhân dân. Với vai trò to lớn
của báo chí đối với mọi mặt đời sống xã hội thì khái niệm báo chí luôn là vấn đề
được các nhà nghiên cứu quan tâm và xây dựng. Hiện nay có nhiều khái niệm khác
nhau về báo chí dưới các góc độ khác nhau. Cụ thể:
Tiếp cận khái niệm báo chí dưới góc độ nội dung, Từ điển tiếng Việt của
Viện Ngôn ngữ học định nghĩa báo chí truyền thông theo nghĩa chung nhất và trừu
tượng nhất là “quá trình truyền dữ liệu giữa các đơn vị chức năng” [21, tr.1053]
cách định nghĩa của Từ điển chung chung, chưa thể hiện được nội dung cũng như
bản chất của báo chí. Nhìn vào khái niệm này khó có thể hình dung được những
loại hình nào là báo chí, hoặc nhầm lẫn giữa các thiết bị truyền tin với báo chí như
internet, đường truyền cáp quang,....
Quan điểm của PGS. TS. Nguyễn Văn Dững, Trưởng khoa Báo chí Học viện
Báo chí và Tuyên truyền cho rằng: “Truyền thông đại chúng là hệ thống các kênh
truyền thông hướng thông điệp tác động vào đông đảo công chúng xã hội, nhằm lôi
kéo và tập hợp, giáo dục, thuyết phục và tổ chức đông đảo nhân dân tham gia giải
quyết các nhiêm vụ chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hôi đã và đang đặt ra” [23].Và
tác giả đã dùng định nghĩa này để đưa ra khái niệm báo chí: “Báo chí là môt bộ
phận của truyền thông đại chúng, nhưng là bộ phận chiếm vị trí trung tâm, vai trò
nền tảng và có khả năng quyết định tính chất, khuynh hướng, chi phối năng lực và
hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng” [23]. Theo đó, trong nhiều trường
hợp, có thể dùng báo chí để chỉ truyền thông đại chúng; ngược lại, nói đến truyền
thông đại chúng - trước hết phải nói đến báo chí. Báo chí trong trường hợp này


.d o

m

o

o

c u -tr a c k

w

lic
w

w

w

.d o

13  

m

C

lic


k

to

 

w

w

w

C

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O

W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N

bu

y
.c

to
k

đươc dùng, đươc hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm báo in, báo chí phát thanh, báo chí
truyền hình, báo mạng điện tử (“phát hành” trên mạng internet) và hãng thông tấn.
Báo chí theo nghĩa hẹp, là bao gồm báo, tạp chí và bản tin thời sự. Như vậy, cách
tiếp cận khái niệm báo chí trên phương diện nội dung xem báo chí như một phương
tiện để diễn đạt, chia sẻ thông tin giữa các chủ thể khác nhau trong xã hội. Những
định nghĩa này đã khẳng định nội hàm cơ bản của báo chí. Tuy nhiên, trong một
phạm vi nhất định, đây là những định nghĩa khá rộng và chưa bao hàm được những
đặc trưng cốt lõi của báo chí vì vậy rất khó trong việc xác định một loại hình truyền
thông là báo chí hay không phải báo chí, gây khó khăn cho việc thống nhất quản lý
và áp dụng pháp luật về báo chí.
Đề cập tới báo chí dưới góc độ hình thức, Luật Báo chí nước Cộng hòa Xã
hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1989, sửa đổi, bổ sung năm 1999 đã liệt kê những
hình thức của báo chí tại Điều 3, theo đó: “Báo chí nói trong Luật này là báo chí
Việt Nam, bao gồm: báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn), báo
nói (chương trình phát thanh), báo hình(chương trình truyền hình, chương trình
nghe - nhìn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau), báo
điện tử (được thực hiện trên mạngthông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân
tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài". Có thể thấy rằng, Điều 3 Luật Báo chí
chưa đưa ra được định nghĩa khái quát nội hàm của báo chí nhưng đã chỉ rõ các loại
hình truyền thông nào là báo chí và liệt kê rất chi tiết, cụ thể thuận tiện cho công tác
quản lý cũng như hoạt động báo chí trên thực tế. Bên cạnh ưu điểm đó thì cách định
nghĩa này của Luật Báo chí chưa bao quát được nội dung, bản chất của báo chí,

chưa thể hiện được vai trò của một khái niệm.
Trên cơ sở tiếp cận khái niệm báo chí dưới góc độ nội dung và hình thức thì
luận văn có tổng kết và đưa ra khái niệm báo chí theo quan điểm cá nhân như sau:
Báo chí là một quá trình truyền đạt, tiếp nhận và trao đổi thông tin nhằm phản

.d o

m

o

o

c u -tr a c k

w

lic
w

w

w

.d o

14  

m


C

lic

k

to

 

w

w

w

C

bu

y

N

O
W

!

XC


er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c



h a n g e Vi
e

N
bu

y
.c

to
k

ánh đời sống xã hội, cung cấp thông tin và thiết lập các mối quan hệ giữa con
người với con người bằng các phương tiện in ấn, nghe, nhìn, công nghệ thông
tin và các hình thức phản ánh khác.
Qua việc tìm hiểu khái niệm quyền nhân thân và khái niệm báo chí ở trên,
có thể thấy rằng, quyền nhân thân với tư cách là những giá trị tinh thần gắn liền với
các chủ thể ngày càng được chú trọng cả về mặt pháp lý nói riêng và đời sống xã
hội nói chung vì vậy báo chí – một bộ phận quan trọng của truyền thông đại chúng
– không thể đứng ngoài việc ghi nhận, phản ánh những giá trị tinh thần thiêng liêng,
bất khả xâm phạm đó. Hơn nữa, hoạt động báo chí rất đa dạng về loại hình: báo in,
báo nói, báo hình, báo điện tử,.... và phong phú về nội dung đăng tải nên có mối
quan hệ qua lại thường xuyên với quyền nhân thân. Trên cơ sở đó, luận văn xây
dựng nên khái niệm quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí để tiện cho việc nghiên
cứu dưới góc độ pháp lý về vấn đề này. Có thể định nghĩa như sau: Quyền nhân
thân trong lĩnh vực báo chí là những giá trị nhân thân gắn liến với mỗi chủ thể
liên quan đến việc cho phép ghi nhận, phản ánh, sử dụng và đăng tải trên báo
chí theo ý chí của chủ thể đó.
1.3. Đặc điểm của quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí
Quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí mang đầy đủ các đặc điểm của

quyền nhân thân nói chung, tuy nhiên, quyền này cũng có những đặc điểm riêng so
với quyền nhân thân khác. Cụ thể:
1.3.1. Quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí có đối tượng tương ứng với
đối tượng tác nghiệp trong hoạt động báo chí như thông tin, hình ảnh, họ tên,...
sử dụng làm nên tác phẩm, bản tin báo chí
Quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí là những giá trị nhân thân được pháp
luật ghi nhận và bảo vệ liên quan đến hoạt động phản ánh đời sống, cũng cấp thông
tin và tác nghiệp của báo chí như qua những bài viết, lời bình luận, mẩu tin, hình

.d o

m

o

o

c u -tr a c k

w

lic
w

w

w

.d o


15  

m

C

lic

k

to

 

w

w

w

C

bu

y

N

O
W


!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k


.c


h a n g e Vi
e

N
bu

y
.c

to
k

ảnh hay đoạn video,... Chính vì vậy mà không phải mọi quyền nhân thân trong
BLDS 2005 đều thuộc nhóm quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí. Theo đó, có
thể liệt kê các quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí hiện nay gồm:
- Quyền của cá nhân đối với hình ảnh;
- Quyền bí mật đời tư ;
- Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín;
- Quyền đối với họ,tên.
Đây là những quyền nhân thân mang tính cá biệt hóa cá nhân và gắn với các
giá trị tinh thần của mỗi chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự và có mối quan hệ
mật thiết, tác động qua lại với nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị tinh thần về
danh dự, nhân phẩm, uy tín của chủ thể. Sở dĩ chỉ có bốn quyền trên thuộc quyền
nhân thân trong lĩnh vực báo chí vì theo quan điểm cá nhân, những quyền nhân thân
này thường được báo chí sử dụng phục vụ hoạt động đưa tin, tác nghiệp hay minh
họa báo chí. Cụ thể, dù là hình thức báo in hay báo hình, báo điện tử thì đều có sử

dụng hình ảnh minh họa cho bài viết hay sử dụng hình ảnh cho quảng cáo, rồi hình
ảnh còn là một loại hình báo ảnh vì vậy trước hết quyền của cá nhân đối với hình
ảnh trước hết được xếp vào quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí. Mặt khác, việc
khai thác những thông tin mới, thông tin "ít" người biết cũng là một trong những
hoạt động được báo chí chú trọng, phục vụ cho chức năng thông tin cũng như đảm
bảo tính hấp dẫn của báo chí, vì vậy bí mật đời tư cùng họ, tên cũng là một trong
những đối tượng thường được báo chí phản ánh. Trên cơ sở đó, quyền bí mật đời tư,
quyền đối với họ, tên cũng thỏa mãn dấu hiệu của quyền nhân thân trong lĩnh vực
báo chí. Hơn nữa, mọi hình thức phản ánh những giá trị nhân thân của cá nhân, tổ
chức trong quan hệ pháp luật dân sự đều có mối quan hệ mật thiết với danh dự,
nhân phẩm, uy tín của chủ thể đó. Tóm lại, bốn quyền nhân thân kể trên có chứa
đựng những gái trị nhân thân liên quan đến hoạt động đăng tải, ghi nhận, phản ánh

.d o

m

o

o

c u -tr a c k

w

lic
w

w


w

.d o

16  

m

C

lic

k

to

 

w

w

w

C

bu

y


N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD


F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
bu

y
.c

to
k

và sử dụng trên báo chí và cần sự cho phép của chủ thể quyền. Chính vì vậy, quyền
nhân thân trong lĩnh vực báo chí hiện nay gồm bốn quyền cơ bản: Quyền của cá
nhân đối với hình ảnh; Quyền bí mật đời tư ; Quyền được bảo vệ danh dự, nhân
phẩm, uy tín và Quyền đối với họ,tên.
1.3.2. Quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí là quyền nhân thân không
gắn với tài sản
Bản chất của quyền nhân thân là phi tài sản và quyền nhân thân trong lĩnh
vực báo chí cũng mang đặc điểm này. Tuy nhiên cụ thể hơn nữa thì quyền nhân
thân trong lĩnh vực báo chí là quyền nhân thân không gắn với tài sản. Các quyền
nhân thân này thể hiện giá trị tinh thần của chủ thể đối với chính bản thân mình,

luôn gắn với chính bản thân người đó và không dịch chuyển được sang chủ thể
khác như bí mật đời tư, họ, tên, hình ảnh, danh dự, uy tín,... vì vậy mà chúng hoàn
toàn không gắn với tài sản. Thêm vào đó, quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí
được công nhận đối với mọi cá nhân một cách bình đẳng và suốt đời, không phụ
thuộc vào bất cứ hoàn cảnh kinh tế, địa vị hay mức độ tài sản của người đó.
1.3.3. Quyền nhân thân trong lĩnh vực quyền nhân thân là quyền nhân
thân được bảo hộ ngay cả khi chủ thể quyền chết
Quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí là những quyền nhân thân có mối
quan hệ mật thiết với nhau và đặc biệt là có ảnh hưởng rất lớn tới danh dự, uy tín,
nhân phẩm của chủ thể. Đây được coi là những giá trị tinh thần thiêng liêng, bất
khả xâm phạm của mỗi cá nhân. Việc chủ thể còn sống hay đã chết đều không ảnh
hưởng tới việc xác lập, thực hiện những quyền nhân thân này vì vậy mà những
quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí nêu ở phần trên được pháp luật bảo hộ vĩnh
viễn. Khi chủ thể không còn nữa thì những người có liên quan được quyền yêu cầu
bảo vệ khi có hành vi xâm phạm.

.d o

m

o

o

c u -tr a c k

w

lic
w


w

w

.d o

17  

m

C

lic

k

to

 

w

w

w

C

bu


y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC


er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
bu

y
.c

to
k

1.4. Ranh giới giữa quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí và
quyền nhân thân trong lĩnh vực báo chí
Quyền tự do báo chí đã được nhà nước ta quy định qua các bản Hiến pháp.
Mỗi bản Hiến pháp lại có sự kế thừa và phát triển trong những điều kiện, hoàn cảnh
mới của đất nước. Cụ thể: Điều 10 Hiến pháp 1946; Điều 25 Hiến pháp 1959; Điều
45 và điều 67 Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 đều có quy định về quyền tự do
báo chí với tư cách là một quyền hiến định và đến Hiến pháp2013 đã quy định một

cách cụ thể hơn: "Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông
tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy
định." (Điều 25)
Hiện nay cũng có khá nhiều quan điểm về tự do báo chí. Theo quan điểm của
Vương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí
truyền thông năm 2007, thì: “ Tự do báo chí là mục tiêu phấn đấu của con người
nhằm giành cho mình quyền được thông tin, trao đổi, giao tiếp, thể hiện ý chí và
nguyện vọng của mình một cách công khai qua các phương tiện thông tin đại chúng,
không hề bị một sự lệ thuộc, một sự hạn chế nào”.Hay như PGS-TS Tạ Ngọc Tấn:
“Đối với chủ nghĩa xã hội, tự do báo chí là một mục tiêu phấn đấu để làm cho mọi
thành viên trong xã hội có những điều kiện thỏa mãn ngày càng cao các nhu cầu
viết báo, đọc báo, mua báo, tức là sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng một
cách tự do nhất, được pháp luật và dư luận xã hội đảm bảo”. Còn theo quan điểm
của ThS Văn phòng quốc hội Phí Thị Thanh Tâm trong cuốn Tự do báo chí qua các
bản Hiến pháp và một số kiến nghị sửa đổi Hiến pháp 1992: “Tự do báo chí là một
trong những quyền cơ bản nhất của con người, thể hiện quan điểm, ý chí, tình cảm
của mình, giai cấp mình trước các vấn đề của đời sống xã hội qua phương tiện
thông tin đại chúng mà không bị một sự lệ thuộc, hạn chế nào; được hầu hết các
công ước quốc tế, hiến pháp và pháp luật quốc gia công nhận. Tuy nhiên trong xã

.d o

m

o

o

c u -tr a c k


w

lic
w

w

w

.d o

18  

m

C

lic

k

to

 

w

w

w


C

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e


!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


×