Tải bản đầy đủ (.pdf) (88 trang)

Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở việt nam từ thực tiễn thực hiện tại tỉnh quảng ninh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.66 MB, 88 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI
TỈNH QUẢNG NINH

BÙI TUẤN ANH

HÀ NỘI - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI
TỈNH QUẢNG NINH
BÙI TUẤN ANH

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. ĐỖ THỊ DUNG

HÀ NỘI - 2016




LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ luật học này là công trình nghiên cứu của
tôi dưới sự hướng dẫn của TS. Đỗ Thị Dung - Giảng viên chính, Khoa Pháp luật
kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội. Các số liệu, tài liệu tham khảo, trích dẫn
trong luận văn là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng.
Người thực hiện

Bùi Tuấn Anh


LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô đã giảng
dạy trong chương trình Cao học Luật Kinh tế - Viện Đại học Mở Hà Nội,
những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích làm cơ sở cho tôi
thực hiện tốt luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Đỗ Thị Dung đã tận tình hướng dẫn cho
tôi trong thời gian thực hiện luận văn. Cô đã hướng dẫn, chỉ bảo cho tôi rất
nhiều kinh nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các Thầy, cô Khoa đào tạo Sau đại học Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập.
Sau cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè những
người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong suốt quá trình thực
hiện luận văn.
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều
nên luận văn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến góp ý của
Thầy/Cô và các bạn học viên./.

Hà Nội, ngày 04 tháng 10 năm 2016
Học viên


Bùi Tuấn Anh


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP ...................................................... 8
1.1. Bảo hiểm thất nghiệp ..................................................................................... 8
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp ................................................................... 8
1.1.2. Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp................................................................ 14
1.1.3. Nguyên tắc bảo hiểm thất nghiệp ............................................................... 15
1.2. Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ............................................................... 18
1.2.1. Khái niệm pháp luật bảo hiểm thất nghiệp ................................................. 18
1.2.2. Nội dung pháp luật bảo hiểm thất nghiệp .................................................. 18
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BẢO HIỂM
THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM .......................................................................... 30
2.1. Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp ................................................... 32
2.2. Chế độ bảo hiểm thất nghiệp........................................................................ 34
2.2.1. Chế độ trợ cấp thất nghiệp .......................................................................... 34
2.2.2. Chế độ hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm .................................................... 39
2.2.3. Chế độ hỗ trợ học nghề............................................................................... 40
2.2.4. Chế độ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề .......... 41
2.3. Quỹ bảo hiểm thất nghiệp và quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp ............... 42
2.3.1. Quỹ bảo hiểm thất nghiệp ........................................................................... 42
2.3.2. Quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp .............................................................. 44
2.4. Thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp........................................................... 45
2.4.1. Thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp ............................................................. 45
2.4.2. Thủ tục hưởng chế độ hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm............................ 46
2.4.3. Thủ tục hưởng chế độ hỗ trợ học nghề ...................................................... 46

2.4.4. Thủ tục hưởng chế độ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghề
để duy trì việc làm cho người lao động................................................................. 47
2.5. Xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp về bảo hiểm thất nghiệp ... 48
2.5.1. Xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp....................................... 48


2.5.2. Tranh chấp và giải quyết tranh chấp về bảo hiểm thất nghiệp................... 50
Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
TẠI TỈNH QUẢNG NINH VÀ KIẾN NGHỊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 52
3.1. Thực tiễn thực hiện pháp luật bảo hiểm thất nghiệp tại tỉnh Quảng Ninh ...... 52
3.1.1. Những kết quả đạt được ............................................................................. 53
3.1.2. Một số vấn đề còn tồn tại ............................................................................ 61
3.1.3. Nguyên nhân của những tồn tại ................................................................. 64
3.2. Kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực
hiện bảo hiểm thất nghiệp ở tỉnh Quảng Ninh ................................................... 66
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ........................... 66
3.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện bảo hiểm thất nghiệp tại tỉnh
Quảng Ninh .......................................................................................................... 69
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 77


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHTN

:

Bảo hiểm thất nghiệp

BHXH


:

Bảo hiểm xã hội

BHYT

:

Bảo hiểm y tế

HĐLĐ

:

Hợp đồng lao động

ILO

:

Tổ chức lao động quốc tế

LĐTBXH

:

Lao động, thương binh và xã hội

NLĐ


:

Người lao động

NSDLĐ

:

Người sử dụng lao động

Nxb

:

Nhà xuất bản

TCTN

:

Trợ cấp thất nghiệp


DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1. Tình hình tham gia BHTN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh ....................... 53
Bảng 2.2. Tình hình biến động về TCTN ............................................................... 55
Bảng 2.3. Tình hình lao động được tư vấn giới thiệu việc làm ............................. 57

Biểu đồ 2.1. Thống kê số người nộp hồ sơ hưởng TCTN và số người có quyết định

hưởng TCTN ( người) .......................................................................................... 54


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính khách quan tồn tại ở hầu
hết các quốc gia trên thế giới, kể cả các nước phát triển và các nước đang phát triển.
Vì vậy, hạn chế tình trạng thất nghiệp, bảo đảm việc làm, ổn định đời sống cho
NLĐ khi bị thất nghiệp là một trong các chính sách xã hội được các quốc gia đặc
biệt quan tâm. Trong đó, biện pháp nhằm hỗ trợ cho NLĐ khi bị mất việc làm, ổn
định đời sống thông qua việc tạo lập một quỹ tập trung do Nhà nước quản lý được
coi là biện pháp hữu hiệu để khắc phục tình trạng thất nghiệp và đói nghèo. Từ đó
BHTN ra đời, và đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm an sinh xã hội của các
quốc gia, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ổn định và bền vững.
Ở Việt Nam, chính sách và pháp luật về BHTN ra đời muộn hơn so với các
chế độ bảo hiểm khác. Đến năm 2006, chế độ bảo hiểm thất nghiệp mới được thể
chế trong Luật bảo hiểm xã hội, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2009. Bước đầu, các
quy định này đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai và thực hiện BHTN, đảm
bảo đời sống cho NLĐ tham gia BHTN khi bị mất việc làm. Pháp luật về BHTN thể
hiện sự quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện chính sách an sinh xã
hội nói chung, chính sách về BHTN nói riêng. Bởi, hiện nay ở khu vực Đông Nam
Á, chỉ có 2 nước đang triển khai được chính sách BHTN là Việt Nam và Thái Lan,
song ở Thái Lan đã không thành công.
Sau gần 5 năm thực hiện, các quy định về BHTN trong Luật bảo hiểm xã hội
năm 2006 được thay thế bằng các quy định mới trong Luật Việc làm, có hiệu lực từ
ngày 1/1/2015. Theo đó, BHTN mang tính chất chủ động trong việc bảo đảm việc
làm, đời sống cho NLĐ tham gia BHTN mà bị mất việc làm nhanh chóng tìm được
việc làm, trở lại thị trường lao động. Tuy nhiên sau gần 2 năm thực hiện theo Luật Việc
làm, pháp luật BHTN cũng bắt đầu thể hiện một số bất cập về đối tượng tham gia, điều
kiện hưởng, chế độ hưởng cũng như mức hưởng, mức phí đóng, thủ tục thực hiện và

quản lý quỹ BHTN. Tình trạng các đơn vị sử dụng lao động trốn đóng BHTN, còn nợ
tồn, nợ đọng BHTN xảy ra khá phổ biến và ngày càng gia tăng, làm ảnh hưởng không
ít đến sự an toàn của quỹ cũng như không bảo đảm quyền lợi cho NLĐ.
1


Trong khi đó, tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh, một tỉnh có quy mô diện tích, dân
số, số lượng các doanh nghiệp lớn ở khu vực Đông Bắc, có tỷ lệ NLĐ tham gia
BHTN khá cao. Dựa trên cơ sở quy định của pháp luật về BHTN, Bảo hiểm xã hội
tỉnh Quảng Ninh đã luôn thực hiện tốt các hoạt động thu phí, quản lý quỹ và chi trả
các chế độ BHTN cho NLĐ tham gia BHTN trên địa bàn. Từ đó, giúp NLĐ bảo
đảm đời sống trong thời gian mất việc làm, được học nghề, tìm kiếm việc làm, góp
phần ổn định kinh tế - xã hội của tỉnh. Song, thực tiễn thực hiện pháp luật BHTN
cho NLĐ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, vẫn còn một số vấn đề phát sinh. Đó là tình
trạng NLĐ chưa được tham gia BHTN vẫn còn, thủ tục thực hiện BHTN còn phức
tạp so với sự hiểu biết của đa số NLĐ, công tác quản lý BHTN chưa hiệu quả, các
doanh nghiệp nợ BHTN còn diễn ra phổ biến, ảnh hưởng không chỉ đến đời sống
của NLĐ mà còn đến thân nhân của NLĐ, ảnh hưởng đến trật tự xã hội chung.
Trước thực trạng trên, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về BHTN
từ thực tiễn thực hiện ở địa bàn tỉnh Quảng Ninh, từ đó đưa ra một số giải pháp
nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về BHTN để
bảo đảm hơn nữa quyền lợi cho NLĐ trên địa bàn tỉnh cũng như ở phạm vi cả nước,
là vấn đề cần thiết. Cho nên, tôi đã chọn vấn đề “Pháp luật về bảo hiểm thất
nghiệp ở Việt Nam từ thực tiễn thực hiện tại tỉnh Quảng Ninh” để làm đề tài
nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Là một trong những bộ phận cơ bản của pháp luật an sinh xã hội, BHTN nói
chung, pháp luật về BHTN nói riêng đã được nhiều nhà khoa học, luật gia, học
viên… quan tâm nghiên cứu. Cụ thể:
- Giáo trình, sách tham khảo: Đó là giáo trình luật an sinh xã hội của một số

cơ sở đào tạo luật học, như: Giáo trình luật an sinh xã hội Việt Nam của Trường Đại
học Luật Hà Nội năm 2013; Giáo trình bảo hiểm xã hội của Trường Đại học Lao
động - xã hội năm 2011; Giáo trình bảo đảm xã hội của Khoa Từ xa, Đại học Huế…
Sách tham khảo “Pháp luật an sinh xã hội - những vấn đề lý luận và thực tiễn” Nxb
Tư pháp năm 2010 của tác giả Nguyễn Hiền Phương. Theo đó, các công trình này
có đề cập đến một số nội dung liên quan đến BHTN và pháp luật về BHTN.
2


- Bài viết đăng trên tạp chí: Có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí chuyên
ngành đề cập đến BHTN và pháp luật về BHTN ở Việt Nam. Đó là: Bài viết: “Một
số vấn đề về bảo hiểm thất nghiệp” của tác giả Trần Thị Thúy Lâm, đăng trên Tạp
chí Luật học, số 3/2004; Bài viết: “Điều kiện, thời gian và mức hưởng chế độ bảo
hiểm thất nghiệp ở Việt Nam” của TS Lê Thị Hoài Thu, đăng trên Tạp chí Dân chủ
và pháp luật, số 4/2005; Bài viết: “Mấy ý kiến về bảo hiểm thất nghiệp trong Dự
thảo Luật bảo hiểm xã hội” của Trần Thị Thúy Lâm, đăng trên Tạp chí Lao động và
xã hội, số 270 năm 2005; Bài viết: “Những vấn đề cần quan tâm khi xây dựng chính
sách bảo hiểm thất nghiệp” của Trần Thị Diệu Hồng, đăng trên Tạp chí Lao động và
xã hội, số 260 năm 2005; Bài viết: “Thất nghiệp và xây dựng chế độ bảo hiểm thất
nghiệp cho người lao động” của Lê Bạch Hồng, đăng trên Tạp chí Lao động và xã
hội, số 279-280 năm 2006; Bài viết: “Quy định về bảo hiểm thất nghiệp trong công
ước của Tổ chức lao động quốc tế ILO và một số nước trên thế giới” của tác giả Lê
Hoài Thu, đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, năm 2006; Bài viết: “Tham gia
bảo hiểm thất nghiệp có lợi cho cả người lao động và người sử dụng lao động” của
tác giả Đặng Quang Điều đăng trên Tạp chí Lao động và xã hội, số 355 năm 2009;
Bài viết: “Một số nội dung cơ bản của chính sách bảo hiểm thất nghiệp” của
Nguyễn Minh Hải, đăng trên Tạp chí Lao động và xã hội, số 365 năm 2009; Bài
viết: “Một số vấn đề bất cập trong thi hành pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp” của
tác giả Bùi Đức Hiển đăng trong Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, năm 2011; Bài viết:
“Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp sau 3 năm thực hiện ở Việt Nam” của Đỗ Thị Dung

đăng trên Tạp chí Luật học, số 9 năm 2012; Bài viết: “Một số giải pháp góp phần
hoàn thiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp” của TS Bùi Ngọc Thanh, đăng trên Tạp chí
Lao động và xã hội, số 427 năm 2012; Bài viết: “Quỹ bảo hiểm thất nghiệp – Thực
trạng và dự báo” của TS Đoàn Minh Phụng, đăng trên Tạp chí Bảo hiểm xã hội, số
kỳ 2, tháng 5/2013; Bài viết: “Thất nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp” của PGS.TS
Mạc Văn Tiến, đăng trên Tạp chí Bảo hiểm xã hội, số kỳ 1, tháng 6/2013; Bài viết:
“Chính sách bảo hiểm thất nghiệp của Việt Nam - Những bất cập và khuyến nghị”
của Tạ Thị Hương, đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước, số 6 năm 2013.

3


- Đề tài nghiên cứu khoa học, luận án, luận văn: Các đề tài khoa học cấp bộ,
cấp cơ sở, luận án, luận văn cũng có đề cập đến nội dung BHTN và pháp luật về
BHTN ở Việt Nam. Đó là đề tài khoa học cấp Bộ: “Giải pháp về bảo hiểm thất
nghiệp ở Việt Nam” của Bộ Lao động, thương binh và xã hội, năm 1996; Đề tài
khoa học cấp trường: “Hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã hội” của Trường Đại học
Luật Hà Nội, năm 2005. Các luận án, như: Luận án “Chế độ bảo hiểm thất nghiệp
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của tác giả Lê Thị Hoài Thu, Khoa Luật,
Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2004; Luận án “Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc
xây dựng và hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn
Hiền Phương, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2009. Các luận văn thạc sĩ luật
học như: Luận văn “Thất nghiệp và việc xây dựng chế độ bảo hiểm thất nghiệp
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của Đỗ Năng Khánh, Trường Đại học
Luật Hà Nội, năm 2000; Luận văn “Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn áp
dụng ở Nghệ An” của Ngô Thị Thu Hoài, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2012;
Luận văn: “Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp sau 04 năm thực hiện – Những vấn đề
đặt ra và giải pháp hoàn thiện” của Trần Vân Khánh, Trường Đại học Luật Hà Nội,
năm 2013; Luận văn: “Hoàn thiện pháp luật bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện
nay của Ngô Thị Thủy, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2013.

Nhìn chung, các công trình này nghiên cứu các vấn đề pháp luật về BHTN
và thực tiễn thực hiện. Ngoài việc xây dựng hệ thống một số vấn đề lý luận, các
công trình nghiên cứu này, ở các mức độ khác nhau, đã đi sâu phân tích những bất
cập trong quy định của pháp luật BHTN và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam, từ đó
đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
BHTN theo quy định trước đây trong Bộ luật lao động năm 1994 (đã được sửa đổi,
bổ sung các năm 2002, 2006, 2007), Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 và các văn bản
hướng dẫn các đạo luật này.
Theo khảo cứu của tác giả, cho đến nay, có một số công trình như bài viết
đăng trên các tạp chí, luận văn và khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu về pháp luật
BHTN theo quy định của Luật Việc làm năm 2013. Song, chưa có công trình nào ở
cấp luận văn nghiên cứu về thực tiễn thực hiện pháp luật BHTN trên địa bàn tỉnh
4


Quảng Ninh. Vì thế, có thể khẳng định rằng đây là công trình nghiên cứu mới về
vấn đề pháp luật BHTN theo Luật Việc làm năm 2013 từ thực tiễn thực hiện tại tỉnh
Quảng Ninh. Tuy nhiên, các vấn đề lý luận về BHTN đã được nhiều công trình
nghiên cứu đề cập đến, vì thế để giúp việc nhìn nhận, đánh giá một cách toàn diện,
đầy đủ hơn về pháp luật BHTN, từ đó có đủ cơ sở lý luận để nghiên cứu thực tiễn
thực hiện các quy định của pháp luật hiện hành về BHTN tại tỉnh Quảng Ninh, thì
trong quá trình nghiên cứu vấn đề lý luận, ở mức độ nhất định, tác giả đã dựa trên
những ý kiến, những đánh giá của các nhà khoa học trong các công trình nghiên cứu
nêu trên.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài là tiếp tục làm rõ một số
vấn đề chung về BHTN, đánh giá các quy định của pháp luật về BHTN, thực tiễn
thực hiện BHTN tại tỉnh Quảng Ninh. Qua đó thấy được những điểm đã đạt được và
những điểm còn bất cập để từ đó đưa ra giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định
của pháp luật về BHTN, cũng như thực tiễn thực hiện BHTN tại tỉnh Quảng Ninh nói

riêng, ở phạm vi cả nước nói chung.
Từ mục tiêu trên, luận văn tập trung vào các nhiệm vụ chính sau đây:
Một là, nghiên cứu để làm rõ một số vấn đề chung về thất nghiệp, BHTN,
pháp luật về BHTN. Cụ thể là về khái niệm, đặc điểm, vai trò, nguyên tắc của
BHTN; khái niệm, nội dung điều chỉnh của pháp luật về BHTN.
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật hiện hành
về BHTN ở Việt Nam và thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về BHTN
tại tỉnh Quảng Ninh. Từ đó, rút ra những nhận xét về ưu điểm, những tồn tại, bất
cập trong các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật trên địa
bàn tỉnh Quảng Ninh, trên cơ sở có sự so sánh, đối chiếu với các quy định của pháp
luật Việt Nam trước đây.
Ba là, đề xuất các giải pháp sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật
hiện hành về BHTN và giải pháp nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện pháp luật
về BHTN nhằm đảm bảo hơn nữa quyền lợi cho NLĐ tham gia BHTN ở Việt Nam
và tại tỉnh Quảng Ninh hiện nay.
5


4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về
BHTN trong Luật Việc làm năm 2013 và các văn bản hướng dẫn. Đặc biệt, do đề tài
nghiên cứu về các vấn đề thực tiễn, nên đối tượng nghiên cứu của luận văn còn là
thực tiễn thực hiện BHTN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh những năm gần đây, đặc
biệt là từ khi Luật Việc làm có hiệu lực (từ ngày 01/01/2015). Ngoài ra, để làm rõ
vấn đề thực trạng pháp luật hiện hành về BHTN, luận văn còn so sánh với các quy
định trước đây về BHTN trong Luật bảo hiểm xã hội năm 2006.
Bên cạnh đó, luận văn cũng đề cập tới những quy định của Tổ chức lao động
quốc tế và pháp luật một số quốc gia trên thế giới về BHTN để tìm hiểu những vấn
đề lý luận, làm cơ sở cho việc nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật về BHTN ở Việt
Nam nói chung, tỉnh Quảng Ninh nói riêng.

5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để giải quyết các
vấn đề pháp luật về BHTN ở Việt Nam từ thực tiễn thực hiện tại tỉnh Quảng Ninh.
Đồng thời luận văn cũng dựa trên những quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính
sách BHTN ở Việt Nam.
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể. Đó là phương pháp phân tích, chứng minh, tổng hợp, so sánh, đối chiếu,
thống kê, dự báo khoa học… Các phương pháp này có thể được sử dụng riêng rẽ, có
thể được sử dụng kết hợp nhằm làm rõ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài
đặt ra.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn đã làm mới hơn khái niệm thất nghiệp, BHTN; luận giải về vai trò,
nguyên tắc của BHTN; khái quát các nội dung pháp luật về BHTN. Đồng thời luận
văn phân tích, đánh giá quy định của pháp luật hiện hành về BHTN, chỉ ra những
tồn tại của các quy định và thực tiễn thực hiện BHTN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Từ đó, luận văn đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, cũng như nâng cao
hiệu quả thực hiện BHTN ở Việt Nam nói chung, tại tỉnh Quảng Ninh nói riêng.
6


Với những ý nghĩa khoa học này, tác giả hy vọng luận văn là tài liệu tham khảo
hữu ích đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp thực hiện và giải quyết chế độ
BHTN cho NLĐ, cũng như những người nghiên cứu, học tập về pháp luật BHTN. Từ
đó, nhằm đảm bảo hơn quyền, lợi ích của NLĐ khi tham gia BHTN, thực hiện mục
đích an sinh xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về bảo hiểm thất nghiệp và pháp luật về bảo

hiểm thất nghiệp.
Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật bảo hiểm thất nghiệp tại tỉnh Quảng
Ninh và giải pháp hoàn thiện.

7


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
1.1. Bảo hiểm thất nghiệp
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp
Muốn hiểu được khái niệm BHTN, trước hết chúng ta phải hiểu được khái
niệm thất nghiệp và khái niệm người thất nghiệp.
Tổ chức lao động quốc tế đã đưa ra định nghĩa thất nghiệp trong Công ước số
102 và được nhiều quốc gia trên thế giới công nhận. Đó là: thất nghiệp là “sự ngừng
thu nhập do không có khả năng tìm được một việc làm thích hợp trong trường hợp
người đó có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc”.1 Đây là tình trạng phát sinh
khi “tổng cung về lao động của những NLĐ muốn làm việc với mức tiền lương
danh nghĩa tại một thời điểm lớn hơn khối lượng việc làm hiện có”.2 Công ước số
168 năm 1988 đã bổ sung thêm yếu tố về mặt chủ quan của những người thất
nghiệp, đó là thái độ tích cực, chủ động tìm kiếm việc làm trong thời gian thất
nghiệp. Như vậy, thất nghiệp là hiện tượng trong đó những người trong độ tuổi lao
động, có khả năng lao động nhưng bị mất việc làm và đang tìm kiếm việc làm.
Về khái niệm người thất nghiệp, Văn phòng lao động quốc tế đã đưa ra định
nghĩa như sau: “Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao
động nhưng không có việc làm. Họ có thể là người chưa có việc làm hoặc có việc
làm nhưng đã thôi việc và đang cần tìm việc làm có thu nhập”. Đây là một khái
niệm tương đối mở, tạo điều kiện cho các nước căn cứ vào thực tiễn của nước mình

để quy định cụ thể về người thất nghiệp. Tại Điều 20 phần IV, Công ước số 102
năm 1952 của ILO về “Quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội”, đã đưa ra khái niệm
người thất nghiệp. Theo đó, “Người thất nghiệp là NLĐ không có việc làm, không
làm việc kể cả một giờ trong tuần lễ điều tra đang đi tìm việc làm và có điều kiện là
1

Xem: Lê Thị Hoài Thu, “Chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Luận án
tiến sĩ luật học, Hà Nội, 2004.
2
Xem: Nguyễn Quang Hiển, Thị trường lao động, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1995.

8


họ làm ngay”. Nói cách khác, nếu “thất nghiệp” là một hiện tượng xã hội, chỉ trạng
thái chung của những người không có việc làm thì “người thất nghiệp” là khái niệm
dùng để chỉ các cá nhân đang trong tình trạng đi tìm việc làm và đảm bảo một số
tiêu chí khác (như trong độ tuổi lao động, có khả năng làm việc ngay…).
Việc xác định “người thất nghiệp” ở các quốc gia dựa trên các tiêu chí không
giống nhau. Chẳng hạn: Luật Bảo hiểm thất nghiệp của Cộng hòa Liên bang Đức
nêu: “Người thất nghiệp là NLĐ tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực
hiện công việc ngắn hạn”. Theo pháp luật Nga, “những người thất nghiệp được thừa
nhận là những công dân có khả năng lao động, không có việc làm và có thu nhập;
đã đăng kí ở các cơ quan dịch vụ việc làm với mục đích tìm kiếm những công việc
thích hợp, đang đi tìm việc làm và sẵn sàng làm việc. Những công dân chưa đủ 16
tuổi và những người đã về hưu theo độ tuổi thì không được công nhận là những
người thất nghiệp”.3 Tại Mỹ, Đạo luật An sinh xã hội năm 1935 quy định: “Người
thất nghiệp là những người không có việc làm trong tuần điều tra, mặc dù có khả
năng làm việc, mong muốn tìm được việc làm trong vòng bốn tuần đã qua, có liên
hệ với các trung tâm dịch vụ việc làm hoặc trực tiếp với người thuê lao động”.4

Qua các định nghĩa này cho thấy, không phải người nào không có việc làm
cũng được xếp vào nhóm “người thất nghiệp”, mà chỉ những người trong độ tuổi
lao động, có khả năng lao động, đang không có việc làm và đang đi tìm việc làm thì
mới được coi là người thất nghiệp. Sở dĩ người thất nghiệp phải là người “trong độ
tuổi lao động, có khả năng lao động” là vì, về mặt tự nhiên, con người chỉ có thể lao
động khi cơ thể đạt đến một độ tuổi nào đó. Hơn nữa, người thất nghiệp còn phải là
người “đang không có việc làm, đang đi tìm việc làm”. Nghĩa là họ phải tiến hành
những hoạt động cụ thể nhằm tìm kiếm việc làm, điều này thể hiện mong muốn chủ
quan của họ trong vấn đề tìm kiếm việc làm.
Ở Việt Nam, trong quá trình nghiên cứu mô hình chính sách để thực hiện
BHTN, đa số các ý kiến đều thống nhất với khái niệm sau: “Người thất nghiệp là

3

Xem: Vũ Phạm Dũng Hà, Chuyên viên cục Việc làm, “Định hướng đâu tư nâng cao năng lực các trung tâm
giới thiệu việc làm đến năm 2010”, Tạp chí lao động và xã hội, số 375/2009.
5
/>
9


người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, trong khoảng thời gian xác
định không có việc làm, đã đăng kí thất nghiệp theo quy định”. Như vậy, các điều
kiện để một cá nhân có thể được coi là người thất nghiệp gồm: Thứ nhất, là người
trong độ tuổi lao động. Theo quy định của Luật Việc làm năm 2013, người lao động
là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và có nhu cầu làm
việc; Thứ hai, có khả năng lao động, được hiểu là khả năng của NLĐ bằng hành vi
của mình, có thể thực hiện các công việc phù hợp với thể lực và trí lực của chính bản
thân NLĐ; Thứ ba, trong khoảng thời gian được xác định hưởng BHTN là người
không có việc làm; Thứ tư, đang tích cực tìm việc làm. Đây là điều kiện quan trọng để

phân biệt người thất nghiệp và người không có việc làm. Khái niệm “người không có
việc làm bao gồm hai nhóm: 1) Những người không có việc làm nhưng không muốn
làm việc và do đó không tích cực tìm kiếm việc làm; 2) Những người không có việc
làm, đang tích cực tìm kiếm việc làm và sẵn sàng làm việc khi được giới thiệu. Chỉ
những người thuộc nhóm thứ hai này mới được coi là thất nghiệp; Thứ năm, đã đăng kí
thất nghiệp tại Trung tâm giới thiệu việc làm thuộc Sở LĐTBXH khi mất việc làm
hoặc chấm dứt HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật.
Như vây, tiêu chí nhằm xác định thế nào là người thất nghiệp của Việt Nam
khá hẹp so với khái niệm mà ILO và một số quốc gia đưa ra. Chỉ được coi là người
thất nghiệp khi họ đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật quy định. Hơn nữa,
việc xác định khái niệm “người thất nghiệp” là vấn đề quan trọng vì liên quan đến
nhiều yếu tố khác, trong đó quan trọng nhất là vấn đề xác định đối tượng và phạm
vi áp dụng của chế độ BHTN. Do đó, để có cách nhìn tổng thể, thống nhất và tạo
thuận lợi cho việc thực hiện, Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 của nước ta đã đưa ra
định nghĩa về người thất nghiệp: “Người thất nghiệp là người đang đóng bảo hiểm
thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt HĐLĐ, hợp đồng làm việc nhưng
chưa tìm được việc làm”. Với định nghĩa này, chúng ta có thể phân biệt rõ người
thất nghiệp với những người không có việc làm nói chung. Định nghĩa trên cũng đã
loại trừ những đối tượng là người đủ tuổi lao động, có sức lao động, chưa có việc
làm và chưa tham gia vào quan hệ lao động ra ngoài phạm vi áp dụng của BHTN.
Theo đó, có ba điều kiện để được coi là người thất nghiệp, bao gồm:
10


- Một là, phải đang đóng BHTN theo quy định pháp luật. Nghĩa là, bị mất
việc làm hoặc chấm dứt HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc, NLĐ phải có một thời gian
đóng BHTN nhất định.
- Hai là, đã bị mất việc làm hoặc bị chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp
đồng làm việc. Đây được hiểu là trường hợp NLĐ đã chấm dứt quan hệ lao động
với người sử dụng lao động

- Ba là, chưa tìm được việc làm. Người thất nghiệp là người chưa tìm được
việc làm tức là sau khi chấm dứt quan hệ lao động với NSDLĐ, chưa tìm hoặc có
tìm việc làm mới nhưng chưa tìm được.
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể hiểu một cách khái quát như sau:
người thất nghiệp là người đang đóng BHTN mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt
HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc, có khả năng lao động, đang tích cực tìm kiếm việc
làm nhưng chưa tìm được việc làm và đã đăng kí thất nghiệp với cơ quan có thẩm
quyền theo quy định.
Nhằm mục đích khắc phục tình trạng thất nghiệp và bảo đảm đời sống cho
người thất nghiệp, giúp họ trở lại thị trường lao động, các quốc gia đã có nhiều biện
pháp để thực hiện. Trong đó, biện pháp thông qua việc tạo lập một quỹ tập trung do
Nhà nước quản lý được coi là biện pháp hữu hiệu.
Theo Công ước số 102 của ILO, BHTN là một trong chín nhánh của BHXH.
Việc chi trả trợ cấp thất nghiệp nhằm hỗ trợ một phần thu nhập cho NLĐ bị mất
việc làm và giúp họ có điều kiện học nghề, tạo cơ hội tiếp tục tham gia thị trường
lao động. Công nhận quy định trên của ILO, đa số các quốc gia coi BHTN là một bộ
phận của hệ thống BHXH và được quy định trong Luật bảo hiểm xã hội của quốc
gia (Anh, Mĩ, Thụy Điển, Canada..).
Việt Nam, trước đây trong Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 theo quan điểm
của các quốc gia này. Theo đó, BHTN là một bộ phận của hệ thống BHXH, được
quy định trong Luật Bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện, chúng
ta đã rút ra rằng, thất nghiệp không phải là sự rủi ro của NLĐ trong quá trình tham
gia quan hệ lao động, mà là hiện tượng mang tính khách quan trong thị trường lao
động. BHTN không phải là biện pháp giải quyết hậu quả thất nghiệp một cách bị
11


động, mà BHTN có vai trò chủ động trong việc thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu
ngành nghề, giảm thất nghiệp, tìm và tạo việc làm cho NLĐ. Vì vậy, cũng như các
quốc gia Ba Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc…, BHTN ở Việt Nam chuyển sang quy định

trong Luật Việc làm năm 2013, thay vì quy định trong Luật Bảo hiểm xã hội như
trước đây.
Từ quan điểm mới này, tại khoản 4 Điều 3 Luật Việc làm năm 2013 đã đưa
ra khái niệm BHTN như sau: “Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một
phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học
nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp”.
Như vậy, khái niệm BHTN này đã thể hiện được là một giải pháp nhằm khắc
phục tình trạng thất nghiệp đối với người tham gia BHTN và góp phần điều tiết sự
chuyển dịch lao động trong nền kinh tế thị trường. BHTN hỗ trợ NLĐ bị mất việc làm
một cách không tự nguyện, giúp ổn định tạm thời cuộc sống, học nghề và tìm kiếm
việc làm mới thông qua việc tạo lập quỹ BHTN do NLĐ, người sử dụng lao động
đóng góp và hỗ trợ từ phía Nhà nước. Quỹ này được sử dụng để trả trợ cấp cho
người thất nghiệp, cũng như tiến hành các biện pháp nhằm nhanh chóng giúp người
thất nghiệp có được việc làm mới.
Từ khái niệm về BHTN như trên, và để phân biệt BHTN với BHXH, có thể
thấy BHTN có một số đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, đối tượng áp dụng BHTN là những người trong độ tuổi lao động,
tham gia quan hệ lao động nhưng bị mất việc làm và tạm thời không có thu nhập.
Đây là điểm khác biệt giữa BHTN so với các chế độ BHXH khác như chế độ ốm
đau, thai sản, hưu trí, tử tuất… Bởi, đối tượng của những chế độ này có thể là
những NLĐ vẫn còn đang tồn tại quan hệ lao động (chế độ trợ cấp ốm đau, thai
sản); hoặc chấm dứt quan hệ lao động do không có khả năng tiếp tục làm việc (hưu
trí, tử tuất). Trong khi đó, BHTN có phạm vi áp dụng hẹp hơn rất nhiều, chỉ áp dụng
cho một loại đối tượng duy nhất đó là NLĐ trong độ tuổi lao động, nhưng chấm dứt
quan hệ lao động do bị mất việc làm.
Thứ hai, BHTN mang tính chất bắt buộc. Tính bắt buộc của BHTN được thể
hiện ở ba vấn đề: chủ thể tham gia, mức đóng và phương thức đóng BHTN. Luật
12



Việc làm năm 2013 quy định chỉ những NLĐ làm việc theo HĐLĐ hoặc hợp đồng
làm việc mà các hợp đồng này không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ
3 tháng trở lên mới được tham gia đóng góp và hưởng BHTN. Đây là quy định
mang tính bắt buộc, do đó, nếu những chủ thể trên có hành vi trốn đóng BHTN sẽ bị
xử lí theo pháp luật. Mức đóng và phương thức đóng BHTN cũng được pháp luật
quy định cụ thể, theo một tỉ lệ và phương thức nhất định. Các bên tham gia không
có quyền lựa chọn mức đóng và phương thức đóng.
Thứ ba, ngoài chế độ trợ cấp bằng tiền, BHTN còn đảm bảo tìm việc làm, hỗ
trợ học nghề cho NLĐ bị thất nghiệp. Việc thực hiện chi trả trợ cấp thất nghiệp luôn
được gắn liền với vấn đề giải quyết việc làm cho NLĐ. Vì vậy, bên cạnh quy định
về mức trợ cấp thất nghiệp, điều kiện và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, BHTN
còn phải thực hiện các biện pháp nhằm tạo cơ hội cho NLĐ tiếp tục tham gia quan
hệ lao động. Do đó, cơ quan BHTN vừa có trách nhiệm nhận đăng kí BHTN, kiểm
tra các điều kiện của NLĐ trước khi trả trợ cấp thất nghiệp, vừa phải kịp thời nắm
bắt các thông tin về thị trường lao động để giới thiệu việc làm, đào tạo nghề phù
hợp cho NLĐ.
Thứ tư, nguồn quỹ thực hiện BHTN được hình thành từ sự đóng góp của các
bên tham gia và được Nhà nước bảo trợ. Quỹ BHTN được hạch toán độc lập so với
các quỹ thành phần khác của bảo hiểm xã hội. Trong đó, điểm đặc biệt so với
BHXH là BHTN được nhà nước trực tiếp đóng phí. Ngoài ra, khi thực hiện chế độ
BHTN, ngoài việc chi trả một khoản tiền trợ cấp cho đối tượng được hưởng để đảm
bảo cuộc sống cho NLĐ trong thời gian tìm kiếm việc làm, quỹ BHTN còn hỗ trợ
để họ tham gia học nghề, tìm kiếm việc làm….
Thứ năm, thời gian đóng BHTN sau khi đã được hưởng trợ cấp thất nghiệp
không được tính để hưởng trợ cấp thất nghiệp lần sau. Đây là một trong những điểm
đặc thù của BHTN. Trong các chế độ của BHXH, sau khi đã được hưởng trợ cấp lần
đầu thì thời gian đóng BHXH trước đó vẫn được tính cho lần hưởng trợ cấp tiếp
theo. Thời gian đóng BHXH được cộng vào cả thời gian đóng BHXH lần đầu đã
được hưởng trợ cấp. Tuy nhiên, đối với BHTN, sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp thất
nghiệp, thời gian đóng BHTN trước đó đã được tính để hưởng trợ cấp thất nghiệp

13


hàng tháng của NLĐ không được tính để hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần bị mất
việc làm hoặc chấm dứt HĐLĐ hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc tiếp theo. Thời
gian đóng BHTN cho thời gian làm việc tiếp theo được tính lại từ đầu.
1.1.2. Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp
Bảo hiểm thất nghiệp có vai trò rất lớn đối với các bên tham gia quan hệ
BHTN, đó là NLĐ, đơn vị sử dụng lao động và đối với sự phát triển kinh tế-xã hội
của đất nước.
- Đối với người lao động
BHTN thực hiện việc chi trả trợ cấp, góp phần ổn định cuộc sống cho NLĐ
thất nghiệp. Có thể nói việc thừa nhận sức lao động là hàng hóa trong nền kinh tế
thị trường một mặt thúc đẩy sự phát triển năng động của thị trường lao động, nhưng
mặt khác cũng tạo ra hậu quả pháp lí là tỉ lệ thất nghiệp gia tăng, giá cả sức lao
động bị hạ thấp do ảnh hưởng của quy luật cung, cầu. Khi rơi vào tình trạng thất
nghiệp, cuộc sống của NLĐ và gia đình họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn, mất nguồn
thu nhập để trang trải cho cuộc sống thường ngày. Trong trường hợp này các khoản
tiền trợ cấp thất nghiệp giữ vai trò cần thiết và quan trọng góp phần bù đắp vào
phần thu nhập bị mất của NLĐ giúp NLĐ và gia đình họ ổn định cuộc sống và hạn
chế những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đến đời sống của NLĐ.
Mặt khác, không chỉ dừng lại ở việc bù đắp thu nhập, BHTN còn giúp người
lao động quay trở lại thị trường lao động thông qua các hoạt động hỗ trợ như tìm
kiếm việc làm, đào tạo nghề, nâng cao tay nghề…. Điều này thực sự có ý nghĩa đối
với NLĐ, BHTN không chỉ trao cho NLĐ “con cá” mà còn chu cấp cho họ “cần
câu” để họ tự xây dựng cuộc sống trong tương lai.
- Đối với người sử dụng lao động
Việc thực hiện chế độ BHTN giúp cho NSDLĐ không phải bỏ ra một khoản
chi lớn để giải quyết chế độ cho NLĐ bị mất việc làm. Nhờ vậy, gánh nặng tài
chính của doanh nghiệp được san sẻ. Hơn nữa, trong quá trình lao động, khi được

NSDLĐ tham gia đóng BHTN cho mình, tâm lý của NLĐ sẽ yên tâm, ổn định hơn
nhiều. Chính điều này sẽ làm cho mối quan hệ lao động được hài hoà ổn định, NLĐ
tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc, tạo điều kiện cho doanh nghiệp
14


phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần tăng lợi nhuận và hiệu quả sử dụng lao
động. Vì vậy có thể nói, BHTN không chỉ có lợi cho NLĐ mà còn có lợi cho cả đơn
vị sử dụng lao động.
- Đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Thực hiện chế độ BHTN là biện pháp hiệu quả để giải quyết nạn thất nghiệp,
góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Bởi, khi hiện tượng thất
nghiệp diễn ra gay gắt và thường xuyên thông thường cũng là lúc nền kinh tế có
những biểu hiện bất ổn, suy thoái. Lúc này ngân sách Nhà nước vốn đã eo hẹp lại
phải chi nhiều cho các vấn đề xã hội sẽ là một gánh nặng khủng khiếp. Hệ thống
BHTN với các quy định về trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm việc làm là sự đảm
bảo cần thiết cho NLĐ có cuộc sống bình thường khi mất việc làm, giảm gánh nặng
về chi tiêu cho Nhà nước, và bảo vệ những giá trị tiến bộ xã hội.
1.1.3. Nguyên tắc bảo hiểm thất nghiệp
Các nguyên tắc cơ bản của BHTN được hiểu là những tư tưởng có tính chất
chủ đạo, xuyên suốt và chi phối toàn bộ các quy phạm pháp luật BHTN. Theo đó,
để bảo đảm mục đích đặt ra và duy trì một cách lâu dài, hiệu quả, BHTN phải đảm
bảo tuân thủ những nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất, nguyên tắc bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo
hiểm thất nghiệp
Bảo hiểm thất nghiệp là một trong các chính sách xã hội, nên cũng như các
chính sách xã hội khác, luôn bảo đảm sự chia sẻ rủi ro giữa những NLĐ. Trong quá
trình tham gia quan hệ lao động, vì những lý do nào đó mà NLĐ bị mất việc làm,
chấm dứt HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc, họ bị mất thu nhập để nuôi sống bản thân
và gia đình. Bởi vậy, khi đã tham gia BHTN, họ được quỹ BHTN chi trả trợ cấp để

bảo đảm đời sống.
Tuy nhiên, do được hạch toán độc lập và hưởng đến duy trì chế độ BHTN
một cách lâu dài và ổn định, nên quỹ BHTN chỉ chi trả cho những người mất việc
làm mà không có trợ cấp khác đảm bảo đời sống. Trường hợp NLĐ mất việc làm
nhưng lại đảm bảo bằng chế độ trợ cấp khác thì không được hưởng trợ cấp BHTN.
Ngoài ra, nếu NLĐ đã hưởng trợ cấp thất nghiệp cho thời gian đóng BHTN nhất
15


định thì thời gian đã hưởng trợ cấp không được tính để trả trợ cấp thất nghiệp lần
sau. Điều đó vừa thể hiện BHTN, bên cạnh nội dung kinh tế còn chứa đựng trong
mình nội dung xã hội và một trong những biểu hiện của nó là nguyên tắc chia sẻ rủi
ro, lấy số đông bù số ít. Do đó, NLĐ đóng góp vào quỹ BHTN không có nghĩa là họ
sẽ được hưởng các chế độ của BHTN mà họ chỉ được hưởng khi bị mất việc làm.
Thứ hai, nguyên tắc mức đóng bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền
lương của người lao động
Thu nhập của NLĐ từ tiền lương là đối tượng của BHTN. Khi tham gia
BHTN mà NLĐ bị mất việc làm thì tổ chức BHXH phải chi trả trợ cấp để thay thế
tiền lương hoặc bù đắp thu nhập bị mất do NLĐ bị mất việc làm. Bởi tiền lương là
thu nhập chính của NLĐ khi tham gia quan hệ lao động, để bảo đảm đời sống của
bản thân NLĐ và gia đình họ. Đây là nguồn thu nhập tương đối ổn định, tương đối
dễ quản lý và trích nộp. Hơn nữa, đối tượng của BHTN chính là thu nhập của NLĐ.
Khi NLĐ mất thu nhập thì họ được hưởng khoản trợ cấp từ quỹ BHTN thay lương
để bảo đảm đời sống hằng ngày.
Vì thế, pháp luật các quốc gia đều quy định nguồn đóng BHTN là từ tiền
lương của NLĐ. Theo đó, dựa trên sự tính toán về thu chi của quỹ, mà mức trích
nộp được ấn định cụ thể. Nếu NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do nhà
nước quy định thì tiền lương tháng đóng BHTN là tiền lương theo ngạch, bậc và các
khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên nếu có. Nếu NLĐ đóng BHTN theo chế độ
tiền lương do NSDLĐ quyết định thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN là tiền

lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.
Thứ ba, nguyên tắc mức hưởng bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở
mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp
Bảo hiểm thất nghiệp là một trong những hình thức phân phối lại thu nhập,
nên việc thực hiện BHTN phải dựa trên cơ sở sự kết hợp hài hòa giữa cống hiến và
hưởng thụ. Nghĩa là phải căn cứ vào mức đóng góp của NLĐ vào quỹ BHTN để từ
đó quy định mức trợ cấp, các quyền lợi được hưởng. NLĐ không thể được hưởng
BHTN khi có thời gian đóng góp ngắn. Vì thế, pháp luật các quốc gia cũng như
Việt Nam đều quy định điều kiện thời gian đóng để hưởng BHTN.
16


Để đảm công bằng giữa những người tham gia BHTN, mức hưởng BHTN
được tính trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng BHTN. Đây là nguyên tắc luôn
song hành cùng nguyên tắc bảo đảm sự chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia
BHTN. Bởi nếu không dựa trên nguyên tắc này mà chỉ chú trọng nguyên tắc chia sẻ
xã hội, thì khó thu hút NLĐ tham gia BHTN.
Trong cơ chế thị trường, Nhà nước chỉ thực hiện chức năng quản lý nên khi
thực hiện BHTN cần có tỷ lệ tương xứng giữa đóng góp với hưởng thụ của NLĐ,
đảm bảo công bằng xã hội và an toàn tài chính của quỹ BHTN. Nghĩa là phải căn cứ
vào mức đóng góp của NLĐ cho xã hội thể hiện thông qua mức đóng, thời gian
đóng góp cho quỹ BHTN để từ đó quy định mức trợ cấp và độ dài thời gian hưởng
trợ cấp phù hợp với sự đóng góp của NLĐ.
Thứ tư, nguyên tắc việc thực hiện bảo hiểm thất nghiệp phải đơn giản, dễ dàng,
thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia
NLĐ khi tham gia BHTN là nhằm mục đích dự trữ trước một khoản tài
chính, nhằm đề phòng những trường hợp vì lý do nào đó dẫn đến không có việc làm
trong quá trình lao động. Khi gặp rủi ro này, chi phí trong cuộc sống hàng ngày vẫn
phải đảm bảo, trong khi đó lại cần học nghề, tìm kiến việc làm mới. Các khoản tiền
BHTN chi trả giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm đời sống hằng ngày cho

NLĐ và gia đình họ. Chính vì vậy, việc thực hiện BHTN phải đảm bảo đơn giản, dễ
dàng và thuận lợi, để khi thất nghiệp NLĐ nhanh chóng ổn định được cuộc sống.
Nếu không, NLĐ sẽ gặp phải khó khăn khi thực hiện, không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng, không đầy đủ các thủ tục mà pháp luật quy định, thậm chí còn dẫn
tới tình trạng NLĐ đủ điều kiện hưởng BHTN nhưng không được hưởng vì những
vướng mắc trong quá trình thực hiện.
Bên cạnh đó, thực hiện nguyên tắc này còn đảm bảo được mục đích đặt ra
khi thực hiện chế độ BHTN, kịp thời giúp đỡ NLĐ vượt qua khó khăn và sớm tái
hòa nhập vào đời sống lao động.
Thứ năm, nguyên tắc quỹ bảo hiểm thất nghiệp được quản lý tập trung, thống
nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm an toàn và được Nhà nước bảo hộ.
Là quỹ tài chính độc lập và nhằm duy trì BHTN một cách ổn định, lâu dài, nên
quỹ BHTN, cũng như các quỹ BHXH khác, được quản lý tập trung, thống nhất do
17


×