MỤC LỤC
Lời cam đoan.....................................................................................................................
Lời cảm ơn.........................................................................................................................
Mục lục ..............................................................................................................................
Danh mục bảng.................................................................................................................
Danh mụchình, sơ đồ.........................................................................................................
Phần 1. Đặt vấn đề..............................................................................................................
1.1.
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.....................................................................
1.2
mục tiêu nghiên cứu.............................................................................................
1.2.1
Mục tiêu chung....................................................................................................
1.2.2
Mục tiêu cụ thể....................................................................................................
1.3
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu........................................................................
1.3.1
Đối tượng nghiên cứu..........................................................................................
1.3.2
Phạm vi nghiên cứu.............................................................................................
1.4
Câu hỏi nghiên cứu..............................................................................................
Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về tăng cương liên lết trong chuỗi cung
ứng giống cây lâm nghiệp của hộ nông dân......................................................
2.1
Cơ sở lý luận........................................................................................................
2.1.1.
Một số khái niệm.................................................................................................
2.1.2
Các hình thức và phương thức liên kết kinh tế trong chuỗi cung ứng..............
2.1.3
Nguyên tắc tham gia liên kết trong chuỗi cung ứng giống cây lâm nghiệp
của hộ nông dân.................................................................................................
2.1.4.
Nội dung nghiên cứu liên kết trong chuỗi cung ứng giống cây lâm nghiệp
của hộ nông dân.................................................................................................
2.1.5.
Yếu tố ảnh hưởng đến liên kết trong chuỗi cung ứng giống cây lâm nghiệp
của hộ nông dân trên địa bàn.................................................................................
2.1.6.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu chuỗi cung ứng cây giống trồng rừng sản
xuất....................................................................................................................
2.2.
Cơ sở thực tiễn...................................................................................................
2.2.1
Thực tiễn liên kết ở một số quốc gia trên thế giới..............................................
i
2.2.2
hực tiễn về vấn đề liên kết tại Việt Nam.............................................................
Phẩn 3. Đặc điểm địa bàn & phương pháp nghiên cứu.............................................
3.1.
Đặc điểm địa bàn................................................................................................
3.1.1
Điều kiện tự nhiên.............................................................................................
3.1.2
Điều kiện kinh tế ,xã hội....................................................................................
3.2
Đặc điểm kinh tế-xã hội.....................................................................................
3.3 .
Đánh giá thuận lợi, khó khăn trong chuỗi cung ứng giống cây lâm nghiệp
của hộ nông dân huyện.......................................................................................
3.3.1.
Thuận lợi............................................................................................................
3.3.2
Khó khăn...........................................................................................................
3.2
Phương pháp tiếp cận và khung phân tích.........................................................
3.2.1
Chọn điểm nghiên cứu......................................................................................
3.2.2.
Phương pháp thu thập và xử lý thông tin.........................................................
3.2.3.
Phương pháp phân tích.....................................................................................
3.3.
Hệ thống chỉ tiêu phân tích................................................................................
3.3.1.
Chỉ tiêu phản ánh đặc điểm, hoạt động của tác nhân........................................
3.3.2.
Chỉ tiêu phản ánh mức độ liên kết của tác nhân................................................
3.3.3.
Chỉ tiêu đánh giá kết quả, hiệu quả sản xuất trong chuỗi..................................
3.3.4.
Chỉ tiêu đánh giá các hoạt động quản lý trong chuỗi cung ứng cây giống
trồng rừng sản xuất............................................................................................
Phần 4. Kết qủa nghiên cứu và thảo luận.....................................................................
4.1.
Đánh giá thực trạng liên kết chuỗi cung ứng giống cây lâm nghiệp của hộ
nông dân trên địa bàn huyện đoan hùng tỉnh Phú Thọ........................................
4.1.1
Sơ đồ chuỗi cung ứng giống cây lâm nghiệp của hộ nông dân ở huyện
Đoan Hùng.........................................................................................................
4.1.2.
Vị trí, đặc điểm của các tác nhân tham gia chuỗi cung ứng giống cây lâm
nghiệp................................................................................................................
4.1.3.
Hoạt động và quan hệ của các tác nhân tham gia chuỗi cung ứng giống
cây lâm nghiệp...................................................................................................
4.1.4
Sự liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi cung ứng giống cây lâm nghiệp
...........................................................................................................................
ii
4.2.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động liên kết của chuỗi cung ứng giống cây
lâm nghiệp của hộ nông dân trên địa bàn huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ .
66
4.2.1.
Tác động của thị trường....................................................................................
4.2.2.
Tác động của cơ chế, chính sách nhà nước......................................................
4.2.3.
Tác động của sự phát triển khoa học công nghệ...............................................
4.2.4.
Ảnh hưởng của đầu tư công và dịch vụ công...................................................
4.2.5.
Trình độ tiếp cận các cơ hội phát triển của các tác nhân..................................
4.2.6.
Sự hài hòa trong việc giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế giữa các tác nhân
...........................................................................................................................
4.2.7
Các hoạt động quản lý.......................................................................................
4.3.
Một số giải pháp nhằm nâng c ao liên kết trong chuỗi cung ứng giống cây
lâm nghiệp của hộ nông dân trên địa bàn huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ
78
4.3.1
Chính sách hỗ trợ cho liên kết...........................................................................
4.3.2
Giải pháp đa dạng phương thức vận chuyển cây giống.....................................
4.3.3.
Gíải pháp về khuyến nông và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật..................
4.3.4.
Tổ chức thị trường tiêu thụ sản phẩm theo hướng tập trung.............................
Phần 5. Kết luận và kiến nghị.........................................................................................
5.1.
Kết luận..............................................................................................................
5.2.
Kiến nghị...........................................................................................................
Tài liệu tham khảo...........................................................................................................
Phụ lục ...........................................................................................................................
iii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1
Một số thông tin chủ yếu về hộ cung cấp vật liệu giống..............................
Bảng 4.2. Một số thông tin chủ yếu về hộ sản xuất cây giống trồng rừng sản xuất...........
Bảng 4.3. Một số thông tin chủ yếu về hộ bán buôn vật liệu........................................
Bảng 4.4. Một số thông tin chủ yếu về hộ bán buôn cây giống trồng rừng sản xuất..........
Bảng 4.5. Một số thông tin chủ yếu về cơ sở trồng rừng sản xuất................................
Bảng 4 .6. Phương thức kinh doanh của hộ bán buôn cây giống...................................
Bảng 4.7. Mối quan hệ với khách hàng và tỉ trọng sản phẩm tiêu thụ thông qua
mức độ thân thiết với khách hàng.................................................................
Bảng 4.8. Sự tương trợ giữa các tác nhân với khách hàng trong chuỗi cung ứng
cây giống trồng rừng sản xuất......................................................................
Bảng 4.9. Mối quan hệ với cơ sở cung cấp và tỉ lệ sản phẩm mua thông qua các
mối quan hệ..................................................................................................
Bảng 4.10. Mức độ hợp tác giữa các tác nhân và bạn hàng............................................
Bảng 4.11. Mối liên quan giữa chính sách quản lý giống và nhận thức về giấy
chứng nhận nguồn gốc giống trong sản xuất cây giống...............................
Bảng 4.12. Mối quan hệ giữa sự thuận lợi của cơ sở hạ tầng và giá thành, giá bán
cây giống.......................................................................................................
Bảng 4.13 Mối liên quan giữa hình thức hợp đồng và nợ khó đòi trong chuỗi cung
ứng cây giống trồng rừng sản xuất...............................................................
Bảng 4.14. Lượng sản phẩm hao hụt và tồn kho............................................................
Bảng 4.15 :Giá thành và thu nhập theo quy mô sản xuất................................................
Bảng 4.16: Nguồn thông tin cho sản xuất, kinh doanh cây giống...................................
iv
DANH MỤCHÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 2.2 Các mức độ liên kết trong chuỗi cung ứng Nguồn:..........................................
Sơ đồ 2.1. Chuỗi cung ứng giản đơn.................................................................................
Sơ đồ 2.2. Chuỗi cung ứng mở rộng.................................................................................
Sơ đồ 2.1. Chuỗi cung ứng cây giống trồng rừng sản xuất giản đơn..............................
Sơ đồ 4.1. Mối quan hệ dọc giữa hộ cung ứng vật liệu giống và các tác nhân khác
trong chuỗi cung ứng cây giống trồng rừng sản xuất...................................
Sơ đồ 4.2. Mối quan hệ dọc giữa hộ sản xuất cây giống và các tác nhân khác trong
chuỗi cung ứng cây giống trồng rừng sản xuất.............................................
Sơ đồ 4.3. Mối quan hệ dọc giữa hộ bán buôn vật liệu giống và các tác nhân khác
trong chuỗi cung ứng cây giống trồng rừng sản xuất...................................
Sơ đồ 4.4. Mối quan hệ dọc giữa hộ bán buôn cây giống và các tác nhân khác
trong chuỗi cung ứng cây giống trồng rừng sản xuất...................................
Sơ đồ 4.6. Mối quan hệ dọc giữa cơ sở sử dụng cây giống và các tác nhân khác
trong chuỗi cung ứng cây giống trồng rừng sản xuất...................................
v
PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Để xuất khẩu sản phẩm gỗ và gỗ rừng trồng, Việt Nam phải đáp ứng được tiêu
chuẩn của các nước đối tác như Luật Lacey (9/2010) của Hoa Kỳ, Qui chế
995/2010 của EU,…về việc chứng minh nguồn gốc xuất xứ. Cuối 2015, Cộng
đồng kinh tế Asian chính thức được thành lập, một trong bốn mục tiêu mà họ hướng
tới là “một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất chung”, trong đó có nông lâm
nghiệp (Lê Triệu Dũng, 2015). Điều này đòi hỏi các ngành nông lâm nghiệp nói
chung và sản xuất cây lâm nói riêng phải nhanh chóng tiếp cận để hội nhập với kinh
tế thế giới.
Chuỗi cung ứng là chủ đề “nóng” trong nền kinh tế hiện đại (Xiaoyong
Zhang và cộng sự). Sự hình thành chuỗi cung ứng giúp giảm thiểu tối đa chi phí
trong hệ thống nhưng vẫn tăng cường mức độ dịch vụ, cung cấp những sản phẩm
chất lượng nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng, giúp các
doanh nghiệp, tổ chức tăng sức cạnh tranh, tăng thị phần nhờ việc thúc đẩy tiêu
thụ sản phẩm hiệu quả. Kinh tế thế giới càng phát triển, sự liên kết của các doanh
nghiệp, các đối tác trong các khâu, các lĩnh vực khác nhau trong sản xuất càng
trở lên chặt chẽ. Đây là cơ sở cho sự hình thành và ngày càng lớn mạnh của
chuỗi cung ứng. Chuỗi cung ứng giờ đây không chỉ bó hẹp trong phạm vi các
doanh nghiệp, các vùng, các quốc gia mà hơn thế nó đã phát triển thành mạng
lưới toàn cầu.
Đoan Hùng là huyện miền núi của tỉnh Phú Thọ có diện tích đất lâm nghiệp
khoảng 13.000 ha chiếm 42,9% tổng diện tích đất tự nhiên toàn Huyện (Phòng tài
nguyên và môi trường huyện Đoan Hùng, năm 2015). Đây là điều kiện thuận lợi để
phát triển sản xuất và kinh doanh cây giống lâm nghiệp trên địa bàn huyện. Các
giống cây lâm nghiệp được trồng khá nhiều và phổ biến như keo lai nhân tạo, keo
lai tự nhiên, keo lá tràm, bạch đàn …là nguồn cung cấp vật liệu giống phong phú
cho sản xuất cây giống trồng rừng trong vùng và các địa phương khác. Tuy nhiên,
việc cung ứng giống cây lâm nghiệp tại huyện Đoan Hùng đang đứng trước những
khó khăn và thử thách rất lớn: sản xuất và cung ứng cây giống mang nặng tính tự
phát, mới chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt, chưa hướng tới lợi ích lâu dài để sẵn
sàng hội nhập; tình trạng giống trôi nổi, giống không rõ nguồn gốc, không đảm bảo
1
chất lượng còn tràn lan; liên kết giữa các hộ nông dân trong chuỗi chưa chặt chẽ,
liên kết mang tính hình thức, thậm chí chưa được hình thành; thị trường cung ứng
cây giống không ổn định, giá cả thất thường; lượng cây giống sản xuất bằng công
nghệ cao còn hạn chế; kiểm soát nguồn gốc cây giống còn buông lỏng.
Vấn đề đặt ra cho nghiên cứu là trả lời được các câu hỏi? ii) Những yếu
tố nào ảnh hưởng đến hoạt động của lien kết trong chuỗi cung ứng cây lâm
nghiệp của hộ nông dân trên địa bàn huyện Đoan Hùng? iii) Ưu điểm và hạn chế
trong quá trình hoạt động của các tác nhân trong chuỗi cung ứng giống cây lâm
nghiệp của hộ nông dân trên địa bàn Đoàn Hùng là gì? iv) Giải pháp nào hoàn
thiện liên kết chuỗi cung ứng cây giống cây lâm nghiệp của hộ nông dân? i)
Thực trạng liên kết chuỗi cung ứng giống cây lâm nghiệp của hộ nông dân tại
địa phương?
Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Giải pháp tăng
cường liên kết trong chuỗi cung ứng giống cây lâm nghiệp của hộ nông dân
trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng chuỗi cung ứng giống cây lâm nghiệp của hộ nông
dân trên địa bàn huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ, từ đó đề xuất một số giải pháp
nâng cao liên kết trong chuỗi cung ứng của hộ nông dân nhằm hoàn thiện chuỗi,
góp phần quản lý, thúc đẩy hiệu quả hoạt động của chuỗi, hiệu quả sản xuất và
tiêu thụ giống cây lâm nghiệp của các hộ nông dân trên địa bàn.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về liên kết trong chuỗi cung
ứng giống cây lâm nghiệp
- Đánh giá thực trạng liên kết trong chuỗi cung ứng giống cây lâm nghiệp
của hộ nông dân trên địa bàn huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết trong chuỗi cung ứng giống
cây lâm nghiệp của hộ nông dân trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường liên kết trong chuỗi cung
ứng giống cây lâm nghiệp của hộ nông dân tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ
2
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các liên kết của hộ nông dân trong chuỗi
cung ứng giống cây lâm nghiệp trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
Đối tượng nghiên cứu chính là các hộ nông dân tham gia liên kết trong
chuỗi cung ứng giống cây lâm nghiệp; và các tổ chức khác có liên quan như
UBND huyện, xã, hội phụ nữ, hội nông dân, đoàn thanh niên.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề liên
qua tới liên kết của hộ nông dân trong chuỗi cung ứng giống cây lâm nghiệp ở
Đoan Hùng.
- Phạm vi về thời gian: Đề tài thực hiện từ tháng 9 năm 2016 đến tháng 11
năm 2017.
- Phạm vi về sử dụng tài liệu:
+ Tài liệu thứ cấp là các tài liệu liên quan đã được công bố, thời gian từ năm
2010 đến năm 2016, chủ yếu từ 2015 đến năm 2016.
+ Tài liệu sơ cấp lấy số liệu điều tra năm 2017.
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu trên phạm vi toàn huyện Đoan
Hùng tỉnh Phú Thọ.
1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
* Những hiểu biết khái quát về liên kết trong chuỗi cung ứng
* Các liên kết trong chuỗi cung ứng giống cây lâm nghiệp của hộ nông
dân tại Đoan Hùng diễn ra như thế nào ?
- Các hình thức liên kết, vai trò, quyền lợi, trách nhiệm của các bên như
thế nào?
- Vấn đề trao đổi thông tin về sản phẩm, giá cả, phương thức thanh toán ?
- Giữa các tác nhân có mỗi liên hệ chặt chẽ hay không ?
* Thuận lợi, khó khăn liên kết trong chuỗi cung ứng giống cây lâm
nghiệp của hộ nông dân ?
3
PHẦN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TĂNG CƯƠNG
LIÊN LẾT TRONG CHUỖI CUNG ỨNG GIỐNG CÂY LÂM
NGHIỆP CỦA HỘ NÔNG DÂN
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1. Một số khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm liên kết
Theo từ điển ngôn ngữ học (1992) thì liên kết là kết lại với nhau từ nhiều
thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ. Liên kết (tiếng Anh là “integration”) trong hệ
thống thuật ngữ kinh tế nó có nghĩa là sự hợp nhất, sự phối hợp hay sát nhập của
nhiều bộ phận thành một chỉnh thể. Trước đây khái niệm này được biết đến với
tên gọi là nhất thể hoá và gần đây mới gọi là liên kết. Theo Từ điển Kinh tế học
hiện đại (David.W.Pearce. thì “liên kết kinh tế chỉ tình huống khi mà các khu vực
khác nhau của nền kinh tế thường là khu vực công nghiệp và nông nghiệp hoạt
động phối hợp với nhau một cách có hiệu quả và phụ thuộc lẫn nhau, là một yếu
tố của quá trình phát triển. Điều kiện này thường đi kèm sự tăng trưởng bền
vững.” Tác giả Phạm Thị Minh Nguyệt (2006) cho rằng “Liên kết kinh tế chính
là những phương thức hoạt động của các hình thức hợp tác kinh tế, liên kết kinh
tế phát triển ngày càng phong phú, đa dạng theo sự phát triển của hợp tác kinh tế;
tất cả các quan hệ kinh tế được hình thành giữa hai hay nhiều đối tác với nhau
dựa trên những hợp đồng đã ký kết với những thoả thuận nhất định được gọi là
liên kết kinh tế”. Theo quyết định số 38/1989/QĐ – HĐBT ngày 4 tháng 4 năm
1989 của Hội đồng bộ trưởng về liên kết kinh tế trong sản xuất lưu thông và dịch
vụ và các văn bản của nhà nước thì liên kết kinh tế được hiểu là những hình thức
phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tiến hành để cùng nhau bàn bạc và đề ra
các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất kinh doanh của
mình nhằm thúc đẩy sản xuất theo hướng có lợi nhất. Như vậy liên kết kinh tế là
sự biểu hiện của các hình thức hợp tác, nó phản ánh quan hệ về hợp tác và phân
công lao động trong các quá trình sản xuất xã hội của các ngành, các địa phương,
các đơn vị kinh tế, các thành phần kinh tế... Liên kết kinh tế là sự hợp tác, phối
hợp giữa các chủ thể kinh tế trên cơ sở tự nguyện nhằm thúc đẩy sản xuất kinh
doanh theo hướng có lợi nhất. Liên kết kinh tế có thể diễn ra trong mọi ngành sản
xuất kinh doanh thu hút sự tham gia của tất cả các chủ thể kinh tế có nhu cầu của
mọi thành phần kinh tế và không bị giới hạn bởi phạm vi địa lý
• Liên kết kinh tế trong chuỗi cung ứng giống cây lâm nghiệp.Từ những
4
khái niệm và nội dung về liên kết, liên kết kinh tế ta có thể đưa ra khái niệm về
liên kết kinh tế trong chuỗi cung ứng giống cây lâm nghiệp: liên kết kinh tế trong
chuỗi cung ứng giống cây lâm nghiệp là biểu hiện sự hợp tác, nó phản ánh mối
quan hệ về hợp tác và phân công lao động trong các quá trình sản xuất và tiêu thụ
trong các đơn vị kinh tế, các thành phần kinh tế. Liên kết kinh tế trong chuỗi
cung ứng là hợp tác, phối hợp giữa các chủ thể kinh tế trên cơ sở tự nguyện nhằm
thúc đẩy sản xuất kinh doanh theo hướng có lợi nhất. Liên kết kinh tế trong chuỗi
cung ứng có thể diễn ra và thu hút sự tham gia của tất cả các chủ thể kinh tế có
nhu cầu thuộc mọi thành phần kinh tế và không bị giới hạn bởi phạm vi địa lý.
Liên kết kinh tế trong chuỗi cung ứng giống cây lâm nghiệp là hình thức kết hợp
các đơn vị sản xuất giống cây và tiêu thụ giống cây lại với nhau, dựa trên cơ sở
tự nguyện liên kết lại với nhau trong một khâu hoặc nhiều khâu của quá trình sản
xuất và tiêu thụ giống cây lâm nghiệp để các đơn vị cùng ổn định và phát triển
lâu dài. Đó là sự liên kết giữa hộ nông dân sản xuất và tiêu thụ giống cây lâm
nghiệp với các công ty, cửa hàng dịch vụ nông nghiệp, các tác nhân thu mua, tiêu
thụ. Các hộ nông dân đảm nhiệm sản xuất cây giống; các doanh nghiệp, các dịch
vụ nông nghiệp với tiềm lực kinh tế của mình thực hiện đầu tư vốn, vật tư,
chuyển giao khoa công nghệ cho hộ nông dân... Liên kết kinh tế trong sản xuất
và tiêu thụ cây giống là sự liên kết giữa hộ nông dân, các doanh nghiệp chế biến,
kinh doanh lúa gạo với các tổ chức tín dụng trong đầu tư vốn, với các nhà khoa
học trong nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, với Nhà nước
trong thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
2.1.1.2. Khái niệm liên kết kinh tế
Liên kết kinh tế: Xuất hiện từ lâu nhưng những quan niệm về nó rất khác
nhau, thường không rõ ràng và khá phức tạp. Trong ngôn ngữ gốc La - tinh, thuật
ngữ “integration” hay “integratio” có nghĩa là kết hợp, hòa hợp, hội nhập, hợp nhất
được nhiều nhà nghiên cứu nước ta cho rằng đồng nghĩa với thuật ngữ liên kết
Theo đại từ điển tiếng Việt (1999) khái niệm liên kết là kết lại với nhau từ
nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ nhằm mục đích nào đó
Khái niệm liên kết kinh tế
+ Theo quyết định số 38HĐBT ra ngày 10/04/1989: Liên kết kinh tế là
những hình thức phối hợp hoạt động, do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành để
cùng nhau bàn bạc và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc
sản xuất, kinh doanh của mình, nhằm thúc đẩy sản xuất theo hướng có lợi nhất.
5
+ Nguyễn Đình Phan (1992) đã đưa ra khỏi khái niệm liên kết kinh tế
những hình thức quan hệ kinh tế thông thường như: mua bán trao đổi hàng hóa
thông thường, thuê mướn đất đai, nhà xưởng, địa điểm kinh doanh, cho vay vốn.
+ Dương Bá Thượng (1995) là người tổng kết và phát triển các khái
niệm trước đó khi cho rằng liên kết kinh tế là những hình thức hay những biểu
hiện của sự phối hợp hoạt động giữa các thành viên liên kết không chỉ để thực
hiện quan hệ kinh tế bất kỳ mà là nhằm xích lại gần nhau và ngày càng cố kết,
đi đến thống nhất để đạt đến trình độ gắn bó chặt chẽ, ổn định, thường xuyên,
lâu dài, thông qua những thỏa thuận hợp đồng từ trước giữa các bên và là
khâu trung gian đi đến sát nhập, kết hợp, hợp nhất hình thành một doanh
nghiệp mới, có qui mô lớn hơn và theo đó thực chất của liên kết kinh tế là
“quá trình xã hội hóa sản xuất”
+ Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam định nghĩa liên kết kinh tế là hình
thức hợp tác và phối hợp thường xuyên các hoạt động do các đơn vị tự nguyện
tiến hành để cùng đề ra và thực hiện các chủ trương, biện pháp có liên quan đến
công việc sản xuất kinh doanh của các bên tham gia nhằm thúc đẩy sản xuất kinh
doanh phát triển theo hướng có lợi nhất. Được thực hiện trên cơ sở tự nguyện,
bình đẳng, cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên tham gia
và trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước.
+ Trong các văn bản của nước ta thì liên kết kinh tế được hiểu là các hình
thức phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tiến hành để cùng nhau bàn bạc
và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất kinh
doanh của mình nhằm thúc đẩy sản xuất theo hướng có lợi nhất.
Tóm lại, liên kết kinh tế được xây dựng trên nguyên tắc tự nguyện, bình
đẳng, cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên tham gia và
trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước. Mục tiêu của liên kết kinh tế là tạo ra
mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua hợp đồng kinh tế, hoặc các quy chế hoạt
động để tiến hành phân công sản xuất chuyên môn hóa, hợp tác hóa nhằm khai
thác tốt tiềm năng của mỗi đơn vị tham gia liên kết, hoặc để cùng nhau tạo ra thị
trường chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng đơn vị thành viên, giá cả
cho từng loại sản phẩm, nhằm bảo vệ lợi ích của nhau
6
2.1.1.3 Chuỗi cung ứng
a. Quan điểm về chuỗi cung ứng
Nói về chuỗi cung ứng, có rất nhiều phát biểu, mỗi phát biểu lại có hướng
tiếp cận khác nhau.
Theo Ganeshan and Harrison (1995), chuỗi cung ứng là một mạng lưới các
lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên
liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm, thành phẩm và phân phối
chúng cho khách hàng.
Theo Lee and Billington (1995), chuỗi cung ứng là hệ thống các công cụ để
chuyển hóa nguyên liệu thô từ bán thành phẩm tới thành phẩm, chuyển tới người
tiêu dùng thông qua hệ thống phân phối.
Theo Lambert et al. (1998) cho rằng chuỗi cung ứng là sự liên kết với các
công ty nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ vào thị trường.
Theo Chopra and Meindl (2001), chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản
xuất và nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân
khách hàng.
Mục tiêu của mọi chuỗi cung ứng là tối đa hóa giá trị tạo ra cho toàn hệ
thống. Đối với đa số các chuỗi cung ứng thương mại, giá trị liên quan mật thiết
đến lợi ích của chuỗi cung ứng. Giá trị chính là sự khác biệt giữa doanh thu mà
khách hàng phải trả cho doanh nghiệp đối với việc sử dụng sản phẩm và tổng chi
phí của cả chuỗi cung ứng.
Chuỗi cung ứng tối ưu là chuỗi cung ứng vận hành nhịp nhàng, có khả năng
đáp ứng nhu cầu khách hàng ở mức cao nhất với chi phí vận hành thấp nhất.
Đồng thời, nó phải có hệ thống thông tin được tổ chức khoa học và cập nhật
thường xuyên để giúp các bộ phận phối hợp ăn ý với nhau nhằm phản ứng nhanh
nhạy với những biến động thường xuyên và liên tục của môi trường kinh doanh.
Một chuỗi cung ứng tối ưu sẽ giúp doanh nghiệp thu hút thêm nhiều khách hàng,
gia tăng thị phần, tiết kiệm chi phí, từ đó gia tăng doanh thu và thu nhập (Khuyết
danh, 2009).
Trong hoạt động SXKD, mục tiêu cuối cùng là đảm bảo lợi ích cho các
thành viên tham gia. Muốn lợi ích các bên được đảm bảo phải có sự chia sẻ, liên
kết giữa nhà cung ứng (cung ứng nguyên vật liệu, cung ứng dịch vụ thiết kế, dịch
7
vụ vận chuyển, dịch vụ tài chính, …), nhà sản xuất, nhà tiêu thụ và khách hàng.
Do vậy, ở góc độ kinh doanh, có thể hiểu chuỗi cung ứng là sự kết nối các hoạt
động của nhà cung ứng, nhà sản xuất, nhà tiêu thụ và khách hàng để tạo ra sản
phẩm phục vụ cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội với mục tiêu thỏa
mãn lợi ích kinh tế cho từng tác nhân trong chuỗi.
Nói một cách khác, trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ tập trung phân tích
chuỗi theo định nghĩa chuỗi cung ứng của Lee và Chopra, tức là đi sâu phân tích
sự chuyển hóa vật chất trong chuỗi thông qua các hoạt động của nhà cung ứng,
nhà sản xuất, nhà kinh doanh (tiêu thụ) và khách hàng
b) Thành phần của chuỗi cung ứng
Chuỗi cung ứng giản đơn thường bao gồm 3 đối tượng chính: nhà cung
cấp, công ty và khách hàng (sơ đồ 2.1).
Nhà cung cấp
Công ty
Khách hàng
Sơ đồ 2.1. Chuỗi cung ứng giản đơn
Nguồn: Nguyễn Kim Anh (2006)
Theo Nguyễn Kim Anh (2006), chuỗi cung ứng mở rộng có ba loại đối tượng
tham gia truyền thống:
Loại thứ nhất là nhà cung cấp của các nhà cung cấp hay nhà cung cấp cuối
cùng ở vị trí bắt đầu của chuỗi cung ứng mở rộng.
Loại thứ hai là khách hàng của các khách hàng hay khách hàng cuối cùng ở
vị trí kết thúc của chuỗi cung ứng.
Loại thứ ba là tổng thể các công ty cung cấp dịch vụ cho những công ty khác
trong chuỗi cung ứng. Đây là các công ty cung cấp dịch vụ về hậu cần, tài chính,
tiếp thị và công nghệ thông tin.
Trong chuỗi cung ứng cũng có sự kết hợp của một số công ty thực hiện
những chức năng khác nhau. Những công ty đó bao gồm nhà sản xuất, nhà phân
phối, nhà bán sỉ, nhà bán lẻ và khách hàng cá nhân hay khách hàng là tổ chức.
Những công ty thứ cấp này sẽ có nhiều công ty khác nhau cung cấp hàng loạt
những dịch vụ cần thiết (Nguyễn Công Bình, 2008).
Nhà cung cấp, chủ yếu cung cấp nguyên vật liệu. Nguyên vật liệu có vai trò
rất quan trọng đối với nhà sản xuất, không có nguyên liệu, nhà sản xuất không
8
thể tiến hành các hoạt động chế tạo sản phẩm. Ngoài ra, nhà cung cấp còn cung
ứng vật liệu bao gói cho quá trình tiêu thụ sản phẩm, cung cấp nhiên liệu cho nhà
vận tải, chuyên chở. Nguồn nguyên vật liệu có thể từ sản xuất trong nước, từ
nhập khẩu, ...
Nhà sản xuất có vai trò chế biến nguyên vật liệu thành những sản phẩm phục
vụ nhu cầu của khách hàng. Sản phẩm của nhà sản xuất này có thể là nguyên vật
liệu của nhà sản xuất khác. Nhà sản xuất có thể là công ty hay tổ chức. Sản phẩm
của nhà sản xuất có thể là sản phẩm công nghiệp hoặc nông, lâm nghiệp. Khách
hàng là người trực tiếp sử dụng sản phẩm của chuỗi. Khách hàng có thể là cá
nhân hay tổ chức.
Khách hàng có vị trí quan trọng trong sự tồn tại của chuỗi cung ứng sản
phẩm. Ứng xử của khách hàng đối với sản phẩm sẽ quyết định sự thay đổi của
chuỗi cung ứng.
Kết nối giữa nhà sản xuất và khách hàng là nhà phân phối, bao gồm nhà
bán sỉ và nhà bán lẻ. Nhà bán sỉ có vai trò cung ứng hàng hóa ra bên ngoài thông
qua người bán lẻ hoặc có thể bán trực tiếp ra thị trường nhưng với số lượng lớn
hơn so với khách hàng mua lẻ (Nguyễn Kim Anh, 2006). Nhà bán lẻ là nơi trực
tiếp cung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng và có mối quan hệ trực tiếp với
khách hàng.
Nhà cung cấp dịch vụ phục vụ cho nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ
và khách hàng về cung cấp vận tải, cung cấp dịch vụ tài chính, cung cấp các dịch
vụ khác. Hệ thống vận tải, chuyên chở,…là những nhân tố tạo nên sự thành công
của một chuỗi cung ứng. Hệ thống này giúp nguyên vật liệu đến tay người sản
xuất, hàng hóa đến tay người tiêu dùng. Nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp
các dịch vụ về cho vay, thu nợ, đáo hạn (ngân hàng, quỹ tín dụng, công ty thu nợ,
…). Ngoài ra, còn có các dịch vụ nghiên cứu thị trường, quảng cáo, thiết kế sản
phẩm, dịch vụ tư vấn kỹ thuật, tư vấn pháp lý, …
Nhà cung
cấp cuối
cùng
Nhà cung
cấp
Công ty
Nhà cung cấp
dịch vụ
9
Khách
hàng
Khách hàng
cuối cùng
Sơ đồ 2.2. Chuỗi cung ứng mở rộng
Như vậy, xét một cách khái quát, sản phẩm được hình thành khi vật chất
đi dọc qua các tác nhân. Theo Huỳnh Thị Thu Sương (2012), vật chất sẽ dịch
chuyển giữa các tác nhân và qua mỗi tác nhân lại tạo thêm một phần giá trị cho
sản phẩm. Lấy một tác nhân nào đó trong chuỗi làm qui chiếu, nếu xét các hoạt
động trước nó (chiều nguyên vật liệu đến) người ta gọi là các hoạt động ngược
dòng, những hoạt động của các tác nhân phía sau nó (chiều sản phẩm ra ngoài)
được gọi là các hoạt động xuôi dòng
2.1.2 Các hình thức và phương thức liên kết kinh tế trong chuỗi cung ứng
Các hình thức liên kết trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh giữa
các tác nhân là những pháp nhân độc lập rất đa dạng, tuy nhiên có thể nêu các
hình thức liên kết cơ bản:
a. Các hình thức liên kết
• Hợp đồng bằng văn bản (Hợp đồng chính thống)
Liên kết theo hợp đồng là quan hệ mua bán chính thức được thiết lập
giữa các tác nhân trong việc mua nguyên liệu hoặc bán sản phẩm. Hợp đồng là
sự thỏa thuận giữa nông dân và các cơ sở sản xuất hoặc tiêu thụ về việc tiêu thụ
trong tương lai và thường với giá đặt trước. Đây là hình thức kinh tế hợp tác
trực tiếp, quan hệ giữa hai bên nên bị ràng buộc bởi bản hợp đồng, do đó nó có
tính ổn định hơn. Quan hệ hợp tác trên cơ sở hợp đồng được thực hiện dưới hai
hình thức:
- Hợp đồng trên cơ sở cá nhân: Là quan hệ trực tiếp giữa người sản xuất
cây giống (như nông hộ, trang trại) với cơ sở thu mua được thực hiện thông qua
hợp đồng ký kết với hai bên. Các chủ thể có trách nhiệm giao nộp sản phẩm đúng
thời hạn, địa điểm, số và chất lượng cho cơ sở thu mua. Ngược lại cơ sở thu mua
có trách nhiệm nhận sản phẩm (cây giống) và thanh toán hợp đồng cho bên kia.
Bên nào vi phạm sẽ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo thỏa thuận.
- Hợp đồng trên cơ sở nhóm: Có hai dạng
+ Dạng thứ nhất: Hợp tác thông qua hiệp hội. Hiệp hội là tập hợp các
nhà sản xuất có cùng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của quá trình sản xuất
trên thị trường. Hiệp hội thay mặt các nhà sản xuất ký hợp đồng chung với cơ sở
chế biến về thời gian giao nộp sản phẩm, địa điểm, số và chất lượng, giá cả
cũngnhư phương thức thanh toán.
10
+ Dạng thứ hai: Hợp tác thông qua hợp tác xã dịch vụ. Những người sản
xuất có quan hệ gián tiếp với cơ sở chế biến và quan hệ trực tiếp với các hợp tác
xã dịch vụ. Hợp tác xã thay mặt người sản xuất đứng ra ký hợp đồng với cơ sở
thu mua, trực tiếp thanh toán, nhận, trả với cơ sở chế biến sau đó thanh toán cho
từng cơ sở sản xuất (hoặc từng hộ nông dân). Đối với liên kết kinh tế giữa
doanh nghiệp chế biến với người sản xuất (nông dân) thì chịu sự tác động của
nhiều nhân tố kinh tế, kỹ thuật, chính trị, xã hội khác nhau. Về mặt kinh tế, nhân
tố quy định mạnh mẽ nhất là chế độ kinh tế - xã hội, tức chế độ sở hữu và cơ chế
vận hành nền kinh tế, bởi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đặc điểm
ngành nghề, sản phẩm nguyên liệu cụ thể, nhân tố chính trị - xã hội cũng có tác
động nhất định đến liên kết.
• Hợp đồng miệng
Hợp đồng miệng là các thỏa thuận không được thể hiện bằng văn bản giữa
các tác nhân cam kết cùng nhau thực hiện một số hoạt động công việc nào đó.
Hợp đồng miệng cũng được hai bên thống nhất về số lượng, chất lượng, giá cả,
thời hạn và địa điểm giao nhận hàng. Cơ sở của hợp đồng miệng là niềm tin, độ
tín nhiệm, trách nhiệm cam kết thực hiện giữa các bên tham gia hợp đồng. Hợp
đồng miệng thường được thực hiện giữa các tác nhân có quan hệ thân thiết như
(họ hàng, bạn bè, anh em ruột…) hoặc giữa các tác nhân đã có quá trình hợp tác,
liên kết sản xuất-kinh doanh với nhau mà trong suốt thời gian hợp tác luôn thể
hiện được nguồn lực tài chính, khả năng tổ chức và trách nhiệm giữ chữ tín với
các đối tác. Tuy nhiên hợp đồng miệng chỉ là các thỏa thuận trên nguyên tắc về
số lượng, giá cả, điều kiện giao nhận hàng hóa. Việc tăng khả năng tiếp cận các
công nghệ kĩ thuật mới giúp nông dân giải phóng sức lao động, cho phép giảm
giá thành và tăng khả năng cạnh tranh của hàng nông sản. Đây là hướng tích cực
và có nhiều triển vọng cho hàng triệu hộ nông dân sản xuất nhỏ chưa có điều
kiện để tích lũy đất đai, có điều kiện áp dụng công nghệ mới trong sản xuất.
• Phương thức liên kết
Liên kết kinh tế có thể tiến hành theo các phương thức chiều dọc (liên kết
dọc) hoặc chiều ngang (liên kết ngang), trong nội bộ ngành hoặc giữa các 12 ngành,
trong một quốc gia hay nhiều quốc gia, trên phạm vi khu vực và quốc tế. Cụ thể:
Liên kết theo chiều ngang: (làm chủ thị trường) là hình thức liên kết mà
trong đó mỗi tổ chức hay cá nhân tham gia là một đơn vị hoạt động độc lập nhưng
11
có quan hệ với nhau thông qua một bộ máy kiểm soát chung. Trong liên kết này mỗi
thành viên tham gia có sản phẩm hoặc dịch vụ cạnh tranh nhau nhưng họ liên kết lại
để nâng cao khả năng cạnh tranh cho từng thành viên nhờ phát huy tính lợi ích kinh
tế, nhờ quy mô của tổ chức liên kết kinh tế. Việc liên kết này cho thấy có hiệu quả
tốt đặc biệt đối với những người kinh doanh quy mô nhỏ hoặc nông dân, liên kết tạo
cho họ khả năng làm chủ thị trường, giúp họ hạn chế được sự ép cấp, ép giá của tư
thương hay các cơ sở chế biến. Kết quả của liên kết theo chiều ngang là hình thành
nên những tổ chức liên kết như hợp tác xã, liên minh, hiệp hội… và cũng có thể dẫn
đến độc quyền trong một thị trường nhất định.
Trong chuỗi cung ứng, liên kết ngang là liên kết giữa các tác nhân trong
cùng một khâu của chuỗi như liên kết giữa những người sản xuất với nhau hay liên
kết giữa các doanh nghiệp cùng hoạt động trong cùng lĩnh vực. Liên kết ngang
nhằm tận dụng lợi thế nhờ quy mô để nâng cao hiệu quả hoạt động của chuỗi.
Liên kết theo chiều dọc: là liên kết được thực hiện theo trật tự các khâu
của quá trình sản xuất kinh doanh (theo dòng vận động của sản phẩm). Kiểu liên
kết theo chiều dọc toàn diện nhất bao gồm các giai đoạn từ sản xuất, từ chế biến
nguyên liệu đến phân phối thành phẩm. Trong liên kết này thông thường mỗi tác
nhân tham gia vừa có vai trò là khách hàng của các tác nhân trước đó đồng thời
là người cung cấp sản phẩm cho các tác nhân tiếp theo của quá trình sản xuất
kinh doanh. Kết quả của liên kết dọc là hình thành nên chuỗi giá trị của một
ngành hàng và có thể giảm đáng kể chi phí vận chuyển, chi phí cho khâu trung
gian. Chẳng hạn thương lái thu gom là khách hàng của các hộ nông dân sản xuất
lúa nhưng lại là người cung cấp nguyên liệu cho các doanh nghiệp xay xát, chế
biến gạo. Chúng ta chia thành hai phương thức liên kết như trên, nhưng trong bất
kỳ một ngành hàng nào chúng ta cũng có thể thấy sự xuất hiện của hai phương
thức liên kết này và mỗi tác nhân có thể đồng thời tham gia cả hai phương thức
liên kết nói trên.Liên kết ngang Liên kết dọc
Trong chuỗi cung ứng, liên kết dọc là liên kết giữa các tác nhân trong các
khâu khác nhau của chuỗi như liên kết giữa người sản xuất, là liên kết được thực
hiện theo trật tự các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh (theo dòng vận động
của sản phẩm) với cung ứng vật tư đầu vào (còn gọi là liên kết ngược), hay với
người thu mua và doanh nghiệp chế biến (còn gọi là liên kết xuôi). Mục đích của
liên kết dọc là nhằm tiết kiệm các chi phí sản xuất, đảm bảo sự ổn định, chất
lượng trong hoạt động của chuỗi thông qua giám sát và quản lý chuỗi.
12
b) Các hình thức liên kết kinh tế
Tùy theo căn cứ để phân chia có thể có nhiều loại hình liên kết kinh tế
khác nhau. Mỗi một cách phân chia biểu hiện những thuộc tính khác nhau của
liên kết kinh tế giúp cho việc nhận thức và thực hiện hiệu quả liên kết kinh tế.
- Căn cứ theo quan hệ kinh tế - kỹ thuật có các loại hình liên kết sau:
+ Liên kết dọc (Vertical integration): là liên kết giữa các doanh nghiệp, cơ
sở sản xuất - kinh doanh khác ngành nhưng có mối quan hệ kinh tế - kỹ thuật
trong toàn bộ hoặc một phân đoạn của một dây truyền công nghệ sản xuất - lưu
thông từ nguyên liệu ban đầu đến sản phẩm tiêu dùng cuối cùng.
+ Liên kết ngang (Horizontal integration): là liên kết giữa các doanh
nghiệp, cơ sở sản xuất - kinh doanh trong cùng một ngành hàng cùng phối hợp
hoạt động cho một mục đích chung hoặc thực hiện chuyên môn hóa trong ngành
để góp phần tạo ra cùng một loại sản phẩm.
+ Liên kết nghiêng: là liên kết giữa các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất –
kinh doanh về lĩnh vực chuyên môn, khoa học, công nghệ không phân biệt cùng
ngành hay khác ngành.
- Căn cứ theo cấu trúc thành phần, có các loại hình liên kết sau
+ Liên kết song phương: là liên kết giữa hai chủ thể kinh tế độc lập.
+ Liên kết đa phương: là liên kết giữa nhiều chủ thể kinh tế độc lập.
Liên kết đa phương có thể kết cấu thành các loại hình cụ thể khác nhau:
Liên kết chuỗi: là liên kết nhiều doanh nghiệp, chủ thể kinh tế cùng tham
gia vào một chuỗi cung cấp, thực hiện quá trình nhiều công đoạn khác nhau theo
một dây chuyền nhằm sản xuất và đưa một sản phẩm hay dịch vụ vào thị trường.
Liên kết mạng (lưới): là liên kết nhiều doanh nghiệp vừa cùng ngành vừa
khác ngành nhưng có mối quan hệ kinh tế - kĩ thuật với nhau. Liên kết mạng là
tổng hợp liên kết dọc, ngang và nghiêng.
Liên kết hình sao: là liên kết của nhiều doanh nghiệp, chủ thể kinh tế
thông qua một doanh nghiệp, chủ thể kinh tế đóng vai trò trung tâm điều phối.
- Căn cứ theo hình thức tổ chức pháp lý, có các loại hình liên kết sau
+ Hợp đồng liên kết kinh tế: giữa các bên tham gia liên kết mang tính chất
dài hạn nhưng chưa trở thành tổ chức, để phối hợp hoạt động trong quá trình sản
13
xuất - kinh doanh (khác với hợp đồng mua bán thông thường).
+ Liên minh kinh tế: là một tổ chức đồng minh kinh tế giữa các bên
kết để phối hợp hoạt động trong quá trình sản xuất - kinh doanh.
liên
+ Hiệp hội kinh tế: là tổ chức liên kết các chủ thể kinh tế độc lập tự chủ có
mối quan hệ kinh tế khách quan để đại diện cho quyền lợi của các thành
viên liên kết, cùng hợp tác để nâng cao sức mạnh cạnh tranh, góp sức vào
các hoạt động chung phục vụ cho lợi ích chung của các thành viên.
+ Liên hợp kinh tế: là tổ chức liên kết các chủ thể kinh tế độc lập tự chủ
có mối quan hệ kinh tế - kỹ thuật chặt chẽ theo chiều ngang hoặc chiều dọc để
cùng nhau sản xuất ra một hoặc nhiều sản phẩm.
- Căn cứ theo chức năng kinh tế, có các loại hình liên kết sau
+ Liên kết trao đổi: là liên kết nhằm trao đổi một đối tượng này để nhận về
một đối tượng khác có giá trị tương đương.
+ Liên kết hợp lực: là việc các bên liên kết cùng nhau góp nguồn lực kinh
tế như: tiền vốn, nhân lực, công nghệ, tri thức để cùng làm một việc chung hoặc
cùng chung tiếng nói để đấu tranh cho một lợi ích chung trong lĩnh vực chính
sách quản lý vĩ mô của nhà nước.
+ Liên kết phân chia: là việc các bên liên kết cùng nhau thỏa thuận phân
chia khu vực cung ứng nguyên liệu đầu vào hoặc thị trường đầu ra để giảm rủi ro
do cạnh tranh lẫn nhau.
+ Liên kết ủy nhiệm: là việc một bên liên kết ủy nhiệm cho bên kia làm
một việc nào đó cho mình.
- Căn cứ vào mối quan hệ với môi trường ngoài, có các loại hình
+ Liên kết đóng: là liên kết mà mỗi một thành viên tham gia liên kết chỉ
được quan hệ kinh tế trong phạm vi nội bộ tổ chức liên kết trên một nội dung đã
liên kết.
+ Liên kết mở: là liên kết mà mỗi thành viên tham gia liên kết vẫn có
quyền thiết lập quan hệ kinh tế với các đối tác bên ngoài liên kết trên nội dung
đã liên kết.
- Căn cứ theo phạm vi liên kết, có các loại hình liên kết: Liên kết giữa các
doanh nghiệp, liên kết giữa các vùng lãnh thổ, liên kết giữa các vùng kinh tế, liên
kết giữa các thành phần kinh tế, liên kết kinh tế quốc tế.
14
c. Các nội dung liên kết kinh tế trong sản xuất nông nghiệp
Nội dung liên kết trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu gồm 3 nội dung sau:
- Liên kết trong việc ung ứng nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản
xuất ( giống, vốn, thức ăn, phân bón, thuốc trừ sâu bệnh).
Đây là hình thức liên kết thường được tiến hành giữa các cửa hàng, đại lý,
công ty, doanh nghiệp, nhà khoa học….với người sản xuất (nông dân), bên cạnh
đó còn có hình thức liên kết giữa các doanh nghiệp, giữa các nhà khoa học hay
giữa các người sản xuất với nhau chủ yếu là cung ứng nguyên liệu đầu vào mà
họ cùng sản xuất. Người sản xuất có tư liệu sản xuất (đất đai, sức lao động…), họ
cần các nguyên liệu đầu vào là giống, phân bón, thức ăn…Khi thực hiện các
mối liên kết này các cửa hàng, đại lý, công ty, doanh nghiệp, nhà khoa học…sẽ
đứng ra ký kết các hợp đồng hoặc thỏa thuận trực tiếp với người sản xuất hoặc
thông qua địa phương. Qua hình thức này các nhà cung ứng đầu vào sẽ cung
cấp các đầu vào để người sản xuất có vật tư đầu vào và họ sản xuất. Như vậy,
thông qua mối liên kết này, các nhà cung ứn nguyên liệu đầu vào sẽ bán được sản
phẩm mà mình sản xuất ra và thu lại lợi nhuận cho cơ sở, tổ chức, đơn vị mình.
Đồng thời người sản xuất lại có đầu vào để sản xuất với cam kết đảm bảo số
lượng, chất lượng ….vật tư đầu vào. Khi liên kết này được thực hiện đều mang
lại lợi ích cho các bên tham gia. Từ đó người sản xuất sẽ chủ động về các nguồn
nguyên liệu đầu vào và sẽ yên tâm sản xuất hơn. Có các dạng chủ yếu sau:
+ Ứng trước vật tư, vốn, hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ, mua bán lại nông sản.
+ Bán vật tư, mua lái sản phẩm.
- Liên kết trong quá trình sản xuất (trong chuyển giao khoa học kỹ
thuật, trong phòng trừ sâu bệnh).
+ Liên kết trong chuyển giao khoa học kỹ thuật: Đây là một hình thức liên
kết thường được tiến hành giữa nhà khoa học (cơ sở trường đại học, viện nghiên
cứu, cán bộ kỹ thuật ở doanh nghiệp hay địa phương…) đối với người
sản xuất (nông dân). Theo hình thức liên kết này, thông qua đó nhà khoa học sẽ
chuyển giao những tiến bộ KHKT cho người nông dân. Khi đã được chuyển
giao khoa học kỹ thuật người nông dân tiếp nhận nó và đưa vào sản xuất nhằm
tạo ra những sản phẩm nông nghiệp có chất lượng tốt hơn. Trong liên kết đó
người ta ký trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua địa phương ký kết các hợp đồng
hoặc bằng thỏa thuận miệng với nhau để chuyển giao các tiến bộ KHKT. Khi
15
liên kết theo hình thức này người nông dân sẽ tiếp nhận các tiến bộ KHKT mới
để áp dụng vào sản xuất, đổi lại người nông dân sẽ phải trả chi phí cho người,
cơ quan tổ chức đã chuyển giao tiến bộ KHKT đó. Liên kết được thực hiện chủ
yếu là liên kết giữa các hộ nông dân trong việc trao đổi kinh nghiệm, kỹ thuật
sản xuất, phòng trừ dịch bệnh cây trồng, vật nuôi.
+ Liên kết trong phòng chống dịch bệnh:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh nông nghiệp người sản xuất gặp rất
nhiều khó khăn, rủi ro; một trong những rủi ro mà nông dân gặp phải đó là dịch
bệnh của cây trồng, vật nuôi. Khi rủi ro xảy ra, trước hết gây thiệt hại trực tiếp
cho bản thân người nông dân và phần nào ảnh hưởng đến lợi ích các tác nhân liên
quan. Do vậy, việc tiến hành liên kết trong phòng chống dịch bệnh luôn được nhà
nông cũng như các tác nhân liên quan quan tâm thực hiện.
Đây là hình thức liên kết thường được tiến hành giữa nhà khoa học, doanh
nghiệp với người sản xuất (nông dân) trong công tác phổ biến kỹ thuật hay tiến
hành phòng trừ dịch bệnh cho cây trồng vật nuôi. Liên kết đó thường được sự trợ
giúp, hỗ trợ từ nhà nước, được tiến hành thông qua chính quyền hay tổ chức đoàn
thể ở địa phương. Bên cạnh dạng liên kết chủ đạo đó thì liên kết giữa các hộ
nông dân trong việc trao đổi những kinh nghiệm về phòng chống dịch bệnh cũng
được tiến hành.
Việc thực hiện liên kết trong phòng chống dịch bệnh cho cây trồng, vật
nuôi là công tác khó khăn và cả những chi phí tăng thêm cho quá trình sản
xuất. Tuy nhiên, việc thực hiện tốt công tác đó sẽ mang lại lợi ích cho việc phát
triển bền vững, hạn chế rủi ro trong sản xuất kinh doanh của các tác nhân.
- Liên kết trong tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ luôn là nỗi lo của người nông dân. Thực tế cho thấy “được mùa
nhưng rớt giá”, nông sản rẻ như bèo, tư thương ép giá, thu nhập giảm, có khi hòa
vốn đầu tư đã là mừng…Đây là tình trạng phổ biến, là thứ bệnh “kinh niên” chưa
được “chữa trị”. Trong cơ chế thị trường sản phẩm nông nghiệp theo hướng hàng
hóa để bán chứ không “tự sản tự tiêu” như trước đây. Thị trường tự do bão hòa,
không đủ sức tiêu thụ, khiến nông dân nhiều khi phải đổ đi, không biết bán cho
ai. Chính vì thế nhu cầu liên kết trong khâu tiêu thụ sản phẩm là một nhu cầu
thiết yếu nhằm mục đích bao tiêu sản phẩm sản xuất ra của người nông dân.
Trong mối liên kết này người sản xuất thường liên kết với các doanh nghiệp,
16
cơ sở tiêu thụ sản phẩm….Họ trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua các tổ chức chính
quyền, các tổ chức cá nhân trung gian) ký kết hợp đồng hoặc thỏa thuận miệng với
cam kết về số lượng, chất lượng….để cung cấp các sản phẩm mà mình sản xuất ra
cho các nhà thu mua. Còn nhiệm vụ của đơn vị, tổ chức thu mua….sẽ phải bao tiêu
hết số lượng như đã cam kết với người dân. Mỗi bên liên kết đều mang lại lợi ích
cho nhau theo đó thì lợi ích mà người nông dân được hưởng là được bao tiêu sản
phẩm mà mình làm ra với giá ổn định, giảm thiểu rủi ro khi được mùa mất giá. Gắn
với nó thì nhà sản xuất (doanh nghiệp, đơn vị chế biến, tiêu thụ…) cũng sẽ có nguồn
nguyên liệu đầu vào ổn định cho việc sản xuất - kinh doanh của mình. Trong nội
dung liên kết này các tổ chức, đơn vị tiêu thụ có thể thực hiện dưới hình thức mua
bán hay ứng trước một phần chi phí đầu vào….để đảm bảo nhà sản xuất sẽ cung ứng
đầu vào cho mình, gắn với mỗi nội dung liên kết thì lợi ích, chi phí của mỗi bên
nhận được và bỏ ra sẽ thay đổi theo hợp đồng, cam kết giữa các bên.
d. Nguyên tắc và đặc trưng của liên kết kinh tế
- Các nguyên tắc của liên kết kinh tế: Xuất phát từ bản chất, đặc
điểm và các điều kiện tồn tại, liên kết kinh tế hình thành và phát triển theo
3 nguyên tắc cơ bản sau đây:
+) Nguyên tắc tự nguyện và thỏa thuận
Liên kết kinh tế cũng như quan hệ thị trường là kiểu quan hệ kinh tế giữa
các chủ thể kinh tế tự chủ cho nên tự nguyện và thỏa thuận là nguyên tắc xác lập
mối quan hệ này. Nguyên tắc tự nguyện và thỏa thuận là sự bảo đảm cho liên kết
kinh tế hình thành và phát triển trên cơ sở nhu cầu và điều kiện kinh tế khách
quan của mỗi bên và do đó mới có tính khả thi và bền vững.
Nguyên tắc tự nguyện, thỏa thuận không cho phép có sự áp đặt từ bên
ngoài, hoặc của bên này với bên kia của liên kết. Nguyên tắc tự nguyện cũng đặt
ra cách ứng xử của nhà nước đối với các bên tham gia liên kết, chỉ có thể hỗ trợ,
dẫn dắt, giám sát chứ không thể sử dụng mệnh lệnh hành chính để hình thành
hoặc can thiệp vào quá trình vận hành của các liên kết. Mọi quyết định, điều
khoản liên kết phải được đưa ra trên cơ sở bàn bạc đi đến thống nhất giữa các
bên tham gia liên kết.
+) Nguyên tắc định trước quá trình phối hợp hành động (kế hoạch hóa.
Định trước là nguyên tắc không chỉ của thế chế kế hoạch mà còn là nguyên
tắc vận hành và là đặc trưng của liên kết kinh tế. Sự định trước bảo đảm cho liên
17
kết kinh tế đạt mục tiêu ổn định, hạn chế rủi ro, tiết kiệm chi phí trong quá trình sản
xuất và lưu thông hàng hóa. Trong liên kết kinh tế, sự định trước được thể hiện
trong hợp đồng, hiệp định, quy chế, điều lệ, phương án, dự án phối hợp hành động.
Nội dung định trước có thể bao gồm số lượng, chất lượng đối tượng sản phẩm, dịch
vụ trao đổi, mua bán; giá cả thanh toán; phương thức giao nhận, thanh toán hoặc là
những cơ chế, quy tắc tổ chức và phối hợp hành động; trách nhiệm, quyền lợi,
quyền hạn của các bên tham gia liên kết.
- Nguyên tắc chia sẻ lợi ích và rủi ro
Nguyên tắc này là một đặc điểm riêng có của liên kết kinh tế so với thể
chế thị trường. Trong mối quan hệ liên kết, tính chất hợp tác lâu dài đi liền với
lợi ích lâu dài và tình cảm bạn hàng là lý do dẫn đến việc hai bên tất yếu phải
chia sẻ lợi ích và rủi ro cho nhau sẽ giúp cho quan hệ liên kết trở lên bền vững,
lâu dài. Chia sẻ lợi ích và rủi ro là động lực của liên kết kinh tế.
Chia sẻ lợi ích trong liên kết kinh tế đòi hỏi xử lý hài hòa mối quan hệ lợi
ích giữa các bên liên kết một cách công bằng, tương xứng với chi phí, công sức,
nỗ lực mà mỗi bên bỏ ra trong quá trình phối hợp hoạt động như là một quá trình
kinh tế thống nhất hướng đến hiệu quả kinh tế cuối cùng.
Biểu hiện tập trung của sự chia sẻ lợi ích và rủi ro trong liên kết kinh tế
là cách thức xác định khối lượng giao dịch và giá cả trao đổi có sự khác biệt so
với thị trường nơi mà trong đó lợi ích của mỗi bên do giá cả và quan hệ cung
cầu của thị trường khách quan qyết định; không phụ thuộc vào ý chí của các
bên giao dịch; không là sự chia sẻ lợi ích và rủi ro giữa các đối tác từ hiệu quả
kinh tế chung.
Tóm lại: Do vị trí trung gian của mình, các nguyên tắc cơ bản của liên kết
kinh tế biểu hiện tính kết hợp, giao thoa giữa các nguyên tắc của thể chế thị
trường và kế hoạch hóa.
e. Các đặc trưng của liên kết kinh tế
- Đặc trưng thứ nhất: Liên kết kinh tế là một quan hệ kinh tế chỉ có thể
diễn ra giữa hai hoặc nhiều chủ thể kinh tế độc lập, tự chủ về kinh tế, có quyền
sở hữu tài sản hoặc quyền sử dụng tài sản của mình và do đó theo quy luật quan
hệ sở hữu quyết định quan hệ quản lý nên quan hệ giao dịch với nhau giữa các
“người chơi” trong liên kết kinh tế chỉ có thể diễn ra theo “luật chơi” tự nguyện,
thỏa thuận, cùng có lợi và tin tưởng lẫn nhau. Tuy nhiên, đặc trưng này cũng là
18
đặc trưng của thể chế thị trường.
- Đặc trưng thứ hai: Liên kết kinh tế là một quan hệ ràng buộc chặt chẽ
với nhau theo một kế hoạch định trước dài hạn trong tương lai hoặc thường
xuyên. Tính định trước trong tương lai tự nó không nhất thiết phải là quan hệ
thường xuyên, theo đó một quan hệ giao dịch dù chỉ xảy ra một lần giữa hai đối
tác độc lập một cách tự nguyện, cùng có lợi và được và được định trước diễn ra
trong một thời gian nhất định vẫn là một liên kết kinh tế. Ngược lại đã là một
quan hệ thường xuyên lâu dài thì tất yếu phải mang tính định trước. Tuy nhiên
“luật chơi” này cũng là đặc trưng của thể chế kế hoạch.
- Đặc trưng thứ 3: Liên kết kinh tế là một trong những hình thức phối hợp
hoạt động giữa các chủ thể kinh tế, chứ không phải là sự phối hợp hoạt động
giữa các chủ thể kinh tế. Điều đó cũng tương tự như mệnh đề liên kết kinh tế là
một kiểu quan hệ kinh tế chứ không phải là mọi quan hệ kinh tế. Cơ chế nào sẽ
có hình thức phối hợp đó. Với cơ chế thị trường thì sự phối hợp diễn ra trong một
quan hệ ngẫu nhiên; với cơ chế kế hoạch thì sự phối hợp đó mang tính định
trước theo kế hoạch và sự chỉ huy điều tiết chung của một trung tâm quản lý
thống nhất trong phạm vi một doanh nghiệp hoặc trong toàn bộ nền kinh tế; còn
với liên kết kinh tế thì sự phối hợp đó diễn ra cũng mang tính tất nhiên, theo một
kế hoạch định trước khi tiến hành giao dịch như trong thể chế kế hoạch, nhưng
lại phải mang tính chất tự nguyện, thỏa thuận, đôi bên cùng có lợi như trong cơ
chế thị trường.
- Đặc trưng thứ 4: Liên kết kinh tế là một kiểu quan hệ kinh tế không tồn
tại độc lập mà luôn gắn liền với các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh cụ
thể mang tính đặc thù của liên kết kinh tế để hình thành nên thể chế. Cơ chế kinh
tế nào (tức quan hệ kinh tế) thì phải tương ứng với hình thức tổ chức sản xuất
kinh doanh cụ thể đó. Cơ chế thị trường tự do có chợ, cửa hàng, trung tâm
thương mại, trung tâm giao dịch, thị trường chứng khoán. Cơ chế kế hoạch
mệnh lệnh tương ứng với các hình thức tổ chức như: công ty, doanh nghiệp, xí
nghiệp liên hợp, liên hiệp xí nghiệp hạch toán tập trung, quản lý vĩ mô của nhà
nước….Liên kết kinh tế có các hình thức tổ chức đặc thù của nó như: Hiệp hội
ngành hàng, chuỗi cung ứng, tổ hợp, bạn hàng, đồng minh kinh tế, hợp tác sản
xuất kinh doanh, liên doanh…..
- Đặc trưng thứ năm: Mục tiêu mà cũng là tác dụng của liên kết kinh tế là
để ổn định và nâng cao hiệu quả kinh tế.
19
Mục tiêu ổn định kinh tế của liên kết kinh tế cũng là mục tiêu của kế hoạch
hóa xuất phát từ sự biến động thất thường, cân đối và mất cân đối thường xuyên
thậm chí có thể xảy ra khủng hoảng của thể chế thị trường.
Mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế là mục tiêu của mọi thể chế kinh tế.
Xét trong cùng sự tồn tại và tương quan lẫn nhau giữa 3 thể chế trong nền kinh
tế thì trong những hoàn cảnh vì tình huống cụ thể, thể chế nào mang lại hiệu quả
kinh tế cao hơn mới có lý do tồn tại. Nếu xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế
thì thể chế nào nhìn chung mang lại hiệu quả hơn cho nền kinh tế thì thể chế đó
giữ vai trò chủ đạo.
Như vậy, liên kết kinh tế là một thể chế kinh tế nhằm thực hiện một kiểu
phối hợp hành động giữa các chủ thể kinh tế độc lập tự chủ với nhau, một cách
tự nguyện, thỏa thuận, đôi bên cùng có lợi và tin tưởng lẫn nhau; ràng buộc lẫn
nhau theo một kế hoạch hoặc quy chế định trước, dài hạn hoặc thường xuyên;
nhằm ổn định và nâng cao hiệu quả kinh tế.
2.1.3 Nguyên tắc tham gia liên kết trong chuỗi cung ứng giống cây lâm
nghiệp của hộ nông dân
Một là, phải đảm bảo sản xuất kinh doanh của các chủ thể tham gia liên
kết không ngừng phát triển và có hiệu quả ngày càng tăng.
Hai là, phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện và tự chịu trách nhiệm giữa
các bên tham gia liên kết.
Ba là, phải đảm bảo sự thống nhất hài hoà lợi ích kinh tế giữa các bên
tham gia liên kết.
Bốn là, phải thực hiện được trên cơ sở những ràng buộc pháp lý giữa các
bên tham gia ràng buộc giữa các bên tham gia liên kết, và thông qua hợp đồng
kinh tế.
2.1.4. Nội dung nghiên cứu liên kết trong chuỗi cung ứng giống cây lâm
nghiệp của hộ nông dân
a. Dòng lưu chuyển của chuỗi
Giống các chuỗi cung ứng khác, chuỗi cung ứng cây giống trồng rừng sản
xuất giản đơn bao gồm 3 tác nhân cơ bản là nhà cung cấp nguyên vật liệu, nhà
sản xuất và khách hàng (Nguyễn Xuân Liệu, 2007a, 2007b, 2007c). Nguyên vật
liệu chính dùng trong sản xuất cây giống là hạt giống, hom giống/mô. Nguyên
vật liệu chính sau khi mua về được chủ cơ sở sản xuất xử lý và ươm trồng, chăm
20