Tải bản đầy đủ (.pdf) (154 trang)

Hiệu quả sử dụng trà cỏ Sữa kết hợp chế độ ăn và tập luyện trên người 40-69 tuổi có rối loạn glucose máu lúc đói tại thành phố Hạ Long (FULL TEXT)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.49 MB, 154 trang )

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
--------***-------

TRƯƠNG HOÀNG KIÊN

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TRÀ CỎ SỮA KẾT HỢP CHẾ ĐỘ ĂN
VÀ TẬP LUYỆN TRÊN NGƯỜI 40-69 TUỔI CÓ RỐI LOẠN
GLUCOSE MÁU LÚC ĐÓI TẠI THÀNH PHỐ HẠ LONG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

HÀ NỘI – 2017


13

ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường là một bệnh mãn tính không lây nguy hiểm, có đặc tính biểu
hiện bằng tăng glucose máu do hậu quả của việc thiếu hoặc mất hoàn toàn insulin,
hoặc do liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết và hoạt động của insulin. Rối loạn
glucose máu là tình trạng glucose máu cao hơn mức bình thường nhưng chưa đến
mức chẩn đoán là đái tháo đường, bao gồm rối loạn glucose máu lúc đói và rối loạn
dung nạp glucose [8],[19]. Tỷ lệ đái tháo đường và rối loạn glucose máu đang gia
tăng trên toàn thế giới. Đái tháo đường và biến chứng của nó gây tử vong cao, giảm
chất lượng cuộc sống và tăng gánh nặng kinh tế cho gia đình, xã hội và bản thân


người bệnh [93].
Theo Liên đoàn đái tháo đường thế giới, năm 2013, số người trưởng thành
tuổi từ 20-79 bị đái tháo đường trên toàn thế giới là 382 triệu người, năm 2015 là
415 triệu người và con số ước tính năm 2040 là 642 triệu người [99],[100].
Ở Việt Nam, theo kết quả công bố năm 2013 của “Dự án phòng chống đái
tháo đường Quốc gia” cho thấy, trong vòng 10 năm (2002-2012), tỷ lệ đái tháo
đường ở đối tượng 30-64 tuổi đã tăng 200% từ 2,7% lên 5,4%, tỷ lệ rối loạn dung
nạp glucose cũng tăng mạnh mẽ từ 7,7% lên 13,7% [3].
Theo các nghiên cứu, người rối loạn glucose máu có nguy cơ bị đái tháo
đường type 2 cao gấp 3-10 lần người bình thường. Do đó, phát hiện và điều trị sớm


14

người rối loạn glucose máu có khả năng làm giảm hoặc chậm lại sự tiến triển thành
đái tháo đường [62]. Tại mỗi cộng đồng, xác định cụ thể yếu tố nguy cơ, phát hiện
sớm và sử dụng biện pháp dự phòng, hạn chế tăng glucose máu sẽ giúp cho các nhà
quản lý sức khỏe có được chiến lược phòng ngừa rối loạn glucose máu một cách
hiệu quả.
Các nghiên cứu dịch tễ học cũng cho thấy những vùng dân cư có chế độ ăn
lành mạnh và hoạt động thể lực phù hợp làm giảm nguy cơ rối loạn glucose máu.
Hơn nữa, vùng dân cư sử dụng thường xuyên một số thực vật có nhiều polyphenol,
flavonoid, vitamin C, vitamin A, vitamin E...cũng làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim
mạch, đái tháo đường và rối loạn glucose máu.
Cỏ Sữa lá lớn có tên khoa học là Euphorbia hirta L., họ thầu dầu –
Euphorbiaceae. Hiện nay, các nhà khoa học Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản cũng đã
khảo sát tác dụng của cỏ Sữa lá lớn có chứa nhóm hoạt chất polyphenol, flavonoid
và người dân những nước này đã sử dụng cỏ Sữa lá lớn nhằm ổn định glucose máu
cho bệnh nhân đái tháo đường. Tại Việt Nam, người dân ở khu vực phía Nam đã sử
dụng cỏ Sữa lá lớn để chữa bệnh đái tháo đường. Tuy nhiên, trong khi nhiều nước

trên thế giới đã nghiên cứu khá nhiều về vấn đề này, thì ở nước ta cỏ Sữa lá lớn
dường như chỉ chủ yếu dừng ở việc sử dụng theo kiến thức dân gian, tri thức bản địa,
chưa có một nghiên cứu khoa học đầy đủ, cụ thể nào về cỏ Sữa lá lớn đối với việc
phòng và điều trị bệnh đái tháo đường cũng như kiểm soát rối loạn glucose máu.
Biện pháp hướng dẫn chế độ ăn và tập luyện trên bệnh nhân đái tháo đường
và rối loạn glucose máu đã được áp dụng có hiệu quả tại Việt Nam. Tuy nhiên, việc
kết hợp hướng dẫn chế độ ăn và tập luyện với sử dụng trà cỏ Sữa nhằm kiểm soát
glucose máu chưa được chứng minh một cách khoa học trên bệnh nhân đái tháo
đường và rối loạn glucose máu.
Quảng Ninh là một tỉnh trọng điểm trong hành lang kinh tế phía Bắc. Những
năm gần đây, tỷ lệ đái tháo đường và rối loạn glucose máu cũng tăng tương đương
với các khu vực khác trong cả nước, đây là một con số đáng lo ngại, ảnh hưởng đến


15

kinh tế, xã hội và lao động tại Quảng Ninh, đặc biệt ở thành phố Hạ Long. Việc
phát hiện sớm và kiểm soát tình trạng rối loạn glucose máu là rất cần thiết để góp
phần giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường. Đồng thời, xác định được các yếu tố
nguy cơ là cơ sở khoa học để lựa chọn biện pháp can thiệp cộng đồng phù hợp và
đặc thù.
Từ những cơ sở trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài với 2 mục tiêu:
1. Xác định một số yếu tố nguy cơ rối loạn glucose máu lúc đói ở người 4069 tuổi tại một số phường của thành phố Hạ Long.
2. Đánh giá hiệu quả sử dụng trà cỏ Sữa kết hợp chế độ ăn và tập luyện trên
người 40-69 tuổi có rối loạn glucose máu lúc đói trong thời gian 20 tuần.


16

Chương 1

TỔNG QUAN
1.1. ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ RỐI LOẠN GLUCOSE MÁU
1.1.1. Khái niệm
1.1.1.1. Đái tháo đường
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đái tháo đường (ĐTĐ) là một hội chứng
có đặc tính biểu hiện bằng tăng glucose máu do hậu quả của việc thiếu hoặc mất
hoàn toàn insulin, hoặc do liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết và hoạt động của
insulin [8],[19].
1.1.1.2.Rối loạn glucose máu (tiền đái tháo đường)
Rối loạn glucose máu (RLGM) là tình trạng glucose máu cao hơn mức bình
thường nhưng chưa đến mức chẩn đoán là bệnh ĐTĐ, bao gồm 2 tình trạng: Rối
loạn glucose máu lúc đói (Impaired fasting glucose = IFG) và giảm dung nạp
glucose (Impaired glucose tolerance = IGT); với cả 2 tình huống này đều có tăng
glucose máu, nhưng chưa đạt mức chẩn đoán ĐTĐ, tuy nhiên ở giai đoạn này đã
xuất hiện tình trạng kháng insulin, là bước khởi đầu trong tiến trình xuất hiện ĐTĐ
type 2 [8],[19].
IFG và IGT là giai đoạn ban đầu của sự RLGM, trước khi tiến triển thành
bệnh ĐTĐ type 2 thực sự. Hiện nay, tình trạng RLGM được coi là tiền ĐTĐ [59].
1.1.2. Chẩn đoán
Chẩn đoán ĐTĐ có thể dựa vào mức glucose máu mao mạch hoặc tĩnh mạch
(toàn phần hoặc huyết tương). Tuy nhiên, glucose huyết tương tĩnh mạch là chỉ số
có giá trị nhất, thường được khuyến cáo sử dụng. Các mẫu máu có thể được lấy vào
lúc đói (nhịn ít nhất 8 giờ), lấy mẫu bất kỳ (không liên quan đến bữa ăn trước đó) và
mẫu máu 2 giờ sau thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống (OGTT).


17

Bảng 1.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường và các rối loạn glucose
máu dựa vào glucose huyết tương theo WHO - IDF 2008, cập nhật 2010[66]

Chẩn đoán

Thời điểm lấy máu
Glucose máu lúc đói

Đái tháo đường

Glucose bất kỳ hoặc
sau 2 giờ OGTT
Giảm dung nạp

Rối loạn

glucose (IGT)

glucose máu
(Tiền đái tháo
đường)

Rối loạn glucose
máu lúc đói (IFG)

Bình thường

Glucose máu lúc đói
và/hoặc glucose máu
sau 2 giờ OGTT
Glucose máu lúc đói
và/hoặc glucose máu
sau 2 giờ OGTT

Glucose máu lúc đói

Glucose huyết
tương (mmol/L)
 7
 11,1

5,6 – < 7,0
và 7,8 – < 11,1

5,6 – < 7,0
và < 7,8
< 5,6

1.1.3. Phân loại [5],[6]
Theo WHO, bệnh ĐTĐ được phân thành 4 loại sau:
+ ĐTĐ type 1: Là hậu quả của quá trình huỷ hoại các tế bào bêta của đảo
tụy. Hậu quả là cần phải sử dụng insulin ngoại lai để duy trì chuyển hoá, ngăn ngừa
tình trạng nhiễm toan ceton có thể gây hôn mê và tử vong. Bệnh ĐTĐ type 1 ước
tính chiếm khoảng 5-10% bệnh ĐTĐ.
+ ĐTĐ type 2: Là những rối loạn không đồng nhất biểu hiện bằng nhạy cảm
với insulin ở gan, cơ vân mô mỡ và sự suy chức năng của tế bào bêta biểu hiện bằng
rối loạn tiết insulin. Bệnh ĐTĐ type 2 ước tính chiếm khoảng 80-90% bệnh ĐTĐ.
+ ĐTĐ thai kỳ: ĐTĐ thai kỳ là tình trạng không dung nạp carbohydrat được
phát hiện lần đầu khi mang thai. Các nghiên cứu dịch tễ về ĐTĐ thai kỳ phát hiện
nhiều điểm chung giống với ĐTĐ type 2. Đối tượng nguy cơ mắc ĐTĐ thai kỳ
thường là phụ nữ trên 25 tuổi, có thừa cân béo phì.


18


+ Các thể đặc biệt khác: Khiếm khuyết chức năng tế bào bêta do gen; giảm
hoạt tính insulin do khiếm khuyết gen; bệnh lý của tụy ngoại tiết; do các bệnh nội
tiết khác; do nhiễm trùng; các hội chứng về gen...
1.2. TÌNH HÌNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ RỐI LOẠN GLUCOSE MÁU
1.2.1. Tình hình trên thế giới
Bệnh ĐTĐ đang gia tăng nhanh chóng trên toàn thế giới kéo theo những hậu
quả nghiêm trọng về sức khỏe và kinh tế đối với toàn xã hội. Số người mắc ĐTĐ
trên toàn thế giới tăng từ 194 triệu năm 2003 lên 382 triệu năm 2013 và đã tăng vọt
lên 415 triệu năm 2015 và được dự báo tăng lên 642 triệu vào năm 2040. Chủ yếu là
bệnh ĐTĐ type 2, chiếm khoảng 85-95% tổng số người mắc bệnh ĐTĐ. Trong đó,
có 46,5% trường hợp mắc bệnh nhưng không được chẩn đoán. Hơn nữa, 3/4 số
người mắc ĐTĐ sống ở các nước thu nhập thấp và trung bình [99],[100].
Đái tháo đường là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 trên thế giới, là
nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa, suy thận giai đoạn cuối, cắt cụt chi không do
chấn thương và gây giảm tuổi thọ trung bình từ 5 đến 10 năm. Trung bình cứ 6 giây
lại có một người chết do ĐTĐ và các biến chứng, cứ 30 giây lại có một người ĐTĐ
có biến chứng bàn chân bị cắt cụt chi. Chi phí y tế cho điều trị và kiểm soát biến
chứng ĐTĐ toàn thế giới trong năm 2013 ước tính 548 tỷ đô la Mỹ, tăng lên 673 tỷ
đô la Mỹ vào năm 2015 (chiếm 12% tổng chi phí y tế toàn thế giới)
[99],[100],[182].
Tính đến năm 2013, Tây Thái Bình Dương có 138 triệu người đang sống
chung với bệnh ĐTĐ, nhiều hơn so với các khu vực khác. Tỷ lệ người lớn mắc
ĐTĐ ở Trung Đông và Bắc Phi là cao nhất, chiếm 10,9% [99]. Tương tự, ở Nam và
Trung Mỹ nơi tỷ lệ người mắc bệnh ĐTĐ được dự báo sẽ tăng 60% vào năm 2035.
Bệnh ĐTĐ ở Đông Nam Á chiếm gần 1/5 tổng số ca mắc bệnh trên toàn thế giới và
cũng đang tăng nhanh chóng. Bên cạnh đó, sự giàu có và phát triển ở khu vực Trung
Đông và phía Bắc Phi đã dẫn đến tỷ lệ mắc ĐTĐ ở người lớn cao hơn. Ước tính ở



19

Bắc Mỹ và Caribean tiêu tốn khoảng 263 tỷ USD, tương đương 1/2 chi phí sức khỏe
của thế giới, và 147 tỷ USD ở châu Âu. Chi phí ở Đông Nam Á và châu Phi thấp
hơn 1% so với tổng chi phí y tế toàn cầu [99].

Hình 1.1. Số người bị đái tháo đường theo khu vực năm 2013 [99]
Năm 2013, ước tính trên toàn thế giới có 316 triệu, tương đương 6,9% người
lớn bị IGT. Đến năm 2035 số lượng người mắc IGT dự kiến sẽ tăng lên 471 triệu
tương đương 8,0% người trưởng thành. Đa số người lớn mắc IGT đều ở độ tuổi
dưới 50 (153 triệu) và con số này sẽ tăng lên 198 triệu người vào năm 2035. Đáng
lưu ý là gần 1/3 trong số họ đã mắc IGT trong độ tuổi 20-39. Nói chung, sự phổ
biến của IGT tương tự như của bệnh ĐTĐ, nhưng cao hơn ở khu vực châu Phi, châu
Âu và thấp hơn ở Đông Nam Á [99].
Bên cạnh đó, khu vực Tây Thái Bình Dương cũng được đánh giá có số lượng
người mắc IGT lớn nhất do đó tiềm ẩn rất cao nguy cơ phát triển bệnh ĐTĐ type 2


20

với khoảng 110 triệu người mặc dù Bắc Mỹ và khu vực Caribean có 12,1% người
trưởng thành bị ảnh hưởng [99].
Một số nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ type 2 ở trẻ em và
thanh thiếu niên ở các dân tộc trên toàn thế giới ngày càng tăng, ngay cả khi tỷ lệ
béo phì không tăng nữa. Đa số những người trẻ tuổi được chẩn đoán mắc bệnh ĐTĐ
type 2 là ở các dân tộc người Mỹ gốc Phi, Tây Ban Nha, Châu Á/Thái Bình Dương
và Ấn Độ, Mỹ [148].
Vào năm 2013, có khoảng 5,1 triệu người trong độ tuổi từ 20-79 tuổi tử vong
do tất cả các nguyên nhân bởi bệnh ĐTĐ, chiếm 8,4% của toàn thế giới, tương
đương 6 giây sẽ có một người tử vong. Trong năm 2013, số ca tử vong do bệnh

ĐTĐ đã tăng lên 11% so với ước tính năm 2011. Gần một nửa (48%) các ca tử vong
do bệnh ĐTĐ thường gặp ở những người dưới 60 tuổi. Tử vong nhiều xảy ra ở các
nước có số người mắc bệnh ĐTĐ lớn là Trung Quốc và Ấn Độ [99].
1.2.2. Tình hình ở Việt Nam
Ở Việt Nam, cùng với sự tăng trưởng của kinh tế và xã hội, tình hình mắc
bệnh ĐTĐ và RLGM có xu hướng tăng nhanh trong 2 thập kỷ gần đây. Từ năm
1990 đến nay có nhiều công trình điều tra dịch tễ học ĐTĐ trong nước trên nhiều
tỉnh thành cho nhiều kết quả khác nhau.
Năm 1991, Phạm Sĩ Quốc và cs thực hiện điều tra ngẫu nhiên 4.912 đối
tượng từ 15 tuổi trở lên, sống ở 2 khu vực ngoại thành và nội thành Hà Nội, theo
các tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ của WHO năm 1985 (glucose máu lúc đói >
7,8mmol/L và glucose máu 2 giờ sau OGTT > 11mmol/L) đã thu được kết quả mắc
ĐTĐ chung là 1,1% (nội thành 1,44%, ngoại thành 0,96%), tỷ lệ IGT là 1,6% [14].
Năm 1992, Mai Thế Trạch và cs đã điều tra trên 5.416 người từ 15 tuổi trở
lên tại TP. Hồ Chí Minh, kết quả tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ chung là 2,52% [47].
Tác giả Trần Hữu Dàng và cs (1992-1993) nghiên cứu tại 23 phường/xã của
thành phố Huế, trên đối tượng từ 15 tuổi trở lên với kết quả tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ là


21

0,96%, khu vực nội thành cao hơn ngoại thành và tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tăng dần
theo tuổi. Tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ phát hiện bệnh sau tuổi 40 là 93,75% [18].
Nguyễn Huy Cường và cs (1999-2001), đã tiến hành điều tra 3.555 người từ
15 tuổi trở lên với xét nghiệm glucose máu mao mạch và tiếp tục làm OGTT ghi
nhận tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ chung ở nội và ngoại thành Hà Nội là 2,42%. Trong đó,
64% mới phát hiện, tỷ lệ nội thành là 4,31% và ngoại thành là 0,61% và IGT ở nội
thành là 3,27% và ngoại thành là 1,56% [17].
Năm 2001, điều tra dịch tễ học bệnh ĐTĐ theo chuẩn quốc tế mới được tiến
hành tại 4 thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh. Kết quả điều tra

này thực sự là tiếng chuông cảnh báo về tình trạng bệnh ĐTĐ ở Việt Nam, đó là tỷ
lệ mắc bệnh ĐTĐ tại 4 thành phố trên ở đối tượng lứa tuổi 30-64 là 4,9%, IGT là
5,9%, tỷ lệ IFG là 2,8%, đáng lo ngại là trên 44% số người mắc bệnh ĐTĐ không
được phát hiện và không được hướng dẫn điều trị [5].
Năm 2002, điều tra Quốc gia do Bệnh viện Nội tiết Trung ương tiến hành
cho thấy, tỷ lệ mắc ĐTĐ lứa tuổi từ 30-64 trong toàn quốc là 2,7% và các thành phố
lớn là 4,4%, tỷ lệ IGT gần 8%, tỷ lệ bệnh trong nhóm người có yếu tố nguy cơ là rất
cao 10,3%, có 64,5% số người mắc ĐTĐ trong cộng đồng không được phát hiện
[2].
Nguyễn Hải Thủy (2002-2004), nghiên cứu 328 tu sĩ từ 15 tuổi trở lên ăn
chay trường thuần túy tại Huế, ghi nhận tỷ lệ mắc ĐTĐ là 9,75%, IGT là 17,68%.
Tỷ lệ mắc ĐTĐ tăng từ 2,1 lần ở độ tuổi từ 40-59 lên 3,84 lần ở độ tuổi trên 60
[46].
Nguyễn Hứa Quang, Nguyễn Hải Thủy (2004-2005) nghiên cứu trên 101 đối
tượng từ 40 tuổi trở lên là con của bệnh nhân ĐTĐ type 2. Các đối tượng được tiến
hành làm OGTT, ghi nhận tỷ lệ ĐTĐ là 18,81% và IGT là 17,82%. Tỷ lệ này cao
hơn trong các nghiên cứu trong cộng đồng cùng độ tuổi [38].


22

Năm 2008, theo kết quả điều tra ĐTĐ toàn quốc, tỷ lệ bệnh ĐTĐ type 2
trong lứa tuổi từ 30-69 khoảng 5,0% dân số, nếu chỉ ở khu vực thành phố, khu công
nghiệp tỷ lệ bệnh từ 7,0% đến 10%. Tỷ lệ mắc ĐTĐ tăng gần gấp đôi năm 2002
(5,0% so với 2,7%) và tỷ lệ này tăng nhanh ở các thành phố lớn (4,0% năm 2000 so
với 7,2% năm 2008) [12].
Theo nghiên cứu của Trần Minh Long và cs năm 2010 tại Nghệ An, tỷ lệ
ĐTĐ type 2 ở người 30-69 tuổi là 9,37% và RLGM là 17,97% [31].
Tại tỉnh Hậu Giang, theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Lành năm 2011, người
Khmer từ 45 tuổi trở lên có tỷ lệ hiện mắc RLGM là 17,91%, bệnh ĐTĐ type 2 là

11,91%; trong đó tỷ lệ cao 78,6% số người bệnh mới phát hiện lần đầu [29].
Năm 2012, tác giả Trần Quang Bình và cs nghiên cứu trên 2.710 đối tượng
tuổi từ 40-64 tại tỉnh Hà Nam cho thấy, tỉ lệ mắc ĐTĐ là 3,7%, IFG là 8,7%, IGT là
4,3% và số đối tượng mới được chẩn đoán mắc ĐTĐ chiếm 73% trong tổng số bệnh
nhân ĐTĐ [171].
Nghiên cứu của Cao Mỹ Phượng năm 2012 cho thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ ở độ
tuổi từ 45 trở lên là 9,5% và tỷ lệ RLGM là 19,3%. Dự báo tỷ lệ ĐTĐ trong 10 năm
tới ở người từ 45 tuổi trở lên cho quần thể nghiên cứu là 13,9% [37].
Năm 2012, Phan Hướng Dương nghiên cứu trên đối tượng 30-59 tuổi có
BMI > 23kg/m2 tại Hải Phòng cho thấy, tỷ lệ ĐTĐ là 5,2%, RLGM là 26,8% [21].
Theo nghiên cứu năm 2013 của Phạm Ngọc Minh trên đối tượng 30-69 tuổi,
tỷ lệ mắc ĐTĐ và RLGM lần lượt là 6% và 13,5%, tỷ lệ mắc ở nam giới cao hơn so
với nữ giới, ước tính tình trạng già hóa dân số sẽ làm tăng tỷ lệ mắc ĐTĐ lên 7% và
RLGM lên 15,7% vào năm 2035. Tăng độ tuổi làm tăng nguy cơ mắc ĐTĐ [141].
Năm 2013, trong kết quả công bố của “Dự án phòng chống ĐTĐ Quốc gia”
do Bệnh viện Nội tiết Trung ương thực hiện năm 2012 trên 11.000 người tuổi 30-69
tại 6 vùng gồm: Miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Hồng, duyên hải miền Trung,
Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ đã cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tăng


23

gấp đôi so với năm 2002 (5,42% so với 2,7%), tỷ lệ mắc cao nhất ở Tây Nam Bộ là
7,18%, thấp nhất là Tây Nguyên 3,82%. Tỷ lệ IGT cũng gia tăng mạnh mẽ từ 7,7%
năm 2002 lên 13,68% năm 2012. Vùng Đông Nam Bộ có tỷ lệ mắc IGT cao nhất
(17,53%), vùng có tỷ lệ thấp nhất là miền núi phía Bắc và Tây Nguyên (10,70%).
Tỷ lệ người mắc ĐTĐ trong cộng đồng không được phát hiện chiếm 63,6% trong
toàn quốc (đồng bằng sông Hồng: 57,3%, Tây nam Bộ: 72,1%). Cũng theo nghiên
cứu này, những người trên 45 tuổi có nguy cơ mắc ĐTĐ type 2 cao gấp 4 lần những
người dưới 45 tuổi, người huyết áp cao cũng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn những

người khác hơn 3 lần, người có vòng eo lớn nguy cơ mắc cao hơn 2,6 lần. Trong khi
đó, 75,5% số người được hỏi đều có kiến thức rất thấp về ĐTĐ [3].
Tại Việt Nam, cho đến nay chưa có các đánh giá hoặc ước tính tổng thể gánh
nặng kinh tế của ĐTĐ. Tuy nhiên, các nghiên cứu ở các góc độ khác nhau đã phần
nào phản ánh được mức độ tổn thất về kinh tế - xã hội do ĐTĐ gây ra. Theo IDF
năm 2013, ước tính chi phí y tế cho 1 bệnh nhân ĐTĐ ở Việt Nam là khoảng 127,8
đô la Mỹ và Việt Nam có khoảng 3,3 triệu người mắc bệnh ĐTĐ [99], do đó nếu
chăm sóc điều trị cho toàn bộ số bệnh nhân này thì mỗi năm sẽ tiêu tốn khoảng 419
triệu đô la Mỹ, tương đương với khoảng 8.400 tỷ đồng [45].
Như vậy, tỷ lệ mắc ĐTĐ ở Việt Nam 10 năm qua đã tăng gấp đôi. Đây là
con số đáng báo động, vì trên thế giới, phải trải qua 15 năm tỷ lệ mắc ĐTĐ mới
tăng gấp đôi. Tỷ lệ mắc ĐTĐ và RLGM giữa các vùng rất khác nhau và thay đổi
nhiều theo từng nghiên cứu, có thể do đối tượng khác nhau, thời điểm khác nhau,
tiêu chuẩn chẩn đoán thay đổi cùng với tình trạng đô thị hoá nhanh chóng, kinh tế xã hội phát triển, lối sống tĩnh tại, hưởng thụ, con người tiếp xúc với nhiều yếu tố
nguy cơ trong cộng đồng làm gia tăng tỷ lệ mắc ĐTĐ và RLGM trong những năm
gần đây [3].
Từ những tình hình trên, năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đánh giá bệnh
ĐTĐ đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng và sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước do số người mắc bệnh nhiều, bệnh gây tàn tật và tử vong cao.


24

Phòng chống bệnh ĐTĐ hiệu quả sẽ hạn chế số người mắc bệnh này trong cộng
đồng, sớm ngăn chặn tàn tật, tử vong và góp phần giảm quá tải tại các bệnh viện.
Thủ tướng Chính phủ đã Phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống bệnh ung
thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản và các
bệnh không lây nhiễm khác giai đoạn 2015-2025 với mục tiêu hạn chế sự gia tăng
của các bệnh không lây nhiễm nói chung và bệnh ĐTĐ nói riêng, cụ thể: Khống chế
tỉ lệ ĐTĐ dưới 8%, RLGM dưới 16% ở người 30-69 tuổi; 50% số người bị bệnh
ĐTĐ được phát hiện và 50% số người phát hiện bệnh được quản lý, điều trị theo

hướng dẫn chuyên môn. Để đạt được mục tiêu trên, Chiến lược đã đưa ra nhiều giải
pháp tổng thể, tích cực, lâu dài, trong đó có các giải pháp quyết định hiệu quả trong
phòng, chống các bệnh không lây nhiễm như kiểm soát các nguy cơ gây bệnh: dinh
dưỡng không hợp lý, thực phẩm không an toàn, lạm dụng đồ uống có cồn, thiếu hoạt
động thể lực...và chủ động giám sát, phát hiện bệnh sớm, điều trị, quản lý liên tục và
lâu dài tại cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu [45].
1.3. YẾU TỐ NGUY CƠ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 VÀ RỐI LOẠN
GLUCOSE MÁU
Rối loạn glucose máu là giai đoạn trung gian của sự tiến triển thành bệnh
ĐTĐ type 2. Vì vậy, các yếu tố nguy cơ (YTNC) của bệnh ĐTĐ type 2 cũng là
những yếu tố làm tăng nguy cơ RLGM. Trong số các YTNC, có những YTNC
không thể thay đổi được và có các YTNC có thể dự phòng thay đổi được, điều này
đặc biệt quan trọng để có những biện pháp giúp tác động vào những YTNC có thể
thay đổi được, từ đó có thể ngăn chặn hoặc làm chậm diễn tiến bệnh ĐTĐ type 2.
1.3.1. Yếu tố nguy cơ không thay đổi được
1.3.1.1. Tuổi
Khi cơ thể già đi, chức năng nội tiết suy giảm và khả năng tiết insulincủa tụy
cũng bị giảm, đồng thời sự nhạy cảm của tế bào với các kích thích của insulin cũng
giảm thì nồng độ glucose máu có xu hướng tăng. Khi tế bào tụy không còn khả năng


25

tiết insulin đủ với nhu cầu cần thiết của cơ thể, glucose máu sẽ tăng và bệnh ĐTĐ
thực sự xuất hiện [48].
Nguy cơ ĐTĐ tăng theo dần theo quá trình lão hóa. Ở các nước phát triển
ĐTĐ thường tập trung ở lứa tuổi trên 45. Thay đổi cấu trúc cơ thể với tình trạng tích
mỡ bụng là một trong yếu tố chính dẫn đến tăng nguy cơ ĐTĐ ở dân số trung niên
và già. Ngoài ra, cùng với đó là quá trình lão hóa khối cơ quan quan trọng liên quan
trực tiếp đến chuyển hóa glucose, dẫn đến yếu cơ và giảm khả năng vận động thể

lực. Những thay đổi này làm giảm năng lượng tiêu hao dễ dẫn đến tích lũy mỡ bụng
gây tình trạng đề kháng insulin [109].
Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu chứng minh rằng nguy cơ ĐTĐ tăng
dần theo độ tuổi. Tại Nam Á, tỷ lệ RLGM có xu hướng trẻ hóa, từ 25-34 tuổi, và
tăng cao từ 35-44 tuổi. Trong khi đó, tại các nước ở phía nam khu vực Mỹ La tinh,
Peru và Nam Phi, tỷ lệ mắc ĐTĐ tăng cao trong độ tuổi 45-54 [161].
Tác giả Samima Akter đã khẳng định rằng những người trong độ tuổi 55-59
có nguy cơ mắc ĐTĐ tăng gấp đôi so với những người trong độ tuổi từ 35-39 [157].
Tại Việt Nam, các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ ĐTĐ tăng lên đáng kể theo lứa
tuổi. Tuổi từ 45 trở lên là một YTNC quan trọng của bệnh. Chính vì vậy theo
khuyến cáo của IDF, tại Việt Nam, Dự án Phòng chống ĐTĐ đã tiến hành sàng lọc
phát hiện sớm bệnh ĐTĐ, RLGM ở những người ≥ 45 tuổi và có thêm 1 YTNC
khác như: thừa cân, béo phì, tiền sử RLGM, tiền sử gia đình bị ĐTĐ…[2].
Năm 2002, nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho thấy tỷ lệ
RLGM tăng theo nhóm tuổi. Cụ thể, tỷ lệ IGT ở nhóm tuổi 30-34, 35-39, 40-44, 4549, 50-54, 55-59 và 60-64 tương ứng là 3,9%, 6,1%; 7,9%; 7,5%; 10,1%; 11,4% và
12,5% (p<0,001) [2]. Sau 10 năm (năm 2012), kết quả nghiên cứu của Bệnh viện
Nội tiết Trung ương vẫn cho thấy tỷ lệ RLGM tăng theo nhóm tuổi. Cụ thể, tỷ lệ
IGT ở nhóm tuổi 30-39, 40-49, 50-59 và 60-69 tương ứng là 8,6%; 11,7%; 13,0%
và 18,1% (p<0,01) [3].


26

Tuy nhiên, trong vài thập kỷ gần đây, tuổi mắc bệnh đang giảm xuống, gặp ở
người trẻ tuổi, thậm chí cả thiếu niên, đặc biệt ở những nước đang phát triển do có
sự mất cân bằng lớn giữa mức năng lượng hấp thụ vào cơ thể và tiêu thụ năng lượng
[151]. Đây cũng là đặc điểm tình hình mắc bệnh hiện nay tại Việt Nam.
1.3.1.2.Dân tộc/chủng tộc
Tỷ lệ ĐTĐ type 2 gặp ở tất cả các dân tộc, nhưng với tỷ lệ và mức độ hoàn
toàn khác nhau [11]. Mỗi dân tộc có tính nhạy cảm với ĐTĐ type 2 khác nhau.

Tại Mỹ, tỷ lệ ĐTĐ cao ở người Mỹ gốc La tinh và người Mỹ gốc Phi. Điều
tra năm 1991 cho thấy, tỷ lệ mắc bệnh ở người da trắng là 6%, người Cuba là 9%,
người Mỹ gốc Phi là 10% và gốc Mexico là 13% [151]. Kết quả phân tích dữ liệu
khảo sát ở Mỹ cho rằng có sự khác biệt lớn tới 66% về tỷ lệ mắc ĐTĐ giữa người
Mỹ gốc châu Phi và người Mỹ gốc châu Âu, nhưng giữa người da đỏ và người Mỹ
gốc châu Âu thì không có sự khác biệt [92].
Nghiên cứu tại Tây Âu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở người da vàng cao
hơn người da trắng từ 2-4 lần, tuổi mắc bệnh ở người da vàng trẻ hơn, thường trên
30 tuổi, ở người da trắng thường trên 50 tuổi [27].
Ở Việt Nam, nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2012 cho
thấy, tỷ lệ mắc ĐTĐ ở nhóm dân tộc Kinh cao hơn so với nhóm dân tộc khác (6,0%
so với 4,0%) có ý nghĩa thống kê với p<0,01; tỷ lệ IGT ở dân tộc Kinh là 13,1%,
cao hơn các dân tộc khác là 11,2%, có ý nghĩa thống kê với p<0,05 [3].
1.3.1.3. Tiền sử gia đình
Theo WHO, ĐTĐ type 2 thường có liên quan đến tiền sử gia đình mắc ĐTĐ.
Khoảng 10% bệnh nhân mắc ĐTĐ type 2 có bà con thân thuộc cũng bị mắc bệnh
ĐTĐ type 2. Những đối tượng có mối liên quan huyết thống gần gũi với người mắc
bệnh ĐTĐ type 2 có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ type 2 cao gấp 4-6 lần người trong gia
đình không có người mắc bệnh ĐTĐ type 2, đặc biệt là những người mà cả bên nội
và ngoại đều có người mắc bệnh ĐTĐ type 2, con cái có cả bố mẹ đều mắc bệnh


27

ĐTĐ type 2 thì 40% có nguy cơ bị mắc bệnh ĐTĐ type 2. Nghiên cứu trên những
gia đình bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ type 2 thấy: có khoảng 6% anh chị em ruột cùng
mắc bệnh ĐTĐ type 2 và khi bố mẹ bị bệnh ĐTĐ type 2 thì 5% con cái của họ sẽ
mắc bệnh ĐTĐ type 2. Hai trẻ sinh đôi cùng trứng, một người mắc bệnh ĐTĐ type
2, người kia sẽ bị xếp vào nhóm đe dọa thực sự sẽ mắc bệnh ĐTĐ type 2 [12],[123].
Theo nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2002, nhóm có tiền

sử gia đình mắc bệnh ĐTĐ thì có nguy cơ bị IGT gấp 1,65 lần nhóm không có tiền
sử gia đình có người bị bệnh ĐTĐ [2]; và năm 2012, nhóm có tiền sử gia đình có
người mắc bệnh ĐTĐ có nguy cơ mắc ĐTĐ cao gấp 2,09 lần so với nhóm không có
tiền sử gia đình có người mắc bệnh ĐTĐ với p <0,01 [3].
Nghiên cứu của Tạ Văn Bình, Hoàng Kim Ước, Nguyễn Minh Hùng và cs
cho thấy tỷ lệ RLGM ở nhóm có tiền sử gia đình bị ĐTĐ là 18,3% cao hơn nhóm
không có tiền sử gia đình bị ĐTĐ là 13,0% (p<0,001) [9].
1.3.1.4. Di truyền
Một số tác giả cho rằng, bố mẹ có mang gen đặc hiệu ảnh hưởng đến insulin
làm cho bản thân cũng như con cái của họ có nguy cơ bị ĐTĐ trong tương lai [89].
Đái tháo đường type 2 xảy ra trên anh em sinh đôi đồng hợp tử nhiều hơn
anh em sinh đôi dị hợp tử, chứng tỏ yếu tố di truyền có vai trò quan trọng trong việc
quyết định tính nhạy cảm đối với bệnh ĐTĐ type 2. Nhiều nghiên cứu trên các cặp
sinh đôi đồng hợp tử nhận thấy, tỷ lệ tương đồng cùng mắc ĐTĐ type 2 lên đến hơn
90%, ngay cả khi trọng lượng cơ thể khác nhau. Tuy vậy, không phải tất cả thành
viên sinh đôi đồng hợp tử đều mắc ĐTĐ type 2 nếu một người bị mắc ĐTĐ [143].
1.3.1.5. Đái tháo đường thai kỳ
Đái tháo đường thai kỳ là người phụ nữ mắc bệnh ĐTĐ khi đang mang thai.
Thể ĐTĐ này liên quan đến vai trò của kháng thể kháng insulin và sự biến đổi các
hormone hoặc các rối loạn chuyển hóa khi có thai, là nguyên nhân của các biến
chứng lúc đẻ, tăng nguy cơ phát triển thành bệnh ĐTĐ sau này. Đối với người phụ


28

nữ ĐTĐ thai kỳ, IGT trở về bình thường sau khi sinh, tuy nhiên, những người phụ
nữ này vẫn có nguy cơ cao bị ĐTĐ type 2 trong cuộc sống sau này [8],[67].
Theo nghiên cứu, 50% phụ nữ có tiền sử ĐTĐ thai kỳ có nguy cơ trở thành
ĐTĐ type 2 trong khoảng thời gian từ 5-10 năm, 80% trong khoảng thời gian còn lại
của cuộc đời. Vì vậy, ĐTĐ thai kỳ là YTNC cao của bệnh ĐTĐ type 2 [7].

Theo Hội Đái tháo đường Mỹ (ADA) năm 2007, trên thế giới có 3%-14%
phụ nữ có thai bị ảnh hưởng bởi bệnh ĐTĐ, trong đó số ĐTĐ thai kỳ là 90%, còn
10% là phụ nữ bị bệnh ĐTĐ mang thai. Tại Mỹ, hàng năm có khoảng 170.000 phụ
nữ mắc ĐTĐ thai kỳ. Khoảng 30-50% phụ nữ mắc ĐTĐ thai kỳ sẽ bị lại khi mang
thai sau này. Khoảng 20%-50% phụ nữ ĐTĐ thai kỳ sẽ tiến triển thành ĐTĐ type 2
trong vòng 5-10 năm [145].
1.3.1.6. Tiền sử sinh con cân nặng trên 4 kg
Trẻ mới sinh nặng trên 4 kg là một YTNC của bệnh ĐTĐ type 2 cho cả mẹ
và con. Các bà mẹ này có nguy cơ mắc ĐTĐ type 2 cao hơn so với phụ nữ bình
thường. Những trẻ này thường bị béo phì từ nhỏ, bị IGT và ĐTĐ type 2 khi lớn tuổi
[11].
Kết quả nghiên cứu ở Trung Quốc cho thấy, khi trọng lượng sơ sinh cao có
liên quan với nguy cơ mắc ĐTĐ type 2 hoặc RLGM ở trẻ em gái [191]. Nghiên cứu
của tác giả Tamarra M cùng cs đã chứng minh rằng, trọng lượng sơ sinh của trẻ có
liên quan tới nguy cơ mắc ĐTĐ type 2 [167].
Theo tác giả Beavers KM cùng cs, sự thay đổi trọng lượng của trẻ trong thời
gian từ 0-24 tháng và từ 6-24 tháng tuổi có liên quan tới nguy cơ mắc ĐTĐ [74].
1.3.2. Yếu tố nguy cơ có thể dự phòng thay đổi được
1.3.2.1. Môi trường và lối sống
Quá trình đô thị hoá có vai trò quan trọng trong sự gia tăng tỷ lệ ĐTĐ type 2.
Đô thị hoá đã chuyển từ lối sống, thói quen ăn uống truyền thống sang kiểu sống,


29

thói quen ăn uống hiện đại. Khi ăn uống không hợp lý sẽ dẫn đến sự mất cân bằng
nghiêng và dư thừa năng lượng kết hợp với lối sống tĩnh tại, ít hoạt động thúc đẩy
nhanh quá trình tiến triển của bệnh, làm tăng nhanh tỷ lệ mắc ĐTĐ type 2 [11].
Môi trường và lối sống hay sự khác nhau về khu vực cư trú là một trong các
yếu tố ảnh hưởng tới nguy cơ mắc ĐTĐ và RLGM. Nghiên cứu của Shamima

Aktercho thấy, tỷ lệ mắc ĐTĐ theo tuổi ở cư dân vùng đô thị cao gần gấp đôi so với
cư dân vùng nông thôn (15,2% so với 8,3%) [157]. Theo nghiên cứu điều tra 1.769
người từ 25 tuổi trở lên ở nông thôn và 1.806 người ở thành thị phía bắc Ấn Độ, tỷ
lệ mắc ĐTĐ type 2 khác nhau rất ý nghĩa: nông thôn 2,8%, thành thị 6,4% [84].
Nhóm nghiên cứu của Jeon JY đã đưa ra một loạt các dẫn chứng về ảnh
hưởng của hóa chất trong môi trường đối với sức khỏe của con người, đặc biệt là
đối với các bệnh mạn tính không lây như ĐTĐ type 2. Tác giả dẫn chứng một số
nghiên cứu đã chứng tỏ tiếp xúc với arsen gây tích lũy cao dẫn đến béo phì hơn,
arsen gây rối loạn tế bào và kháng insulin, đây là 2 thành phần chính của cơ chế
bệnh sinh của ĐTĐ type 2. Cadimi và thủy ngân gây tăng glucose máu, phá vỡ tụy
và vô hiệu hóa insulin [102].
Thời gian ngủ trưa ban ngày có liên quan tới ĐTĐ type 2, những người ngủ
trưa nhiều hơn 30 phút/ngày có tỷ lệ mắc ĐTĐ chiếm tới 74% so với người không
ngủ trưa, bao gồm cả thời gian ngủ ban đêm [156]. Một giấc ngủ dài 7-8 giờ mỗi
ngày có khả năng làm giảm tới mức thấp nhất nguy cơ mắc ĐTĐ type 2. Một giấc
ngủ ngắn hơn hay dài hơn đều làm tăng nguy cơ mắc ĐTĐ type 2 [158].
Tác giả Olfa Saidi đã nhận định rằng nếu tỷ lệ hút thuốc lá giảm xuống 20%
so với 10 năm kể từ năm 2009 thì tỷ lệ mắc ĐTĐ type 2 có thể giảm 3,3% vào năm
2027 (2,5% ở nam giới và 4,1% ở nữ giới) [138]. Ding D và cs đã chứng minh rằng
thói quen hút thuốc lá, giờ ngủ dài, và căng thẳng tâm lý liên quan đến tỷ lệ phát
triển ĐTĐ type 2 ở người trung niên và cao tuổi ở Úc [85].


30

Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc ĐTĐ type 2 vùng đô thị cao hơn ở nông thôn. Điều
tra Quốc gia năm 2002, tỷ lệ mắc ĐTĐ lứa tuổi 30-64 trong toàn quốc là 2,7% và
các thành phố lớn là 4,4% [2]; năm 2008, tỷ lệ ĐTĐ type 2 lứa tuổi 30-69 chiếm
5,0%, nếu chỉ ở khu vực thành phố, khu công nghiệp thì tỷ lệ bệnh từ 7,0% -10%
[12].

1.3.2.2. Tiền sử rối loạn glucose máu
Người RLGM có nguy cơ bị ĐTĐ type 2 cao gấp 3-10 lần người bình
thường. Sự phát hiện và điều trị sớm người RLGM có khả năng làm giảm hoặc làm
chậm lại sự tiến triển thành ĐTĐ, các biến chứng mạch máu nhỏ và tim mạch [62].
Trong trường hợp RLGM không được phát hiện và can thiệp, bệnh thường diễn biến
đến ĐTĐ thật sự. Tình trạng bắt đầu bằng tăng glucose máu sẽ diễn biến đồng thời
với tổn thương chức năng tế bào bêta và tăng đề kháng insulin ở mô ngoại biên.
Khi glucose máu được kiểm soát sớm, chức năng tế bào bêta sẽ được bảo vệ [20].
Sự tiến triển thành ĐTĐ type 2 ở người mắc IGT từ 6-10% mỗi năm, người
bị cả IGT và IFG thì tần số mắc bệnh ĐTĐ tích lũy trong 6 năm đến 65% (so với
mức 5% ở người có mức glucose máu bình thường tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu)
[137]. Nghiên cứu The Insulin Resistance Atherosclerosis Study-Mỹ cho thấy,
những bệnh nhân được chẩn đoán IFG, IGT hoặc hội chứng chuyển hóa thì tỷ lệ
tiến triển thành ĐTĐ là 8-10%/năm, nhưng nếu người bệnh có cả 3 chẩn đoán trên
thì tỷ lệ tiến triển thành ĐTĐ vượt xa 10%/năm [67]. Nghiên cứu tại Thượng Hải
(Trung Quốc) trong thời gian 3 năm, cho thấy những người bị IGT và IFG hoặc bị
cả hai thì có nguy cơ bị ĐTĐ cao gấp 11,7 lần người có dung nạp glucose bình
thường [104].
Những người bị IGT và IFG nếu biết sớm chỉ cần can thiệp bằng chế độ ăn
và luyện tập sẽ giảm hẳn nguy cơ chuyển thành bệnh ĐTĐ type 2 thực sự [11].
1.3.2.3. Tăng huyết áp


31

Tăng huyết áp (HA) được coi là nguy cơ phát triển bệnh ĐTĐ type 2. Đa số
bệnh nhân ĐTĐ type 2 có tăng HA và tỷ lệ ĐTĐ type 2 ở người tăng HA cũng cao
hơn rất nhiều so với người bình thường cùng lứa tuổi. Tỷ lệ tăng HA ở bệnh nhân
ĐTĐ type 2 đều tăng theo tuổi đời, tuổi bệnh, BMI, nồng độ glucose máu…[11].
Tăng HA được cho là có liên quan tới tỷ lệ mắc IFG và IGT ở người trên 40

tuổi tại một số quốc gia trên thế giới [86],[118]. Tỷ lệ người trưởng thành RLGM
đang gia tăng ở Anh, tăng HA là một trong các yếu tố làm tăng nguy cơ RLGM ở
nước này [71]. Mỗi lần tăng 5 mmHg HA tâm thu có thể làm tăng nguy cơ phát
triển ĐTĐ type 2 và RLGM lần lượt là 1,25 lần và 1,2 lần. Trong khi đó, mỗi lần
tăng 5 mmHg HA tâm trương làm tăng 1,49 lần nguy cơ phát triển ĐTĐ type 2 và
1,42 lần nguy cơ phát triển RLGM [190].
Tại Việt Nam, nghiên cứu năm 2012 của Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho
thấy, nhóm tăng HA có nguy cơ bị IGT gấp 2,46 lần so với nhóm không có tăng
HA, nhóm tăng HA có nguy cơ mắc ĐTĐ cao hơn 3,45 lần so với nhóm không có
tiền sử tăng HA. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,01 [3].
1.3.2.4. Thừa cân, béo phì
Tình trạng tăng cân nặng và béo phì có liên quan tới nguy cơ mắc ĐTĐ và
RLGM [2]. Béo phì là sự thái quá mô mỡ của cơ thể dẫn đến ảnh hưởng bất lợi đối
với sức khỏe. Béo phì toàn thân, béo trung tâm là một trong những nguyên nhân
chính gây tình trạng kháng insulin cùng với rối loạn chuyển hóa khác như tăng HA, rối
loạn mỡ máu làm tăng khả năng tiến triển thành ĐTĐ nếu không được kiểm soát tốt.
Ảnh hưởng của béo phì đến ĐTĐ có thể điều chỉnh bằng thay đổi lối sống
[68],[119].
Có rất nhiều nghiên cứu chứng minh mối liên quan giữa bệnh béo phì và
bệnh ĐTĐ type 2. Từ năm 1985, bệnh béo phì đã được WHO ghi nhận là một
YTNC cao của bệnh ĐTĐ type 2, trong đó bệnh béo phì dạng nam có vai trò đặc
biệt quan trọng.


32

Ở Trung Quốc, nghiên cứu của Li S và cs (2015) đã xác định, tỷ lệ mắc ĐTĐ
và IFG ở người bình thường lần lượt là 3,4%, 8,1%, ở người thừa cân là 6,7%,
11,9% và ở người béo phì là 13,0%, 13,0% [124]. Các đối tượng có chỉ số BMI cao
đều có nguy cơ phát triển IFG và ĐTĐ. Đặc biệt, các đối tượng mắc bệnh béo phì ở

bụng thường dễ mắc ĐTĐ hơn so với các đối tượng khác [187].
Tại Việt Nam, cùng với sự phát triển kinh tế, trong những năm qua tỷ lệ thừa
cân béo phì ngày càng tăng. Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng đã cho thấy mối liên
quan giữa ĐTĐ, RLGM và thừa cân, béo phì.
Nghiên cứu của Hoàng Kim Ước và cs cho thấy tỷ lệ RLGM ở người gầy là
6,1%, người bình thường là 9,1%, người béo phì độ 1 là 14,1% và người béo phì độ
2 là 20,7%. Tỷ lệ RLGM chung ở nhóm có VE cao là 13,2%, nhóm VE bình thường
là 8,0% với p<0,01. Tỷ lệ mắc bệnh ở nhóm có tỷ lệ VE/VM bình thường là 3,7%,
tỷ lệ mắc bệnh ở nhóm có tỷ lệ VE/VM cao là 12,0% [52].
Nghiên cứu năm 2012 của Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho thấy,người có
BMI ≥ 23 có nguy cơ mắc ĐTĐ cao gấp 2,01 lần so với người có BMI < 23 (p<0,01)
[3].
1.3.2.5. Suy dinh dưỡng lúc nhỏ
Suy dinh dưỡng trong bào thai và thời thơ ấu nhưng gặp cuộc sống có mức
dinh dưỡng dư thừa sau này thì có nguy cơ bị ĐTĐ cao trong tương lai [186].
Hiện nay đã có những bằng chứng về mối liên quan giữa môi trường bên
trong tử cung, suy dinh dưỡng bào thai và nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ trong cuộc sống
sau này [91]. Đặc trưng này có thể nhận thấy trong các nghiên cứu về ĐTĐ tại Ấn
Độ. Ấn Độ là nước có số dân bị ĐTĐ đứng thứ 2 thế giới [99]. Người phụ nữ nông
thôn Ấn Độ có thân hình nhỏ và được cho là thiếu dinh dưỡng mãn tính do BMI
thấp. Thiếu sắt và thiếu vi chất dinh dưỡng thường gặp trong nhóm này. Trẻ em Ấn
Độ là một trong những nước khi sinh ra nhỏ nhất trên thế giới: 1/3 trẻ sơ sinh có cân
nặng thấp, dưới 2,5 kg. Như vậy có thể thấy, sự suy dinh dưỡng bà mẹ và thai nhi


33

đã góp phần vào việc gia tăng dịch bệnh ĐTĐ tại Châu Á. Tại Ấn Độ, ĐTĐ được
chẩn đoán sớm hơn ít nhất 10 năm và các đối tượng gầy hơn đáng kể so với những
người bị bệnh như họ tại nước Anh [147].

1.3.2.6. Chế độ ăn và hoạt động thể lực
Nhiều công trình nghiên cứu dịch tễ học cho thấy, những người có chế độ ăn
và hoạt động thể lực không hợp lý có nguy cơ cao mắc RLGM và ĐTĐ type 2.
Kết quả nghiên cứu của tác giả Pan X cho thấy, chế độ ăn nhiều
carbohydrate và ít vận động làm tăng nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ type 2 ở cả 2 giới. Ở
nam giới hút thuốc lá nhiều và uống nhiều rượu được chẩn đoán có tỷ lệ mắc ĐTĐ
cao hơn [139].
Kết quả nghiên cứu tại Nhật Bản đã chứng minh rằng bỏ qua bữa ăn sáng có
thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ type 2 [177].
Kết quả nghiên cứu của Wang D cho thấy, việc can thiệp bởi hoạt động thể
lực giúp kiểm soát tốt lượng calo và có chế độ tập luyện tốt hơn nhằm nâng cao chất
lượng cuộc sống và cải thiện chất lượng sức khỏe trong RLGM [180].
Trong nghiên cứu của Russo LM năm 2015, tác giả đã chứng minh rằng hoạt
động thể chất trong thời kỳ mang thai có tác dụng bảo vệ cơ thể bà mẹ, có thể chống
lại sự phát triển của bệnh ĐTĐ thai kỳ [153].
Tại Việt Nam, quá trình phát triển kinh tế nhanh chóng trong những năm gần
đây (GDP bình quân đầu người tăng gấp 5 lần) đã làm tăng sự tiêu thụ thực phẩm
giàu năng lượng, cùng với lối sống ít vận động là YTNC làm gia tăng béo phì,
RLGM và ĐTĐ. Nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2002, cho
thấy nhóm đối tượng ít vận động thể lực có nguy cơ mắc IGT gấp 1,4 lần so với
nhóm hoạt động thể lực nhiều (p<0,001) [2]. Nghiên cứu của Lê Minh Sứ cho thấy
tỷ lệ RLGM ở nhóm hoạt động thể lực nhẹ nhàng, tĩnh tại là 6,08%, nhóm hoạt
động thể lực vừa và nặng là 4,38% (p<0,05) [41].


34

Nghiên cứu của Tạ Văn Bình, Nguyễn Thị Ngọc Huyền và cs cho thấy tỷ lệ
ĐTĐ, IGT liên quan đến tính chất nghề nghiệp, nhóm lao động trí óc, lao động nhẹ
có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn nhóm có tính chất lao động nặng và vừa [25]. Nghiên cứu

của Lê Phong cho thấy nhóm không thường xuyên đi bộ có nguy cơ RLGM cao gấp
7,5 lần nhóm thường xuyên đi bộ [36].
1.3.2.7. Rối loạn lipid máu
Rối loạn lipid máu kinh điển trong Hội chứng chuyển hóa là tăng triglycerid,
giảm HDL-C và tăng yếu tố gây xơ vữa mạch LDL-C [87]. HDL-C giảm có thể là
do tăng quá trình đào thải, hậu quả của tăng cao triglycerid và cũng có thể là hậu
quả của kháng insulin [69].
Nghiên cứu tại Anh năm 2011 cho thấy, tỷ lệ RLGM ở người có nồng độ
cholesterol cao lớn hơn người có cholesterol bình thường (57% so với 40,8%) [71].
Ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Tạ Văn Bình và cs tại Cao Bằng cho
thấy tỷ lệ IGT ở nhóm đã được chẩn đoán rối loạn chuyển hóa lipid là 38,7%, nhóm
chưa chẩn đoán rối loạn chuyển hóa lipid là 30% [10].
1.3.2.8. Stress
Stress có liên quan đến đề kháng insulin, tuy nhiên sự đề kháng trong trường
hợp này có khả năng hồi phục. Các nhà nghiên cứu cho rằng glucocorticoid gia tăng
lúc bị stress có thể đóng góp vào sự đề kháng insulin. Stress tác động đến sự đề
kháng insulin trực tiếp hay gián tiếp thông qua tương tác với leptin dẫn đến tăng
nồng độ leptin máu và ức chế hoạt động của leptin, thúc đẩy tình trạng đề kháng
leptin, góp phần vào sự đề kháng insulin [46].
Một nghiên cứu nói về trầm cảm và nguy cơ đối với ĐTĐ cho thấy, so với
những người bình thường, những người bị trầm cảm có khả năng làm tăng 41%
nguy cơ phát triển bệnh ĐTĐ và 32% nguy cơ phát triển bệnh ĐTĐ type 2. Mặc dù
cơ chế cơ bản về mối liên quan này vẫn chưa được làm rõ [189].


35

1.4. CÁC GIẢI PHÁP CAN THIỆP HỖ TRỢ PHÒNG, ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO
ĐƯỜNG TYPE 2 VÀ RỐI LOẠN GLUCOSE MÁU
Các biện pháp chính trong phòng và điều trị ĐTĐ type 2 và RLGM là thay

đổi lối sống, thực hiện chế độ ăn hợp lý và tăng cường vận động, bên cạnh đó là sử
dụng các sản phẩm, thuốc có tác dụng kiểm soát glucose máu.
Mục tiêu chính của mọi giải pháp là phải kiểm soát, duy trì nồng độ glucose
máu ở mức bình thường, trong đó có việc hạn chế tăng glucose máu sau ăn và kiểm
soát chỉ số glucose máu về lâu dài. Việc kiểm soát tốt glucose máu ở bệnh nhân
ĐTĐ sẽ góp phần giảm các rối loạn chuyển hóa glucose, rối loạn chuyển hóa lipid
máu, đồng thời giảm các biến chứng do tăng glucose máu gây ra.
Theo ADA, CDA, ACE và IDF, mục tiêu kiểm soát glucose máu trong điều
trị ĐTĐ như sau [63],[65],[76]:
Bảng 1.2. Mục tiêu kiểm soát glucose máu trong điều trị ĐTĐ
Tổ chức
ADA[American Diabetes

HbA1c Glucose máu lúc đói Glucose máu sau ăn
(%)

mmol/L (mg/dl)

mmol/L (mg/dl)

< 7,0

3,9-7,2 (70-130)

< 10,0 (< 180)

≤ 7,0

4,0-7,0 (72-130)


5,0-10,0 (90-180)

< 6,5

< 5,5 (< 100)

< 7,8 (< 140)

≤ 6,5

< 6,0 (< 108)

< 7,8 (< 140)

Association]
CDA [Canadian Diabetes
Association]
IDF [International
Diabetes Federation]
ACE [American College of
Endocrinology]

1.4.1. Thuốc trong phòng và điều trị ĐTĐ type 2
Cơ chế sinh lý bệnh chủ yếu của bệnh ĐTĐ type 2 là kháng insulin ở mô
ngoại biên và giảm sản xuất insulin của tế bào bêta, tiểu đảo Langerhang của tuyến


36

tụy nội tiết. Chính vì vậy, các nhóm thuốc chính điều trị bệnh ĐTĐ đều dựa trên

những cơ chế bệnh sinh chính của bệnh là kính thích tụy tiết insulin, giảm kháng
insulin (hay tăng nhạy cảm insulin), ức chế sự hấp thu glucose ở niêm mạc ruột...
Các nghiên cứu sử dụng thuốc bao gồm các thuốc uống hạ glucose máu, các thuốc
giảm cân và thuốc giảm huyết áp [106].
Các loại thuốc điều trị ĐTĐ lần lượt là: Metformin, thuốc ức chế kênh đồng
vận chuyển natri-glucose (SGLT2i), sulfonylurea, glinides, pioglitazon, ức chế
enzym α-glucosidase, ức chế enzym DPP- 4, đồng vận thụ thể GLP-1, insulin [15].
1.4.1.1. Các yếu tố cần xem xét khi chọn lựa điều trị [15]
- Hiệu quả giảm glucose máu.
- Nguy cơ hạ glucose máu: sulfonylurea, insulin.
- Tăng cân: Pioglitazon, insulin, sulfonylurea.
- Giảm cân: GLP-1 RA, ức chế kênh đồng vận chuyển natri-glucose (SGLT2i),
ức chế enzym α-glucosidase (giảm cân ít).
- Không ảnh hưởng nhiều lên cân nặng: ức chế enzym DPP-4, metformin.
- Tác dụng phụ chính.
- Giá thuốc: cân nhắc dựa trên chi phí và hiệu quả điều trị.
1.4.1.2. Lựa chọn thuốc và phương pháp điều trị [15]
- Nên chuyển bước điều trị mỗi 3 tháng nếu không đạt được mục tiêu HbA1c.
Cần theo dõi glucose máu lúc đói và sau ăn 2 giờ để điều chỉnh liều thuốc.
- Có thể kết hợp thay đổi lối sống và metformin ngay từ đầu. Thay đổi lối
sống đơn thuần chỉ thực hiện ở những bệnh nhân mới chẩn đoán, chưa có biến
chứng mạn và mức glucose máu gần bình thường.
- Khi phối hợp thuốc, chỉ phối hợp 2, 3, 4 loại thuốc và các loại thuốc có cơ
chế tác dụng khác nhau.


×