Tải bản đầy đủ (.pdf) (8 trang)

DSpace at VNU: QUẢN LÝ TỔNG HỢP VÙNG BỜ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU – NGHIÊN CỨU THÍ ĐIỂM TẠI MỘT XÃ THUỘC HẢI PHÒNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (509.11 KB, 8 trang )

QUẢN LÝ TỔNG HỢP VÙNG BỜ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU –
NGHIÊN CỨU THÍ ĐIỂM TẠI MỘT XÃ THUỘC HẢI PHÒNG
Vũ Thị Hiền, Vũ Thanh Ca, Dư Văn Toán,
Nguyễn Hải Anh và Nguyễn Văn Tiến
Viện Nghiên cứu Quản lý Biển và Hải đảo,
Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam

GIỚI THIỆU CHUNG
Tại các khu vực bờ biển, luôn có nhiều vấn đề về kinh tế-xã hội, tài nguyên, môi trường. Một
số thí dụ về vấn đề này là ô nhiễm và suy thoái môi trường, đặc biệt là các hệ sinh thái, sự suy
giảm của rừng ngập mặn, các mâu thuẫn trong sử dụng đất vùng ven biển, mâu thuẫn giữa
những người khai thác và nuôi trồng hải sản và mâu thuẫn giữa cộng đồng với những hoạt
động bảo tồn, trồng lại rừng ngập mặn, v.v... Tại vùng ven biển, rất nhiều người dân do khả
năng có hạn, phải kiếm sống chủ yếu bằng đánh bắt hải sản ven bờ. Thông thường, họ là
những người rất nghèo. Việc nhiều địa phương cho đấu thầu bãi biển và mặt nước để nuôi
trồng hải sản đã làm mất ngư trường của những người nghèo và đẩy họ vào cảnh bần cùng,
phải tìm cách khai thác, thậm chí bằng biện pháp hủy diệt, nguồn hải sản để phục vụ cho cuộc
sống của mình. Ngoài ra, hoạt động nuôi trồng thủy sản trên bãi biển đã làm tàn phá rừng
ngập mặn và gia tăng ô nhiễm và suy thoái môi trường. Để giải quyết những vấn đề này, cần
phải áp dụng giải pháp quản lý tổng hợp vùng bờ và ven biển. Quản lý tổng hợp vùng bờ và
ven biển sẽ giúp hài hòa lợi ích của các bên liên quan trong khai thác nguồn tài nguyên biển,
trong khi bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai phục vụ phát triển bền vững.
Đối với vùng bờ và ven biển, biến đổi khí hậu (BĐKH) thường không tạo ra những thiên tai
mới mà chỉ làm gia tăng tác động của những thiên tai hiện có. Thông thường, đối với khu vực
ven biển như ở nước ta, ảnh hưởng của BĐKH chủ yếu được xem xét thông qua ảnh hưởng
của nước biển dâng (NBD). Một số ảnh hưởng khác của BĐKH như ảnh hưởng của sự gia
tăng nhiệt độ nước biển và sự chua hóa của nước biển tới hệ sinh thái hiện chưa được xem xét
do chưa có đầy đủ số liệu. Nói chung, BĐKH và nước biển dâng luôn có xu hướng làm gia
tăng các vấn đề đang tồn tại ở vùng ven biển như đã trình bày ở trên. Thí dụ, NBD có thể làm
chết rừng ngập mặn, phá hoại các khu vực nuôi trồng hải sản, làm gia tăng hiện tượng xói lở
bờ biển hiện đang diễn ra và làm gia tăng áp lực khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường


vùng ven biển. Vì vậy, cần xem xét các giải pháp đáp ứng trong bối cảnh các vấn đề đang tồn
tại. Các giải pháp ứng phó rộng lớn hơn bao gồm tăng cường năng lực ứng phó hay tạo ra một
môi trường để các giải pháp ứng phó được thực thi dễ dàng hơn. Hướng tiếp cận này yêu cầu
phải bao hàm đáp ứng với BĐKH và NBD trong giải pháp quản lý tổng hợp vùng ven biển.
Với mục đích trên, trong khuôn khổ của Dự án “Nâng cao năng lực của cơ quan đầu mối quốc
gia về biến đổi khí hậu” do Vụ Hợp tác Quốc tế, Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, Viện
Nghiên cứu Quản lý Biển và Hải đảo thuộc Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam đã tiến hành
nghiên cứu thí điểm tại xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, Thành phố Hải Phòng. Mục đích
của nghiên cứu là xác định các vấn đề về kinh tế-xã hội, tài nguyên, môi trường liên quan tới

261


BĐKH và NBD, xác định các tác động tiềm năng của BĐKH và NBD, trên cơ sở đó xây dựng
chương trình hành động để ứng phó với BĐKH và NBD, trong đó có giải pháp quản lý tổng
hợp vùng bờ. Các kết quả nghiên cứu này có thể được tham khảo để làm cơ sở hoạch định
chính sách ứng phó với BĐKH và NBD ở tầm cỡ quốc gia.
1. YÊU CẦU ÁP DỤNG QUẢN LÝ TỔNG HỢP VÙNG VEN BIỂN TẠI XÃ VINH
QUANG

1.1. Phương pháp
Để thực hiện nhiệm vụ như đã trình bày, nhóm nghiên cứu đã thu thập các số liệu về kinh tếxã hội, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Ngoài ra, đã khảo sát thực
địa và thực hiện tham vấn cộng đồng trên diện rộng để thu thập ý kiến của người dân về các
vấn đề kinh tế-xã hội, tài nguyên, môi trường và thiên tai có khả năng liên quan tới BĐKH và
NBD. Sử dụng các số liệu điều tra, đã tính toán bằng các mô hình số trị thích hợp (như mô
hình nước dâng, mô hình ngập lụt, xâm nhập mặn, v.v...) và sử dụng các kết quả tính toán, kết
hợp với các ý kiến tham vấn của người dân để đánh giá các rủi ro và đề xuất các giải pháp
ứng phó để giảm thiểu rủi ro. Phần tiếp sau của báo cáo này trình bày về các thuận lợi và khó
khăn trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên vùng bờ và ven biển của xã Vinh Quang.


1.2. Những thuận lợi, khó khăn và xung đột lợi ích trong sử dụng vùng bờ
1.2.1. Những thuận lợi
+ Cửa sông Văn Úc có nhiều ưu thế để phát triển giao thông thủy, bộ, cho phép mở rộng
giao lưu kinh tế với các vùng trong nước.
+ Tài nguyên sinh vật phong phú, đó cũng là thế mạnh cho khai thác và nuôi trồng thủy –
hải sản. Mặt khác, khí hậu khá ôn hòa, bãi bồi thoải có diện tích rừng ngập mặn chủ yếu là
cây bần rất phát triển, rừng phi lao phòng hộ phát triển, có nhiều loài chim quý hiếm, tôm,
cua, cá đặc sản, có thể xây dựng vùng bãi biển gần rừng ngập mặn thành các khu du lịch
sinh thái.
+ Nằm trong vùng đảm bảo ổn định về lương thực dải ven biển Bắc Bộ có điều kiện tốt để
phát triển các ngành nghề kinh tế mũi nhọn. Điều này liên quan tới tiềm năng to lớn về
nuôi trồng, đánh bắt hải sản, kinh tế cảng và các ngành công nghiệp phát triển một phần
trên cơ sở nguồn nguyên liệu và thế mạnh về vị trí địa lý.
+ Hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình hàng năm cung cấp một lượng phù sa lớn, tạo ra
các vùng đất màu mỡ, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và thủy sản, tăng diện tích đất
bồi và hiện nay chính quyền địa phương đang có dự định quai đê lấn biển để mở rộng diện
tích sử dụng đất.
+ Số lượng lao động trong tháp tuổi ngày càng hợp lý là một điểm mạnh của dải ven biển về
nguồn lao động. Người dân ở đây lao động cần cù, có kinh nghiệm sản xuất, chống chọi
với thiên nhiên, có ý thức bảo vệ đất, rừng phòng hộ. Mặt khác, chính quyền xã đặc biệt
quan tâm tới công tác nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của người dân.

262


+ Trong thời kỳ kinh tế hội nhập, Thành phố Hải Phòng có chủ trương chính sách đầu tư kịp
thời phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cấp, thiết kế các công trình thủy lợi, đảm bảo mức an
toàn cho nhân dân yên tâm đầu tư phát triển kinh tế vùng bãi bồi như: nâng cấp đê, nâng
cấp hệ thống cống dưới đê…
1.2.2. Những khó khăn và xung đột

+ Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió mùa Đông Bắc
và các cơn bão, đặc biệt là trong bối cảnh thời tiết hiện nay có xu hướng biến động bất
thường. Mùa bão không còn thuần nhất như trước đây, mà các cơn bão có thể đến muộn
hơn, đe dọa tới các hoạt động nông-ngư nghiệp và giao thông thủy.
+ Thời tiết trong những năm gần đây có những thay đổi thất thường, nhiệt độ không khí cao
hơn, mùa hè nóng hơn và đôi khi mùa đông khắc nghiệt hơn.
+ Ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn nước do nước thải sinh hoạt và nước thải công
nghiệp đã ảnh hưởng tới sản xuất và cuộc sống của người dân và sinh trưởng của động
thực vật tại đây.
+ Nuôi trồng hải sản khá tràn lan, không có quy hoạch và thiết kế tiêu thoát nước chưa thích
hợp, làm ô nhiễm nguồn nước và dịch bệnh dễ lây lan. Nhiều ao đầm nuôi trồng thủy sản
hiện đang bị bỏ hoang do dịch bệnh.
+ Các phương pháp nuôi trồng thủy sản bền vững chưa được nghiên cứu áp dụng trên diện
rộng.
+ Khu vực nuôi trồng thủy sản thường xuyên bị ngập lụt khi bão lớn do nước dâng, gây thiệt
hại rất lớn.
+ Dịch bệnh nhiều hơn đối với cả con người và động thực vật nuôi, gây thiệt hại về sức khỏe
và kinh tế gia đình: dịch cúm gà, bệnh đốm trắng làm tôm, cá chết hàng loạt... Theo ý kiến
cộng đồng người dân sinh sống tại đây, nguyên nhân dẫn tới dịch bệnh nhiều là do thời tiết
thất thường, khắc nghiệt, ô nhiễm môi trường, thêm vào đó là sự quản lý vùng dịch chưa
tốt, nên dịch dễ lây lan diện rộng.
+ Do đánh bắt quá mức, đa dạng sinh học và nguồn lợi hải sản bị suy giảm rất mạnh.
+ Số lượng người thất nghiệp do không có ngành nghề, thiếu đất canh tác và nguồn lợi thủy
sản tự nhiên giảm ngày càng gia tăng.
+ Phương tiện đánh bắt thủy sản còn thô sơ, vẫn còn đối tượng đánh bắt bằng các công cụ
hủy diệt, làm suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm nguồn nước...
+ Ngập lụt khu đồng trũng khi mưa lớn do tiêu thoát nước chậm.
+ Lượng phù sa bồi đắp lớn, kéo theo khả năng gây bồi lấp các luồng lạch ở cửa sông, gây
khó khăn cho giao thông, hạn chế khả năng thoát lũ.
+ Lượng nước mặt khá dồi dào nhưng phân bố không đều theo thời gian. Mùa mưa, lượng

mưa lớn có khả năng gây ngập úng, còn mùa khô lại thiếu nước tưới, nước mặn có điều
kiện xâm nhập vào sâu trong sông, gây nhiễm mặn đất canh tác. Trữ lượng nước ngầm hạn
chế, chất lượng không tốt.
263


+ Độ mặn thay đổi lớn giữa hai mùa mưa và khô, gây khó khăn trong việc nuôi trồng thủy
hải sản.
+ Thảm thực vật ngập mặn là hệ sinh thái ven biển rất phong phú và là yếu tố quan trọng để
bảo vệ đất bồi mới, tuy nhiên, hiện đang tồn tại mâu thuẫn giữa việc phát triển diện tích
rừng ngập mặn với nuôi trông hải sản và phát triển cơ sở hạ tầng ở đây.
+ Xung đột về lợi ích giữa những người dân đánh bắt hải sản ven bờ với nuôi trồng hải sản
trên bãi và trên mặt nước.
+ Xói lở bờ khu vực cửa sông Văn Úc – khu vực hiện nay đang hình thành khu du lịch sinh
thái, khiến người dân không yên tâm trong việc đầu tư phát triển du lịch.
2. QUẢN LÝ TỔNG HỢP VÙNG BỜ TẠI XÃ VINH QUANG

2.1. Hiện trạng quản lý tổng hợp vùng bờ và một số vấn đề có khả năng nảy sinh
do BĐKH và NBD
Từ trước tới nay, biện pháp quản lý tổng hợp vùng bờ chưa được áp dụng tại Vinh Quang.
Tuy nhiên, những hoạt động bảo vệ tài nguyên và môi trường tại xã đã cho thấy, bằng các
hình thức khác nhau, cách tiếp cận này đang phần nào được áp dụng thành công tại xã.
Vào những năm từ 1950 tới 1990, rừng ngập mặn tại xã bị tàn phá nghiêm trọng, dẫn tới xói
lở bờ biển và suy giảm nguồn lợi hải sản. Không có rừng ngập mặn, khi bão lớn, sóng biển
đánh trực tiếp vào đê có khả năng gây vỡ đê. Vào năm 1955, đê vỡ do bão gây thiệt hại rất lớn
về người và của.

Hình 1. Đàn cò trong khu vực đất ngập nước
Được sự giúp đỡ của Chính phủ Nhật Bản, xã đã thực hiện việc trồng lại và phát triển, bảo tồn
rừng ngập mặn. Do rừng ngập mặn phát triển, các loài chim, thú và hải sản đã quay trở lại và

sinh sống, phát triển. Rừng ngập mặn với hệ rễ vững chắc đã giúp ngăn cản xói lở bờ biển
(các hình 1, 2 và 3).

264


Hình 2. Cua trong rừng bần

Hình 3. Hệ rễ của cây bần chua tại rừng ngập mặn xã Vinh Quang
Do ý thức được vai trò của rừng ngập mặn, chính quyền xã đã áp dụng những biện pháp
nghiêm ngặt để bảo vệ rừng. Một trong những biện pháp là giao rừng cho từng hộ dân quản lý
có sự kiểm tra, giám sát thường xuyên của cộng đồng và của chính quyền. Ngoài ra, xã đã tích
cực tuyên truyền, vận động người dân không sử dụng các phương pháp đánh bắt hải sản hủy
diệt, nhằm duy trì nguồn lợi thủy sản. Biện pháp này cùng với giám sát của cộng đồng đã làm
giảm hẳn hiện tượng đánh bắt hải sản theo phương pháp hủy diệt.
Các tồn tại, yếu kém trong quản lý tổng hợp vùng bờ bao gồm việc chưa có quy hoạch phát
triển kinh tế-xã hội thích hợp cho vùng ven biển, việc nuôi trồng thủy hải sản được tiến hành
tràn lan, không có quy hoạch thích hợp và chưa nghiên cứu áp dụng phương pháp nuôi trồng

265


thủy hải sản bền vững. Ngoài ra, xung đột về lợi ích giữa những người nuôi trồng thủy hải sản
và những người sống bằng nghề đánh bắt thủy, hải sản tự nhiên vẫn chưa được giải quyết.
BĐKH và NBD có khả năng xóa đi các cố gắng của chính quyền và nhân dân địa phương
trong quản lý vùng bờ, phòng tránh và đối phó với thiên tai. Những khó khăn, tồn tại và yếu
kém trên cũng sẽ bị gia tăng do BDKH và NBD. Một số vấn đề có khả năng xảy ra do BĐKH
và NBD bao gồm:



Gia tăng ngập lụt khi mưa lớn do tiêu thoát nước chậm.



Gia tăng ô nhiễm môi trường do ngập lụt.



Gia tăng xâm nhập mặn, ảnh hưởng tới lấy nước để tưới tiêu.



Gia tăng hạn hán.



Rừng ngập mặn có thể bị suy giảm, vùng nuôi trồng thủy sản ngoài đê có khả năng bị
ngập lụt thường xuyên hơn, xói lở có khả năng xảy ra khốc liệt hơn. Có khả năng mất
đất tại một số khu vực.



Do rừng ngập mặn bị suy giảm, đa dạng sinh học sẽ bị suy giảm, dẫn tới nguồn lợi tôm
cá bị giảm theo.



Một số hộ dân mất phương tiện canh tác có khả năng tái nghèo, sẽ kiếm sống bằng cách
khai thác tài nguyên, làm gia tăng áp lực lên tài nguyên và môi trường vùng biển.




Có khả năng gia tăng xung đột lợi ích trong khai thác vùng ven biển như nuôi trồng
thủy hải sản với bảo vệ rừng ngập mặn, giữa những người đánh bắt và nuôi trồng thủy
hải sản và đánh bắt tự nhiên, giữa phát triển du lịch và các ngành kinh tế khác.

2.2. Giải pháp quản lý tổng hợp vùng bờ trong bối cảnh BĐKH và NBD
Yêu cầu của quản lý tổng hợp vùng bờ là phát triển kinh tế bền vững dựa trên cơ sở hài hòa
lợi ích, giải quyết mâu thuẫn giữa các bên liên quan trong khai thác tài nguyên vùng bờ, đồng
thời áp dụng các biện pháp quản lý, bảo vệ, phát triển nguồn tài nguyên, khôi phục và bảo vệ
môi trường. Để thực hiện tốt các yêu cầu này, cần thực hiện một số công việc sau đây.
2.2.1. Đầu tư nghiên cứu
Mục đích của việc này là phát hiện, nắm bắt và vận dụng các quy luật tự nhiên, kinh tế, xã hội
đang tác động tới vùng bờ. Đối với vùng ven biển Vinh Quang, cần chú ý nghiên cứu tương
tác giữa sông và biển, quy luật thành tạo và phát triển bãi bồi, các vấn đề về động lực học và
vận chuyển bùn cát, xói lở, hệ sinh thái, phản ứng của rừng ngập mặn và hệ sinh thái với
BĐKH và NBD, v.v... Ngoài ra, cần nghiên cứu các vấn đề về kinh tế, xã hội, các xung đột và
phương pháp giải quyết các xung đột giữa những bên liên quan trong khai thác, sử dụng tài
nguyên vùng bờ, vấn đề kết hợp kinh tế với quốc phòng. Vấn đề này cần có sự đầu tư và giúp
đỡ của chính quyền các cấp và các cơ quan trung ương.
2.2.2. Xây dựng quy hoạch tổng thể cho sự khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên, nhất là
tài nguyên đất
Việc khai thác và sử dụng tài nguyên bãi bồi trong thời gian qua chưa hợp lý, đã làm cạn kiệt
tài nguyên, hủy hoại môi trường. Xuất phát từ đặc điểm của tài nguyên và hiện trạng khai
266


thác, cần phải có những quy hoạch tổng thể và chi tiết, cụ thể đối với từng nơi, từng mục tiêu
và phương hướng sản xuất để qua đó có biện pháp cụ thể tới từng tiểu vùng.
Đối với các vùng nuôi trồng thủy hải sản ven bờ: tiếp tục phát triển nuôi thủy sản theo hướng

thâm canh và bán thâm canh có hiệu quả. Phải thiết kế lại các ao đầm nuôi thủy hải sản, đảm
bảo cấp và thoát nước, cải thiện môi trường và vệ sinh phòng dịch bệnh. Áp dụng các tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào canh tác và nuôi trồng thủy hải sản; khoanh vùng bảo vệ kịp thời khi có
dịch bệnh xẩy ra. Ngoài ra, cần nghiêm ngặt theo dõi để bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn,
một điều kiện không thể thiếu để đảm bảo cho sự bền vững của môi trường, hệ sinh thái ven
biển và phòng chống thiên tai, nhất là xói lở bờ biển và nước dâng.
Đối với vùng đất sản xuất nông nghiệp: đây là ngành chịu tác động trực tiếp từ những thay đổi
của thời tiết, khí hậu. Do đó, trong bối cảnh BĐKH và NBD, cần sử dụng khoa học công nghệ
vào trong sản xuất, áp dụng những thông tin về thời tiết để lựa chọn giống cây trồng phù hợp
theo từng mùa vụ; quy hoạch đất theo hướng xây dựng thành những khu vực bảo hộ nông
nghiệp, tức là vùng có cơ sở vật chất hoàn chỉnh, tránh ngập lụt và xâm nhập mặn khi nước
biển dâng cao.
Quy hoạch du lịch phải chú trọng đến việc hình thành du lịch sinh thái rừng phòng hộ kết hợp
với việc quản lý chặt chẽ việc đảm bảo giữ gìn an ninh trật tự và vệ sinh công cộng. Đồng thời
phải tính toán, đánh giá rủi ro đầu tư, nhất là hiện trạng khu vực này đang có hiện tượng xói
lở bờ biển và trong tương lai, dưới tác động của BĐKH và NBD, hiện tượng xói lở đất có thể
gia tăng, gây rủi ro lớn.
Cần quy hoạch lại việc đánh bắt thủy hải sản: cần phát triển đội tầu, trợ giúp vốn cho những
ngư dân cải tiến phương pháp đánh bắt; bên cạnh đó, cần nghiêm cấm hành vi sử dụng các
công cụ thô sơ đánh bắt theo phương thức hủy diệt: kích điện, thuốc nổ, lưới có mắt quá nhỏ,
v.v...
Đặc biệt cần chú trọng công tác đào tạo ngành nghề mới trong xã, tạo điều kiện chuyển đổi
nghề nghiệp cho người dân chịu ảnh hưởng của BĐKH và NBD.
Cần nghiên cứu, đánh giá kỹ ảnh hưởng của quai đê lấn biển tới tài nguyên, môi trường vùng
ven biển, nhất là rủi ro do sự gia tăng ngập lụt và xói lở và ảnh hưởng tới hệ sinh thái rừng
ngập mặn và vùng ven biển.
2.2.3. Xây dựng các thể chế chính sách hợp lý
Hiện tại, các thể chế chính sách về quản lý tổng hợp vùng bờ chưa được hoàn thiện ở trung
ương, nên chưa có điều kiện áp dụng tại địa phương. Vì vậy, các cơ quan chức năng ở trung
ương cần khẩn trương hoàn thiện các thể chế chính sách và hướng dẫn áp dụng để tạo điều

kiện giúp địa phương. Các thể chế, chính sách này bao gồm các quy định về sử dụng vùng bờ,
các loại phí, các thể chế tài chính giúp khắc phục hậu quả thiên tai, di dân tái định cư. Một số
thể chế, chính sách đang được áp dụng ở phương Tây như vấn đề bảo hiểm phòng chống thiên
tai và biến đổi khí hậu cần được nghiên cứu áp dụng.
Trước khi có những thể chế, chính sách ban hành từ các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ở
trung ương, cần nghiên cứu các kinh nghiệm của nước ngoài và áp dụng tại địa phương.

267


2.2.4. Phát triển giao thông
+ Giao thông thủy: Hiện tại giao thông thủy tại đây chưa phát triển, có thể nghiên cứu và
đưa ra những dự án phát triển giao thông thủy tại đây.
+ Giao thông đường bộ: Hiện nay xã Vinh Quang đã đầu tư mở rộng và nâng cấp tuyến
đường 352 dài gần 17 km nối với thị trấn Tiên Lãng. Nói chung, giao thông trong xã rất
thuận lợi cho công tác vận chuyển giao lưu buôn bán với các khu vực khác cũng như với
trung tâm kinh tế của thành phố.
2.2.5. Xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế, tỉnh đã có những chính sách đầu tư
phát triển hệ thống kênh mương, xây dựng các cống lấy nước, nâng cấp đê điều tại đây. Để có
thể khai thác hết tiếm năng của vùng, cần phải có những quy hoạch chi tiết và xây dựng hệ
thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, toàn diện, bao gồm:
+ Nâng cấp đường giao thông nông thôn liên xã, liên huyện, liên tỉnh, hình thành mạng lưới
giao thông vùng kinh tế biển hoàn chỉnh.
+ Nâng cấp các tuyến đê, cải tạo hệ thống cống dưới đê đảm bảo chống lũ, nước dâng, thau
chua, rửa mặn, cung cấp nước ngọt cho nhân dân.
+ Hình thành những khu kinh tế phát triển trung tâm của nông thôn: xây dựng khu kinh tế
kiểu mẫu: khu du lịch sinh thái, khu nuôi tôm, cá thâm canh...
2.2.6. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực và tuyên truyền, phổ biến kiến thức
Cần đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực có kiến thức phục vụ quản lý vùng bờ và phát triển

kinh tế-xã hội bền vững, đồng thời bảo vệ môi trường. Cần tăng cường đào tạo, giúp người
nghèo chuyển đổi nghề nghiệp, thực hiện triệt để việc xóa đói giảm nghèo, tăng cường phổ
biến kiến thức khoa học kỹ thuật, kỹ năng phòng chống thiên tai, ý thức bảo vệ môi trường
cho người dân.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
+ Các kết quả nghiên cứu trên đây cho thấy BĐKH và NBD có khả năng gia tăng những rủi
ro tại vùng ven biển của xã Vinh Quang. Việc áp dụng giải pháp quản lý tổng hợp vùng bờ
có khả năng giúp giảm thiểu rủi ro, tăng cường khả năng chống chịu thiên tai của khu vực
được nghiên cứu.
+ Các kết quả nghiên cứu cần được tham khảo để giúp hoạch định thể chế, chính sách quản
lý tổng hợp vùng bờ trong bối cảnh BĐKH và NBD.
+ Cần nhanh chóng đầu tư xây dựng các thể chế, chính sách thích hợp, phục vụ quản lý tổng
hợp vùng bờ ở tầm quốc gia, làm cơ sở để hướng dẫn thực hiện ở địa phương. Các kết quả
áp dụng tại địa phương cần được xem xét để hoàn thiện các thể chế, chính sách đặt ra.
+ Cần tiếp tục đầu tư nghiên cứu kết quả các dự án thí điểm quản lý tổng hợp vùng bờ nhằm
cung cấp cơ sở để xây dựng các thể chế, chính sách nói trên.

268



×