Họ và Tên: Nguyễn Văn Nhơn
Lớp: Trung cấp chính trị K98
Câu hỏi 1: Trình bày vai trò của thực tiễn đối với lý luận và vai trò
của lý luận đối với thực tiễn
- Vai trò của thực tiễn đối với lý luận
+ Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức lý luận thể hiện các vai trò
như:
++ Thực tiễn là nơi cung cấp tài liệu, vật liệu cho nhận thức lý luận; nếu
không có thực tiễn thì không có lý luận
++ Thực tiễn luôn đặt ra nhu cầu nhiệm vụ đòi hỏi lý luận nhận thức phải
trả lời
++ Thực tiễn là nơi rèn luyện các cơ quan cảm giác của con người nhận
thức hiệu quả hơn
++ Thực tiễn còn là cơ sở chế tạo công cụ máy móc và hỗ trợ con người
nhận thức hiệu quả hơn;
++ Thực tiễn là mục đích của lý luận nhận thức, nhận thức quay trở lại
phục vụ nhận thức; kết quả nhận thức hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động thực tiễn.
Lý luận khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng vận dụng vào thực tiễn, cải
tạo thực tiễn. Nếu nhận thức mà không vì thực tiễn mà vì chủ nghĩa hình thức, vì
cá nhân thì sớm muộn gì, nhận thức cũng sẽ mất phương hướng
+ Thực tiễn là tiêu chuẩn của nhận thức lý luận; thực tiễn là tiêu chuẩn, là
thước đo giá trị của những tri thức đã đạt được trong nhận thức, bỡi vì trong hoạt
động thực tiễn và chủ quan hoạt động thực tiễn mới chứng minh được nhận thức
của con người đúng hay sai, phù hợp hay không phù hợp, có đạt đến chân lý hay
không.
++ Thực tiễn là tiêu chuẩn của nhận thức của chân lý vừa mang tính tuyệt
đối, vừa mang tính tương đối là vì thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan duy nhất
để khẳng định chân lý và bác bỏ sai lầm, đó là tiêu chuẩn tuyệt đối, mang tính
tương đối là vì thực tiễn luôn vận động và biến đổi phát triển do vậy với tư cách
là tiêu chuẩn của nhận thức và chân lý thì nó cũng luôn vận động và biến đổi
++ Thực tiễn vừa là cơ sở vừa là mục đích vừa là động lực của nhận thức,
vừa là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý, đúng như Lê nin đã nói quan điểm về đời
sống về thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất là cơ bản của lý luận của nhận thức.
- Vai trò của lý luận đối với thực tiễn
+ Lý luận đóng vai trò là soi đường, dẫn dắt và chỉ đạo thực tiễn
+ Lý luận khoa học góp phần giáo dục thuyết phục, động viên tập hợp
quần chúng để tạo thành phong trào hoạt động thực tiễn rộng lớn của đông đảo
quần chúng
+ Lý luận đóng vai trò định hướng và dự báo hoạt động thực tiễn
+ Lý luận có vai trò to lớn đối với hoạt động thực tiễn, nó soi đường dẫn
dắt chỉ đạo định hướng thực tiễn, tuy nhiên để thực hiện được vai trò đó thì nó
thông qua hoạt động thực tiễn của con người
- Vận dụng vấn đề này vào Việt Nam hiện nay:
+ Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, lý luận nhận thức, vấn đề cải tạo thực tiễn
nền kinh tế luôn thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng. Chính những thành
tựu của xây dựng chủ nghĩa xã hội và qua ba mươi năm đổi mới là minh chứng
xác đáng cho vấn đề nêu trên. Hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn cùng với
sự nắm bắt các quy luật khách quan trong vận hành nền kinh tế ở nước ta là một
vấn đề còn nhiều xem xét và tranh cãi, nhất là trong quá trình đổi mới hiện nay.
+ Việc vận dụng vấn đề thực tiễn và lý luận được thể hiện cụ thể rõ nét
nhất là tại các kỳ đại hội Đảng các cấp và những văn kiện phục vụ đại hội. Tại
đại hội đã đánh giá tổng kết quá trình thực hiện những nhiệm vụ, giáp pháp đã
đề ra, đây được xem như là tổng kết thực tiễn, từ đó đề ra phương hướng, giải
pháp thực hiện nhiệm vụ cho nhiệm kỳ đến, đây được xem là những lý luận
được rút ra từ thực tiễn.
2. Phân tích mối quan hệ biện chứng của lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất sự vận dụng vào điều kiện kinh tế của nước ta hiện nay:
Sự tác động lẫn nhau giữa LLSX - QHSX được biểu hiện thành quy luật
về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX.
1 - LLSX quyết định QHSX:
LLSX là yếu tố độc nhất, CM nhất trong quá trình sản xuất, nó là nội
dung của quá trình sản xuất.
+ + QHSX là yếu tố tương đối ổn định, nó là hình thức xã hội của quá
trình sản xuất.
Trong mối quan hệ giữa LLSX và QHSX thì LLSX quyết định QHSX,
điều này thể hiện ở chỗ: LLSX phát triển thì sớm hay muộn QHSX cũng biến
đổi theo cho phù hợp với trình độ phát triển của LLSX. Khi LLSX phát triển đến
một mức độ nhất định sẽ mâu thuẫn đến QHSX lạc hậu, điều này đòi hỏi phải
xoá QHSX cũ, xác lập QHSX mới phù hợp với trình độ của LLSX để thúc đẩy
phương thức sản xuất mới ra đời.
- QHSX tác động trở lại LLSX: mặc dù bị quy định bởi LLSX nhưng
QHSX có vai trò tác động trở lại LLSX thể hiện ở chỗ:
+ + Nếu QHSX phù hợp với trình độ của LLSX nó sẽ tạo ra địa bàn rộng
lớn cho LLSX phát triển, thúc đẩy, tạo điều kiện, hậu thuẫn cho LLSX phát
triển.
+ QHSX phù hợp với trình độ của LLSX, nó được biểu hiện: năng suất
lao động tăng, đời sống công nhân tăng, cơ sở vật chất được tái đầu tư, môi
trường làm việc được cải thiện, người lao động được đào tạo lại.
+ + Nếu QHSX không phù hợp với trình độ phát triển của LLSX biểu
hiện ở chỗ: QHSX có thể lạc hậu lỗi thời hay vượt trước quá xa trình độ phát
triển của LLSX thì khi ấy sẽ kìm hãm, cản trở sự phát triển của LLSX.
+ Sự tác động trở lại của QHSX đối với LLSX còn thể hiện ở chỗ nó quy
định mục đích sản xuất ảnh hưởng đến thái độ lao động của người lao động, nó
kích thích hoặc kìm hãm công cụ lao động cũng như việc vận dụng các thành
tựu khoa học vào sản xuất.
+ Trong xã hội có giai cấp thì mâu thuẫn giữa LLSX & QHSX biểu hiện
thành mâu thuẫn giai cấp và chỉ thông qua đấu tranh giai cấp thì mới giải quyết
được mâu thuẫn này.
Quy luật QHSX phù hợp với trình độ của LLSX không chỉ biểu hiện tính
biện chứng giữa LLSX & QHSX mà còn thể hiện là quy luật chung phổ biến
trong mọi xã hội, làm cho xã hội loài người phát triển từ thấp đến cao.
* Sự vận dụng quy luật này trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay:
Trong giai đoạn 1975-1986, Nước ta đã hoàn toàn giải phóng miền Nam
và thống nhất đất nước và bắt đầu đi lên xây dựng CNXH từ một nước nông
nghiệp lạc hậu, tự cung tự cấp. Khi đó trình độ LLSX của chúng ta chưa phát
triển so với việc chúng ta đã áp dụng QHSX tập thể (sở hữu nhà nước và sở hữu
tập thể). Qua quá trình thực hiện 10 năm, chúng ta vấp phải những sai lầm,
khuyết điểm, trong đó bao trùm là bệnh chủ quan duy ý chí, bất chấp quy luật
khách quan, nóng vội xóa bỏ các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, cá thể
khi nó còn lý do tồn tại; đề cao, mở rộng quan hệ sản xuất tập thể khi nó chưa có
đầy đủ tính tất yếu kinh tế.
Để khắc phục thiếu sót và sai lầm đó, Đảng ta chủ trương thực hiện nhất
quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận
động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng
XHCN; đó là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đây là QHSX phù hợp
trình độ phát triển của LLSX của nước ta hiện nay.
Một khi quan hệ sản xuất phù hợp vói trình đô lực lượng sản xuất sẽ thúc
đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Được minh chứng rất rõ nét qua thực tiễn hơn
30 năm đổi mới, nước ta từ một nước nghèo, kém phát triển đã trở thành nước
trung bình, kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, thu nhập bình quân đầu người
ngày càng tăng.