LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn này “Quản trị vốn lưu động và hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp: Một nghiên cứu trong ngành Thủy sản ” là bài nghiên cứu của chính
tôi.
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam
đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc
được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác.
Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn
này mà không được trích dẫn theo đúng quy định.
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường
đại học hoặc cơ sở đào tạo khác.
TP. Hồ Chí Minh, 2013.
Lê Thị Minh Nguyên
i
LỜI CẢM ƠN
Để có thể thực hiện được luận văn này, tôi đã thọ ơn hướng dẫn và truyền đạt kiến
thức chuyên môn của giảng viên hướng dẫn: PGS – TS Võ Thị Quý. Với nhiều năm kinh
nghiệm nghiên cứu và giảng dạy, Cô đã luôn theo sát và tận tình giảng giải cho tôi, giúp
tôi hoàn thành nghiên cứu của mình. Cho tôi gửi lời tri ân sâu sắc đến với Cô.
Trong quá trình nghiên cứu, tôi cũng nhận được sự giảng giải về kinh tế lượng của
Th.S Trần Thị Tuấn Anh (Giảng viên Toán Thống kê), cùng với việc cung cấp thông tin
cũng như số liệu về Ngành Thủy sản của Chị Tô Thị Tường Lan (Phó tổng thư ký
VASEP). Xin gửi lời cám ơn chân thành đến với Cô và Chị.
Không những vậy, những Thầy Cô đã từng giảng dạy cho tôi, đặc biệt là trong
chương trình Cao học, đã nhiệt tâm bổ khuyết cho tôi những kiến thức về chuyên môn,
góp phần cho luận văn của tôi được hoàn thiện. Tôi cảm ơn tất cả Thầy Cô.
Mỗi một người thân yêu, mỗi một lời động viên, đã giúp tôi có thêm động lực
nhanh chóng hoàn thành luận văn. Con cảm ơn Ba Mẹ, em cảm ơn Anh bạn đời, tôi cảm
ơn Cô giáo chủ nhiệm, cảm ơn những Người bạn.
Một lần nữa, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ba Mẹ, Thầy Cô, cùng tất cả
những người bạn đã đồng hành cùng với tôi trong việc thực hiện và hoàn thành luận văn
này.
TP. Hồ Chí Minh, ngày…..tháng…..năm 2013.
Lê Thị Minh Nguyên
ii
TÓM TẮT
Luận văn “ Quản trị vốn lưu động và hiệu quả kinh doanh - Một nghiên cứu trong
ngành Thủy sản” được thực hiện để nghiên cứu sự tác động của việc quản trị vốn lưu
động thông qua chu kỳ luân chuyển tiền và các thành tố của nó, là số ngày thu tiền bình
quân, số ngày tồn kho bình quân và số ngày trả tiền bình quân, cùng với những chính
sách đầu tư và tài trợ vốn lưu động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ngành
Thủy sản. Trong đó, hiệu quả kinh doanh được đo lường bằng suất sinh lợi của tài sản
ROA và giá trị doanh nghiệp qua chỉ số Tobin’Q.
Nghiên cứu thực hiện các kiểm định giả thuyết thông qua phương pháp ước lượng
hồi quy Generalized Method of Moment (GMM), với mẫu nghiên cứu gồm 21 doanh
nghiệp ngành Thủy sản được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (HOSE và
HXN), giai đoạn 2008 -2012.
Nghiên cứu đã đi tới kết luận rằng, chu kỳ luân chuyển tiền, số ngày thu tiền bình
quân, số ngày tồn kho bình quân và số ngày trả tiền bình quân có tác động không đồng
thuận tới hiệu quả kinh doanh. Đồng thời, cũng tồn tại một mối quan hệ phi tuyến giữa
chu kỳ luân chuyển tiền và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Không những vậy, các
chính sách đầu tư và tài trợ vốn lưu động mạo hiểm (Aggressive) có tác động tiêu cực đến
hiệu quả kinh doanh. Và ngược lại, chính sách đầu tư và tài trợ vốn lưu động thận trọng
(Conservative) lại có tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Nghiên cứu đã cung cấp sự hiểu biết thêm về sự tác động của quản trị vốn lưu
động tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ngành Thủy sản. Do đó, những kết luận
từ nghiên cứu này sẽ có ích cho các nhà quản trị tài chính hoạch định các chính sách quản
trị vốn lưu động cho doanh nghiệp mình.
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan ....................................................................................................................... i
Lời cảm ơn ..........................................................................................................................ii
Tóm tắt .............................................................................................................................. iii
Mục lục ............................................................................................................................... iv
Danh mục bảng .................................................................................................................. vi
Danh mục hình ................................................................................................................. vi
Danh mục từ viết tắt .......................................................................................................vii
CHƢƠNG
MỞ ĐẦU.................................................................................................... 1
1.1. Lý do và vấn đề nghiên cứu. ............................................................................... 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu. ........................................................................................... 3
1.3. Câu hỏi nghiên cứu. ............................................................................................ 4
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. ...................................................................... 4
1.5. Phương pháp nghiên cứu. .................................................................................... 4
1.6. Ý nghĩa của nghiên cứu. ...................................................................................... 4
1.7. Kết cấu luận văn. ................................................................................................. 5
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM
6
2.1. Một số đặc điểm chung của ngành Thủy sản. ..................................................... 6
2.1.1. Nguồn nguyên liệu đầu vào. ........................................................................6
2.1.2. Vị thế cạnh tranh trong ngành và thị trường xuất khẩu. ..............................6
2.1.3. Các vấn đề về tài chính. ...............................................................................7
2.2. Tình hình hoạt động kinh doanh Thủy sản giai đoạn 2008-2012 ....................... 8
2.3. Các yếu tố tác động đến vốn lưu động của doanh nghiệp ngành Thủy sản ..... 11
CHƢƠNG
V
CƠ SỞ L LU N VỀ QUẢN TR V N LƢU Đ NG
HIỆU QUẢ INH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP .......................................... 12
3.1. Lý thuyết về quản trị vốn lưu động. ............................................................................ 12
3.1.1. Vốn lưu động. ............................................................................................12
3.1.2. Quản trị vốn lưu động. .............................................................................. 13
3.1.3. Chu kỳ luân chuyển tiền ...........................................................................15
3.1.4. Chính sách quản trị vốn lưu động: ............................................................19
3.2. Tác động của quản trị vốn lưu động đến hiệu quả kinh doanh . ....................... 21
3.2.1. Sự tác động của quản trị vốn lưu động đến khả năng thanh khoản ..........21
3.2.2. Sự tác động của quản trị vốn lưu động đến khả năng sinh lời và giá trị
doanh nghiệp. ........................................................................................................23
3.3. Một số nghiên cứu truớc về tác động của quản trị vốn lưu động tới hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp. ........................................................................................ 24
3.4. Khung tiếp cận nghiên cứu. ................................................................................ 34
3.5. Giả thuyết nghiên cứu: ....................................................................................... 35
iv
CHƢƠNG 4 PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................................... 44
4.1. Thu thập dữ liệu nghiên cứu. .............................................................................. 44
4.2. Xây dựng mô hình nghiên cứu. .......................................................................... 44
4.3. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 47
4.3.1. Xử lý dữ liệu nghiên cứu. .........................................................................47
4.3.2. Phương pháp ước lượng hồi quy. .............................................................48
4.3.3. Trình tự thực hiện nghiên cứu định lượng................................................50
CHƢƠNG 5
ẾT QUẢ NGHIÊN CỨU...................................................................... 53
5.1. Phân tích thống kê mô tả các biến số định lượng ............................................... 53
5.2. Phân tích ma trận hệ số tương quan giữa các biến số. ....................................... 56
5.2.1. Mối quan hệ giữa Chu kỳ luân chuyển tiền và các thành phần của nó
với hiệu quả kinh doanh. ......................................................................................56
5.2.2. Mối quan hệ giữa các Chính sách vốn lưu động với quả kinh doanh. ......57
5.2.3. Mối quan hệ giữa các yếu tố khác với hiệu quả kinh doanh. ....................57
5.3. Kết quả ước lượng hồi quy. ................................................................................ 58
5.3.1. Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến ........................................................58
5.3.2. Kiểm định mức độ phù hợp giữa 2 mô hình Pool -FEM...........................59
5.3.3. Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi cho mô hình FEM. ................59
5.3.4. Kiểm định hiện tượng tự tương quan. .......................................................60
5.3.5. Kiểm định hiện tượng nội sinh. .................................................................60
5.3.6. Kết quả hồi quy bằng phương pháp GMM. ..............................................61
5.3.7. Thảo luận kết quả. .....................................................................................64
CHƢƠNG 6. ẾT LU N V
HUYẾN NGH .......................................................... 73
6.1. Những nội dung chính trong nghiên cứu............................................................. 73
6.2. Kết luận của nghiên cứu. ..................................................................................... 73
6.2.1. Sự tác động không đồng thuận (tiêu cực). .................................................74
6.2.2. Sự tác động đồng thuận (tích cực). ............................................................74
6.3. Khuyến nghị. ....................................................................................................... 75
6.4. Giới hạn và hướng nghiên cứu tiếp theo. ............................................................ 76
6.4.1. Giới hạn của nghiên cứu. ...........................................................................76
6.4.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo. .....................................................................76
T I LIỆU THAM
HẢO ............................................................................................... 78
PHỤ LỤC .......................................................................................................................... 84
PHỤ LỤC A. Kết quả kiểm định hệ số VIF............................................................. 84
PHỤ LỤC B. Kết quả ước lượng hồi quy FEM và kiểm định Likelihood ............... 85
PHỤ LỤC C. Kết quả kiểm định phương sai cho mô hình FEM ............................. 93
PHỤ LỤC D. Kết quả kiểm định tự tương quan ....................................................... 95
PHỤ LỤC E. Kết quả ước lượng hồi quy GMM và kiểm định ................................ 96
PHỤ LỤC F. Kiểm định Wald cho các biến số không có ý nghĩa thống kê ........... 104
PHỤ LỤC G. Kết quả kiểm định tính phi tuyến của biến CCC .............................. 108
v
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 3.1. Khung tiếp cận nghiên cứu.
34
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Kết quả các nghiên cứu trước.
33
Bảng 4.1. Tóm tắt các biến số trong mô hình nghiên cứu.
47
Bảng 5.1. Kết quả thống kê mô tả các biến số định lượng.
53
Bảng 5.2. Ma trận hệ số tương quan.
56
Bảng 5.3. Kết quả kiểm định hệ số nhân tử phóng đại phương sai.
58
Bảng 5.4. Kết quả kiểm định Likelihood giữa mô hình Pool và FEM
59
Bảng 5.5. Kết quả kiểm định Wald cho mô hình FEM.
59
Bảng 5.6. Kết quả kiểm định tự tương quan (Wooldrige).
60
Bảng 5.7. Kết quả hồi quy bằng phương pháp ước lượng GMM 1
61
Bảng 5.8. Kiểm định ước lượng hồi quy GMM 1
61
Bảng 5.9. Kết quả mô hình ước lượng hệ số hồi quy GMM 2
63
Bảng 5.10. Kiểm định ước lượng hồi quy GMM 2
64
vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLUE
Best Linear Unbiased Estimator
FEM
Fixed Effect Method (Model).
GMM
Generalized Method of Moment.
HOSE
Hồ Chí Minh Stock Exchange.
HXN
Hà Nội Stock Exchange
LC
Letter Credit
OLS
Ordinary Least Squares.
REM
Random Effect Method (Model).
VASEP
Vietnam Association of Seafood Exporters and Producers.
VLĐ
Vốn lưu động.
vii
Chương 1. Mở đầu.
CHƢƠNG
MỞ ĐẦU
Chương một sẽ giới thiệu vấn đề và lý do cần nghiên cứu. Từ vấn đề nghiên cứu,
mục tiêu nghiên cứu cụ thể sẽ được đặt ra và những câu hỏi nghiên cứu sẽ trả lời cho
các mục tiêu đề ra. Trong chương này cũng cho thấy phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa
cũng như kết cấu của nghiên cứu.
1.1.
L do và vấn đề nghi n cứu.
Mục tiêu tài chính quan trọng của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng chính là sự gia
tăng về doanh số và lợi nhuận. Tuy nhiên, có một sự đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro.
Mục tiêu thanh khoản và lợi nhuận luôn luôn mâu thuẫn nhau trong hầu hết các quyết
định tài chính. Để đạt được mục tiêu này, các doanh cần thiết phải chú trọng đến quản
trị tài chính, trong đó có quản trị tài chính ngắn hạn và đặc biệt đối với các doanh
nghiệp sản xuất thì việc quản trị vốn lưu động là vấn đề đáng được quan tâm.
Vốn lưu động đóng vai trò rất quan trọng trong cấu trúc tài chính của doanh
nghiệp, nó tác động trực tiếp đến hiệu quả và rủi ro hoạt động của doanh nghiệp. Nếu
nhà kinh doanh có một chút thuận lợi đối với vốn lưu động thì họ sẽ luôn nhận được lợi
nhuận ở bất kỳ cơ hội nào (Sial và Chaudhry, 2010).
Nghiên cứu của Afza và Nazir (2007) cho thấy rằng, quản trị vốn lưu động rất
quan trọng đối với các doanh nghiệp sản xuất vì tài sản ngắn hạn và nguồn vốn ngắn
hạn chiếm gần 50
tổng tài sản. Không những vậy, Deloof (2003) còn cho thấy một số
lượng tương đối lớn các tài sản của doanh nghiệp được dành riêng cho vốn lưu động.
Quản trị vốn lưu động tốt, sẽ dẫn đến lưu chuyển tiền tệ tăng và giảm mức nhu cầu tài
trợ từ bên ngoài, từ đó làm giảm chi phí sử dụng vốn và gia tăng hiệu quả kinh doanh
(Charitou, 2010).
Một doanh nghiệp liên tục làm ăn thua lỗ thì sẽ sớm dẫn đến phá sản, nhưng
cũng không có gì đảm bảo rằng một doanh nghiệp đang hoạt động có lãi, thậm chí liên
tục có lãi trong nhiều năm thì không có cùng số phận. Có lợi nhuận nhưng không có
tiền để thanh toán các khoản nợ đến hạn và tái sản xuất, doanh nghiệp vẫn có thể phá
sản. Một khi không có phương cách quản lý vốn lưu động một cách hiệu quả, doanh
nghiệp có thể mất khả năng thanh toán (Nguyễn Tấn Bình, 2005).
1
Chương 1. Mở đầu.
Mục tiêu của quản trị vốn lưu động là duy trì tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn ở
mức vừa đủ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn lưu động quá
thiếu hoặc quá thừa đều ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của doanh nghiệp. Nếu
thiếu vốn lưu động có thể làm gián đoạn sản xuất, doanh nghiệp không dự trữ đủ
nguyên vật liệu cho sản xuất thì có thể sẽ làm giảm sản luợng, doanh thu (Manoori và
Muhammad, 2012). Nếu không có đủ hàng tồn kho thì khi nhu cầu thị truờng tăng lên,
doanh nghiệp sẽ không có đủ hàng hóa cung ứng và sẽ bị mất cơ hội chiếm lĩnh thị
truờng. Trái lại, nếu đầu tư quá thừa vào vốn lưu động thì doanh nghiệp sẽ tốn thêm chi
phí tồn kho và chi phí cơ hội, gây tồn động vốn lưu động, làm hiệu quả sử dụng vốn
lưu động giảm, từ đó ảnh hưởng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
(Garcia, 2010; Enqvist và ctg, 2012). Ngoài ra, việc tăng hoặc giảm các khoản nợ ngắn
hạn sẽ ảnh huởng đến vốn lưu động ròng. Việc quản trị vốn lưu động là sự kết hợp
trong việc quản trị tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn.
Trong tình hình thế giới đang lâm vào tình trạng suy thoái kinh tế và khủng
hoảng tài chính kể từ năm 2008 đến nay, một trong các chỉ tiêu tài chính mà các doanh
nghiệp đặc biệt quan tâm đó là tài sản ngắn hạn (Abuzayed, 2011). Theo đó, Sial và
Chaudhry (2010); Enqvist và ctg (2012), Usama (2012), cho rằng việc lập kế hoạch và
kiểm soát tài sản ngắn hạn cùng với nguồn vốn ngắn hạn, một mặt được xem như là
một cách để loại trừ rủi ro mất khả năng thanh toán đối với các nghĩa vụ tài chính ngắn
hạn, mặt khác tránh đầu tư quá mức vào tài sản này vì nó sẽ làm giảm sút hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp.
Các nghiên cứu trên đây đã cho thấy tầm quan trọng của việc quản trị vốn lưu
động của doanh nghiệp vì sự tác động của nó đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Do
đó, nghiên cứu này hướng tới vấn đề “Q
kinh doanh
g và hi
h
g
h ghi p”, với mong muốn các nhà quản trị tài chính có cái nhìn
sâu sắc hơn về vấn đề này, để cải thiện tình hình tài chính ngắn hạn.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã chỉ ra sự tác động của việc
quản trị vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Tuy nhiên, tại Việt Nam,
các nghiên cứu về vấn đề này chưa nhiều và nhất là nghiên cứu về một ngành cụ thể.
2
Chương 1. Mở đầu.
Tại Việt Nam, Ngành Thủy sản là một ngành kinh tế chủ lực, là một trong năm
Ngành kinh tế đóng góp nhiều nhất vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Ngành Thủy
sản là một ngành sản xuất, cần rất nhiều vốn sử dụng cho việc thu mua nguyên vật liệu
đầu vào, phục vụ cho hoạt động sản xuất chế biến các mặt hàng thủy hải sản. Với đặc
thù hoạt động sản xuất mang tính thời vụ và bán hàng trả chậm nên khoản mục tài sản
ngắn hạn chiếm t lệ lớn trong tổng tài sản (VAPSE, 2011) hay t trọng vốn lưu động
chiếm cao trong tổng nguồn vốn.
Trong những năm gần đây, khi nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn, thị trường
tiêu thụ mặt hàng thủy sản cũng phần nào bị thu hẹp, t trọng xuất khẩu giảm sút, nhiều
doanh nghiệp ngành Thủy sản đã rơi vào tình trạng thiếu nguyên liệu đầu vào vì do
thiếu vốn lưu động. Trầm trọng hơn, một số doanh nghiệp đã đóng cửa và dần đi vào
phá sản. Một trong những nguyên nhân không thể không kể đến đó là hiệu quả của việc
quản trị vốn lưu động. Do vậy, vấn đề đầu tiên các doanh nghiệp cần phải thấy được
một cách rõ ràng đó là sự tác động của việc quản trị vốn lưu động tới hiệu quả kinh
doanh của các doanh nghiệp trong ngành.
Từ những lý do nêu trên, nghiên cứu này chú trọng đến các chỉ tiêu đo lường tác
động của hiệu quả quản trị vốn lưu động như: chu kỳ luân chuyển tiền và các thành
phần của nó, cùng với các chính sách quản trị vốn lưu động và hiệu quả kinh doanh của
các doanh nghiệp ngành Thủy sản Việt Nam. Kết quả nghiên cứu sẽ làm cơ sở cho các
nhà quản trị tài chính trong doanh nghiệp Thủy sản ra quyết định hợp lý và đúng đắn
trong việc đưa ra các chính sách quản trị vốn lưu động cho riêng mình.
1.2.
Mục tiêu nghiên cứu.
Từ việc xác định vấn đề nghiên cứu trên, nghiên cứu này sẽ đi đến các mục tiêu cụ thể:
(1) Xác định mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động thông qua các chỉ tiêu đo
lường việc quản trị vốn lưu động với hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành
Thủy sản.
(2) Định lượng tác động của các chỉ tiêu đo lường việc quản trị vốn lưu động
tới hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành Thủy sản.
3
Chương 1. Mở đầu.
1.3.
Câu hỏi nghiên cứu.
Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận văn phải trả lời được các câu hỏi
sau:
(1) Có hay không có mối quan hệ giữa việc quản trị vốn lưu động thông qua các
chỉ tiêu: chu kỳ luân chuyển tiền, số ngày tồn kho bình quân, số ngày thu tiền bình
quân, số ngày trả tiền bình quân, chính sách đầu tư và tài trợ vốn lưu động với hiệu quả
hoạt động doanh nghiệp ngành Thủy sản
(2) Tác động của chu kỳ luân chuyển tiền, số ngày tồn kho bình quân, số ngày
thu tiền bình quân, số ngày trả tiền bình quân, chính sách đầu tư và tài trợ vốn lưu động
đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp ngành Thủy sản như thế nào
.4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
●
i
g ghi
Sự tác động của quản trị vốn lưu động tới hiệu quả
kinh doanh của các doanh nghiệp ngành Thủy sản Việt Nam.
● Ph
i ghi
21 doanh nghiệp ngành Thủy sản niêm yết trên sàn
chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE) và Hà Nội (HXN), giai đoạn 2008-2012.
1.5. Phƣơng pháp nghi n cứu.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chủ yếu là phương pháp định lượng. Trong
đó, phân tích thống kê mô tả được thực hiện để khái quát về dữ liệu nghiên cứu; phân
tích ma trận tương quan giữa các cặp biến số để xem xét mối quan hệ giữa các chỉ tiêu
định lượng trong nghiên cứu.
Từ những giả thuyết nghiên cứu đặt ra, nghiên cứu sử dụng phương pháp ước
lượng hồi quy GMM để kiểm định các giả thuyết thông qua việc phân tích các biến số
trong mô hình nghiên cứu. Từ việc bác bỏ hay chấp nhận các giả thuyết, các kết quả
cũng như những kết luận chính xác được rút ra cho nghiên cứu.
1.6.
nghĩa của nghiên cứu.
● Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp vào sự hiểu biết chung về tác động của việc
quản trị vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
● Kết quả nghiên cứu giúp cho các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp Thủy sản
thấy được tác động của hiệu quả quản trị vốn lưu động đến hiệu quả kinh doanh của
4
Chương 1. Mở đầu.
doanh nghiệp, để xây dựng một kế hoạch quản trị chu kỳ luân chuyển tiền, và các
thành phần của nó như: số ngày thu tiền bình quân, số ngày tồn kho bình quân và số
ngày trả tiền bình quân cho doanh nghiệp của mình.
● Kết quả nghiên cứu sẽ có thể giúp các nhà quản trị tài chính trong các doanh
nghiệp Thủy sản có những quyết định đúng đắn trong trong việc quản trị tài chính ngắn
hạn thông qua việc lựa chọn chính sách đầu tư và tài trợ vốn lưu động hợp lý, mang lại
lợi ích cho doanh nghiệp.
1.6. Kết cấu luận văn.
Nội dung luận văn được chia thành 6 chương (không bao gồm phần Phụ lục và Danh
mục tài liệu tham khảo).
Ch ơ g 1. Mở ầ : Trình bày một cách tổng thể nội dung của toàn bộ nghiên cứu.
Chương này cho thấy lý do và vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và ý
nghĩa của nghiên cứu.
Ch ơ g 2. Tổ g
ề Ngà h Th y s
Vi N
Đưa ra bức tranh chung về tình
hình hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như một số vấn đề về tài chính của các doanh
nghiệp Ngành Thủy.
Ch ơ g 3. Cơ sở ý
ậ
ề
g à hi
ki h
h
á
h ghi p. Các lý thuyết cơ sở về vấn đề nghiên cứu cùng với các nghiên cứu thực
nghiệm trong lĩnh vực này. Chương này cũng thiết lập các giả thuyết nghiên cứu.
Ch ơ g 4. Ph ơ g pháp ghi
: Trình bày việc thu thập và xử lý dữ liệu, xây
dựng mô hình nghiên cứu, cách thức và quy trình nghiên cứu định lượng.
Ch ơ g 5. Kế
ghi
Nêu các kết quả phân tích thống kê mô tả, phân tích
tương quan giữa các cặp biến số và ước lượng hồi quy cho mô hình nghiên cứu, cùng
với kết quả kiểm định mô hình. Quan trọng nhất là phần thảo luận kết quả nghiên cứu.
Ch ơ g 6. Kế
ậ
à kh yế
gh : Các kết luận được đưa ra sau khi phân tích,
cùng những khuyến nghị về việc quản trị vốn lưu động cho các doanh nghiệp Thủy sản.
Những hạn chế của nghiên cứu cũng được nêu rõ trong chương này.
5
Chương 2. Tổng quan về ngành Thủy sản Việt Nam.
CHƢƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ NG NH THỦY SẢN VIỆT NAM
Chương 2 của luận văn sẽ phát thảo bức tranh chung về tình hình sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp ngành Thủy sản qua các năm trong giai đoạn nghiên cứu
(từ 2008-2012). Chương này sẽ cho thấy những thuận lợi và khó khăn, mà đặc biệt là
nguồn vốn lưu động mà các doanh nghiệp Thủy sản gặp phải trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của họ. Đây cũng là một trong những luận cứ để lý giải thêm cho phần giả
thuyết nghiên cứu tại chương 3, cũng như thảo luận kết quả nghiên cứu ở chương 5.
2.1. Một số đặc điểm chung của ngành Thủy sản.
2.1.1. Nguồn nguyên liệu đầu vào.
Mô hình kinh doanh chung cho các doanh nghiệp ngành Thủy sản là: nuôi trồng
hoặc thu mua thủy sản từ các hộ gia đình nuôi hoặc đánh bắt thủy sản về để sản xuất và
chế biến thành sản phẩm thủy sản, phục vụ nhu cầu thị trường trong nước và nước
ngoài. Do đó, nguồn nguyên liệu đầu vào rất quan trọng đối với các doanh nghiệp
ngành Thủy sản, để có thể gia tăng doanh thu và vị thế của doanh nghiệp. Một số ít
doanh nghiệp có thể tự cung cấp nguồn nguyên liệu đầu vào cho riêng mình bằng cách
nuôi trồng riêng với quy mô lớn, sẽ đảm bảo đủ khối lượng đáp ứng khi có nhu cầu tiêu
thụ tăng cao, không phụ thuộc vào nguồn cung từ các hộ gia đình nuôi trồng thủy sản.
Điều này sẽ hạn chế được rủi ro khi các hộ gia đình nuôi trong thủy sản rời bỏ công
việc. Một số doanh nghiệp khác có nguồn cung đầu vào từ việc đánh bắt thay cho việc
nuôi trồng thủy sản, nên những doanh nghiệp này sẽ có lợi thế riêng về mặt hàng thủy
sản.
2.1.2. Vị thế cạnh tranh trong ngành và thị trƣờng xuất khẩu.
Đối với các doanh nghiệp đã có thương hiệu trên thị trường sẽ gặp thuận lợi
trong việc xuất khẩu thủy sản, gia tăng doanh thu, đồng thời có thể mở rộng ra các thị
trường khác. Đơn cử như: Công ty CP thủy sản Minh Phú (MPC), công ty lớn nhất về
chế biến tôm xuất khẩu, Công ty xuất nhập khẩu thủy sản Cửu Long – An Giang
(ACL) là công ty xuất khẩu cá tra lớn nhất Việt Nam, Công ty cổ phần xuất nhập khẩu
thủy sản Bến Tre (ABT) là công ty xuất khẩu nghêu hàng đầu Việt Nam,…
Các doanh nghiệp cần phải biết thị phần của doanh nghiệp khi xuất khẩu sang
các thị trường nước ngoài. Xác định được vị thế và thị trường chính đối với ngành thủy
6
Chương 2. Tổng quan về ngành Thủy sản Việt Nam.
sản, sẽ giúp doanh nghiệp nhận ra chu kỳ tiêu thụ ở thị trường, hạn ngạch về nhập khẩu
thủy sản ở các nước xuất khẩu. Từ đó, giúp doanh nghiệp hiểu rõ nguồn doanh thu
trong từng giai đoạn khác nhau để đánh giá một cách hợp lý về kỳ vọng của doanh
nghiệp.
2.1.3. Các vấn đề về tài chính.
Đặc thù của ngành Thủy sản là bán hàng trả chậm, làm cho các doanh nghiệp
không thể thu hồi vốn một cách nhanh chóng, để tiếp tục sản xuất. Chính vì thế, các
khoản mục khoản phải thu, hàng tồn kho lớn đã làm gia tăng t trọng tài sản ngắn hạn
trong tổng tài sản. Hơn nữa, đa số các doanh nghiệp huy động vốn lưu động từ các
ngân hàng, nên họ khó có thể chủ động được tài chính và phải chấp nhận một mức chi
phí vốn khá cao. Chi phí tài chính, đặc biệt là chi phí lãi vay chiếm t lệ lớn trong chi
phí sau giá vốn hàng bán.
Chính vì t trọng các khoản phải thu trên tài sản chiếm t lệ lớn, nên các doanh
nghiệp cũng cố gắng đưa ra biện pháp để tiến hành thu nợ, trong đó có chính sách tín
dụng bán hàng. Một số doanh nghiệp có khả năng thu hồi vốn tốt, kịp thời bổ sung vốn
lưu động cho hoạt động kinh doanh của họ.
Khoản mục hàng tồn kho chủ yếu là tồn kho thành phẩm do việc tiêu thụ mặt
hàng thủy sản sụt giảm từ những năm trước hoặc doanh nghiệp dự phòng cho các năm
tiếp theo. Nguyên nhân của sự giảm sút là do thị trường tiêu thụ cả trong nước và nước
ngoài đều giảm vì tình hình kinh tế thế giới bất ổn định.
Thiếu vốn, cùng với sự bấp bênh về nguồn nguyên liệu đang là hai bài toán khó
nhất của hầu hết các doanh nghiệp ngành Thủy sản. Việc thiếu nguyên liệu phục vụ sản
xuất vốn là một căn bệnh trầm kha của ngành trong nhiều năm qua. Nhưng khoảng từ
năm 2010 - 2012, việc thiếu nguyên liệu càng trở nên trầm trọng hơn. Thiếu vốn đồng
nghĩa với việc thiếu nguyên liệu, cùng với các chi phí đầu vào tăng cao, trong khi thị
trường xuất khẩu bị thu hẹp là những trở ngại mà doanh nghiệp Thủy sản đang vướng
phải trong thời điểm nguồn vốn của các doanh nghiệp đang bị thu hẹp.
Trong năm 2012, rất ít các doanh nghiệp ngành Thủy sản còn vốn tự có hoặc
trong diện được ngân hàng giải ngân để hoạt động. Một số doanh nghiệp không đảm
bảo khả năng về vốn, phải chọn giải pháp giảm công suất, cắt giảm tối đa các khoản chi
phí, thậm chí phải ngưng hoạt động tạm thời do không có vốn lưu động và thanh toán
7
Chương 2. Tổng quan về ngành Thủy sản Việt Nam.
tiền khi mua nguyên liệu cho nhà máy. Để cứu nguy cho các doanh nghiệp, Chính phủ
đã xây dựng các gói giải pháp nhằm giải quyết vấn đề thiếu vốn. Tuy nhiên, các doanh
nghiệp trong ngành Thủy sản cũng rất khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay này,
do thủ tục quá nhiêu khê.
Với lãi suất cao, cùng với thị trường xuất khẩu khó khăn nên các doanh nghiệp
rất hạn chế sử dụng nguồn tài trợ từ bên ngoài dưới hình thức vay vốn. Những doanh
nghiệp hoạt động có hiệu quả, lợi nhuận cũng chỉ đủ trả lãi suất ngân hàng và các chi
phí khác mà không thể tích lũy thặng dư để tiếp tục phát triển. Cụ thể về tình hình hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành Thủy sản được trình bày sau đây.
2.2.
Tình hình hoạt động kinh doanh Thủy sản giai đoạn 2008-2012.
Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt 4,51 t USD tăng 19,8
so với năm 2007. Tính đến năm 2008, sản phẩm thủy sản Việt Nam đã xuất khẩu tới
160 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau. Hiện nay, cá tra và cá ba sa Việt Nam đã trở
thành mặt hàng truyền thống tại các thị trường mới ở cả EU và các thị trường mới tại
Châu Á, Châu Đại Dương, Châu Mỹ. Theo VASEP (2008), Việt Nam là nước đứng thứ
3 thế giới về sản lượng nuôi cá nước ngọt, chỉ sau cá hồi của Na Uy và cá rô phi của
Trung Quốc, và Việt Nam trở thành nước đứng đầu thế giới về sản lượng nuôi cá tra.
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu (2008) đã kết thúc, nhưng tác động của nó
vẫn còn âm ỉ trong nền kinh tế thế giới, nhất là các nền kinh tế lớn như Mỹ, Nhật Bản
và các nước Châu Âu. Đây là những thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam. Trong
năm 2009, giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam giảm sút 8,2
so với cùng kỳ năm
2008. Ngoài nguyên nhân sụt giảm từ nhu cầu nhập khẩu của các nước chính, một
nguyên nhân quan trọng phải kể đến đó là nguồn nguyên liệu chế biến không ổn định,
tình hình sản xuất và khai thác nguồn lợi thủy sản không thuận lợi. Việc thiếu nguyên
liệu đã làm cho các công ty không có nguồn dự trữ nguyên liệu nhiều hoạt động cầm
chừng, một vài doanh nghiệp ngừng sản xuất và đi đến phá sản.
Bước sang năm 2011, nguồn nguyên liệu tôm trong nước bị hạn chế do dịch
bệnh lan trên diện rộng, dựa vào nguồn lực trong nước chỉ xuất khẩu được 20
tiêu. Thiếu nguồn nguyên liệu cộng với nhiều khó khăn khác, hơn 50
chỉ
doanh nghiệp
sản xuất tôm xuất khẩu ở Đồng bằng Sông Cửu Long đã ngừng hoạt động, 30
sắp
8
Chương 2. Tổng quan về ngành Thủy sản Việt Nam.
phá sản và 20
doanh nghiệp còn hoạt động cầm chừng, không hiệu quả. (VASEP,
2012).
Các doanh nghiệp thủy sản đồng nhất quan điểm kiến nghị Bộ Tài chính xem
xét các kiến nghị về việc điều chỉnh mức thuế suất nhập khẩu ưu đãi đối với các nhóm
nguyên liệu thủy sản trong nước không thể đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp; xem xét
thời gian ân hạn nộp thuế nhập khẩu phù hợp, rút ngắn thời gian hoàn thuế tạm nộp để
nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Nhìn chung, năm 2011, doanh thu của các doanh nghiệp tăng mạnh, tuy nhiên,
chi phí đầu vào tăng rất nhanh, đặc biệt là chi phí lãi vay, do đó, tác động đến lợi nhuận
(có đến ½ số doanh nghiệp có mức lợi nhuận bị sụt giảm mặc dù doanh thu tăng).
Giai đoạn từ đầu năm 2008 - 2011, giá trị nhập khẩu nguyên liệu gia tăng rất
nhiều. Với mục tiêu đạt 7,5 t USD giá trị xuất khẩu thủy sản vào năm 2015 và 10 t
USD năm 2020, ước tính nhập khẩu nguyên liệu thủy sản phải đạt 1,4 t USD năm
2015 và 2,5 t USD năm 2020. Tuy nhiên, mục tiêu xuất khẩu thủy sản có thể sẽ gặp
khó khăn khi Dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi). Theo Dự luật này, Bộ Tài chính đưa
ra quy định, việc chậm nộp thuế đối với nguyên liệu sản xuất cho nhu cầu xuất khẩu
của doanh nghiệp phải có sự bảo lãnh của ngân hàng. Điều này ảnh hưởng rất lớn tới
các doanh nghiệp xuất khẩu trước bối cảnh thiếu vốn, thiếu nguyên liệu. Dự luật này
cũng khiến cho các doanh nghiệp Thủy sản bị thiếu vốn do bị thu hẹp, cắt giảm hạn
mức vay vốn để sản xuất, kinh doanh và làm tăng chi phí sản xuất, tăng giá thành sản
phẩm. Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải chịu thêm mức phí bảo lãnh của Ngân hàng với
mức từ 2 -3 /năm trong tổng tiền thuế nhập khẩu. Thêm vào đó, lãi suất cho vay, chi
phí sản xuất và giá thành sản phẩm cũng tăng từ 5 -10% .
Năm 2012, các doanh nghiệp Thủy sản đã gặp rất nhiều khó khăn, trước mắt là
thiếu vốn trầm trọng hoặc ít có khả năng tiếp cận nguồn vốn hoặc không được hỗ trợ
vốn kịp thời. Điều này, đã ảnh hưởng nặng nề tới hoạt động sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp. Đã có đến 90
doanh nghiệp Thủy sản mong muốn được tăng hạn
mức vay vốn, mức thấp nhất là 10 t đồng và cao nhất lên đến 1.400 t đồng (VASEP,
2012), nhằm mục đích bổ sung vốn lưu động cho cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Chủ yếu nguồn vốn này bổ sung vốn lưu động để dùng vào việc mua nguyên nhiên
liệu, vật liệu, thức ăn cho vùng nuôi thủy sản, đáp ứng nhu cầu thị trường xuất khẩu.
9
Chương 2. Tổng quan về ngành Thủy sản Việt Nam.
Ngành Thủy sản đang lâm vào tình cảnh khó khăn. Lần đầu tiên, giá trị xuất
khẩu tôm sú liên tục giảm trong những tháng đầu năm 2012, thị trường xuất khẩu chủ
lực là châu Âu bị giảm mạnh, các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước phải chuyển
hướng sang thị trường châu Á. Tại thị trường truyền thống Mỹ, thủy sản Việt Nam xuất
sang Mỹ bị nhiễm salmonella tăng mạnh, khiến nhiều doanh nghiệp thủy sản lâm vào
tình thế lao đao, sản lượng và giá trị xuất khẩu bị giảm mạnh.
Nguồn vốn bị thắt chặt, hàng loạt chi phí đầu vào tăng từ 10
– 35
và sự xuất
hiện thêm các khoản chi phí mới như: thuế bảo vệ môi trường, phí kiểm dịch… đã
khiến cho 30
doanh nghiệp thủy sản phải hoạt động cầm chừng, khoảng 10 - 20%
doanh nghiệp có nguy cơ đóng cửa.
Ngành thủy sản Việt Nam đang bị “kiệt sức” do phần lớn các doanh nghiệp
trong ngành đều phải vay vốn ngân hàng để làm vốn lưu động. Khi dòng vốn này bị
chặn lại và ngân hàng thực hiện việc thu hồi vốn vì rủi ro, đã tạo nhiều hệ lụy cho
doanh nghiệp Thủy sản trong việc thanh toán nợ, tìm kiếm và khai thác thêm thị trường
mới. Không những vậy, các doanh nghiệp cũng hạn chế tối đa áp dụng hình thức trả
chậm để bảo tồn nguồn vốn và xoay vòng nhanh vốn lưu động để sản xuất. Theo thông
lệ trước đây, các doanh nghiệp thường cho khách hàng thiếu nợ từ 30 – 45 ngày sau khi
xuất hàng hoặc chậm chí nhiều hợp đồng còn được các doanh nghiệp cho khách hàng
bán hết mới thanh toán tiền. Nhưng hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đã thắt chặt
điều kiện trả chậm và yêu cầu nhà nhập khẩu phải thanh toán L/C từ 20
– 30
giá trị
lô hàng và hàng về tới cảng phải chuyển tiền ngay. Một số doanh nghiệp đã xếp loại
các nhà nhập khẩu để đánh giá năng lực trả nợ khi giao hàng. Đây cũng là một trong
những cách thức quản trị khoản phải thu của doanh nghiệp Thủy sản.
2.3. Các đặc điểm ngành tác động đến việc quản trị vốn lƣu động của các doanh
nghiệp Thủy sản.
(1) Những doanh nghiệp Thủy sản có đặc điểm khác nhau về quy mô, giá trị
xuất khẩu cao… cũng sẽ cần có vốn lưu động khác nhau. Các doanh nghiệp có doanh
số bán hàng cao, giá trị xuất khẩu cao thì sẽ cần đến lượng vốn lưu động cao hơn.
Thêm vào đó, các doanh nghiệp Thủy sản xuất khẩu hàng sang các thị trường lớn như
10
Chương 2. Tổng quan về ngành Thủy sản Việt Nam.
Châu Âu, Mỹ, Nhật, với hình thức thanh toán theo LC trả chậm, thông thường là 3
tháng, nhanh nhất là 1 tháng, nên khoản mục khoản phải thu cũng khá cao.
(2) Các doanh nghiệp Thủy sản hoạt động chế biến các sản phẩm thủy hải sản
phụ thuộc vào thời tiết và khoảng thời gian nuôi trồng, đó là quý 4 và quý 1, nên nhu
cầu vốn lưu động để mua nguyên vật liệu đầu vào, phục vụ chế biến cũng dao động
theo thời vụ (mùa), vốn lưu động tăng cao vào mùa vụ và giảm khi mùa vụ chưa đến.
(3) Có các yếu tố cạnh tranh trên thị trường, các doanh nghiệp Thủy sản cũng
cần vốn lưu động nhiều hơn để thực hiện các chính sách tín dụng thương mại hoặc
thực hiện các chiến lược kinh doanh.
(4) Nguyên vật liệu của các doanh nghiệp ngành Thủy sản không ổn định vì nó
phụ thuộc vào thiên nhiên, thời tiết (đối với việc đánh bắt thủy hải sản) và tính thời
vụ (mùa vụ nuôi). Vì vậy, lượng dự trữ hàng tồn kho là cần thiết, có nghĩa nhu cầu về
vốn lưu động cao.
(5) Các doanh nghiệp Thủy sản thực hiện mục tiêu mở rộng thị phần, tăng
trưởng doanh số, nhất là các doanh nghiệp tập trung chế biến mặt hàng xuất khẩu, có
nhu cầu vốn lưu động càng cao.
Những đặc điểm trên đây sẽ tác động đến việc quản trị vốn lưu động của các
doanh nghiệp ngành Thủy sản. Từ đó, nó cũng tác động đến hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp.
11
Chương 3. Cơ sở lý luận.
CHƢƠNG
CƠ SỞ L LU N VỀ QUẢN TR V N LƢU Đ NG
V
HIỆU QUẢ
INH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
Chương 3 sẽ trình bày các nội dung chính bao gồm: (1) Lý thuyết về quản trị tài
chính ngắn hạn cũng như quản trị vốn lưu động trong doanh nghiệp. (2) Tác động của
quản trị vốn lưu động tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. (3) Kết quả các
nghiên cứu trước đây (4) Khung lý thuyết nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu
cũng được thiết lập trong chương này.
3.1. Lý thuyết về quản trị vốn lƣu động.
Theo Verlyn và Eugene (1980); Moyer và ctg (2004); VanHorne và Wachowics
(2005); Eugene và Joel (2007); Firer và ctg (2008); Ross và ctg (2008).
3.1.1. Vốn lƣu động.
Đề cập đến vốn lưu động, có 3 khái niệm về vốn lưu động cần được làm rõ đó
là: vốn lưu động (Working capital), vốn lưu động ròng (Net working capital) và vốn
lưu động hoạt động ròng (Net operating working capital).
Theo Eugene và Joel (2007), vốn lưu động thỉnh thoảng cũng được được gọi là
tổng vốn lưu động (Gross working capital), được hiểu như tài sản ngắn hạn sử dụng
trong hoạt động kinh doanh. Garcia – Teruel và Martinez – Solano (2006) cũng cho
rằng vốn lưu động đề cập đến tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp bao gồm các thành
phần như tiền mặt, chứng khoán khả mại, khoản phải thu, hàng tồn kho và nợ ngắn
hạn. Nguyễn Văn Thuận (2009) cũng cho rằng, vốn lưu động là các khoản đầu tư vào
tài sản ngắn hạn như tiền mặt, chứng khoán khả mại, các khoản phải thu, hàng tồn kho.
Vốn lưu động ròng được định nghĩa như tài sản lưu động trừ nợ ngắn hạn gồm
khoản phải trả ngắn hạn và chi phí phải trả ngắn hạn (VanHorne và Wachowicz, 2005).
Không khác với định nghĩa về vốn lưu động của VanHorne và Wachowicz (2005),
Eugene và Joel (2007) cũng như Firer và ctg (2008) đưa ra khái niệm về vốn lưu động
ròng, bằng tài sản ngắn hạn trừ tổng nợ ngắn hạn.
Hai thuật ngữ về vốn lưu động và vốn lưu động ròng là khác nhau. Tuy nhiên,
theo Moyer và ctg (2004), vốn lưu động và vốn lưu động ròng đều là sự khác nhau giữa
tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn. Do đó, có thể sử dụng thuật ngữ vốn lưu động ròng
12
Chương 3. Cơ sở lý luận.
thay thế.
Vốn lưu động hoạt động ròng, được Eugene và Joel (2007); Firer và ctg (2008)
định nghĩa như là tài sản ngắn hạn trừ nợ ngắn hạn không phải trả lãi suất (các khoản
chi phí được trích trước), với giả định doanh nghiệp không nắm giữ tiền mặt dư thừa
(Tiền mặt hoặc chứng khoán khả mại nắm giữ, sẽ không được tính vào vốn lưu động
hoạt động ròng).
Các khái niệm về vốn lưu động đã được làm rõ trên đây. Tuy nhiên, trong
nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến khái niệm vốn lưu động vì chỉ xét đến việc quản trị
vốn lưu động thông qua chu kỳ luân chuyển tiền, số ngày thu tiền bình quân, số ngày
tồn kho bình quân, số ngày trả tiền bình quân và các chính sách vốn lưu động.
3.1.2. Quản trị vốn lƣu động.
Tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn là những thành phần rất quan trọng cần được
phân tích một cách cẩn trọng. Quản trị tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn có vai trò quan
trọng đối với khả năng sinh lợi và rủi ro hoạt động của doanh nghiệp. Quản trị hiệu quả
vốn lưu động là một phần cơ bản trong chiến lược tổng thể của doanh nghiệp nhằm tạo
ra giá trị cho cổ đông.
Quản trị vốn lưu động được tiếp cận bằng nhiều cách khác nhau. Một số nhà
nghiên cứu đã nghiên cứu tác động của việc quản trị chu kỳ luân chuyển tiền và các
thành phần của nó. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu tác động của việc quản trị hàng tồn
kho lên khả năng sinh lợi và rủi ro của doanh nghiệp đã được thực hiện. Một vài nghiên
cứu khác lại nghiên cứu quản trị khoản phải thu bằng cách thức tối ưu để mang lại lợi
nhuận cao nhất. Không những vậy, nghiên cứu về quản trị vốn lưu động thông qua
chính sách đầu tư và tài trợ vốn lưu động cũng được thực hiện trên những nền kinh tế
khác nhau.
Osisioma (1997) mô tả quản trị vốn lưu động như việc quản lý, kiểm soát và
điều chỉnh sao cho có sự cân bằng giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, để các nghĩa
vụ tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp được đảm bảo thực hiện đúng thời hạn. Các
doanh nghiệp nếu có khả năng thanh toán kém sẽ có thể dẫn đến việc phá sản (Dunn và
Cheatham, 1993).
Theo Van Horne và Wachowicz (2005), quản trị vốn lưu động là quản trị các
13
Chương 3. Cơ sở lý luận.
thành phần của tài sản ngắn hạn thông qua việc lập và thực hiện các chính sách quản trị
về vốn lưu động và quản trị nợ ngắn hạn. Mức độ đầu tư vào tài sản ngắn hạn hay
chính sách vốn lưu động là cơ sở quyết định cho việc quản trị này. Đầu tư quá mức vào
tài sản ngắn hạn sẽ có tác động tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngược lại, hạn chế đầu tư vào tài sản ngắn hạn có thể làm gia tăng rủi ro cho doanh
nghiệp, vì khả năng thanh toán giảm, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong quá trình
hoạt động.
Không khác gì với quan điểm trên, Hill và ctg (2010) cũng cho rằng quản trị vốn
lưu động là quản trị tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn. Trong đó, tài sản ngắn hạn bao
gồm các khoản: tiền mặt và các khoản dễ chuyển đổi thành tiền mặt (hàng tồn kho,
khoản phải thu). Vì vậy, khi nghiên cứu về tác động của quản trị vốn lưu động thông
qua chính sách đầu tư vốn lưu động, Vahid và ctg (2012); Ogundipe và ctg (2012) đã
cho thấy, việc đưa ra chính sách đầu tư vào các thành phần của vốn lưu động rất quan
trọng đối với các doanh nghiệp.
Bổ sung cho lý thuyết về quản trị vốn lưu động, Manoori và Muhammad (2012)
định nghĩa rằng, quản trị vốn lưu động bao gồm quản trị tài sản ngắn hạn và nợ ngắn
hạn. Quản trị vốn lưu động rất quan trọng đối với doanh nghiệp vì sự tác động trực tiếp
của nó đến khả năng sinh lợi và khả năng thanh khoản của doanh nghiệp (Nobanee và
ctg, 2011). Các doanh nghiệp có thể đối mặt với rủi ro phá sản, nếu việc lựa chọn một
chiến lược quản trị vốn lưu động không hợp lý, dù rằng doanh nghiệp vẫn có khả năng
sinh lợi. Do vậy, quản trị vốn lưu động với mục tiêu chính là đảm bảo doanh nghiệp có
đủ dòng tiền để tiếp tục vận hành theo cách tối thiểu hóa rủi ro mất khả năng thanh
toán các khoản nợ ngắn hạn. Manoori và Muhammad (2012) còn cho rằng, đầu tư
nhiều vào vốn lưu động có thể làm giảm thiểu rủi ro thanh toán, không đủ vốn lưu động
có thể là gây ra sự thiếu hụt và các vấn đề sẽ phát sinh trong hoạt động hàng ngày. Bên
cạnh đó, các nhà quản trị nên cố gắng tránh đầu tư không cần thiết vào vốn lưu động.
Như vậy, quản trị vốn lưu động là quản trị các thành phần của tài sản ngắn hạn
và nợ ngắn hạn thông qua việc quản trị chu kỳ luân chuyển tiền, quản trị khoản phải
thu, quản trị hàng tồn kho và quản trị khoản phải trả, cùng với việc quản trị vốn lưu
động thông qua chính sách vốn lưu động, lần lượt được trình bày sau đây.
14
Chương 3. Cơ sở lý luận.
3.1.3. Chu
lu n chu ển tiền Cash Conversion Cycle or cash to cash cycle or
cash cycle):
Chu kỳ luân chuyển tiền là dòng chảy liên tục của nguồn vốn qua các tài khoản
vốn lưu động khác nhau như: tiền mặt, khoản phải thu, hàng tồn kho, khoản phải trả và
chi phí phải trả. Việc mở rộng vốn lưu động trên các tài khoản tài sản ngắn hạn (khoản
phải trả, hàng tồn kho) sẽ “hút bớt nguồn vốn, trong khi mở rộng các tài khoản tài sản
nợ ngắn hạn (khoản phải trả, chi phí phải trả) sẽ “tạo thêm” nguồn vốn. (Nguyễn Tấn
Bình và Lê Minh Đức, 2007).
Chu kỳ luân chuyển tiền đo lường số ngày kể từ khi doanh nghiệp trả tiền mua
hàng cho người bán cho đến ngày người mua trả tiền cho doanh nghiệp. Nó là khoảng
thời gian mà doanh nghiệp cần thu xếp nguồn vốn vay bên ngoài. Do đó, chu kỳ luân
chuyển tiền là thông tin rất quan trọng cho các nhà quản trị tài chính.
Chu kỳ luân chuyển tiền gồm 3 thành tố khác nhau: khoản phải trả, khoản phải
thu và hàng tồn kho, nó có thể được quản lý bằng những cách thức khác nhau, sao cho
mang lại hiệu quả cao nhất và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng cho doanh nghiệp
(Lazaridis và Tryfonidis, 2006; Garcia, 2010; Abuzayed, 2011; Enqvist và ctg, 2012).
Chu kỳ luân chuyển tiền liên quan mật thiết đến việc tạo ra giá trị doanh nghiệp.
Chu kỳ luân chuyển tiền càng ngắn, lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh
càng cao, do đó giá trị doanh nghiệp càng cao. Thời gian tài sản ngắn hạn dưới dạng
hàng tồn kho, khoản phải thu càng lâu sẽ dẫn đến giá trị doanh nghiệp mất đi càng
nhiều. Ngược lại, nguồn vốn ngắn hạn được duy trì ở dạng khoản phải trả thì giá trị
tăng thêm càng nhiều (Nguyễn Tấn Bình, 2005). Vì vậy, chu kỳ luân chuyển tiền được
dùng để đo lường hiệu quả quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp (Verlyn và
Eugene, 1980; Eugene và Joel, 2007; Firer và ctg, 2008).
Chu kỳ luân chuyển tiền theo Verlyn và Eugene (1980); Eugene và Joel (2007);
Firer và ctg (2008) xác định như sau:
Chu kỳ luân chuyển tiền
Số ngày thu tiền bình quân
– Số ngày trả tiền bình quân
Số ngày tồn kho
(3.1)
Công thức (3.1) đã được Garcia – Teruel và Solano (2006); Lazaridis và
Tryfonidis (2006); Afza và Nazir (2009); Sial và Chaudhry (2010); Ashraf (2012);
15
Chương 3. Cơ sở lý luận.
Manoori và Muhammad (2012); Usama (2012) áp dụng trong nghiên cứu của họ để đo
lường hiệu quả quản trị vốn lưu động.
Theo Sial và Chaudhry (2010); Autukaite và Molay (2012), chu kỳ luân chuyển
tiền là một cách thức hữu hiệu đánh giá tính thanh khoản của doanh nghiệp. Việc rút
ngắn chu kỳ luân chuyển tiền có thể được xem là một nguồn tài trợ quan trọng đối với
các doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Một chu kỳ luân chuyển tiền ngắn đòi hỏi việc thu
các khoản nợ phải thu từ khách hàng nhanh chóng cũng như việc trì hoãn các khoản nợ
phải trả cho nhà cung cấp (Dong và Su, 2010; Ashraf, 2012; Usama, 2012). Rút ngắn
chu kỳ luân chuyển tiền (CCC), các doanh nghiệp cần giảm hàng tồn kho bằng cách
thúc đẩy quá trình sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, thúc đẩy chính sách bán hàng và thu
nợ để giảm thiểu khoản phải thu. Thêm vào đó, việc kéo dài thời gian thanh toán khoản
phải trả cho nhà cung cấp với một mức chi phí tín dụng thương mại thấp cũng là một
nghệ thuật đối với các nhà quản trị. Không những vậy, chu kỳ luân chuyển tiền càng
dài sẽ làm cho trạng thái tài chính căng thẳng, tính thanh khoản của doanh nghiệp càng
thấp. Vì vậy, chỉ tiêu này cần được giám sát chặt chẽ. Quản trị chu kỳ luân chuyển tiền
là quản trị các thành tố của nó, bao gồm :
3.1.3.1. Q
kh
ph i h .
Khoản phải thu xảy ra khi doanh nghiệp bán chịu cho khách hàng. Việc bán chịu
này phải được quản lý hữu hiệu, để tạo ra ngân lưu vào thích hợp về mặt thời gian. Sau
khi đã quyết định về thời hạn bán chịu, doanh nghiệp cần phải theo dõi chặt chẽ số dư
tài khoản phải thu để có quy trình quản lý hợp lý (Nguyễn Tấn Bình, 2005).
Các khoản phải thu thường phụ thuộc vào doanh thu bán chịu, sự thay đổi theo
mùa của doanh thu, giới hạn của lượng vốn có thể bán chịu, thời hạn bán chịu và chính
sách tín dụng và cuối cùng là chính sách thu tiền. Sự khác nhau về kỳ thu tiền bình
quân giữa các doanh nghiệp phản ánh sự khác biệt giữa các yếu tố trên (Nguyễn Văn
Thuận, 2009).
Hầu hết các doanh nghiệp đều phát sinh khoản phải thu ở những mức độ khác
nhau. Quản trị khoản phải thu liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro. Nếu
doanh nghiệp không bán chịu, sẽ mất đi cơ hội bán hàng, nhưng nếu gia tăng khoản
phải thu từ việc bán chịu, nguy cơ phát sinh nợ khó đòi và rủi ro thu hồi nợ gia tăng,
theo đó chi phí cho khoản phải thu cũng gia tăng. Do vậy, doanh nghiệp cần có chính
16
Chương 3. Cơ sở lý luận.
sách quản trị khoản phải thu hợp lý.
Hiệu quả quản trị khoản phải thu được đo lường bằng chỉ tiêu số ngày thu tiền
bình quân (Kỳ thu tiền bình quân). Số ngày thu tiền bình quân là khoảng thời gian cần
thiết để chuyển các khoản phải thu khách hàng thành tiền, tức thời gian thu tiền sau khi
bán hàng, chỉ số này đo lường tốc độ thu hồi các khoản phải thu (Verlyn và Eugene,
1980; Eugene và Joel, 2007; Firer và ctg, 2008) được tính như sau:
Số ngày thu tiền bình quân
Khoản phải thu bình quân
365
Doanh thu thuần bán hàng
Garia – Teruel và Martinez – Solano (2003), Raheman và Nasr (2007), Garcia
(2010); Sial và Chauhdry (2010); Prajapati và Patel (2012); Arbidance và Ignatjeva
(2012); Ashraf (2012) cho rằng, thu nhập hoạt động của doanh nghiệp sẽ tăng nếu số
ngày thu tiền bình quân giảm và ngược lại. Nghiên cứu của Azam và Haizer (2011) chỉ
ra rằng số ngày phải thu tăng sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản. Từ đó, làm giảm
hiệu quả quản trị vốn lưu động, đồng thời giảm hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
3.1.3.2. Q
hà g
n kho.
Hàng tồn kho được tạo ra do sự mất cân đối giữa chu kỳ sản xuất và thời gian
bán hàng. Thời gian bị trì hoãn và lãng phí trong khâu sản xuất càng dài, thì nhu cầu
hàng tồn kho càng lớn. Giám sát hàng tồn kho là vấn đề khó khăn nhất trong quản trị
hàng tồn kho. Giám sát hàng tồn kho là quyết định đầu tư vào hàng tồn kho phù hợp.
Chỉ tiêu số ngày tồn kho bình quân (Number of days Inventory) là chỉ tiêu
truyền thống để giám sát hàng tồn kho. Số ngày tồn kho bình quân cho thấy số ngày
trung bình của nguyên vật liệu chế biến mặt hàng hoặc thành phẩm được đưa vào nhập
kho (đi vào doanh nghiệp) và sau đó được xuất bán cho khách hàng (rời khỏi doanh
nghiệp) (Nguyễn Tấn Bình, 2005), chỉ tiêu này được Verlyn và Eugene (1980); Eugene
và Joel (2007); Firer và ctg (2008) đưa ra cách xác định như sau:
Số ngày tồn kho bình quân
Giá trị hàng tồn kho bình quân
365
Giá vốn hàng bán
Có nhiều yếu tố quyết định mức tồn kho như khối lượng sản phẩm tiêu thụ, thời
gian hoàn thành sản phẩm và sự lâu bền hay dễ hư hao của sản phẩm. Tồn kho thường
có quan hệ với chi phí phát sinh đối với việc dự trữ và chuẩn bị cho tồn kho (chi phí
17
Chương 3. Cơ sở lý luận.
bảo quản kho hàng, lãi vay, tài trợ tồn kho, bảo hiểm, hàng cũ lỗi thời, thất thoát...).
Trái lại, cũng có một số chi phí khác lại giảm khi mức tồn kho tăng như sự mất mát lợi
nhuận vì thiếu hụt hàng hóa để bán, chi phí thiệt hại do sản xuất bị gián đoạn vì thiếu
nguyên vật liệu, chiết khấu trên hàng mua. (Nguyễn Văn Thuận, 2009).
Số dư hàng tồn kho có tác động làm giảm sự biến động giữa nhu cầu người mua
và quá trình sản xuất, giữa hai quá trình sản xuất và giữa nhà cung cấp với quá trình
sản xuất. Mức tồn kho càng nhiều thì nguy cơ thiếu hàng bán càng ít hoặc khả năng
gián đoạn sản xuất do thiếu nguyên vật liệu càng nhỏ. Nếu nâng cao được hiệu quả quá
trình sản xuất, tồn kho bán thành phẩm được loại bỏ hoặc nhu cầu cầu tồn kho thành
phẩm được giảm (Nguyễn Tấn Bình, 2005).
Số ngày tồn kho càng lớn, số vòng quay hàng tồn kho càng nhỏ, và số vốn đầu
tư vào hàng tồn kho càng cao, sẽ làm mất cơ hội tạo ra lợi ích cho doanh nghiệp.
Không những vậy, hàng tồn kho có tác động đến chu kỳ ngân lưu của doanh nghiệp,
nếu không quản lý tốt, hàng tồn kho có thể là nguyên nhân gây ra vấn đề thiếu hụt tài
chính, làm giảm khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
3.1.3.3. Q
kh
ph i
.
Không chỉ quản trị không tốt các khoản phải thu mà ngay cả yếu kém trong
quản trị khoản phải trả cũng có thể trở thành nguy cơ dẫn một doanh nghiệp đến phá
sản (Nguyễn Tấn Bình, 2005).
Theo Eugene và Joel (2007); Firer và ctg (2008); Nguyễn Văn Thuận (2009),
khoản phải trả là một loại tín dụng thương mại quan trọng, nó tượng trưng 40
tài sản
lưu động của các doanh nghiệp phi tài chính. Các doanh nghiệp cần phải biết tận dụng
khoản mua chịu này như một nguồn tài trợ. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng cần xem
xét đến chi phí tài trợ vốn bằng hình thức này.
Eugene và Joel (2007); Firer và ctg (2008) còn cho rằng, khoản phải trả được
xem là nguồn tài chính hay nguồn vốn nội sinh vì nó được tạo ra từ hoạt động thường
xuyên của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp mua hàng và nhà cung ứng chấp nhận cho
chậm trả, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đã được sử dụng một nguồn tài trợ tài
chính từ nhà cung ứng (tín dụng thương mại).
Theo Nguyễn Minh Kiều (2011) tín dụng thương mại là các khoản tín dụng
trong quan hệ mua chịu hàng hóa, là khoản phải trả cho nhà cung cấp. Các doanh
18