Tải bản đầy đủ (.doc) (16 trang)

Mối qua hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất tiểu luận cao học triết

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (139.15 KB, 16 trang )

TiÓu luËn triÕt häc
LỜI NÓI ĐẦU
Trong công cuộc Đổi mới kinh tế hiện nay ở nước ta, việc nắm vững và
vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đang là vấn đề có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn quan trọng.
Kinh nghiệm đã qua trên thế giới hay ở nước ta đều cho thấy mỗi khi coi
nhẹ điều này thì phải trả giá như thế nào. Trước Đổi mới, chúng ta đã xây
dựng QHSX mới bất chấp tình trạng thấp kém của LLSX. Sự vượt trước này
của QHSX trong khi trình độ của LLSX chưa cho phép đã kìm hãm sự phát
triển của sản xuất xã hội. Đất nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế
xã hội.
Đến Đại hội lần thứ VI của Đảng, với tư duy mới chúng ta nhận ra rằng
QHSX là vật cản của LLSX không chỉ trường hợp QHSX đi sau mà còn cả
trong trường hợp vượt lên trước, tách rời LLSX. Nguyên lý QHSX phải phù
hợp với trình độ của LLSX bao giờ cũng đúng trên mỗi bước phát triển.
Chính vì vậy từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI, chúng ta luôn cố gắng thiết lập
sự đồng bộ giữa các yếu tố trong QHSX, trong LLSX và giữa QHSX với
LLSX. Đại hội Đảng VII đã chỉ rõ: “ ..... phù hợp vưói sự phát triển của
LLSX, thiết lập từng bước QHSX XHCN từ thấp đến cao....”
Lý luận và thực tiễn đã chứng minh tính chân lý của quy luật quan hệ sản
xuất phù hợp với trình độ LLSX. Chúng ta đang trong thời kỳ quá độ lên
CNXH, muốn có QHSX mới theo định hướng XHCN thì trước tiên chúng ta
phải xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH, phát triển LLSX. Ngược lại
để thúc đẩy LLSX thì phải xây dựng từng bước QHSX mới phù hợp với trình
độ phát triển của LLSX mới. Đây là một vấn đề vừa mang tính lý luận vừa
mang tính thực tiễn rất lớn. Với kiến thức và thời gian có hạn trong khuôn
khổ của tiểu luận này người viết chỉ xin được trình bày vấn đề ở khía cạnh

1



TiÓu luËn triÕt häc
hiện nay chúng ta đang xây dựng QHSX phù hợp với trình độ phát triển của
LLSX như thế nào.

2


TiÓu luËn triÕt häc
I. QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ
PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT.

1. Các khái niệm liên quan
Lực lượng sản xuất (LLSX)
LLSX là toàn bộ những năng lực sản xuất của một xã hội nhất
định ở một thời kỳ nhất định.
LLSX biểu hiện mối quan hệ tác động giữa con người với tự
nhiên, biểu hiện trình độ sản xuất của con người, năng lực hoạt
động thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải
vật chất.
LLSX bao gồm TLSX và người lao động, trong đó:
- Tư liệu sản xuất bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao
động. Tư liệu lao động lại được chia thành ba loại là: công cụ lao
động, tư liệu lao động dùng để bảo quản những đối tượng lao
động, gọi chung là "Hệ thống bình chứa của sản xuất" và tư liệu
lao động với tư cách là kết cấu hạ tầng sản xuất. Còn đối tượng
lao động có thể chia thành hai loại là loại có sẵn trong tự nhiên
như gỗ trong rừng, quặng trong lòng đất, tôm cá dưới sông biển và
loại đã trải qua lao động, được cải biến ít nhiều như bông để kéo
sợi, vải để may mặc.

- Người lao động với tri thức và phương pháp sản xuất, kỹ
năng, kỹ xảo và thói quen lao động của họ là yếu tố chủ thể, bao
giờ cũng là LLSX cơ bản, quyết định nhất của xã hội.
- Ngoài tư liệu sản xuất và người lao động hai yếu tố "truyền
thống" của LLSX, ngày nay khoa học cũng được xem và đang thực
sự trở thành LLSX trực tiếp. Những thành tựu của khoa học được

3


TiÓu luËn triÕt häc
vật chất hóa trong tư liệu sản xuất hoặc thông qua kỹ năng của
người lao động có hệ suất cao.
Quan hệ sản xuất (QHSX)
QHSX là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản
xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng sản phẩm xã hội.
Trong quá trình sản xuất, con người không chỉ có quan hệ với
tự nhiên, tác động vào giới tự nhiên, mà còn có quan hệ với nhau,
tác động lẫn nhau. Hơn nữa chỉ có trong quan hệ tác động lẫn nhau
thì con người mới có sự tác động vào tự nhiên và mới có sản xuất.
QHSX là hình thức xã hội của sản xuất, biểu hiện mối quan hệ
giữa người với người trên ba mặt chủ yếu sau:
-

Quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu Tư liệu
sản xuất chủ yếu của xã hội ( quan hệ sở hữu)

-

Quan hệ giữa người với người trong việc tổ chức quản lý

sản xuất xã hội và trong trao đổi hoạt động cho nhau (quan
hệ tổ chức quản lý)

-

Quan hệ giữa người với người trong phân phối và lưu thông
sản phẩm xã hội ( quan hệ phân phối lưu thông)

Các mặt nói trên của QHSX có mối quan hệ mật thiết với nhau,
tác động qua lại lẫn nhau, trong đó quan hệ sở hữu giữ vai trò
quyết định. Tuy vậy, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối
lưu thông cũng có tác động trở lại quan hệ sở hữu.
QHSX trong tính hiện thực của nó không phải là những quan hệ
ý chí, pháp lý mà là quan hệ kinh tế được biểu hiện thành

các

phạm trù, quy luật kinh tế. QHSX mang tính khách quan, không
phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người. Sự thay đổi của các

4


TiÓu luËn triÕt häc
kiều quan hệ sản xuất phụ thuộc vào trình độ phát triển của LLSX
xã hội.
Phương thức sản xuất (PTSX)
PTSX là phương thức khai thác những của cải vật chất bao gồm
tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt cần thiết cho hoạt động tồn tại
và phát triển xã hội.

Sự thống nhất và tác động qua lại giữaLLSX với QHSX tạo
thành PTSX. Hay nói cách khác LLSX và QHSX không phải là hai
bộ phận mà là hai loại quan hệ trong một thực thể thống nhất cấu
thành PTSX.
Về mặt nhận thức luận, đó là hai góc độ tiếp cận để xem xét
một thực thể. Tức là nếu phân tích PTSX theo quan hệ giữa con
người với giới tự nhiên thì đó là phân tích LLSX, nếu phân tích
PTSX ấy theo quan hệ giữa người với người thì đó là phân tích
QHSX.
2. Nội dung của quy luật
Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất
LLSX là yếu tố động nhất, cách mạng nhất, là nội dung vật chất
còn QHSX là hình thức xã hội của nền sản xuất vật chất, nội dung
quyết định hình thức.
Sự vận động, phát triển của LLSX sẽ đòi hỏi, thúc đẩy QHSX
phát triển. Do LLSX là yếu tố động nhất, cách mạng nhất nên
thường phát triển nhanh còn QHSX thường đi sau một bước. Khi
LLSX phát triển mà QHSX chưa theo kịp thì sẽ nảy sinh mâu
thuẫn. Trong xã hội có giai cấp, mâu thuẫn này được biểu hiện
thành mâu thuẫn giữa các giai cấp đối kháng. Mâu thuẫn này tất
yếu dẫn đến đấu tranh giai cấp, nổ ra cách mạng xã hội, thay thế
5


TiÓu luËn triÕt häc
QHSX cũ, lạc hậu bằng QHSX mới tiến bộ hơn, ra đời PTSX cao
hơn trong lịch sử. Lịch sử xã hội loài người đã trải qua các PTSX:
công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ
nghĩa và đang quá độ lên PTSX cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn
đầu là CNXH.

Sự tác động trở lại của QHSX đối với LLSX.
Trong sự thống nhất biện chứng giữa LLSX với QHSX, LLSX
giữ vai trò quyết định đối với QHSX. QHSX phải thay đổi cho phù
hợp với trình độ phát triển của LLSX. Tuy nhiên QHSX không
phải hoàn toàn thụ động mà có tác động trở lại lực lượng sản xuất.
Nếu QHSX phù hợp với trình độ của LLSX thì nó sẽ mở đường
cho LLSX phát triển, ngược lại nó kìm hãm LLSX, mặc dù chỉ là
sự kìm hãm tạm thời.
QHSX có thể tác động đến LLSX vì nó quy định mục đích của
sản xuất, ảnh hưởng đến lợi ích và thái độ của người lao động sản
xuất, yếu tố cơ bản nhất của xã hội.
Tóm lại, LLSX và QHSX nằm trong thể thống nhất của hai mặt
đối lập trong PTSX xã hội nhất định. Chúng quy định, chế ước, tác
động qua lại, thúc đẩy lẫn nhau phát triển, trong đó LLSX luôn
luôn giữ vai trò quyết định, QHSX phải phù hợp với trình độ phát
triển của LLSX. Sự thống nhất mâu thuẫn này không ngừng tự sản
sinh và tự giải quyết, là động lực vận động nội tại của PTSX, cơ
sở phát triển của toàn bộ lịch sử xã hội loài người.
II. VẬN DỤNG QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI
TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀO SỰ
NGHIỆP ĐỔI MỚI CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY.

1. Trình độ của LLS X trong thời kỳ Đổi mới hiện nay ở
nước ta
6


TiÓu luËn triÕt häc
Sau gần 20 năm Đổi mới, với tư duy kinh tế mới, với quyết tâm
cao và với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng cùng với xu thế toàn

cầu hoá kinh tế, LLSX của nước ta dã phát triển một cách mạnh
mẽ từ tư liệu sản xuất đến con người và khoa học công nghệ. Tuy
nhiên, so với trình độ phát triển chung của LLSX trên thế giới thì
LLSX của chúng ta còn có những hạn chế nhất định.
Thứ nhất, trình độ của LLSX của chúng ta hiện nay so với mặt
bằng chung thế giới còn thấp, chúng ta còn đi sau họ hàng thập kỷ.
Điều này được thể hiện rõ trên tất cả các mặt của LLSX:
Về tư liệu sản xuất: Trước đây chúng ta nói chúng ta có “rừng
vàng biển bạc, đất phì nhiêu” , nhưng hiện nay những nguồn lực
này đang ngày càng cạn dần do chúng ta khai thác không có quy
hoạch. Vì thế đối tượng lao động của ngành công nghiệp khai thác
rất ít ỏi. Còn đối tượng lao động là nguyên liệu, đối tượng lao
động của các ngành công nghiệp chế biến thì không được khai
thác có hiệu quả. Cảnh những xe mía nguyên liệu của nông dân
xếp hàng dài trước các nhà máy đường chờ hàng hàng tuần hay
hàng hà sa cây cà phê phải chặt trong mùa thu hoạch là những
cảnh thường thấy trong thời gian gần đây. Tư liệu lao động từ
công cụ lao động, cái được coi là “ xương cốt và bắp thịt” của nền
sản xuất đến tư liệu lao động với tư cách là phương tiện để bảo
quản những đối tượng lao động mà được gọi chung là “hệ thống
bình chứa của nền sản xuất” và tư liệu lao động với tư cách là kết
cấu hạ tầng sản xuất như đường sá, bến cảng, sân bay, phương tiện
giao thông vận tải, điện, nước, thuỷ lợi, bưu điện, thông tin liên
lạc .... nói chung đều lạc hậu so với các nước NIC 20-30 năm và
50 năm đối với các nước phát triển. Chính vì công cụ lao động
phần lớn còn lạc hậu mà lao động thủ công vẫn còn phổ biến ở

7



TiÓu luËn triÕt häc
Việt Nam nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, và “ hệ thống bình
chứa”, kết cấu hạ tầng sản xuất của nền kinh tế quốc dân còn thấp
giá trị gia tăng của nông sản phẩm chúng ta còn thấp.
Về lực lượng lao động, yếu tố cơ bản nhất của LLSX cũng còn
có rất nhiều vấn đề cần phải bàn. Lực lượng lao động Việt Nam
được đánh giá là dồi dào, cần cù, chịu khó và thông minh nhưng
đáng tiếc trình độ lao động của chúng ta nhìn chung còn thấp. Lực
lượng lao động đa số là thiếu kỹ năng, kỹ xảo chưa được đào tạo
chuyên sâu về nghề nghiệp lại thiếu tác phong làm việc công
nghiệp nên giá nhân công của chúng ta rẻ là một điều dễ hiểu.
Chúng ta có nguồn chất xám rất lớn nhưng nguồn lực vô giá này
lại chưa được biến thành sức mạnh vật chất, thúc đẩy lực lượng
sản xuất phát triển.
Về khoa học công nghệ, đến nay khoa học công nghệ nước ta
có nhiều bước phát triển mới, thu được những thành tựu quan
trọng, đóng góp đáng kể vào việc thúc đẩy LLSX phát triển, vào
quá trình phát triển của kinh tế xã hội. Tuy nhiên so với yêu cầu
do Đảng và Nhà nước đặt ra, so với sự phát triển như vũ bảo của
Khoa học công nghệ trên thế giới thì khoa học công nghệ của Việt
Nam vẫn còn nhiều hạn chế, chưa thực sự trở thành yếu tố động
lực cho tăng trưởng kinh tế, tiềm lực khoa học công nghệ chư a
được giải phóng nên trình độ khoa học công nghệ Việt Nam vẫn
còn ở tốp sau của thế giới.
Thứ hai, trình độ LLSX của nước ta hiện nay không chỉ thấp
mà còn phát triển ở nhiều mức độ khác nhau, không đồng đều giữa
các vùng, các ngành. Nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế nông
nghiệp, sản xuất nhỏ là phổ biến, lại trải qua chiến tranh lâu dài.
Do đó, sự phát triển của LLSX rất không đồng đều nhau, giữa các
8



TiÓu luËn triÕt häc
vùng, ngành kinh tế của đất nước, giữa miền xuôi với miền ngược,
giữa thành thị với nông thôn.
Hiện nay, trình độ LLSX trên cả ba mặt là tư liệu sản xuất,
người lao động và khoa học công nghệ giữa các vùng kinh tế của
đất nước như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng với các
vùng kinh tế khác của đất nước đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa,
miền núi, hải đảo, giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và
miền núi còn có sự chênh lệch rõ rệt.
Sự chênh lệch này không chỉ tồn tại giữa các vùng, miền và
giữa các ngành của nền kinh tế quốc dân. Nếu như cơ sở vật chất
kỹ thuật trong các ngành bưu chính viễn thông, ngân hàng, hàng
không đã hiện đại hoá gần hết các khâu, các công đoạn thì trong
các ngành thuộc khu vực kinh tế nông nghiệp vẫn chủ yếu là thủ
công.
Nói tóm lại LLSX của chúng ta mặc dù đã có những bước tiến
mới nhưng trình độ vẫn còn thấp và không đồng đều giữa các
ngành, các vùng.
2. Vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất vào sự nghiệp đổi mới
hiện nay của nước ta.
Đa dạng hoá các hình thức sở hữu.
Sở hữu là một nội dung của QHSX. QHSX giữ vai trò quyết
định đối với hai nội dung còn lại của QHSX. Sự vận động của sở
hữu về hình thức, tính chất và phạm vi, mức độ là do đòi hỏi
khách quan của sự phát triển của LLSX.
Hiện nay nước ta đang trong thời ký chuyển đổi, LLSX do đó,
như đã phân tích ở trên, phát triển chưa cao và có nhiều trình độ

9


TiÓu luËn triÕt häc
khác nhau. Chính vì thế đòi hỏi phải có các hình thức sở hữu
tương ứng, phù hợp với trình độ phát triển của LLSX ở từng vùng,
miền và từng ngành kinh tế khác nhau.
Hiện nay trong nền kinh tế nước ta đang tồn tại nhiều loại hình
sở hữu về tư liệu sản xuất, đó là: sở hữu công cộng, sở hữu tư
nhân và sở hữu hỗn hợp. Trong mỗi loại hình sở hữu tư liệu sản
xuất tồn tại những hình thức sở hữu khác nhau và vì thế trong nền
kinh tế có nhiều hình thức sở hữu: sở hữu nhà nước, sở hữu tập
thể, sở hữu các thể, sở hữu tư bản tư nhân, sở hữu hỗn hợp giữa
nhà nước và tư nhân....
Thực hiện nhất quán đường lối đa dạng hoá hình thức sở hữu
đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của LLSX, đưa nền kinh tế
nước ta từng bước thoát ra khỏi khủng hoảng và hiện nay đang
bước vào thời kỳđẩy mạnh CNH-HĐH.
Xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
Thành phần kinh tế là khu vực kinh tế , kiểu quan hệ kinh tế
dựa trên một hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất.
Trong thời kỳ Đổi mới hiện nay ở nước ta, LLSX tồn tại ở
nhiều thang bậc khác nhau, do đó như đã nêu trên, chế độ sở hữu
về TLSX sẽ có nhiều hình thức, tức là nền kinh tế sẽ có nhiều
thành phần.
Theo tinh thần Nghị quyết IV của Đảng hiện nay nước ta đang
duy trì sáu thành phần kinh tế là kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể,
kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà
nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó kinh tế nhà
nước giữ vai trò chủ đạo.


10


TiÓu luËn triÕt häc
Việc chuyển đổi từ nền kinh tế với hai thành phần kinh tế chủ
yếu là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể trước đây sang nền
kinh tế nhiều thành phần như hiện nay phù hợp với thực trạng thấp
kém và không đồng đều của LLSX trong thời kỳ quá độ. Sự phù
hợp này có tác dụng thúc đẩy tăng năng suất lao động, tăng trưởng
kinh tế, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả kinh tế trong các thành
phần kinh tế và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Mặt khác cơ
cấu kinh tế nhiều thành phần tạo tiền đề khắc phục tình trạng độc
quyền, tạo ra quan hệ cạnh tranh, động lực quan trọng thúc đẩy cải
tiến kỹ thuật, phát triển LLSX.
Thực hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập cá nhân
Tương ứng với trình độ LLSX còn thấp kém lại không đồng
đều là nền kinh tế nhiều thành phân có nhiều hình thức sở hữu và
kéo theo nó là tính tất yếu của đa dạng hoá các hình thức phân
phối thu nhập cá nhân.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ta đã khẳng
định và Đại hội Đảng lần thứ IX cũng tiếp tục khẳng định: “ thực
hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao
động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên
mức đóng góp các nguồn lực khác vào kết quả sản xuất kinh doanh
và phân phối thông qua phúc lợi xã hội.
Sự biến đổi lịch sử của LLSX và QHSX kéo theo sự biến đổi
của quan hệ phân phối. Đồng thời quan hệ phân phối có tác động
trở lại đối với quan hệ sở hữu và do đó đối với LLSX. Phân phối
thu nhập cá nhân(phân phối hiểu theo nghĩa hẹp) phù hợp có vai

trò đảm bảo tái sản xuất sức lao động, kích thích sản xuất phát
triển.

11


TiÓu luËn triÕt häc
Trước đây do chỉ áp dụng một hình thức phân phối duy nhất đã
làm thui chột động lực phát triển của nền sản xuất do cào bằng
mọi lợi ích cá nhân, làm người lao động không có động lực phát
triển. Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới tình
trạng khủng hoảng nền kinh tế Việt Nam những năm 1980.
Việc thực hiện nhiều hình thức phân phối sẽ kích thích lực
lượng lao động trong mọi thành phần kinh tế góp phần đẩy mạnh
sự phát triển của LLSX.

KẾT LUẬN
Quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX là
quy luật chung cho mọi PTSX. Trong nền kinh tế chưa thật sự phát
triển cao, LLSX luôn tồn tại ở nhiều trình độ khác nhau, việc đa
dạng hoá các hình thức sở hữư, xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần và thực hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập là sự
“cởi trói” cho LLSX phát triển, là sự vận dụng sáng tạo quy luật
chung này vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Việc vận dụng này
đang phát huy tốt vai trò của nó, góp phần vào đẩy mạnh tốc độ
tăng trưởng GDP hơn 7% hiện nay của nước ta, góp phần vào nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, ổn định chính trị
xã hội và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Tuy nhiên LLSX là một yếu tố cách mạng, là một yếu tố hết
sức động, còn QHSX là một yếu tố hết sức nhạy cảm do đó đòi hỏi

chúng ta phải luôn nắm vững quy luật và bám sát thực tiễn để có
những phương thức vận dụng đúng đắn, sáng tạo nhằm xây dựng
QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, phát huy tác
dụng của quy luật, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của

12


TiÓu luËn triÕt häc
thời kỳ đổi mới, từng bước xây dựng thành công CNXH ở Việt
Nam.

13


TiÓu luËn triÕt häc

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo trình Triết học Mác - Lênin - Hội đồng Biên soạn giáo
trình quốc gia NXB TCQG, Hà Nội - 2000
2. Giáo trình Triết học Mác - Lênin - 3 tập - HVCTQG Hồ Chí
Minh
4. Mác - Ăng ghen toàn tập, NXB CTQG, 1997, tập 3, 4, 20
5. Lênin toàn tập, NXB Mát - xcơ - va, 1981, tập 33.

14


TiÓu luËn triÕt häc


Tài liệu tham khảo

1. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội 2001.
2. Giáo trình triết học – Dùng cho nghiên cứu sinh và học viên
cao học không thuộc chuyên ngành triết học- Tập I, III, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội 2003.
3. Giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin – Dùng cho khối
ngành kinh tế, quản trị kinh doanh trong các trường đại học,
cao đẳng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2004.
4. Thượng tá, TS học viện chính trị quân sự Hoàng Minh Thảo:
“ Một số vấn đề về sở hữu tư liệu sản xuất sau gần 20 năm
đổi mới ở Việt Nam”, Tạp chí cộng sản số 44, năm 2003.
5. Đại tá, TS kinh tế học viện chính trị quân sự Nguyễn Minh
Khải: “ Bảo đảm định hướng nền kinh tế đa dạng hoá các
hinh thức công hữu”, Tạp chí cộng sản số 48, năm 2003.
6. GS Lê Xuân Tùng: “ Quan hệ sản xuất XHCN không chỉ là
phương tiện để phát triển LLSX”, Tạp chí cộng sản số 4, năm
2003.
7. TS Hồ Ngọc Luật: “ Gắn khoa học công nghệ với sản xuất
kinh doanh thành động lực thúc đẩy CNH-HĐH đất nước”,
Tạp chí cộng sản số 84, năm 2005.
8. Bài phát biểu của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh khai mạc hội
nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX:

15


TiÓu luËn triÕt häc

“ Đánh giá đúng thực trạng, kiến nghị các giải pháp thực
hiện thắng lợi toàn diện nghị quyết đại hội IX của Đảng”.
9. PGS.TS Đặng Hữu Toàn “ Quá độ lên CNXH theo con đường
“Phát triển rút ngắn ở Việt Nam” – Tạp chí cộng sản số

16



×