MỤC LỤC
1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1: Lý do chọn đề tài.
Người Ba Na là một trong những dân tộc tại chỗ sinh sống lâu đời trên
cao
nguyên trung phần miền Tây của Tổ quốc. Đây là dân tộc thiểu số có dân số lớn
thứ ba ở Tây Nguyên sau hai dân tộc thiểu số Gia Rai và Ê Đê, còn nếu tính
trong số các dân tộc nói ngôn ngữ Môn – Khơ me ở Tây Nguyên thì người Ba
Na là dân tộc có dân số lớn nhất. Hiện nay người Ba Na có khoảng trên 200.000
dân (năm 2009), sống tập trung ở 2 tỉnh Gia Lai, Kon Tum và một bộ phận ở các
huyện miền núi các tỉnh Bình Định và Phú Yên..
Nửa cuối thế kỷ XIX, xã hội của cư dân bản địa Tây Nguyên nói chung,
người Ba Na nói riêng đang ở giai đoạn cuối của thời kỳ công xã nguyên thủy.
Trong
giai
đoạn
phát
triển đó, văn hóa tinh thần của người Ba Na chịu ảnh hưởng, bị chi phối và tác
động
rất
lớn của tín ngưỡng nguyên thủy vạn vật hữu linh. Tín ngưỡng là sản phẩm của
xã
hội
cổ
truyền, gắn với hình thái kinh tế - xã hội tiền công nghiệp, gắn với cơ cấu xã hội
mà
làng
giữ vai trò then chốt và cơ bản. Tín ngưỡng hàm chứa trong đó các giá trị, là sợi
dây
cố
kết các thành viên và cộng đồng, điều hòa các mối quan hệ giữa con người với
2
tự nhiên.
Hơn một thế kỷ qua, đời sống văn hóa tinh thần của người Ba Na huyện Kông
Chro, tỉnh Gia Lai, trong đó có đời sống tín ngưỡng, đã có nhiều biến đổi lớn
trước
tác
động của các điều kiện mới. Hệ quả của sự biến đổi đó đã ảnh hưởng lớn đến
văn
hóa,
an ninh chính trị của địa phương. Nếu không giải quyết tốt bài toán tín ngưỡng
thì
Kông
Chro cũng sẽ như các nơi khác của Tây Nguyên đối mặt với những phức tạp thể
hiện
ở
sự đan xen, pha trộn, thậm chí có cả xung đột với văn hóa, tín ngưỡng truyền
thống
và
đời sống xã hội, chính trị... Vì vậy, có song đề được đặt ra là: một mặt, phải đảm
bảo
cho
được quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân; mặt khác, phải tiếp tục định hướng
và
quản
lý nhà nước để hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo tuân thủ pháp luật, vừa phát huy
những giá trị tích cực vừa góp phần bảo tồn những bản sắc văn hóa của dân tộc
nơi
đây.
Đây
là
hai vấn đề đang đặt ra vừa có tính cấp bách, vừa có tính chiến lược lâu dài.
Về mặt xã hội và an ninh chính trị, các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên hiện
nay
trong
đó
có người Ba Na đang “yên” nhưng chưa “ổn”. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến
tình
trạng
này
trong đó phải kể đến nguyên nhân khủng hoảng niềm tin và sự phát triển không
bình
thường
của Công giáo, Tin lành, Hà mòn. Nghiên cứu tín ngưỡng của người Ba Na
nhằm
góp
3
phần
ổn định xã hội, củng cố an ninh chính trị, là nhu cầu cấp thiết cần giải quyết để
phát
triển
bền vững các dân tộc thiểu số tại chỗ nói riêng và Tây Nguyên nói chung hiện
nay.
Tín ngưỡng, tự bản thân nó luôn hàm chứa những giá trị văn hóa, giá trị đạo
đức,
giá trị lối sống… làm nên diện mạo của một cộng đồng. Trong bối cảnh của xã
hội
đương đại, vấn đề đặt ra là cần có những phương cách lưu giữ, phát huy những
yếu
tố
tích cực của tín ngưỡng, góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội; loại bỏ dần
những
hủ
tục, mê tín tiêu cực, không phù hợp thậm chí là kìm hãm tiến bộ xã hội hiện nay
để
góp
phần bảo tồn văn hóa, ổn định an ninh chính trị đồng thời tạo nên sự phát triển
bền
vững
của một tộc người, là những vấn đề thực sự cần được quan tâm. Vì vậy chúng tôi
chọn
đề tài: “Tín ngưỡng của người Ba Na (huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai)” cho đề
tài
luận án của mình.
2. Tổng quan nghiên cứu
Tín ngưỡng là một vấn đề rất rộng và khó, đòi hỏi phải có thời gian nghiên
cứu và
tâm huyết mới có thể khái quát lên diện mạo của nó trong đời sống tinh
thần của một tộc
người. Vì vậy, khi chọn đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu sâu ở
các khía cạnh:
quan niệm về sự phân tầng vũ trụ hay ý niệm về thế giới của người Ba Na;
4
thần và ma;
linh hồn; điềm báo (giấc mơ; điềm báo từ những con vật, cây cối...); những
điều kiêng
kị; hiện tượng ma thuật và bói toán; vai trò của thầy cúng (pơ jâu, gru)
trong đời sống
tinh thần của người Ba Na; những lễ thức để thấy được vai trò của tín
ngưỡng trong đời
sống của người Ba Na, giá trị của tín ngưỡng như một mạch ngầm cố kết
các thành viên
của cộng đồng.
Là một trong những di sản văn hóa phong phú reong kho tàng văn hóa
của 54 dân tộc Việt Nam, là một mảng màu làm nên sự đa dạng sinh động
trên bức tranh toàn cảnh của bản sắc văn hóa Việt Nam. Với nhiều lớp văn
hóa tích tụ bồi đắp trong quá trình lịch sử dài lâu, tín ngưỡng Ba Na cho
đến nay vẫn luôn là đối tượng hấp dẫn của các nhà nghiên cứu văn hóa
trong và ngoài nước. Những bài viết, những công trình nghiên cứu đầu tiên
có liên quan đến đề tài này
là những dòng biên niên sử của các triều đại phong kiến Việt Nam và ghi
chép của các
quan lại phong kiến Việt Nam trong các sách sử biên niên từ thế kỷ XVI –
XVIII. Dưới
thời nhà Nguyễn, do yêu cầu thiết lập quan hệ ngày càng chặt chẽ giữa triều
đình với cao
nguyên phía Tây mà thông tin về vùng đất Gia Lai, trong đó có thông tin về
tín ngưỡng
cổ truyền được các nhà viết sử đặc biệt quan tâm và ghi chép ngày càng chi
tiết trong ại Nam thực lục, Đại Nam chính biên liệt truyện, Phủ Man tạp
lục, Khâm định Đại
Nam hội điển sự lệ… Tuy nhiên những công trình này ghi chép về Gia Lai,
về tín
5
ngưỡng của cư dân bản địa Ba Na còn rất mờ nhạt
Cũng có quan tâm của nhiều tác giả nước ngoài.
J. Pierre Combes là linh mục đầu tiên lên truyền giáo tại Tây Nguyên.
Khoảng năm
1833, ông khởi viết công trình nghiên cứu dân tộc học tổng quát đầu tiên về
người Ba Na.
Công trình tiếp theo là Dân Làng Hồ ( Les sauvages Bahnars) [32] của linh
mục
P.Durisboure (người có 35 năm sống ở vùng dân tộc Ba Na) được công bố
năm 1873.
Có thể coi đây là học giả người Pháp đầu tiên quan tâm đến tín ngưỡng của
ng ười Ba
Na. Công trình này được ông khởi viết tại một vùng rừng núi Bắc Tây
Nguyên vào năm
1865 để rồi sau đó hoàn thành tại Chủng viện Hội Thừa sai Pari ngày
28/1/1873. Đây là
cuốn sách viết về buổi đầu trong hành trình truyền giáo lên cao nguyên của
các giáo sĩ
phương Tây thế kỉ XIX. Công trình đề cập khá nhiều đến địa lí, nhân văn;
những miêu
tả, nhận xét về cây cỏ, muông thú, về số dân, các nhóm sắc tộc hoạt động
mưu sinh,
việc rèn đao kiếm, khai thác mỏ,… của các dân tộc bắc Tây Nguyên. Tín
ngưỡng dân gian, những phong tục tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số
cũng được đề cập như tục
kiêng cữ, cấm đoán, một phần những qui định bất thành văn là sức mạnh
“pháp lí” của
cộng đồng,... là những tư liệu quan trọng cho các nhà nghiên cứu đi sau
muốn tìm hiểu
về các dân tộc sống xung quanh cũng như người Ba Na các miêu tả, nhận
6
xét, bản đồ
trong công trình này thực sự có giá trị cho sự tham khảo ngày nay.
3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
3.1: Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chung của luận án là giới thiệu một cách hệ thống và
toàn
diện về bức tranh tín ngưỡng truyền thống của người Ba Na nhằm góp
phần làm sáng rõ
đặc trưng văn hóa của người Ba Na ở Kông Chro tỉnh Gia Lai đồng thời chỉ
rõ những
biến đổi trong tín ngưỡng, lý giải nguyên nhân tác động đến những biến đổi
đó và một
số vấn đề đặt ra trong bối cảnh từ sau 1975 đến nay
Tín ngưỡng là một vấn đề rất rộng và khó, đòi hỏi phải có thời gian nghiên
cứu và
tâm huyết mới có thể khái quát lên diện mạo của nó trong đời sống tinh
thần của một tộc
người. Vì vậy, khi chọn đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu sâu ở
các khía cạnh
quan niệm về sự phân tầng vũ trụ hay ý niệm về thế giới của người Ba Na;
thần và ma
linh hồn điềm báo (giấc mơ; điềm báo từ những con vật, cây cối...) những
điều kiêng
kị hiện tượng ma thuật và bói toán; vai trò của thầy cúng (pơ jâu, gru)
trong đời sống
tinh thần của người Ba Na những lễ thức để thấy được vai trò của tín
ngưỡng trong đời
sống của người Ba Na, giá trị của tín ngưỡng như một mạch ngầm cố kết
các thành viên
của cộng đồng.
7
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đưa ra cái nhìn tổng quan về tín ngưỡng củ tộc người Ba Na ở Tây
Nguyên và khái quát sơ lược trên các mặt vị trí địa lý, nguồn gốc lịch sử ....
Để từ đó người đọc có cái nhìn về những vấn đề được trình bày trong bài
tiểu luận .
- Nêu nên những thục trạng của tín ngưỡng , phản ánh quá trình phát
triển của tín ngưỡng này.
- Đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm bảo tồn phát huy giá trị tín
ngưỡng, khắc phục những vấn đề còn tồn tại củ tín ngưỡng.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là dân tộc Ba Na và các khía cạnh đời
sống tín
ngưỡng truyền thống của người Ba Na tại huyện Kông Chro tỉnh Gia Lai.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tín ngưỡng là một vấn đề rất rộng và khó, đòi hỏi phải có thời gian nghiên
cứu và
tâm huyết mới có thể khái quát lên diện mạo của nó trong đời sống tinh
thần của một tộc
người. Vì vậy, khi chọn đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu sâu ở
các khía cạnh
quan niệm về sự phân tầng vũ trụ hay ý niệm về thế giới của người Ba Na;
thần và ma
linh hồn điềm báo giấc mơ điềm báo từ những con vật, cây cối... những điều
kiêng
kị hiện tượng ma thuật và bói toán vai trò của thầy cúng (pơ jâu, gru) trong
đời sống
tinh thần của người Ba Na những lễ thức để thấy được vai trò của tín
ngưỡng trong đời
sống của người Ba Na, giá trị của tín ngưỡng như một mạch ngầm cố kết
8
các thành viên
của cộng đồng.
4.3. Địa bàn nghiên cứu
Địa bàn khảo sát chính của chúng tôi là những làng của người Ba Na tại
huyện
Kông Chro tỉnh Gia Lai như làng Tơ Nung, làng Măng làng Nhang lớn,
làng
Nhang nhỏ, làng Htiêng làng Tpông1, làng Rơng, làng Kun1, (xã Yang
Nam); làng Nghe Lớn, làng Bjang thị trấn Kông Chro làng Meo lớn, làng
Meo nhỏ (xã
Đak Pling) làng Kuel, làng Kuk, làng Sơ Ró. Bên cạnh đó chúng tôi cũng có
những so sánh với một số làng của người Ba Na tại các huyện Kbang làng
Hà Nừng, làng
Stơr, thị trấn Đăk Đoa làng Dur, làng Klăk, làng Ngol, làng Pi ơm, thuộc
tỉnh Gia Lai;
làng Kon Kơ tu, KonTum Kơ pâng, Konjodri, thuộc thành phố Kon Tum
(tỉnh Kon Tum)
để thấy những tương đồng và dị biệt trong tín ngưỡng và biến đổi tín
ngưỡng của các nhóm
Ba Na ở các địa phương khác nhau.
5. Đóng góp của đề tài
Đóng góp về mặt khoa học: Làm phong phú thêm nhưng vấn đề lý thuyết và
khái niệm liên quan đến tín ngưỡng truyền thống ở các cư dân tiền công
nghiệp nói chung và các cư dân nói ngôn ngữ Môn – Khme nói riêng ở Việt
Nam.
Đóng góp về mặt thực tiễn: Làm rõ những biến đổi trong tín ngưỡng của
người Ba Na dưới sự tác động của các điều kiện mới.
6. Cấu trúc của bài tiểu luận
9
Ngoài mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo cáu trúc của đề bài
bao gồm 3 chương.
Chương 1: Kết quả tìm hiểu tín ngưỡng của dân tộc Ba Na
10
CHƯƠNGPhần 1I
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN NGƯỠNG CỦA DÂN TỘC BA NA
1. Khái quát và các hình thái quát và cáthÍN NGƯt và cá
1.1. Khái quát và các hình thái tín ngưuátngưuát
Theo luật tôn giáo năm 2016 giải thích: “ Tín ngưỡng là niềm tin của
con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền vói phong tục tập
quán để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng” Ngoài ra
chúng ta có thể hiểu cụm tù tín ngưỡng như sau:
Thứ nhất, tín ngưỡng là một hình thức văn hóa phi vật thể mang tính độc
đáo và biểu hiện khá rõ được đời sống của con người Việt Nam. Ngoài ra tín
ngưỡng còn đóng góp vào việc hình thành nên các giá trị truyền thống của văn
hóa và tính cách các dân tộc, kết lối lại cộng đồng với nhau.
Thứ hai,tí ngưỡng còn là hệ thống những niềm tin và cách thức thể hiện
những niềm tin ấy bằng những hành động cụ thể của con người đối với một hiện
tượng siêu nhiên, xã hội thậm chí là một sự vật nào đó, hoặc cá nhân có liên
quan đến cuộc sống thực tại của họ đã được thiên hóa để cầu cho sự che chở
giúp đỡ.
Thứ ba, xuất phát từ quan điểm của trường phái Tương đối luận văn hóa,
cho rằng mỗi nền
văn hóa đều có tính độc đáo riêng, không phân biệt cao, thấp cho nên tín
ngưỡng cũng như việc thực hành tín ngưỡng phụ thuộc vào những bối cảnh lịch
sử, địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như trình độ nhận thức của chủ thể sáng
tạo ra các nèn văn hóa đó. Ở một phương diện khác, cũng cần nhấn mạnh thêm
rằng, tín ngưỡng sẽ giúp cho nhận diện rõ được trình độ nhận thức, không gian
và thời gian, phương thức sống, chiều sâu của một nền văn hóa mà cá nhân và
cộng đồng đó đang tồn tại. Ngô Đức Thịnh đã có một nhận xét tương tự “Tất cả
những niềm tin, thực hành và tình cảm tôn giáo tín ngưỡng trên đều sản sinh và
11
tồn tại trong một môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa mà có nguời đang
sống, theo cách suy nghĩ và cảm nhận của nền văn hóa đang chi phối họ”.
Thứ tư, tín ngưỡng không tồn tại một cách đơn lẻ mà còn tồn tại một
cách tích hợp với nhiều hình thức văn hóa khác nhau để thể hiện niềm tin của
con người bằng các hành vi cụ thể như Patrick B.Mullen đã nhận định: “Tín
ngưỡng dân giann là không chỉ tồn tại ở dạng trừu tượng mà nó còn tồn tại
trong thực tiễn vad cách ứng xử thực tế. Xin nhắc lại, văn hóa dân gian không
chỉ là sự phản ánh một thế giới quan văn hóa trừu tượng mà nó còn tồn tại
trong cuộc sống hàng ngày như một phương tiện sáng tạo văn hóa”. Nhà nghiên
cứu Ngô Đức Thịnh thì có cách nhìn cụ thể hơn: Bản thân các tôn giáo tín
ngưỡng đã là một hình thức văn hóa đặc thù, đáy chưa kể, trong quá trình hình
thành phát triển mỗi tôn giáo tín ngưỡng bao giờ cũng sản sinh, tích hợp trong
nó những hiện tượng, những sinh hoạt văn hóa nghệ thuật. Thực chất, tín
ngưỡng thực ra còn là môi trường sinh hoạt văn hóa dan gian. Con người muốn
chuyển đạt nguyện vọng của mình nên thần linh thì phải cần có các công cụ,
phương tiện như: Múa hát, tượng thờ, phẩm vật lễ nghi, nơi thờ cúng...
1.2.Khái quát về các hình thức tín người của người Việt
Người Việt và các dân tộc khác ở nước ta vốn là cư dân nông nghiệp
trồng lúa, do vậy, từ ngàn đời nay, từ quan niệm, lối nghĩ đến nếp sống của họ cơ
bản là người nông dân. Quan niệm luận phương Đông cổ đại vẫn là Âm Dương
tương khắc tương sinh. Trong tiềm thức của họ việc thờ Thần Đất, Thần Nước,
Thân Núi, . . . Hơn nữa, Việt Nam lại là ngã ba đường nơi giao lưu của nhiều tộc
người, của nhiều luồng văn minh. Hai yếu tố đó làm cho Việt Nam trở thành một
quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng. Tính đa thần ấy không chỉ biểu hiện ở số lượng
lớn các vị thần mà điều đáng nói là, các vị thần ấy cùng đồng hành trong tâm
thức một người Việt. Điều đó dẫn đến một đặc điểm cửa đời sống tín ngưỡng –
tôn giáo của người Việt đó là tính hỗn dung tôn giáo. Trước sự du nhập của các
tôn giáo ngoại lai, nguoiwf Việt không tiếp nhận một cách thụ động mà luôn có
sự cải biến cho gần gũi với tư tưởng, tôn giáo địa phương. Vì vậy, ở nước ta,
12
trong khi các tôn giáo vẫn phát triển thì các tín ngưỡng dân gain vẫn giữ vai trò
quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân. Dưới đây là một số tín
ngưỡng dân gian tiêu biểu của người Việt:
*Tín ngưỡng thờ cũng tổ tiên
Việt Nam là một dân tộc giàu tình cảm, trọng lễ ngĩa, sống hướng nội,
thường giải quyết các vấn đề theo cảm tính hơn lý trí. Truyền thống “uống nước
nhớ nguồn” là một trong những đức tính đáng trân trọng của dân tộc Việt.
Người việt có khuynh hướng nhìn lại quá khứ và nuối tiếc dĩ vãng nhiều
hơn hướng đến tương lai như người phương Tây. Vì thế người Việt thường lưu
giữ mãi những tình cảm thương tiếc đối với ông bà cha mẹ quá cố. Tập tục thờ
cúng tổ tiên của người Việt ra đời từ trên căn bản này và được đa số người Việt
xem gần như một tôn giáo, gọi là đạo Thờ cúng Ông Bà.
*Tín ngưỡng thờ thành hoàng làng
Ở làng xã các làng xã, nông thôn Việt Nam, Thành Hoàng là một niêm
tin thiêng liêng, một chỗ dựa tinh Thần cho cộng đồng từ bao đời nay. Thờ cúng
Thành Hoàng cũng giống như thờ cũng tôt tiên, nó mang đậm dấu ấn tâm linh và
thể hiện quan niệm “uống nước nhớ nguồn” của người dân Việt Nam.
Hầu hết các làng đều thờ hai loại thành hoàng, trong đó mọt cị là biểu
tượng của sức mạnh tự nhiên, một vị là nhân vật lịch sử hoặc người có công với
làng.
Và điểm đặc biệt của tín ngướng thờ thành hoàng của các làng Việt cổ là
ở chỗ, dù thời cuộc có biến đổi như thế nào, dù làng có chuyển nơi cư trú bao
nhiêu lần, dù chính sách tôn giáo của Nhà Nước có chặt chẽ hay cởi mở, dù dân
làng giàu sang hay nghèo túng,... thì nhân vật được dân làng thờ làm Thành
hoàng vân không thay đổi, mà tồn tại mãi mãi, suốt từ đời này đến đời khác.
Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng đều khời dậy ở mỗi con người ý thức về
dân tộc, về ngườn gốc của mình: “Chim có tổ, người có tông”. Mang đặc trưng
là hướng tới tổ tiên, nhớ về cội nguồn với mơ ước cuộc sống của ngân dân muôn
đời được phúc lộc, bình an.
*Tín ngưỡng phồn thực
13
Ở Việt Nam, mảnh đất gió mùa nhiệt đới tuy được lợi về ánh sáng và độ
ẩm, nhưng lại nhiều dịch bệnh thiên tai, nên cư dân nông nghiệp lúa nước nơi
đây thường xuyên phải vật nộn với thiên nhiên không mấy ưu đãi để đảm bảo
cuộc sống. Tam thức đó là nền móng vững chắc của tín ngưỡng phồn thực.
Nhưng, người VIệt một mặt chịu sự chi phối của nguyên lý kết hợp hài hòa âm
dương, nguồn cội của sự sinh sôi nảy nở, mặt khác lại ảnh hưởng khá sâu sắc tư
tưởng của một số tôn giáo ngoại lai(Phạt giáo, Đạo giáo, Nho giáo) sau khoảng
thời gian dài diễn ra quá trình đan xem văn háo. Để giải quyết các ngịch lý ấy,
tín ngưỡng phồn thực phải háo thân để tồn tại, nó ẩn chứa vào các nghi lễ và trò
diễn trong các lễ hội làng xã cỗ truyền.
Tín ngưỡng phồn thức được biểu đạt bởi rất nhiều hình thức khác nhau,
tùy theo phong tục của từng vùng mà có những cách làm và thờ những hình
“giống” khác nhau.
: Kết quả tìm hiểu tín ngưỡng dân tộc Ba Na
1.321: Khái quát chung về dân tộc Ba Na
•
1.1.1: Khái Ngui quát chung.
Người Ba Na cư trú chủ yếu ở cao nguyên trung phần Việt Nam, có dân
số 174.456 người (đến năm 2003) và 227.716 (2009).
Dân tộc Ba Na là một trong những dân tộc thiểu số đông dân cư nhất tại
Tây Nguyên. Địa bàn cư trú của họ khá rộng ở nam Kon Tum, bắc Gia Lai và
phía tây tỉnh Bình Định. Ở tỉnh Kon Tum, dân tộc Ba Na gồm 2 nhánh là Ba Na
Rơ Ngao và Ba Na Jơ Lâng, đứng thứ hai về dân số trong 6 dân tộc thiểu số bản
địa.
•
1.1.2: Tên gên ngg dâ Ngưdâg dân (các tên g cư nhlà Ba Na Dướa Na Dư g cư
nhất tại Tây Nguyên. Địa bàn cư trú cộa Na Dư g cư nhất tại Tây Nguyên. Địa
bàn cư trú của họ khá rộng ở nam Kon Tum, bắc Gia Lai v) là ma Dư g cư nh g
cư nhất dân t Dư g cư nh g c.
• 1.1.3: Dân s Dư g cư nh g Dân sốn ss Dư g cư nhất .
14
Người Ba Na ở Việt Nam có dân số 227.716 người, cư trú tại 51 trên tổng
số 63 tỉnh, thàn phố. Người Ba Na cư trú tập trung tại các tỉnh: Gia Lai (150.416
người, chiếm 11,8% dân số toàn tỉnh và 66,1% tổng số người Ba Na tại Việt
Nam), Kon Tum (53.997 người, chiếm 12,5% dân số toàn tỉnh và 23,7% tổng số
người Ba Na tại Việt Nam), Phú Yên (4.145 người), Bình Định (18.175 người,
chiếm 8,0% tổng số người Ba Na tại Việt Nam), Đắk Lắk (301 người), Bình
Thuận (133 người).
1.1.434: Đặc điểm cơ bản về văn hóa.
•
1.1.4.1: S.4.1 điểm cơ bả.Đ.4.1 điểm cơ bả
Người Ba Na canh tác lúa trên ruộng khô và rẫy. Cái cuốc là công cụ
chủ yếu trong canh tác nông nghiệp ở tộc người này. Với ruộng khô thì việc
thâm canh không bỏ hóa là đặc điểm khác với rẫy. Ruộng khô thường ở vùng
ven sông suối. Từ đầu thế kỷ XX, việc làm ruộng nước bằng cày đã ngày càng
phát triển ở nhiều nơi. Vườn chuyên canh và vườn đa canh cũng xuất hiện từ
lâu. Công việc chăn nuôi và các nghề thủ công như: đan, dệt, gốm, rèn còn chưa
phát triển. Người Ba Na sinh sống nhờ nông nghiệp, chủ yếu là trồng rẫy. Cùng
với trồng trọt, từng gia đình thường có nuôi gia cầm, gia súc
như trâu, bò, dê, lợn, gà. Chó cũng được nuôi nhưng không bị giết thịt. Hầu như
mỗi làng đều có lò rèn. Một số nơi biết làm đồ gốm đơn giản, phụ nữ dệt vải tự
túc đồ mặc trong gia đình. Đàn ông đan chiếu, lưới, các loại gùi, giỏ, mủng...
Việc mua bán theo nguyên tắc hàng đổi hàng, xác định giá trị bằng gà, rìu, gùi
thóc, lợn hay nồi đồng, ché, chiêng...
•
1.1.4.2: Văn hóa.
Nhạc cụ đa dạng: cồng, chiêng kết cấu đa dạng, đàn: t'rưng, brọ, khinh
khung, gôông, klông pút, kơni, kèn: tơ nốt, arơng, tơ tiếp,... Nghệ thuật
chạm khắc gỗ phát triển. Trong kho tàng văn nghệ dân gian, còn phải kể đến các
làn điệu dân ca, các điệu múa trong những ngày hội hay các nghi lễ tôn giáo.
Những hình thức trang trí sinh động trên nhà rông và đặc biệt những tượng nhà
mồ v.v... mộc mạc, đơn sơ, nhưng tinh tế và sinh động như cuộc sống của người
Ba Na.
15
•
1.1.4.3: Nhà ở.
Ở mỗi làng có một nhà công cộng là nhà Rông to, đẹp ở giữa làng. Nhà
rông cao lớn và đẹp đứng nổi bật giữa làng, đó là trụ sở của làng, nơi các già
làng họp bàn việc công, nơi dân làng hội họp, nơi trai chưa vợ và góa vợ ngủ
đêm, nơi tiến hành các nghi lễ phong tục của cộng đồng và cũng là nơi tiếp
khách lạ vào làng.
Nhà ở của người Ba Na thuộc loại hình nhà sàn. Trước đây khi chế độ
gia đình lớn còn thịnh hành, ở vùng người Ba Na sinh sống thường có những
căn nhà dài hàng trăm mét, tuy nhiên hiện nay chế độ gia đình lớn không còn
nữa, mô hình các gia đình nhỏ với những căn nhà sàn gọn gàng xuất hiện ngày
càng nhiều. Nhà sàn ngắn của các gia đình nhỏ là phổ biến. Nhà sàn thường dài
từ 7m đến 15m, rộng từ 3m-4m, cao từ 4m-5m, sàn cách mặt đất khoảng 1m đến
1,5m.
Mặc dù có nhiều thay đổi, nhưng vẫn tìm được ở nhiều địa phương khác
nhau những ngôi nhà Ba Na với những đặc điểm đặc trưng của nhà cổ truyền Ba
Na là nhà nóc hình mai rùa hoặc chỉ còn là hai mái chính với hai mái phụ hình
khum - dấu vết của nóc hình mai rùa. Chỏm đầu dốc có "sừng" trang trí (với các
kiểu khác nhau tùy theo địa phươngg). Vách che nghiêng theo thế "thượng thu
hạ thách". Có nhà, cột xung quanh nhà cũng chôn nghiêng như thế vách. Thang
đặt vào một sàn lộ thiên trước cửa nhà. Trên sàn này người ta đặt cối giã gạo
(cối chày tay). Điểm đáng chú ý là dưới đáy cối có một cái "ngõng". Khi giã gạo
người ta cắm cái ngõng ấy vào một cái lỗ đục trên một thanh gỗ đặt trên sàn.
Nhà tre vách nhưng có thêm lớp đố, bên ngoài buộc rất cầu kỳ như là
một lớp trang trí.
Bộ khung nhà kết cấu đơn giản. Có làm vì kèo nhưng vẫn trên cơ sở của
vì cột. Tổ chức mặt bằng đơn giản.
16
•
1.1.4.4: Ẩm thực.
Ẩm thực Ba Na chủ yếu là cơm tẻ, một số ít vùng ăn cơm nếp. Trước kia
bà con nấu cơm bằng ống lồ ô, thực phẩm chủ yếu là sản phẩm săn bắt, đánh
bắt, hái lượm trong rừng, dưới suối, trên nương. ThHịt gia cầm gia súc chỉ dùng
cho việc cúng lễ, hội hè, các con vật thường được thui nướng khi mổ thịt chế
biến thức ăn.
Rượu cần là thức uống chủ yếu vào dịp lễ hội và những nghi thức trong
gia đình, cộng đồng.
•
1.1.4.5: Trang phục.
Trang phục nam: nam giới Ba Na mặc áo chui đầu, cổ xẻ. Đây là loại
áo cộc tay, thân áo có đường trang trí sọc đỏ chạy ngang, gấu áo màu trắng. Nam
mang khố hình chữ T theo lối quấn ngang dưới bụng, luồn qua háng rồi che một
phần mông. Ngày rét, họ mang theo tấm choàng. Ngày trước nam giới búi tóc
giữa đỉnh đầu hoặc để xõa. Nếu có mang khăn thì thường chít theo kiểu đầu rìu.
Trong dịp lễ bỏ mả, họ thường búi tóc sau gáy và cắm một lông chim công. Nam
cũng thường mang vòng tay bằng đồng.
Trang phục nữ: Phụ nữ Ba Na ưa để tóc ngang vai, có khi búi và cài lược
hoặc lông chim, hoặc trâm bằng đồng, thiếc. Có nhóm không chít khăn mà chỉ
quấn bằng chiếc dây vải hay vòng cườm. Có nhóm như ở An Khê, Mang Giang
hoặc một số nơi khác họ chít khăn trùm kín đầu, khăn chàm quấn gọn trên đầu.
Trước đây, họ đội nón hình vuông hoặc tròn trên có thoa sáp ong để khỏi ngấm
nước, đôi khi có áo tơi vừa mặc vừa che đầu. Họ thường đeo chuỗi hạt cườm ở
cổ và vòng tay bằng đồng xoắn ốc dài từ cổ đến khủy tay (theo kiểu hình nón
cụt). Nhẫn được dùng phổ biến và thường được đeo ở hai, ba ngón tay. Tục xả
tai phổ biến vừa mang ý nghĩa trang sức vừa mang ý nghĩa tín ngưỡng của cộng
đồng. Hoa tai có thể là kim loại, có thể là tre, gỗ. Tục cà răng mang theo quan
niệm của cộng đồng hơn là trang sức. Phụ nữ Ba Na mặc áo chủ yếu là loại chui
17
đầu, ngắn thân và váy. Áo có thể cộc tay hay dài tay. Váy là loại váy hở, thường
là ngắn hơn váy của người Ê Đê, ngày nay thì dài như nhau. Quanh bụng còn
đeo những vòng đồng và cài tẩu hút thọc vào đó.
Về tạo hình áo váy, người Ba Na không có gì khác biệt mấy so với dân
tộc Gia-rai hoặc Ê-đê. Tuy nhiên, nó khác nhau ở phong cách mỹ thuật trang trí
hoa văn, bố cục trên áo váy của người Ba Na. Theo nguyên tắc bố cục dải băng
theo chiều ngang thân người, dân tộc Ba Na dành phần chính ở giữa thân áo và
váy với diện tích hơn một nửa áo, váy cũng như hai ống tay để trang trí hoa văn
(chủ yếu là hoa văn với các màu trắng đỏ), nền chàm còn lại của áo váy không
đáng kể so với diện tích hoa văn. Thắt lưng váy được dệt thêu hoa văn và tua vải
hai đầu, được thắt và buông thõng dài hai đầu sang hai bên hông.
1.1.4.7: Văn hóa tinh thần
Ngôn ngữ: Theo các nà nhân chủng học người Ba Na thuộc chủng tộc
Indonesia tiếng nói thuộc ngôn ngữ Môn-Khơ me Vì sống rải rác trên một địa
bàn rộng lớn nên phong tục, tập quán của người Ba Na có thay đổi ít nhiều theo
phong thổ từng địa phương và sự giao lưu với xã hội bên ngoài. Song những
biến đổi đó không rõ rệt.
Về tiếng nói, các nhánh người Ba Na cùng một thứ tiếng, tuy cũng có sự
thay đổi ít nhiều tùy theo địa phương. Về chữ viết, người Ba Na là dân tộc thiểu
số đầu tiên ở Tây Nguyên biết đọc, biết viết và biết làm tính. Năm 1861, chữ Ba
Na viết theo mẫu tự la tinh như chữ quốc ngữ được đặt ra và tồn tại, phát triển
cho đến ngày nay.
Lễ
•
:
Lễ hội đâm trâu ( X'trǎng): Đây là một trong những lễ hội quan trọng
hàng đầu của người Ba Na Kon Tum, nhằm tế thần linh hoặc những người đã có
công chủ trì thành lập buôn làng, ăn mừng chiến thắng, ăn mừng mùa màng bội
thu
Lễ bỏ mả: (Mơt bơxát hoặc Mơt brưh bơxát): Thông thường kéo dài
khoảng 5 ngày. Theo quan quan niệm của người Ba Na, người chết tuy mất đi về
18
thể xác, nhưng phần hồn vẫn tồn tại, ở trong nhà mồ, hồn sinh hoạt bình thường
như người sống trên trần gian. Sau khoảng 3 năm, 7 năm hoặc lâu nhất là 10
năm thì bắt đầu làm Lễ bỏ mả, để hồn người chết bước hẳn qua thế giới mới.
Lễ cầu an (Át te rei ): thường được tổ chức vào cuối mùa Thu đến hết
mùa Xuân (từ tháng 11 đến hết tháng 4 năm sau). Đây là lễ hội truyền thống của
ngừời Ba Na vừa mang tính chất gia đình, dòng tộc và vừa có tính chất cộng
đồng sâu sắc. Lễ cầu an được tổ chức khi gia đình gặp những chuyện không
may: đau ốm, bệnh tật, mùa màng thất bát, bị tai họa gieo xuống,… Quy mô tổ
chức Lễ cầu an rất đa dạng, có khi trong phạm vi gia đình, dòng tộc, có khi bao
gồm tất cả dân làng. Hình thức tổ chức lễ hội tuỳ theo điều kiện kinh tế của gia
đình, cộng đồng làng mà chuẩn bị con vật dâng cúng Yàng phù hợp. Những năm
gần đây, lễ hội này vẫn được người Ba Na duy trì và tổ chức trang trọng, có sự
đổi mới về cách thức tổ chức cho phù hợp với điều kiện, như lễ hội cầu an ở
làng Kon Gộp, xã Đăk Pne, huyện Kon Rẫy, làng Đăk Wơk, xã Hơ Moong,
huyện Sa Thầy luôn có sự tham gia của đông đảo dân làng.
Lễ mừng lúa mới: thường diễn ra trong khoảng thời gian từ tháng 11
dương lịch năm trước cho đến tháng 1 năm sau, đây là thời gian rảnh rỗi của con
người sau khi đã thu hoạch xong vụ mùa thắng lợi và cũng là thời gian cho đất
"nghỉ ngơi" theo tập quán. Lễ mừng lúa mới được tổ chức với mong ước cuộc
sống ấm no cho cộng đồng ở các buôn làng có truyền thống sản xuất trên nương
rẫy. Chọn một ngày đẹp trời sau vụ mùa, dân làng tụ tập ở Nhà rông, mỗi gia
đình góp 1 con gà, 1 ghè rượu và 1 khay cốm, bày dọc theo 2 hàng của nhà rông.
Chuẩn bị xong, mỗi nhà cử một đại diện ngồi vào mâm lễ của mình, đám trai
làng đi chung quanh nổi cồng chiêng, già làng cầu mong cho sự bình yên, ấm no
chung của cả làng, từng gia đình có điều ước riêng cho mình. Già làng và những
người lớn tuổi được phép ăn và uống rượu trước tiên sau đó mới đến dân làng.
Tiếng cười nói, đùa vui của người già, lũ trẻ hòa vào nhau, một không khí đầm
ấm, nhộn nhịp. Cuộc vui thường kéo dài thâu đêm, đến khi con gà rừng gáy báo
sáng vẫn còn nghe tiếng cồng chiêng.
19
1.4.11.4.8 : Văn hóa dân gian.
Dân tộc Ba Na có nền âm nhạc rất phong phú. Nhạc cụ của Ba Na cũng
rất đa dạng gồm cả bộ dây, bộ hơi và bộ gõ. Múa dân gian Ba Na trong đó có
múa phục vụ nghi lễ và biểu diễn ở hội hè được nhiều người ưa chuộng. Trường
ca, Truyện cổ của dân tộc Ba Na cũng là những tác phẩm dân gian cổ truyền độc
đáo, có giá trị trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Đối với đồng bào Ba
Na, nghề dệt thổ cẩm là một nét văn hoá độc đáo có từ rất lâu đời. Nghệ thuật
trang trí của người Ba Na rất phong phú và độc đáo, thể hiện trên các loại hoa
văn, hoạ tiết sống động trên trang phục, đồ đan. Hoạ tiết thổ cẩm được sử dụng
nhiều ở áo, váy, chăn, đồ đan. Người Ba Na thường sử dụng các màu: đen, đỏ,
trắng, tạo ấn tượng mạnh mẽ. Hoạ tiết đối xứng phản ánh quan niệm về vũ trụ,
lý âm dương, trời đất và lấy thiên nhiên làm hình mẫu, nên thổ cẩm của người
Ba Na không khác cảnh thiên nhiên thu nhỏ. Người phụ nữ Ba Na đều có rất
thạo nghề dệt thổ cẩm truyền thống.
20
1.4.2 1.54.9: Văn hóa xã hội.
- Mối quan hệ xã hội.
Trong kho tàng văn nghệ dân gian, còn phải kể đến các làn điệu dân ca,
các điệu múa trong ngày hội và các lễ nghi tôn giáo. Nhạc cụ Ba Na đa dạng:
những bộ cồng chiêng kết cấu khác nhau, những đàn T'rưng, brọ, klông pút, kơ
ni, khinh khung, gông, v.v... và những kèn tơ nốt, arơng, tơ-tiếp v.v... Nghệ thuật
chạm khắc gỗ của người Ba Na độc đáo. Những hình thức trang trí sinh động
trên nhà rông và đặc biệt những tượng ở nhà mồ v.v... vừa mộc mạc, vừa đơn sơ,
vừa tinh tế và sinh động như cuộc sống của người Ba Na.
Người Ba Na có nước da ngăm đen, ngày xưa đàn ông để tóc dài tới cổ,
ngày nay thì tóc ngắn hơn. Người Ba Na có bản tính mộc mạc, chất phác, hiền
lành và hiếu khác, họ coi người Kinh là anh em nên đối đãi rất thân thiết. Tuy
nhiên, người Ba Na không muốn khách lạ đụng chạm đến phong tục, tập quán
kiêng cữ của họ. Muốn vào thăm một nhà nào thì phải được chủ nhân ưng thuận;
kỵ nhất là xông thẳng vào bếp núc (một số người Ba Na thờ thần ở bếp).
-Các lễ nghi.
Hôn nhân: Người Ba Na cho phép tự do tìm hiểu và lựa chọn bạn đời,
việc cưới xin đều theo nếp cổ truyền. Vợ chồng trẻ ở luân phiên mỗi bên một
thời gian theo thỏa thuận giữa hai gia đình đôi bên, sau khi sinh con đầu lòng
mới dựng nhà riêng. Trẻ em luôn được yêu chiều. Dân làng không đặt trùng tên
nhau. Trong trờng hợp những người trùng tên gặp nhau, họ làm lễ kết nghĩa, tùy
tuổi tác mà xác lập quan hệ anh-em, cha-con, mẹ-con.
Ở người Ba Na, các con được thừa kế gia tài ngang nhau. Trong gia
đình mọi người sống hòa thuận bình đẳng.
Cưới xin trai gái Ba Na đến tuổi trưởng thành đều có thể tự do chọn lựa
21
người bạn đời mà không cần đến cha mẹ. Tiêu chuẩn chọn lựa bạn đời, đó là
trung thực, khỏe mạnh, giỏi làm rẫy, trai có tài săn bắn, lấy củi, gái thạo đan lát,
dệt vải. Từ lúc yêu nhau cho đến khi nên vợ nên chồng, đôi trai gái phải qua hai
lễ tục bắt buộc là lễ trao vòng và lễ cưới.
22
21.2: Kết quả nghiên cứu.
1.2.1: Tín ngưỡng trong quan niệm.
1.2.1.1: Quan niệm về thần linh.
•
Sự phân chia tầng vũ trụ của người Ba Na.
Toàn bộ đời sống của người Ba Na được phản chếu qua tín ngưỡng thờ
thần linh những lời cầu khấn yang luôn gắ với nhịp điệu cuộc sống của từng gia
đình (sinh đẻ, cưới xin, bệnh tật, tang ma, mua bán...) nhịp điệu của các nghi lẽ
nông nghiệp bắt đầu và kết thúc lao động sản xuất năm mới, khoác lên nhịp điệu
đó một ý nghĩa tinh thần chưa kể những lời khấn nguyện thường đi kèm với các
hành động và nâng nó lên cao bằng cách đem lại cho nó một nét thiêng
liêng...Trong thế giới thần linhcon người cố gắng thích nghi với những trật tự đã
được định sẵn đi vào trong tuần hoàn ấy, sáp nhập vào csi thiêng liêng ấy, tham
gia vào nhiijp điệu của nó . Trong thế giới thần linh, không có chỗ cho nững
hoạt động ngẫu hứng nó như một con đường mòn đã được vạch sẵn mà thế hệ ày
nối tiếp thế hệ khác cứ thế giẫm chân len nhau. Đối với người Ba Na, hệ thống
thân linh của họ chưa đủ để xây một điện thần linh đồ sộ. Tuy vậy qua những sử
thi, qua những truyền thuyết lý giải sự hình tành vũ trụ và muôn loài ta có thể
hình dung được các vị thần yang của người Ba Na môt cách khá sinh động theo
quan niệm cả chính những con người trong cuộc.
Trước hết phải kể đến thế đôi thần linh tối cao Bok Kei Die và Yă Kul
Kel họ là những vị thần chủ trì nhịp dựng điệu nông nghiệp,là người sáng tạo ra
tất cả coi sóc con người và mua màng của họ. Tiếp đến là yang thần mặt trăngthần mặt trời. Thần mặt trời là nữ thân của sự sinh sản và phì nhiêu, thần mặt
trăng luôn gần gũi vớ lao động, giúp con người nhận biết thòi gian để cay trồng
hay tổ chức các nghi lễ. Trong tín ngưỡng người Ba Na vị trí thần lúa (yang Sri)
cũng như việc thờ cúng cây lúa luôn chiếm một vj thế đặc biệt, lúa là một loại
23
cây có “hồn” mà người ta phả giữ gìn một cách cẩn thận không được xúc phạm
để luuongw thục được dồi dào và vụ mùa đực đăng hòa
Đáng sợ nhât với người Ba Na chính lầ thần sấm sét Bok Glaih không
chỉ là vị thần chăm lo đến mỹ tục truyền thống củ con người công việc của thần
linh còn là duy trì mọt trật tự cần thiết cho vũ trụ. Với thần linh mọi trật tự từ
khơi nguyên cần phải được duy trì và tôn trọng luôn thân thiện và được yêu mến
là thaafn nước yang Đak. Trong đời sống hằng ngày của mình người Ba Na có
những nghi thức kieng cữ liên quan đến việc bảo vệ sự thuần khiết cho nguồn
nước .Với người Ba Na, lửa được xem là vị thần đầy quyền uy bởi khả năng phá
hủy ghê gớm của nó. Khi chuẩn bị đốt rẫy để bắt đầu cho mùa trồng trỉa, bao giờ
người Ba Na cũng cầu khấn thần Lửa (yang Unh) để mong thần ban cho con
người ngọn lửa quý báu giúp rẫy cháy đều, có nhiều tro để cho mùa màng tươi
tốt, để cuộc sống con người luôn được bình yên, hạnh phúc. Thường xuất hiện
nhiều trong các câu chuyện thần thoại của người Ba Na là thần cây đa yang long
jơri hơn tất cả những loài cây khác cây đ là loại cây tối thiêng biểu tượng của
sức mạnh và sự sống. Ngoài các vị thần vừa kể trên, người Ba Na còn vô số các
vị thần khác nữa như thần Rừng yang Bri, thần Đất yang Teh, thần Đá yang
T’mo, thần Núi yang Kông, thần Sông yang Krong, thần Nồi yang Ga, thần Sắt
yang Mam, thần Chiêng yang Ching… Mỗi thần có một công việc cụ thể, một
sự sắp đặt, phân công sẵn của đấng tạo hóa Bok Kei Dei - Yă Kuh Keh.
1.2.11..2: Quan niệm về linh hồn.
Người Ba Na cho rằng mọi vật đều có linh hồn, từ hạt thóc, chiếc ché
toàn bộ đời sống của người Ba Na đều được phan chiếu qua tín ngưỡng thờ cúng
thần linh. Hệ thống của họ chưa đủ để xay dựng một hệ thống thần linh đồ sộ.
Tuy vậy qua những sử thi, những truyền thuyết lý giải sự hình thành của vũ trụ
và muôn loài, ta có thể hình dung các vị thần (yang) của người Ba na một cách
khá sinh động theo quan niệm của người trong cuộc.
24
Người Ba Na cho rằng mọi vật đều có linh hồn, từ hạt thóc, chiếc ché
cho đến những con nắn bằng cảm quan thông thường, ở những thời khắc bình
thường. Nhưng trên cái nền của những chứng nghiệm trực quan, cảm tính truyền
thống cùng với những trải nghiệm của cá nhân đem lại từ những giấc mơ thường
là sống động và dày dặn, thì linh hồn không phải là cái gì đó côn trùng bé nhỏ...
Ngay cả con người cũng vậy, con người có linh hồn - một thực thể linh thiêng có
vai trò làm nên sự sống vốn kì diệu nhưng lại vô hình vô ảnh, không thể nhìn
thấy hay sờ không thực hay quá trừu tượng. Với người Ba Na, giấc mơ của con
người là lúc hồn người pơ ngol rời khỏi thể xác a kâu để đi vào thế giới huyền
ảo của mình, thế giới mà ở đó hồn có thể gặp lại những người thân đã chết hay
thế
giới
của
những
vị
thần
Cái chết vốn là sự tương phản sâu sắc với sự sống. Vì vậy, bản chất của linh
hồn sau cái chết cũng sẽ có những đổi thay nhất định. Nếu ở trạng thái song đôi
cùng thể xác, linh hồn là một thực thể yếu mềm và dễ bị tổn thương vì nhiều
nguyên do khác nhau, thì khi cái chết chia cắt vĩnh viễn nó với thể xác, lập tức
linh hồn biến thành môt thực thể với đủ sức mạnh thiêng liêng. Nó tồn tại một
cách độc lập, có ích và đôi khi không phải là vô hại. Cái chết, với người Ba Na,
là sự không trở lại của hồn, khi đó hồn cứ lang thang mãi trong thế giới riêng
của nó. Người ta tin có ma lành, ma tốt (kiăk lâng), có ma dữ, ma xấu (kiăk me).
Việc trở thành ma lành hoặc ma dữ không phụ thuộc vào tư cách hoặc thể chất
của con người lúc sống mà phụ thuộc vào tình trạng chết lành hoặc chết dữ của
nó. Theo quan niệm của người Ba Na, chết lành là chết già, chết vì đau ốm, bệnh
tật ở trong nhà, sau này khi xuống làng người chết (plei atâu), hồn sẽ trở thành
ma lành luôn phù hộ cho con cháu trong gia đình. Người Ba Na rất sợ người
chết dữ (lôch kơni), những cái chết không bình thường như tự tử (lôch đipo),
phụ nữ chết trong khi sinh mà đứa con vẫn còn trong bụng (lôch xơnom)...,
những hồn này thường hay trở về quấy phá hay làm hại người trong làng. Những
người chết dữ được chôn ở nghĩa địa riêng, không chung với nghĩa địa của làng,
cách xa làng, nơi chẳng ai dám đến chặt cây, làm rẫy, phá rừng.
25