Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

DSpace at VNU: Học phí và cơ hội tiếp cận đại học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (6.38 MB, 6 trang )

HỌC PHÍ VÀ

CƠ HỘI TIẾP CẬN ĐẠI HỌC

42

Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội


Khoõng gian Hoùc thuaọt

Quan im ca Nhúm i thoi Giỏo dc cho rng ch trng gi hc phớ
thp ngi nghốo cú th theo hc l mt cỏch tip cn sai lm vỡ hc
phớ thp lm cho cỏc trng khụng cú ngun thu cp hc bng cho
sinh viờn nghốo; ng thi a s ngun lc ca trng phi da vo ngõn
sỏch nh nc. Vỡ vy, ch sinh viờn t gia ỡnh khỏ gi mi i hc i hc
c v chi phớ o to cỏc sinh viờn ny li c nh nc bao cp l ch
yu. Núi cỏch khỏc, nh GS. Phm Ph ó núi, gi hc phớ thp l ly tin
ca ngi nghốo nuụi ngi giu.
TS. PHM TH LY
HIN TRNG V CễNG BNG TRONG C
HI TIP CN H VIT NAM
Cú nhiu yu t nh hng n mc
tip cn H ca ngi dõn, nh kh nng hc
tp, ngun thụng tin, ng c theo hc, nn
tng vn húa ca gia ỡnh v trỡnh giỏo
dc ca cha m trong ú cú quan nim v
gii, c im vựng min, mụi trng xó hi,
v kh nng ti chớnh. Bi ny ch xem xột yu
t sau cựng.
ỏnh giỏ mc cụng bng trong c hi


tip cn H, cú nhiu ch s khỏc nhau chng
hn t l sinh viờn n trờn tng s (GPI), t l
sinh viờn mi nhúm thu nhp khỏc nhau, cú
hon cnh kinh t- xó hi khỏc nhau trờn dõn
s (EEI), v.v. Mt ch s cú tớnh cht tng hp
l ch s tip cn giỏo dc (EAI) xỏc nh bng
t l nhp hc trờn dõn s, t l sinh viờn n
trờn s ngi hc, t l hon thnh bc hc,
v ch s cụng bng, vi trng s 25:10:25:40
(Usher and Cervenan 2005).
Theo kt qu tng iu tra mc sng h
gia ỡnh ca Tng cc Thng kờ nm 2012 thỡ
hin ang cú mc khỏc bit rt cao trong kh
nng tip cn H gia cỏc nhúm thu nhp
khỏc nhau Vit Nam: S ngi cú bng
i hc trong tui 25-34 ch chim 0,4%
trong nhúm thu nhp thp nht, trỏi li, con
s ny nhúm thu nhp cao nht l 20,1%.
So vi, hai con s ny ca nm 2006 l 0,2
v 14,1 ta cú th thy c hai nhúm u tng,
v tuy khong cỏch cú c thu hp li, cng
vn cũn rt xa. Nu tớnh s sinh viờn hin nay,

S 294 - 2015

43


thì chỉ có 3% đến từ nhóm 20% dân số
nghèo nhất. Nói cách khác, tình trạng

bất bình đẳng về cơ hội học tập ĐH
đang rất nghiêm trọng.
Thêm nữa, xét riêng chỉ số công bằng
giáo dục (EEI - phản ánh khả năng có
được bằng ĐH trong các nhóm dân số
khác nhau), thì con số này trong cả nước
là 37,76%, kém xa so với các nước phát
triển như Hà Lan, Anh, Canada, Mỹ lần

44

Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội

lượt là 67%, 64%, 63%, 57%. Quan
trọng hơn, xét cụ thể theo các nhóm thu
nhập khác nhau ở Việt Nam, thì ở ngũ
phân vị thu nhập thấp nhất khả năng
này hầu như bằng không. Với nhóm
thu nhập trung bình thấp chỉ số này là
31,61; và với nhóm thu nhập cao nhất
là 60,66. Đó chính là lí do nhóm Đối
thoại Giáo dục cho rằng hiện nay phần
lớn sinh viên không thuộc những gia
đình nằm trong tầng lớp thu nhập thấp

nhất. Và vì số tiền ngân sách nhà nước
cấp cho các trường ĐH công lấy từ tiền
thuế của người dân, trong đó có người
nghèo, nên GS. Phạm Phụ đã nói rằng
đó là “lấy tiền của người nghèo để nuôi

người giàu”.
Thống kê trên đây chỉ cho chúng ta
thấy mối tương quan giữa thu nhập và
trình độ học vấn, nhưng không nói lên
quan hệ nhân quả. Nó cho chúng ta biết


Khoõng gian Hoùc thuaọt

thiu s l t gia ỡnh khỏ gi. Mt ti
liu ca UNESCO tớnh toỏn t d liu
ca Tng cc Thng kờ nm 2011 cho
bit, 51% tng s sinh viờn hin nay l
t nhúm 20% dõn s giu nht. Con s
ny thot nhỡn cú v khú tin, vỡ nú trỏi vi
cm nhn v quan sỏt ca nhiu ngi,
nhng nú cú th ỳng, nu ta tớnh n
mt iu l trong 20% dõn s c gi
l giu nht, ch mt s ớt ngi thc s
giu. Vi nhúm ny, thỡ con cỏi ó i
hc nc ngoi, hoc ớt ra l nhng
trng t hc phớ rt cao trong nc.
Do ú vic tng hc phớ, nu din ra, s
nh hng ln n rt nhiu sinh viờn
(v rng ra l rt nhiu gia ỡnh). Nu
chỳng ta tớnh n mt thc t l, cng
nghốo, thỡ ngi dõn cng tha thit cho
con vo H mong thoỏt khi cuc
sng lm than, thỡ s thy khụng ớt gia
ỡnh ó phi bỏn nh ca, rung vn,

vay mn con cỏi theo ui vic hc.
Vỡ vy chỳng tụi cho rng nhn nh
sau õy ca VED cn c xem xột thn
trng hn: Th nht, hc phớ thp lm
cho cỏc trng khụng cú ngun thu
cp hc bng cho sinh viờn nghốo.
Th hai, hc phớ thp dn n a s
ngun lc ca trng phi da vo ngõn
sỏch nh nc. Vỡ hai lớ do ny, ch sinh
viờn t gia ỡnh khỏ gi mi i hc i
hc c. Chỳng tụi cho rng tuy c
hai nhn nh v u ỳng, nhng nú
khụng nht thit dn n cỏi kt lun
tip theo nh trờn.

l trong nhúm ngi giu thỡ cú nhiu
ngi cú bng H hn, nhng iu ny
khụng cú ngha l nhng ngi ang i
hc H phn ln l ngi giu. Núi cỏch
khỏc, mc dự t l ngi giu cú bng i
hc cao hn, nhng phn ln ngi hc
H hin nay vn l t nhng gia ỡnh
khụng giu, thm chớ theo quan sỏt ca
nhiu ngi, hu ht sinh viờn trong cỏc
trng H Vit Nam l t gia ỡnh cú
thu nhp thp hoc trung bỡnh, ch mt

Cú mt thc t l kh nng chi tr
ca ngi dõn rt cú gii hn. V mt ti
chớnh, cú hai lớ do trc tip dn n hin

trng kh nng theo ui H rt thp
trong nhúm thu nhp thp. Mt l chi
phớ theo hc H trng cụng hin chim
96,89% tng thu nhp ca mt gia ỡnh
thu nhp thp (di 5 triu ng/thỏng),
cũn nu hc trng t thỡ chim n
122,12%. Trong lỳc ú, vi gia ỡnh thu
nhp trờn 10 triu ng/thỏng thỡ chi
phớ hc trng cụng ch chim 23,51%
v trng t l 32,67%. Nu tớnh riờng

hc phớ, thỡ hc phớ trng cụng chim
16,77% tng thu nhp ca gia ỡnh thu
nhp thp, trng t chim 40,70%.
Rừ rng kh nng chi tr l mt ro
cn ỏng k. Tuy nhiờn, lớ do th hai mi
tht l quan trng v ỏng chỳ ý: tng
quan gia chi phớ v li ớch. Hin nhiờn
l i vi mi gia ỡnh, chi phớ theo hc
i hc l mt khon u t cho tng
lai. Vy khon u t ny mang li li
ớch gỡ so vi chi phớ s phi b ra? Tng
cc Thng kờ cú mt bỏo cỏo phõn tớch
mi tng quan gia thu nhp v hc
vn da trờn s liu iu tra nm 2009,
tuy nhiờn bỏo cỏo ny khụng cho bit c
th t l hon vn ca hc vn H. Mt
nghiờn cu ca Nguyn Xuõn Thnh
nm 2006 cho bit sut sinh li ca vic
hc thờm mt nm ph thụng trung

hc l 11,43%. Tuy nhiờn, mt nghiờn
cu khỏc ca Phm Lờ Thụng nm 2011
v nh hng ca trỡnh hc vn
i vi thu nhp, da trờn s liu ca
Tng cc Thng kờ nm 2008 ó cho
bit rng tm quan trng ca hc vn
i vi thu nhp ngy cng c khng
nh trong kinh t th trng, nhng so
vi cỏc nc phỏt trin thỡ sut sinh li
Vit Nam thp hn nhiu. Cn lu ý l
nhng nghiờn cu ny da trờn s liu
iu tra dõn s t nm 2008 v trc,
khi s ngi cú bng H cũn ớt, v tỡnh
trng c nhõn tht nghip khụng mc
ỏng k nh hin nay.
KHUYN NGH CHNH SCH CHO
VIT NAM
Vn ti chớnh cho GDH l mt
thỏch thc ln, vỡ nú phi nhm vo hai
mc tiờu cú v nh khú t c ng
thi: mt l bo m ngun chi cho nhu
cu khụng ngng tng ca cỏc trng
cú th em li mt dch v cú cht
lng, cng nh duy trỡ cỏc hot ng
nghiờn cu cú th khụng mang n li
ớch kinh t tc thi; v hai l, bo m
cụng bng v c hi cho ngi dõn
tng lp thu nhp thp cú th thay i

S 294 - 2015


45


cuộc đời và tạo ra những dịch chuyển xã
hội tích cực.
Ở các nước, có ba chiến lược chính đối
với học phí ĐH: (i) học phí cao, mức hỗ
trợ cao cho sinh viên; (ii) học phí trung
bình, hỗ trợ trung bình; (iii) học phí
thấp, mức hỗ trợ thấp. Cách thứ nhất
có nhược điểm là, nó để lại một gánh
nặng nợ nần cho sinh viên, và nếu như
triển vọng việc làm không mấy sáng sủa,
số người theo học ĐH sẽ giảm làm suy
giảm chất lượng của nguồn nhân lực và
năng lực cạnh tranh của quốc gia. Thêm
nữa, có rất ít ngân hàng mặn mà với tín
dụng sinh viên do thời gian thu hồi thì
dài mà khả năng không thu được cũng
rất cao, trừ khi họ có được sự bảo lãnh
của nhà nước. Nếu ngân sách nhà nước
phải bù quá nhiều cho khoản không
thu hồi được thì thực chất cũng chẳng
khác nào bao cấp, nhưng điều này lại
kích thích thái độ thiếu trách nhiệm của
người học.
Cách thứ ba, học phí thấp và hỗ trợ
sinh viên thấp giúp làm tăng cơ hội
vào ĐH, tăng số người được học ĐH.

Tất nhiên nguồn thu của các trường sẽ
giảm, nghĩa là hoặc ngân sách công phải
tài trợ trực tiếp cho các trường, hoặc các
trường phải tìm được những nguồn thu
khác từ hiến tặng và dịch vụ phục vụ
cộng đồng. Đây là cách Việt Nam đang
làm, và “những nguồn thu khác” của các
trường trong những năm qua chủ yếu là
đào tạo tại chức, từ xa, một hình thức
hủy hoại các tiêu chuẩn học thuật trong
thực tế và làm cho bằng cấp trở nên mất
giá như ngày nay. Mặt khác, khoản thu
học phí thấp đang được bù đắp bằng
ngân sách nhà nước cấp trực tiếp cho
các trường, có nghĩa là nhà nước đang
gián tiếp tài trợ cho 51% sinh viên trong
nhóm 20% dân số có thu nhập cao nhất
bằng tiền thuế của toàn dân trong đó
có người nghèo. Điều này làm cho gánh
nặng ngân sách tăng lên, nghĩa là phải
tăng thuế, và những khoản tài trợ trực
tiếp cho sinh viên thuộc nhóm thu nhập
thấp phải giảm đi.
Trong khi đó, chiến lược thứ hai tìm

46

Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội

cách cân bằng giữa nhu cầu của các

trường, khả năng tài trợ của ngân sách
địa phương, và khả năng chi trả của
người dân, để ba bên cùng chia sẻ gánh
nặng, thay vì trút gánh nặng từ bên này
sang bên khác.
Trong trường hợp Việt Nam, có ba
điểm cụ thể cần tính đến khi xác định
chính sách học phí: một là khả năng của
ngân sách và hiệu quả sử dụng nguồn
tài chính công; hai là khả năng chi trả
của người dân và hiện trạng trong vấn
đề bình đẳng cơ hội; và ba là bức tranh
thực tế về chất lượng đào tạo của các
trường, về tình trạng thất nghiệp, về sự
tham gia cạnh tranh của các nhà cung
cấp dịch vụ giáo dục quốc tế cũng như
của nguồn nhân lực từ các nước trong
khu vực khi hội nhập cộng đồng kinh tế
ASEAN.
Ngân sách nhà nước tài trợ trực tiếp
cho các trường hiện nay khó lòng tăng vì
vậy cần tập trung vào việc cải thiện hiệu
quả sử dụng nguồn ngân sách công
thông qua xây dựng một cơ chế đánh
giá chất lượng hoạt động của các trường
thay vì chỉ dựa trên đầu vào.
Học phí sẽ phải tăng để đảm bảo chất
lượng ở mức chấp nhận được, kèm theo
mức hỗ trợ tương ứng bao gồm miễn
giảm học phí, tín dụng và học bổng,

nhưng điều cần lưu ý là chính sách học
bổng phải được xây dựng một cách linh
hoạt và khôn ngoan, bao gồm học bổng
dựa trên thành tích lẫn học bổng theo
nhu cầu cần được hỗ trợ. Nhà nước có
chính sách hỗ trợ học phí, từng phần
hoặc toàn bộ, cho những ngành học
cần thiết cho sự phát triển bền vững
của quốc gia nhưng thị trường không
có động lực để đáp ứng nhằm khuyến
khích người học và cân bằng nhu cầu về
nguồn lực. Cùng với cơ chế này là chính
sách bắt buộc tất cả các trường công
cũng như tư dành ra một tỉ lệ nhất định
trong tổng thu học phí để làm học bổng
bao gồm nhiều loại khác nhau phù hợp
với những đối tượng khác nhau.

tăng cường trách nhiệm giải trình của
các trường và công khai thông tin về mọi
hoạt động của nhà trường, bao gồm
những kế hoạch cải cách quản trị để
mọi quyết định của nhà trường bao hàm
được tiếng nói của các bên liên quan
khác nhau. Làm sao các trường có thể
thuyết phục được xã hội, nếu họ không
có đủ năng lực biện minh cho những
quyết định, hành động và kết quả công
việc của mình?


Khuyến nghị thứ hai là chính sách
tăng học phí phải gắn chặt với quá trình

Khuyến nghị thứ ba là tăng cường
cạnh tranh thông qua mở rộng tự chủ


Khoâng gian Hoïc thuaät

trong việc xác định mức học phí tùy theo
năng lực và uy tín của từng trường. Liệu
nhà nước có nên quy định mức trần
học phí ở trường công hay không, là
một câu hỏi khó trả lời, vì cả những lí
lẽ ủng hộ lẫn phản bác đều mạnh mẽ.
Ở Mỹ, có tiểu bang thì nhà nước nắm
lấy thẩm quyền này, có tiểu bang thì
không. Những người ủng hộ giao cho
các trường tự quyết mức học phí cho
rằng khó lòng có một mức học phí
chung cho các trường với địa bàn khác
nhau, cơ sở vật chất và đội ngũ khác
nhau, sứ mạng và trọng tâm hoạt động

khác nhau; hay chung cho các ngành với
những chi phí đào tạo thực tế rất khác
nhau. Những người phản đối cho rằng
điều này sẽ biến các trường công thành
ra không khác với trường tư, khiến học
phí tăng cao đến mức làm giảm số người

đi học và xói mòn sứ mạng phục vụ lợi
ích công của nhà trường, cụ thể là đem
lại cơ hội giáo dục bậc cao với chi phí
thấp nhất có thể. Chúng tôi cho rằng
việc giao tự chủ xác định mức học phí
cho nhà trường cần gắn chặt với một cơ
chế hữu hiệu về trách nhiệm giải trình và
công khai thông tin về nhà trường, như

khuyến nghị của VED về đảm bảo chất
lượng đã nêu ra. Nhà nước cần đặt các
trường công cũng như tư vào một bối
cảnh cạnh tranh, không chỉ cạnh tranh
về uy tín, mà còn về chất lượng và giá cả,
vì đó là động lực để cải thiện hiệu quả.
Tất cả những việc nhà nước cần làm là
đặt ra luật chơi để bảo đảm cạnh tranh
lành mạnh và công bằng.

Số 294 - 2015

47



×