Tải bản đầy đủ (.docx) (33 trang)

Thực trạng tín dụng của NHNo & PTNT chi nhánh Thanh trì

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (248.61 KB, 33 trang )

Thực trạng tín dụng của NHNo & PTNT chi nhánh Thanh trì:
4.1.1. Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng
Hoạt động huy động vốn đóng vai trò rất quan trọng đối với mỗi ngân hàng. Bởi vì tiền là yếu tố
đầu vào và cũng là sản phẩm đầu ra của các ngân hàng theo nhiều hình thức khác nhau nhằm mục
đích sinh lời. Mục tiêu huy động vốn của ngân hàng là để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mình,
chính là đáp ứng nhu cầu về vốn cho SXKD và tiêu dùng của nền kinh tế tại từng khu vực và địa
phương, cho nên nguồn vốn mỗi ngân hàng cần huy động là rất lớn. Không huy động được nguồn
vốn kịp thời thì ngân hàng không thể thực hiện được các hoạt động của chính mình. Vì vậy huy động
vốn luôn được sự quan tâm hàng đầu của mỗi ngân hàng.
Nhận thấy tầm quan trọng của nguồn vốn huy động cho nên chi nhánh Thanh Trì đã không ngừng
mở rộng hoạt động huy động vốn bằng nhiều hình thức khác nhau. Trước hết đó là mở rộng mạng
lưới chi nhánh và phòng giao dịch đến từng địa phương, đảm bảo gần dân, sát dân, thuận tiện cho
hoạt động huy động vốn. Thứ hai, là hiện đại hóa công nghệ gắn liền với đổi mới công tác giao dịch
của nhân viên, tạo sự tôn trọng của ngân hàng đối với người gửi tiền. Thứ ba, là đẩy mạnh các hoạt
động marketting. tiếp thị, quảng cáo, khuyến mãi… trong hoạt động huy động vốn, tạo thông tin
minh bạch, công bố thông tin rộng rãi cho người dân chủ động lựa chọn các hình thức tiền gửi với
lãi suất kỳ hạn khác nhau. Thứ tư, là đa dạng hóa các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm, đa dạng các hình
thức huy động vốn cho phù hợp với nhu cầu đông đảo của người dân.
Nhờ vậy, nguồn vốn huy động không những đạt và vượt mức kế hoạch hàng năm mà chất lượng của
nguồn vốn huy động không ngừng được nâng cao. Điều đó được thể hiện chi tiết qua số liệu đạt
được của chi nhánh ở Bảng 3 dưới đây :
Bảng 3: Tình hình huy động vốn tại NHNo & PTNT Thanh Trì
Năm
Chỉ tiêu
2005 2006 2007 So sánh
(%)
BQ(%)
TH % TH % TH % 06/05 07/06
Tổng nguồn vốn huy động847.920 100 1054.400 100 1.391.899 100 124,35 132,01 128,12
1. Phân theo loại tiền:847.920 100 1054.866 100 1.391.899 100 124,3 132,00 128,09
- Nội tệ 813.217 95,9 992.248 94,1 1.301.392 93,49 122,02 131,16 126,51


- Ngoại tệ 34.703 4,1 62.600 6,9 90.507 6.51 180,39 144,58 161,15
2.Phân theo thời hạn:
- TG không kì hạn216.487 25,6 178.100 16,9 212.466 15,26 82,27 119,30 99,07
- TG có kì hạn < 12 tháng339.762 42,6 475.000 45 582.106 41,82 139,80 122,55 130,89
- TG có kì hạn >12 tháng291.671 31,8 401.300 38,1 597.327 42,92 137,59 148,85 143,11
3. Phân theo tính chất
huy động
- Tiền gửi dân cư.604.726 71 832.100 78,9 1.057.435 75,97 138,1 127,08 132,48
- Tiền gửi tổ chức kinh tế.242.704 28,9 221.800 21 333.610 23,96 90,5 150,41 116,67
- Tiền gửi các TCTD490 0,5 483 0,4 854 0,7 98,57 176,81 132,01
- Xét về thực tế huy động vốn theo loại tiền: Nguồn vốn huy động của ngân hàng có sự tăng
trưởng mạnh cả về nội tệ và ngoại tệ. Trong đó tốc độ tăng bình quân năm của nguồn ngoại
tệ(161,15%/năm) tăng nhanh hơn tốc độ tăng của nguồn nội tệ (126,51%/năm). Nếu xét về mức độ
hoàn thành kế hoạch thì có thể đánh giá rằng công tác huy động vốn của chi nhánh đạt được hiệu
quả cao so với dự kiến. Tuy nhiên, nguồn vốn huy động nội tệ luôn chiếm đa số trong tổng nguồn
vốn huy động của chi nhánh. Mỗi năm nguồn huy động ngoại tệ chỉ đạt hơn một triệu USD không
đủ để đáp ứng cho nhu cầu thanh toán xuất nhập khẩu quốc tế. Trong khi đó ngân hàng vẫn chưa có
biện pháp triệt để nào để khắc phục sự khan hiếm nguồn cung ngoai tệ này mà chủ yếu là phụ thuộc
vào sự cung ứng của ngân hàng nhà nước. Đây chính là điểm bất cập còn tồn tại trong hoạt động huy
động vốn của ngân hàng bởi vì trong thời gian tới nhu cầu về nguồn ngoại tệ sẽ tăng nhanh mà ngân
hàng lại không tự chủ được nguồn ngoại tệ thì sẽ hạn chế rất lớn đến hoạt động cho vay và lợi nhuận
thu được hàng năm của chính ngân hàng.
- Xét về cơ cấu nguồn vốn huy động theo thời hạn:
Theo cách phân loại này thì tổng nguồn vốn huy động được phân theo 2 hình thức: loại tiền
gửi không kỳ hạn( TGKKH), loại tiền gửi có kỳ hạn (TGCKH) bao gồm kỳ hạn gửi dưới 12 tháng
và kỳ hạn gửi trên 12 tháng. Trong đó, nguồn vốn không kỳ hạn là nguồn vốn được huy động với lãi
suất thấp (0,25%/tháng) và dễ dàng rút tiền bất kì khi nào cần thiết dẫn tới nhu cầu của khách hàng
đối với hình thức tiền gửi này là tương đối thấp. Tại chi nhánh, hình thức TGKKH có đặc điểm là
thường xuyên không ổn định bởi vì loại tiền gửi này tăng giảm phụ thuộc vào lượng tiền gửi đền bù
giải phóng mặt bằng của ban quản lý các dự án tại địa phương, cho nên có khi lượng tiền gửi một

ngày lên đến hàng chục tỷ đồng nhưng khi hoạt động đền bù kết thúc thì lượng tiền gửi này cũng
giảm theo. Vì vậy, số liệu của chỉ tiêu này chỉ phản ánh biến động chính xác tại thời điểm nghiên
cứu.Trong 3 năm qua nguồn vốn huy động từ hình thức này chỉ đạt bình quân 99,07%/ năm và tại
thời điểm 31/12/2006 thì lượng huy động TGKKH này giảm tới mức thấp nhất trong 3 năm (chỉ đạt
82,27% so với năm 2005) đã tác động làm giảm tốc độ gia tăng bình quân của loại TGKKH này. Sự
sụt giảm này là do sự tác động của 2 yếu tố gây nên: thứ nhất là do sự xuất hiện thêm các đối thủ
cạnh tranh và tiền gửi của ban quản lí dự án Thăng Long giảm do đền bù xong dự án cầu Thanh Trì.
Đối với hình thức TGCKH thì loại tiền gửi trên 12 tháng có tính ổn định cao hơn TGKKH và
TGCKH dưới 12 tháng. Bởi vì nguồn vốn này có thời gian huy động dài hơn 2 hình thức trên nên
ngân hàng có thể chủ động trong hoạt động cho vay và thanh toán của mình. Vì vậy, ngân hàng chủ
trương thực hiện chính sách tập trung nâng cao thu hút lọaị tiền gửi này với nhiều lãi suất ưu đãi
theo từng thời gian huy động cụ thể. Dẫn tới tổng vốn huy động có được theo hình thức này có xu
hướng gia tăng nhanh( bình quân 143,11%/ năm) và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng nguồn
vốn huy động của ngân hàng.
Xét theo tính chất huy động, nguòn tiền gửi dân cư thường xuyên chiếm trên 70% tổng nguồn
vốn. Đây là yếu tố giúp nguồn vốn có độ ổn định tương đối cao. Nguồn tiền gửi từ dân cư phụ thuộc
chủ yếu vào các dự án đền bù giải phóng mặt bằng. Để thu hút hiệu quả nguồn vốn này, công tác tổ
chức và huy động vốn đã được tổ chức một cách kỹ lưỡng, tiến hành một cách bài bản từ khâu phân
công cán bộ tiếp cận, thu thập thông tin về dự án; liên hệ và duy trì tốt mối quan hệ với chính quyền
địa phương, đặt điểm huy động; tích cực tuyên truyền vận động người dân, đến bố trí cán bộ,
phương tiện đầy đủ và phù hợp… nên mặc dù có nhiều đối thủ cạnh tranh nhưng NHNo & PTNT
Thanh Trì vẫn luôn là đơn vị thu hút được nhiều nhất nguồn tiền gửi từ dân cư trong mỗi lần trả tiền
đền bù. Tuy nhiên, sau một thời gian ngắn người dân sẽ rút bớt để chi tiêu mua nhà tái định cư, xây
dựng sữa chữa nhà cửa… nên mức tăng thực tế còn chậm so với các nguồn khác.
Bên cạnh đó, NHNo & PTNT Thanh Trì cũng rất chú trọng đến việc huy động các nguồn vốn
có lãi suất thấp, nhất là nguồn tiền gửi thanh toán của các tổ chức tiền gửi, kho bạc bảo hiểm xã hội.
4.1.2. Hoạt động cho vay và thu nợ tại ngân hàng:
4.1.2.1. Tình hình cho vay - thu nợ của ngân hàng:
Bảng 4 : Doanh số cho vay và thu nợ của NHNo & PTNT Thanh Trì
ĐVT: triệu đồng.

Năm
Chỉ tiêu
2005 2006 2007 So sánh (%) BQ(%)
06/05 07/06
1. Doanh số cho vay 744.057 869.670 1.601.619 116,9 184,16 146,74
2. Tổng doanh số cho vay
DNVVN
414.628 660.471 1.103.000 159,29 167,00 163,10
3. Doanh số cho vay PT NNNT 77.861 79.511 88.216 102,12 110,09 106,03
4.Doanh số cho vay BĐS: 39.322 43.832 52.476 111,47 119,72 115,52
5. Doanh số thu nợ 720.386 761.438 1.520.019 105,70 199,62 145,26

Mặc dù phải đối mặt với nhiều đối thủ cạnh tranh trên địa bàn nhưng doạnh số cho vay của
chi nhánh không những không giảm sút mà còn đạt được mức tăng trưởng bình quân qua các năm
khá cao với tốc độ tăng bình quân hàng năm 46,74%/ năm. So với nguồn vốn huy động thì doanh số
cho vay tăng cả về mặt tuyệt đối và tương đối điều này đồng nghĩa với việc nguồn vốn huy động
không đáp ứng đủ với nhu cầu cho vay của chi nhánh. Tuy nhiên, vẫn chưa thể kết luận được hoạt
động cho vay có chịu ảnh hưởng bởi sự thiếu hụt một lượng vốn huy động cần thiết hay không? mà
còn phải tính đến khả năng thu hồi nợ và một số yếu tố khác tác động đến khả năng cho vay của chi
nhánh. Qua tính toán cho thấy rằng tốc độ tăng doanh số thu nợ của chi nhánh lại đáp ứng được với
sự gia tăng của tốc độ vay vốn chính vì vậy khả năng thanh khoản của chi nhánh không phải chịu sự
tác động của việc thiếu hụt một lượng vốn huy động cân thiết. Nhưng cũng không thể phủ nhận rằng
chi nhánh cần có biện pháp nhằm tăng lượng cung tiền đối với hoạt động cho vay. Bởi vì lượng vốn
thu hồi nợ không phải lúc nào cũng ổn định cho nên để tránh tình trạng thiếu hụt vốn xảy ra thì nâng
cao nguồn vốn huy động là rất cần thiết đảm bảo cho chất lượng hoạt động tín dụng của chi nhánh.
Bên cạnh, thực hiện các hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận thì chi nhánh còn thực
hiện các chính sách tín dụng phục vụ cho phát triển nông nghiệp, nông thôn theo sự chỉ đạo của
NHNN. Chính sách của chi nhánh tập trung trong thời gian gần đây là đẩy mạnh hoạt động cho vay
phát triển các ngành nghề tại địa phương trong đó chú trọng cho vay đối với loại hình doanh nghiệp
vừa và nhỏ(DNVVN). Bởi vì, đây là một loại hình rất phù hợp với điều kiện thực tế của huyện

Thanh Trì, tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm cho người dân và xây dựng CSVC cho quá
trình đô thị hóa nông nghiệp, nông thôn. Bởi vậy, doanh số cho vay đối với DNVVN có tốc độ gia
tăng lớn nhất so với các loại hình doanh nghiệp khác trên địa bàn, tăng trưởng 63,1% mỗi năm. Nhìn
chung các DNVVN vay vốn chi nhánh NHNo & PTNT Thanh Trì đều chấp hành tốt thể lệ tín dụng
ngân hàng, trả nợ gốc và lãi đầy đủ đúng hạn. Nhưng công tác cho vay đối với loại hình này vẫn còn
gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân là do các DNVVN chuyển từ doanh nghiệp sang cổ phần hóa có
nhu cầu vay vốn rất lớn nhưng giá trị tài sản không đủ để đảm bảo vay vốn chi nhánh. Ngoài ra, các
DNVVN xuất thân từ DNNQD các báo cáo tài chính thường bất cập số liệu thiếu chính xác dẫn đến
việc xác định không đúng dẫn đến việc đầu tư tín dụng gặp nhiều khó khăn.
Ngoài ra, chi nhánh còn rất chú trọng phát triển cho vay đối với các hộ SXKD phục vụ mục
đích cho SXKD và tiêu dùng, không thực hiện cho vay đối với mục đích kinh doanh chứng khoán và
kinh doanh bất động sản. Chỉ thực hiện cho vay bất động sản phục vụ cho mục đích mua sắm, xây
dựng, sửa chữa… cụ thể trong thời gian qua kết quả cho vay theo thông tư 2308 đã đề cập ở trên đạt
được như sau:
Bảng 5 : Tình hình thực hiện thông tư liên tich 2308 của NHNo & PTNT Thanh Trì
Năm
Chỉ tiêu
2005 2006 2007
1. Tổng số tổ thành lập 218 218 214
2.Tổng số thành viên 6.585 6.672 7.120
3. Doanh số cho vay 1.731 1.150 919
4. Doanh số thu nợ 2.158 1827,3 1.316
5. Dư nợ 14.853 13.571 11.184
Việc thực hiện theo thông tư liên tịch 2308 đã tạo điều kiện thuận lợi cho chính người dân và
cả chi nhánh. Người dân thông qua các tổ vay vốn có điều kiện được vay vốn không cần tài sản thế
chấp tạo thuận lợi cho người dân trong việc tiếp cận nguồn vốn phục vụ cho SXKD. Còn đối với chi
nhánh thông qua thành lập các tổ vay vốn giúp cho chi nhánh quản lí được nguồn vốn cho vay theo
hình thức tự quản lý của các tổ vay vốn( khách hàng vay vốn thuộc các tổ vay vốn đều được chi
nhánh sàng lọc cẩn thận nên trả nợ rất sòng phẳng ít phát sinh nợ quá hạn) góp phần hạn chế được
rủi ro phát sinh đồng thời khi có rủi ro phát sinh cũng thuận lợi cho chi nhánh trong việc đôn đốc thu

nợ.
Nhưng thông tư này cũng tồn tại một số nhược diểm như:
Đối với người dân: về giới hạn cho vay chỉ là 10 triệu đồng/hộ chưa đáp ứng được nhu cầu vay
vốn lớn của người dân. Thời hạn cho vay còn ngắn chưa phù hợp với đặc điểm SXKD của người dân và
thủ tục cho vay còn phiền hà, phức tạp.
Đối với Chi nhánh: Đa phần nhà ở nông thôn có rất ít giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cộng
với cải tạo xây dựng nhà ở không xin phép gây rất nhiều khó khăn đối với chi nhánh trong thẩm định và
quyết định cho vay tiêu dùng.Với số lượng thành viên vay vốn khá đông cũng làm cho công tác quản lý
nợ rất khó khăn.
Chính vì những bất cập còn tồn tại cho nên hoạt động cho vay theo hình thức này trong thời
gian qua đã có xu hướng giảm sút. Một phần xuất phát từ các cán bộ tín dụng không chú trọng đối với
hình thức này( số lượng cho vay nhỏ, lợi nhuận thu được thấp, thủ tục phức tạp..) một phần xuất phát từ
nhu cầu của người dân đối với hình thức này có phần giảm đi. Như vậy, hình thức cho vay theo thông tư
liên tịch 2308 đã bộc lộ một số bất cập so với điều kiện thực tế mà Chi nhánh cần có sự quan tâm khắc
phục nhằm thực thi được mục đích ban đầu mà thông tư này muốn đem lại.
4.1.2.2 Thực trạng dư nợ của chi nhánh NHNo & PTNT Thanh Trì:
Bảng 6: Tình hình hoạt động cho vay tại NHNo & PTNT Thanh Trì.
ĐVT: triệu đồng
Năm
Chỉ tiêu
2005 2006 2007 So sánh(%) BQ(%)
KH TH KH TH KH TH 06/05 07/06
- Tổng dư nợ 339.960 333.785 440.100 439.592 550.000 526.782 131,69 119,83 125,62
1. Phân theo loại tiền:
- Nội tệ. 262.000 256.285 350.100 377.746 464.761 147,39 123,03 134,66
- Ngoại tệ. 77.960 77.500 90.000 61.846 62.021 79,80 100,28 89,45
2. Phân theo thời gian:
- Ngắn hạn ( < 12 tháng) 259.156 360.052 425.875 138,93 118,28 128,19
- Trung hạn( 12 – 60 72.104 77.602 93.641 107,63 120,67 113,96
tháng)

- Dài hạn (> 60 tháng) 2.425 1.938 0 79,91 0 -
3. Phân theo thành phần
kinh tế:
- DNNN. 58.023 43.978 500 75,79 1,137 9,28
- DNNQD 165.444 274.409 332.988 165,86 110,16 135,17
- HTX 2.000 3.560 5.760 178,00 161,8 169,71
- Hộ gia đình 60.684 61.474 112.233 101,30 182,57 135,99
- Cho vay khác 47.634 56.171 75.301 117,92 134,06 125,73
4. Phân theo ngành kinh
tế:
- Công nghiệp 85.253 125.841 101.776 147,61 80,87 109,26
- Nông nghiệp 47.852 16.047 14.199 33,53 88,48 54,47
- TM – DV 170.683 138.626 229.668 81,22 165,67 116,00
- Ngành khác 29.997 159.078 181.138 530,31 113,86 245,73
Những số liệu thống kê ở trên đã phản ánh những nét cơ bản về hoạt động cho vay và thu nợ
của chi nhánh trong thời gian qua. Qua đó, đã ghi nhận những thành quả đạt được của chi nhánh
trong việc nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế đối với khu vực, địa bàn hoạt động
của mình. Các thành quả thu được đánh giá qua các chỉ tiêu như sau:
- Đối với dư nợ theo loại tiền: Sự gia tăng của dư nợ theo loại tiền có điểm tương đồng với
hoạt động huy động vốn đó là dư nợ nội tệ chiếm đa số trong tổng dư nợ của chi nhánh. Bên cạnh
đó, dư nợ cho vay ngoại tệ lại có xu hướng giảm dần và không hoàn thành kế hoạch đề ra. Sự suy
giảm của hoạt động cho vay bằng ngoại tệ đã làm suy giảm dư nợ cho vay một lượng là: 15.670 triệu
đồng. Xét về tốc độ tăng trưởng dư nợ so với huy động vốn thì tốc độ tăng trưởng dư nợ thấp hơn so
với tốc độ tăng trưởng nguồn một mức là 526.782- 440100 x 128,1%= - 36.986,1 (triệu đồng). Mức
giảm của dư nợ tín dụng chịu tác động ngược chiều của sự tăng giảm dư nợ nội tệ và ngoại tệ. Trong
khi, dư nợ tín dụng nội tệ tăng vượt mức huy động nội tệ, cụ thể là tăng so với thực tế dư nợ cần đạt
là 9.539,3 (triệu đồng) thì dư nợ ngoại tệ lại giảm so với mức thực tế cần đạt là 37.643,83 (triệu
đồng). Như vây tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng của chi nhánh trong 3 năm qua có thể nhận xét là
gắn liền với tốc độ phát triển nguồn vốn, không xảy ra hiện tượng tăng trưởng tín dụng quá nóng
như một số ngân hàng đã gặp trong thời gian gần đây. So với doanh số cho vay đạt được càng khẳng

định thêm rằng hoạt động quản lý nợ của chi nhánh được thực hiện rất hiệu quả. Bên cạnh đó, dư nợ
nội tệ quá cao so với dư nợ ngoại tệ cũng thể hiện sự mất cân đối trong cơ cấu cho vay vì vậy chi
nhánh cần phải có sự xem xét lại trong cơ cấu huy động nguồn tiền cũng như khuyến khích cho vay
ngoại tệ nhằm tận dụng tối đa nguồn vốn huy động được của chi nhánh cho phù hợp với nhu cầu vay
vốn hiện nay.
Hoạt động cho vay của chi nhánh trong thời điểm các tháng đầu năm do có hiện tượng khan
hiếm tiền đồng trên thị trường cho nên lượng khách hàng vay vốn tăng lên đột biến làm dư nợ của
chi nhánh có lúc tăng lên rất cao, có ngày vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra tới 17 tỷ đồng. Để hạn chế
tăng trưởng tín dụng quá nóng, kiềm chế lạm phát mà NHNN đề ra chi nhánh đã thực hiện một số
biện pháp thắt chặt tín dụng như: hạn chế cho vay ngoại tệ, đưa ra các định mức cho vay đối với mỗi
cán bộ tín dụng, định mức cho vay/ ngày, nâng cao lãi suất huy động và lãi suất cho vay đồng thời
tăng cường công tác thu hồi nợ chính vì vậy cho tới nay chi nhánh đã vượt qua được giai đoạn khó
khăn do thiều nguồn vốn gây nên mà không ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của chi nhánh.
- Đối với dư nợ theo thời gian: dư nợ cho vay ngắn hạn của chi nhánh luôn chiếm trên 70% so
với tổng doanh số cho vay. Cơ cấu tỷ lệ cho vay ngắn hạn của chi nhánh như vậy được đánh giá là
có hiệu quả cao bởi vì loại cho vay này có thời gian thu hồi vốn ngắn cho nên thuận lợi trong việc
thu hồi nguồn vốn, đẩy nhanh vòng quay vốn tín dụng, hạn chế được các rủi ro phát sinh do các biến
động thị trường gây nên nhưng đi liền với điều đó là tính ổn định không cao (do chỉ có thể thực hiện
cho vay ở hiện tại còn trong tương lai có thực hiện tiếp được hay không thì chưa thể xác định chắc
chắn), và chi phí quản lý hoạt động cho vay cũng gia tăng. Bên cạnh sự gia tăng mạnh mẽ của doanh
số cho vay ngắn hạn, thì sự gia tăng của doanh số cho vay trung và dài hạn còn tương đối thấp đặc
biệt là đối với doanh số cho vay dài hạn. Nguồn cho vay trung và dài hạn, tuy có độ rủi ro cao hơn
nhưng lạị mang tính ổn định và có lãi suất cho vay cao, phát triển được hình thức cho vay này góp
phần tạo điều kiện cho chi nhánh trong việc bám sát các chỉ tiêu kế hoạch đề ra.
Địa bàn Thanh Trì là một huyện ven đô, doanh nghiệp lớn còn ít, doanh nghiệp vừa và nhỏ
hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ là chủ yếu. Vì vậy, nhu cầu về nguồn vốn dài hạn cho mở rộng
SXKD chưa cao nhưng doanh số cho vay dài hạn giảm mạnh và trong năm 2007 bằng không cũng
thể hiện khả năng thu hút thêm khách hàng mới trong và ngoài địa bàn của chi nhánh còn yếu, trong
khi chi nhánh lại luôn trong tình trạng dư thừa nguồn vốn điều này cho thấy chi nhánh chưa phát huy
được hết khả năng sinh lời vốn có của nguồn vốn đã huy động được.

- Đối với dư nợ theo thành phần kinh tế: Thực hiện định hướng chung của toàn hệ thống
NHNo & PTNT Việt Nam, chi nhánh NHNo & PTNT Thanh Trì chủ trương thu hẹp diện đầu tư tín
dụng đối với các DNNN, đẩy mạnh cho vay hộ sản xuất, các DNVVN nên cơ cấu dư nợ theo thành
phần kinh tế có sự chuyển dịch đáng kể . Thể hiện rõ rệt qua các chỉ tiêu: tỷ lệ dư nợ của khối
DNNN giảm mạnh qua các năm, riêng trong năm 2007 dư nợ cho vay DNNN chỉ còn đạt 500 triệu
đồng và chiếm tỷ lệ 0,95% so với tổng dư nợ của toàn chi nhánh; tỷ lệ cho vay đối với các thành
phần kinh tế khác đều có sự tăng trưởng mạnh vì thế mặc dù cho vay đối với khối DNNN giảm
mạnh nhưng cũng không làm giảm tổng dư nợ đạt được của chi nhánh. Để thực hiện tốt các chính
sách trên, chi nhánh đã rất thận trọng trong việc cho vay đối với DNNN thuộc diện cổ phần hóa,
giao, bán khoán cho thuê( nhất là các DNNN có xu hướng đi xuống); và các DNNQD có tình hình
tài chính không rõ ràng, các dự án KD có hiệu quả thấp, khả năng trả nợ không chắc chắn.
- Đối với dư nợ theo ngành kinh tế: Qua các số liệu trên cho thấy dư nợ cho vay theo ngành
của chi nhánh chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng của ngành nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng
cho vay đối với ngành công nhiệp, TMDV và cho vay khác. Điều này phù hợp với quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế xã hội của Huyện Thanh Trì. Có
được điều này là do chi nhánh đã phối hợp chặt chẽ với các cấp ủy, chính quyền địa phương, các tổ
chức, đoàn thể trong thực hiện đầu tư tín dụng tập trung phục vụ mục đích cho phát triển kinh tế xã
hội của Huyện Thanh Trì.
4.1.3. Thực trạng nợ quá hạn của ngân hàng:
Bảng 7: Thực trạng nợ quá hạn tại NHNo & PTNT Thanh Trì
ĐVT: triệu đồng
Năm
Chỉ tiêu
2005 2006 2007
I. Tổng nợ quá hạn (NQH) 1.175 2005,1 7.584
1. Phân theo loại hình kinh tế
- Kinh tế quốc doanh. 0 1.275,6 0
- Kinh tế ngoài quốc doanh. 171 0 6.060
- Hộ SX, cá thể. 1.004 729,5 1.524
2. Phân theo thời hạn:

- NQH cần chú ý (< 90 ngày) 977 1.922 7304,2
- NQH dưới tiêu chuẩn ( 90 – 180 ngày) 139 31 44,1
- NQH nghi ngờ (180-360 ngày). 24 24,1 169
- NQH có khả năng mất vốn (> 360 ngày). 35 28 50,7
3. Phân theo nguyên nhân:
- Nguyên nhân chủ quan. 1.175 2.005,1
- Nguyên nhân khách quan. 7.584
Từ bảng số liệu về thực trạng nợ quá hạn ta có một số nhận xét như sau:
Tổng nợ quá hạn hàng năm ở mức thấp và có xu hướng tăng dần qua các năm, năm 2006: tăng
170,65%, năm 2007: tăng 378,24%. Năm 2007 có mức tăng trưởng dư nợ quá hạn vượt quá mức đây
là một dấu hiệu không tôt trong quản lý tín dụng của ngân hàng mặc dù xét về nguyên nhân thì nợ
quá hạn của các khoản nợ trên thuộc các nguyên nhân bất khả kháng.
Đa số nợ quá hạn thuộc loại nợ quá hạn cần chú ý có thời gian quá hạn dưới 90 ngày. Dư nợ
quá hạn chủ yếu tập trung vào thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và hộ sản xuất cá thể. Như vậy,
là tốc độ tăng trưởng của dư nợ quá hạn là khá cao, mặc dù số lượng không lớn nhưng cho thấy rằng
dư nợ quá hạn có chiều hướng phát triển cần phải có biện pháp quản lý nợ quá hạn để hạn chế mức
phát sinh. Trong năm 2006, 2005 nợ quá hạn tập trung vào nguyên nhân KD thua lỗ và một số
nguyên nhân khác, còn năm 2007 nợ quá hạn chỉ tập trung vào nguyên nhân bất khả kháng. Nguyên
nhân dẫn tới dư nợ quá hạn tăng nhanh đến như vậy là do việc chuyển đổi kinh tế không theo kịp tốc
độ đô thị hóa, môi trường kinh doanh không thuận lợi tạo sự e ngại cho các nhà đầu tư khiến cho
công nghiệp và dịch vụ không phát triển
4.2. Đánh giá chất lượng tín dụng tại ngân hàng:
4.2.1 Đánh giá chung:
+ Những kết quả đạt được của ngân hàng trong thời gian qua:
Hoạt động tín dụng của NHNo & PTNT chi nhánh Thanh Trì đã đạt được sự tăng trưởng ổn
định qua nhiều năm. Chất lượng tín dụng ngày càng được nâng cao một cách rõ rệt so với thời gian
trước đây. Từ một chi nhánh tồn đọng nhiều nợ xấu, không đủ lương cho cán bộ nhân viên cho đến
nay tại ngân hàng giải quyết được các khoản nợ khoanh, nợ có khả năng mất vốn thông qua việc đôn
đốc thu nợ, xử lí rủi ro các khoản nợ đến hạn, thanh lí tài sản đảm bảo, và sử dụng một phần hỗ trợ
của nhà nước trong chính sách thúc đẩy kinh tế địa phương.

- Các chỉ tiêu về huy động vốn và cho vay từng năm đều vượt kế hoạch đề ra đã tạo điều kiện
thuận lợi cho ngân hàng nâng cao năng lực tài chính và năng lực cạnh tranh của mình trong quá trình
hội nhập.
- Tỷ lệ nợ xấu/ tổng dư nợ và trích lập dự phòng đạt tiêu chuẩn theo quy tắc Basel đề ra.
- Thực hiện đầy đủ các quy định của NHNN đề ra, khắc phục và xử lí tốt các khoản nợ quá
hạn phát sinh, tổ chức tốt công tác thu nợ đã xử lý rủi ro
- Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng rất cao, đóng góp chủ yếu vào thu nhập
của ngân hàng. Ngân hàng đã thực hiện tối tiết kiệm tối đa chi phí, tích cực đẩy mạnh gia tăng doanh
thu.
- Thực thi chính sách tín dụng của nhà nước có hiệu quả trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
địa phương góp phần CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn.
+ Những hạn chế tồn tại cần khắc phục:
- Tổng nguồn vốn tăng chậm, chưa tương xứng với khả năng có thể của địa bàn. Điều này cho
thấy công tác huy động vốn vẫn chưa thực sự phát huy hết hiệu quả cần có. Ngoài hình thức huy
động tiết kiệm dự thưởng tặng vàng thì ngân hàng không có nhiều hình thức trong thu hút khách
hàng đến gửi tiền. Đứng trước hiện tượng khan hiếm tiền trong thời gian qua, ngân hàng có lúc đã
dừng hẳn hoạt động cho vay mà chỉ cho vay đối với đối tượng hộ sản xuất nông nghiệp và lượng vay
không quá 10.000.000 đ/hộ. Bên cạnh đó, nguồn vốn huy động chủ yếu là ngắn hạn, bằng đồng nội
tệ cho nên tính ổn định chưa cao.
- Dư nợ thấp, tốc độ tăng trưởng dư nợ chậm, dư nợ bình quân trên cán bộ tín dụng thấp hơn
so với bình quân toàn ngành.
- Tỷ lệ dư nợ trung và dài hạn còn thấp và đối tượng ưu tiên lại tập trung vào hộ sản xuất,
doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cho vay trung và dài hạn có độ rủi ro cao hơn cho vay ngắn hạn nhưng lãi
suất cho vay trung và dài hạn lại lớn hơn cho vay ngắn hạn. Việc tăng tỷ lệ cho vay trung và dài hạn
giúp cho ngân hàng mở rộng được quy mô hoạt động tín dụng. Hơn nữa còn giúp cho ngân hàng giữ
được các khách hàng quen thuộc và lôi kéo các doanh nghiệp lớn thường được coi có độ an toàn tín
dụng cao hơn các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Thủ tục cho vay còn phức tạp, thời gian thực hiện quy trình cho vay còn chậm ảnh hưởng tới
thời gian của khách hàng. Đa số khách hàng đến vay tiền thường có nhu cầu rất cấp bách chính vì
vậy việc kéo dài thời gian thực hiện cho vay có thể tác động xấu tới kết quả thực hiện dự án SXKD

và niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng.
- Trong quy trình cho vay, vẫn tồn tại tình trạng làm tắt đối với các thủ tục cho vay. Công tác
kiểm định và đánh giá tài sản trong cho vay tín chấp còn sơ sài, chưa sát với thực tế. Thông thường
cho vay tín chấp là cho các hộ SXKD vay qua tổ với lượng tiền không quá 10.000.000đ cho nên các
cán bộ thường chủ quan trong trong việc kiểm định và đánh giá tài sản. Tuy nhiên, lượng khách hàng
này chiếm tỷ trọng khá lớn trong cho vay của ngân hàng. Cho nên, công tác kiểm định và đánh giá
tài sản giúp cho ngân hàng có thông tin cụ thể về từng đối tượng khách hàng, qua đó xây dựng chiến
lược cho vay, thu nơ, quản lý mục đích sử dụng nguôn vốn của khách hàng một cách hợp lý.
- Việc thực hiện chấm điểm khách hàng thực hiện còn chưa triệt để, chỉ thực hiện mỗi năm
một lần và đối tượng chủ yếu là khách hàng vay thế chấp. Việc chấm điểm khách hàng phải được
thực hiện một cách thường xuyên để ngân hàng có được thông tin đầy đủ về khách hàng. Qua đó, có
các điều chỉnh thích hợp khi cần thiết. Việc kiểm định chỉ 1 năm/1 lần có thể không đánh giá hết
được từng khách hàng như vậy sẽ làm tăng rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng.
- Chưa thực sự linh hoạt trong chính sách về lãi suất, trong thời gian ngắn lãi suất cho vay của
ngân hàng còn chưa bằng lãi suất huy động của các ngân hàng khác, hoạt động thỏa thuận lãi suất
còn hạn chế chủ yếu là dựa trên các quy định đề ra. Áp dụng chính sách lãi suất phù hợp trong từng
điều kiện cụ thể không những làm giảm rủi ro mà còn giúp ngân hàng nâng cao thu nhập cho mình.
- Các hình thức dịch vụ cung cấp và hoạt động cho vay chưa đa dạng. Hình thức cho vay chủ
yếu của ngân hàng là cho vay từng lần và cho vay theo hạn mức tín dụng chưa phát huy hết hiệu quả
của các loại hình cho vay, trong đó nhu cầu của người dân về tiêu dùng và kinh doanh (chứng khoán
và bất động sản) là rất lớn thì ngân hàng chỉ mới đáp ứng một cách hạn chế. Nguyên nhân chính là
một phần do sự hạn chế của nhà nước, một phận do người dân chưa đáp ứng đủ điều kiện mà ngân
hàng yêu cầu.
- Cán bộ tin dụng chưa chủ động tìm kiếm khách hàng, tìm kiếm dự án lớn, thời gian thẩm
định món vay kéo dài. Các dự án lớn tại ngân hàng chiếm tỷ lệ nhỏ trong hoạt động tín dụng của
ngân hàng, trong đó một trong những nguyên nhân trực tiếp là cán bộ tín dụng còn thiếu sự chủ động
trong lôi kéo các khách hàng lớn. Sự thiếu chủ động này làm suy giảm thu nhập và khả năng cạnh
tranh trên thị trường tài chính của chi nhánh so với các đối thủ khác trong cùng khu vực.
- Hệ thống công nghệ thông tin vẫn tồn tại nhiều hạn chế đặc biệt trong thời gian gần đây
ngân hàng mới đổi chương trình phần mềm hoạt động. Chính vì vậy đã gây một số khó khăn trong

quá trình quản lí của ngân hàng. Ví dụ như: máy móc vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của cán bộ tín
dụng, hệ thống máy móc một số đã quá cũ, chương trình mới đã không cập nhật được một số thông
tin về dư nợ tín dụng của từng cán bộ trong chi nhánh …
4.2.2 Đánh giá cụ thể về chất lượng tín dụng:
a, Tỷ lệ nợ quá hạn/ tổng dư nợ:
Bảng 8: Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn của NHNo & PTNT Thanh Trì
ĐVT: triệu đồng
Năm
Chỉ tiêu
2005 2006 2007
1. Tổng dư nợ 333.785 440.100 562.782
2. Tổng nợ quá hạn 1.175 2005,1 7.584
3. Tỷ lệ NQH/ tổng dư nợ 0,3% 0,4% 1,34%
4. Tổng nợ xấu: 200,27 83 181
- Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ 0,06% 0,018% 0,03%
5. Nợ XLRR phát sinh 1.790 8.660 2.857,8
6. Trích lập DPRR 2.439 9.141 9.508
7. Thu nợ đã XLRR 315 1620,2 2.388
Theo các số liệu của bảng 4.1 chỉ tiêu về tỷ lệ nợ quá hạn ta có những nhận xét như sau:
Trong thời gian qua, Chi nhánh NHNo& PTNT Thanh Trì đã duy trì được một tỷ lệ nợ quá
hạn thấp với tỷ lệ đạt mức dưới 2%/ năm phù hợp với quy định của NHNN và đạt tiêu chuẩn đề ra
của thông lệ quốc tế ( theo quy tắc Basel tỷ lệ NQH trong khoảng từ 3-5 % là có thể chấp nhận được).
Điều đó đã thể hiện khả năng quản lý nợ và CLTD của Chi nhánh là tương đối tốt.
Tỷ lệ nợ quá hạn của Chi nhánh tuy ở mức thấp nhưng lại có xu hướng tăng dần qua các
năm từ 0,3% năm 2005 lên tới 1,34% vào năm 2007 tăng gấp 4,47 lần trong vòng 3 năm. Trong khi
dư nợ của chi nhánh tăng nhanh thì tỷ trọng của nợ quá hạn lại càng cao chứng tỏ dư nợ quá hạn có
tốc độ tăng trưởng tương đối cao đây là một dấu hiệu không tốt trong quản lý tín dụng. Đặc biệt trong
năm 2007 tổng nợ quá hạn của chi nhánh phát sinh một cách đột biến tăng tới 378,23%. Thực ra các
chỉ tiêu tính toán ở trên đều là các chỉ tiêu tổng hợp của toàn chi nhánh và các phòng giao dịch ở trên
địa bàn huyện Thanh Trì. Tổng nợ quá hạn này phát sinh do Chi nhánh Cầu Bươu một chi nhánh cấp

2 trực thuộc chi nhánh Thanh Trì tiến hành phân loại lại các khoản nợ phát sinh dẫn tới làm gia tăng
tổng nợ quá hạn tới lên gần 6 tỷ chiếm chủ yêu là NQH dưới 180 ngày còn tổng nợ quá hạn của các
chi nhánh và PGD khác vẫn ở mức độ có thể chấp nhận được. Việc gia tăng tổng NQH này là do xuất
phát từ các nguyên nhân khách quan tác động của các yếu tố môi trường đồng thời thực thi theo chế
độ phân loại NQH mới cho nên khối lượng NQH của chi nhánh này tăng lên khá cao.

×