Tải bản đầy đủ (.docx) (38 trang)

Ôn thi môn lý thuyết kế toán ( hệ thống kế toán ) có đáp án

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (198.99 KB, 38 trang )

1

Câu 1: Kế toán là gì ?
Trên khắp thế giới, kế toán hiểu theo một cách chung nhất là ngôn ngữ của kinh
doanh. Thứ ngôn ngữ đó là phương tiện để kết nối các ý tưởng hoặc cảm giác bằng cách sử
dụng các ký hiệu, dấu hiệu, khuôn mẫu được quy ước. Theo cách hiểu đó, kế toán được coi
như là phương tiện kết nối các nhân tố liên quan đến mọi mặt của quá trình kinh doanh. Bởi
vì các doanh nghiệp ghi chép các giao dịch kế toán riêng rẽ, nhu cầu để kết hợp và chiết
xuất thông tin từ các dữ liệu là rất cần thiết, từ cấp độ cá nhân, tổ chức cho đến tập đoàn,
những người có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự vận hành và kết quả kinh doanh
của doanh nghiệp. Ngày nay, mặc dù kế toán luôn hiện hữu trong các hoạt động kinh doanh,
thương mại, nghiệp vụ, các tổ chức kinh tế không phải là những đối tượng duy nhất sử dụng
kế toán. Các thực thể hợp pháp, từ các cá nhân đến các chính phủ cũng thường xuyên sử
dụng và chuẩn bị các thông tin kế toán để nắm bắt được các thông tin về tình hình tài chính
và hoạt động của các tổ chức đó khi được yêu cầu.
1. Một số định nghĩa về kế toán:
1.1. Hiệp hội kế toán công chứng Mỹ (AICPA) nhấn mạnh kế toán như một công cụ
ghi chép phản ánh: “Kế toán là nghệ thuật của ghi chép, phân loại, tổng hợp và có quan hệ
mật thiết với tiền, các giao dịch và sự kiện kinh tế, những cái mang đặc điểm tài chính, để từ
đó giải thích các kết quả”.
Nghệ thuật ghi chép liên quan đến việc ghi lại hoặc chụp lại các giao dịch ngay khi
náo diễn ra, trong các bản ghi được lưu trữ tại công ty như: sổ tiền mặt, sổ nhật ký…Công
việc này không chỉ cần thiết bảo đảm các giao dịch kinh tế đã được ghi nhận mà còn phải
ghi nhận theo thứ tự.
Nghệ thuật phân loại liên quan đến việc phân tích một cách có hệ thống các dữ liệu
đã được ghi nhận, từ đó các khoản mục có chung đặc điểm được đặt dưới những tiêu đề
thích hợp. Công việc này thường xuyên được đảm bảo cùng việc duy trì sổ cái với các hệ
thống tài khoản kế toán của doanh nghiệp.
Nghệ thuật tổng hợp bao gồm trình bày các dữ liệu đã được phân loại theo cách phù
hợp nhất danh cho những người sử dụng thông tin kế toán cuối cùng, cả bên ngoài và nội bộ
doanh nghiệp. Đến cuối các kỳ (thường là một tháng cho mục đích nội bộ và một năm, đối


với các đối tượng bên ngoài theo chế độ báo cáo như trong luật doanh nghiệp), các tài
khoản sẽ ở trạng thái cân bằng. Kế toán viên sẽ kiểm tra (hoặc “thử”) sự chính xác của các
tài khoản bằng cách chuẩn bị một bảng cân đối tài khoản của tất cả các tài khoản trong số
cái ở cuối kỳ báo cáo. Quá trình trợ giúp cho công tác chuẩn bị các báo cáo tài chính như


2
Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo nguồn và sử dụng, Báo cáo chi
phí…
Chức năng cuối cùng của kế toán là giải thích các thông tin đã được tổng hợp theo
một quy trình để làm sao những người sử dụng các dữ liệu đó có thể đưa ra các đánh giá có
ý nghĩa về tình hình tài chính hoặc khả năng tạo ra lợi nhuận, hoặc có thể sử dụng chúng trợ
giúp đưa ra các kế hoạch trong tương lai cũng như soạn thảo những phương án để tiến hành
những kế hoạch đó. Cùng với các báo cáo tài chính, kế toán trưởng sẽ chuẩn bị các bản
thuyết minh nêu lên các hoạt động của doanh nghiệp và nhiều chi nhánh, bộ phận con trực
thuộc liên quan đến những kỳ vọng và những lĩnh vực trọng tâm đang còn yếu kém để các
cấp quản lý có thể đưa ra những biện pháp cần thiết giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn.
1.2. Các định nghĩa khác về kế toán:
Hiệp hội kế toán Mỹ (AAA) nhấn mạnh đến sự tương tác giữa kế toán và sự ra quyết
định của người sử dụng thông tin: “Kế toán là một quá trình nhận biết, đo lường, và kết hợp
các thông tin kinh tế nhằm trợ giúp những người sử dụng chúng đưa ra các đánh giá và
quyết định phù hợp”
Theo Robert Sterling, kế toán là một quá trình tương tác giữa các phép đo: “Các kế
toán viên sẽ đo lường một cái gì đó và kết nối các phép đo lại cho những người chịu trách
nhiệm ra quyết định. Sự diễn giải này cho thấy đầu ra của quá trình kế toán là đầu vào của
lý thuyết ra quyết định”.
Một sự bổ sung cho định nghĩa về kế toán của AAA được nêu lên bởi AICPA cho
rằng kế toán là một ngành dịch vụ: “Kế toán là một hoạt động dịch vụ. Chức năng của nó là
cung cấp các thông tin định lượng, chủ yếu là thông tin tài chính, về các chủ thể kinh tế,
những đối tượng cần đưa ra quyết định hợp lý nhất giữa một tập hợp các phương án.”

2. Đặc trưng của kế toán:
Là một quá trình: Kế toán là một quá trình tập hợp, đóng gói, giải thích và phổ biến
các thông tin kinh tế một cách có hệ thống.
Chức năng quản lý: Mục tiêu cơ bản là báo cáo về các nguồn lực cũng như trách
nhiệm của chủ thể kinh tế đối với chủ sở hữu. Thông qua trung gian là các báo cáo tài chính,
kế toán cung cấp thông tin cho các bên có liên quan về sở hữu và quyền lợi kinh tế - cổ
đông/chủ sở hữu, chủ nợ…
Khái niệm và quy ước: Vì kế toán là một quá trình với mục đích truyền đạt các thông
tin kinh tế, nó phải dựa trên một bộ các quy tắc, luật lệ và khái niệm đã được xác định từ
trước.


3
3. Chức năng của kế toán
Chức năng ghi nhận: Kế toán là một công cụ ghi chép lại các sự kiện kinh tế trong
quá khứ, hiện tại và tương lai. Chức năng này liên quan đến các kỹ thuật tập hợp và xử lý
thông tin.
Chức năng tổng hợp: Kết hợp các dữ liệu kinh tế đầu vào từ nhiều nguồn vào các
nhóm hay các đơn vị riêng rẽ được gọi là tài khoản. Đấy là chức năng quan trọng nhất của
kế toán.
Chức năng trung gian giữa doanh nghiệp và các chủ thể bên ngoài: Kế toán xuất hiện
để phục vụ mục đích cung cấp các thông tin đáng tin cậy về các sự kiện kinh tế cho mục
đích ra quyết định.
Chức năng định nghĩa thu nhập: “Định nghĩa thu nhập ròng trong mô hình giá phí
lịch sử là trung tâm của phương pháp kế toán. Thu nhập là thước đo cơ bản cung cấp thông
tin về quá trình kinh doanh trong kỳ. Nó cũng cung cấp cơ sở hợp lý để tiếp tục duy trì hoạt
động kinh doanh.”, theo Campfield.
Chuẩn bị bảng cân đối kế toán: Bảng cân đối kế toán thường được coi là một thông
báo về tình hình tài chính của doanh nghiệp, bao gồm các thông tin về các nguồn lực kinh
tế, các nghĩa vụ và vốn của chủ sở hữu tại một thời điểm xác định. Tuy nhiên một số người

lại cho rằng, BCĐKT chỉ là một bản thông báo về những chi phí chưa được phân phối, nên
chưa xuất hiện trên báo cáo kết quả kinh doanh. Mặc dù có nhiều ý kiến trái chiều về nguồn
gốc của BCĐKT, những người làm nghề kế toán vẫn thấy đó là một việc làm cần thiết và
hữu ích.
Chức năng kiểm soát: Thông qua hệ thống kế toán, người quản lý có thể áp đặt sự
kiếm soát của mình lên các lĩnh vực hoạt động khác nhau của doanh nghiệp.
Chức năng tuân thủ pháp luật: Ngày nay, kế toán không chỉ trợ giúp việc quản lý mà
còn rất cần thiết đối với nhu cầu tuần thủ các quy định pháp lý.
Câu 2
Động lực thúc đẩy cần thiết cho sự phát triển của kế toán hiện đại chính là sự xuất hiện của
tiền như một phương tiện trao đổi. Nhiều phát hiện đã cho thấy người Trung Quốc là những
người tiên phong khi họ đã sử dụng tiền xu 2000 năm trước khi tiền xuất hiện ở Châu Âu.
Mặc dù những gì Phương Tây biết về kế toán Trung Quốc trong những thời kỳ trước là khá
hạn chế, chúng ta đều hiểu rằng những dạng phức tạp của việc hạch toán trong triều đình,
bao gồm cả kế toán lịch sử và kiểm soát ngân sách, đã xuất hiện ở Trung Quốc 2000 năm


4
trước Công Nguyên, cùng với chức năng kiểm toán được thực hiện bởi một cơ quan nhà
nước độc lập và quyền lực.
Tại Ai Cập, sự mù chữ và việc thiếu vắng tiền xu đã được coi là nguyên nhân gây cản trở tới
sự phát triển của kế toán. Người Ai Cập trước đây khi nghiên cứu sự vận động của hàng hóa
đã coi vàng và bạc không phải là các vật có giá trị, mà chỉ coi chúng như một thứ để trao
đổi. Vì không thể quy đổi các hàng hóa về một giá trị chung nên việc tích lũy và tổng hợp
trở nên khó khăn, đồng thời việc phát triển một hệ thống kế toán có sự liên kết trở nên bất
khả thi.
Tại Hy Lạp, đóng góp lớn nhất của họ đối với sự phát triển của kế toán đó là sự xuất hiện
của tiền vào khoảng 600 năm TCN. Việc sử dụng rộng rãi tiền gây ảnh hưởng mạnh mẽ lên
sự phát triển của kế toán. Các nhà băng thời kỳ Hy Lạp cổ đại đã phát triển nhanh hơn so
với chính họ trong các xã hội trước. Ngân hàng nắm giữ các sổ tài khoản, tiền lẻ, tiền cho

vay và thậm chí cho phép các cá nhân chuyển tiền giữa các ngân hàng chi nhánh ở những
thành phố xa xôi.
Đến thế kỷ 14, sự xuất hiện của tiền là một trong những nhân tố đã giúp cho phương pháp
ghi sổ kép phát triển tại Italy thay vì thời Hy Lạp hay La Mã cổ đại. Tiền được coi là mẫu số
chung cho sự trao đổi. Sẽ không có như cầu phải ghi chép các dữ liệu kinh tế trừ khi việc đó
đơn giản hóa các giao dịch thành các giá trị tiền tệ. Một số nhân tố khác cùng với tiền tệ như
tài sản sở hữu cá nhân, thương mại, tín dụng, hay sự phát triển của số học đã xuất hiện ở các
thời kỳ trước, nhưng chúng không xuất hiện cùng nhau, khiến cho chi phí kế toán rất đắt đỏ.
Việc các nhân tố đó đồng loạt xuất hiện và kết hợp cùng nhau và nhất quán, cũng như nhu
cầu cho việc lưu trữ các thông tin kế toán.
Từ những dữ kiện lịch sử trên đây, sự xuất hiện của tiền có vai trò rất quan trọng đối với sự
phát triển của kế toán. Tiền có chức năng là vật ngang giá chung, cất giữ giá trị, và có thể sử
dụng trong thanh toán. Chính việc quy đổi các loại tài sản khác nhau về cùng một thước đo
giá trị là tiền tệ đã giúp cho việc ghi chép các dữ liệu kinh tế trở nên bớt phức tạp, giảm bớt
những tranh cãi, đồng thời giúp cho các thông tin kế toán trở nên dễ kiểm tra, so sánh và đối
chiếu hơn.


5

Câu 3: Ảnh hưởng của sự ra đời phương tiện ghi chép tới sự hình thành và phát triển kế toán.
Liên hệ với khái niệm kế toán?
Phương tiện ghi chép được ra đời trong thời kỳ cổ đại, trong thời kỳ này ở các vùng khác
nhau đã xuất hiện các phương tiện ghi chép kác nhau. Ở vùng Mespotamia Cổ đại các giao dịch
được ghi chép lại trên các mảnh gồm sứ; ở vùng Ai Cập, Trung Hoa, Hy Lạp cổ cũng dùng giấy cói
để chép lại thay cho việc dùng đồ gốm.
 Ảnh hưởng của sự ra đời đến sự hình thành và phát triển kế toán.
Kể từ khi phương tiện ghi chép ra đời, những giao dịch được ghi chép trên gốm, cói và
được các gia đình, người ghi chép lưu trữ lại cẩn thận. Việc có phương tiện ghi chép làm việc ghi
chép chi tiết trở nên dễ dàng hơn và việc ghi chép được kiểm tra bởi hệ thống soát xét nội bộ chặt

chẽ. Với sự ra đời của phương tiện ghi chép mà người Hy Lạp đã dễ dàng hơn trong việc “kế toán
công khai”, tạo điều kiện cho công dân có thể theo dõi được tình hình tài chính Chính phủ. Hoạt
động của các ngân hàng từ đó cũng phát triển lên. Các ngân hàng giữ sổ ghi chép, tiền cho vay và
thậm chí thực hiện các giao dịch dễ dàng hơn. Với việc ghi chép vào sổ sách, sẽ dễ dàng hơn cho
việc kiểm tra kế toán và từ đó, kế toán sẽ thực hiện một cách trung thực và đúng đắn bởi hệ thống
kiểm tra sẽ kiểm tra thông qua sổ sách. Sự ra đời phương tiện ghi chép kéo theo sự ra đời và phát
triển của nhiều công cụ, kỹ thuật … đã làm kế toán dần được định hình và phát triển.
 Liên hệ với khái niệm kế toán:
Khái niệm kế toán trên góc độ kỹ thuật: kế toán là việc thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin
kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động.
Để cung cấp thông tin về kinh tế tài chính thực sự hữu dụng về một doanh nghiệp, cần có
một số công cụ theo dõi những hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp, trên cơ sở đó
tổng hợp các kết quả thành các bản báo cáo kế toán. Những phương pháp mà một doanh nghiệp sử
dụng để ghi chép và tổng hợp thành các báo cáo kế toán định kỳ tạo thành hệ thống kế toán.
Từ đó có thể thấy được phương tiện ghi chép đóng góp vai trò quan trọng trong kế toán.
Phương tiện ghi chép phát triển thì hệ thống kế toán mới phát triển và thuận tiện hơn cho người
làm công tác kế toán.

Câu 5: Trình bày khái quát sự phát triển của kế toán trong thời kỳ cổ đại và liên hệ với khái niệm kế
toán hiện đại.
Kế toán sớm nhất


6
Tại Jericho đã tồn tại hệ thống trao đổi sản phẩm, hàng hoá cho đến khoảng năm 7.500 trước công
nguyên, khi các thẻ đơn giản và các mảnh đất sét với nhiều hình dạng khác nhau xuất hiện để ghi nhận,
theo dõi số lượng hàng tồn kho đối với hàng hoá nông nghiệp bao gồm lúa mì, cừu và gia súc. Việc sử dụng
các thẻ được mở rộng dẫn tới việc xây dựng một phiên bản cổ, sơ khai của một “bảng cân đối”, một hình
thức nguyên thuỷ của sổ sách kế toán. Dần dần, các thẻ cũng được sử dụng để đại diện cho các giao dịch
thương mại hoàn thành. Các thẻ đất sét được để cho khô tạo thành một trong những hình thức đầu tiền của

lưu trữ hồ sơ.
Kế toán ở vùng Mesopotamia Cổ đại
-Năm 2285 – 2242 TCN: ở Babilon quy ước Hammurabi được tạo ra, nó quy định: mọi giao dịch mua
bán đều phải được ghi chép và đóng dấu.
- Khu vực Lưỡng Hà (Mesophotamian): nghề ghi chép giao dịch để đáp ứng yêu cầu của luật pháp.
Phương tiện ghi chép: đất sét, gốm.
Khoảng thế kỷ 36 trước Công nguyên, nền văn minh Át-xi-ri, Babylon và Xume phát triển rực rỡ ở
thung lũng Mesopotamia - nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi mà trở thành vùng nông nghiệp trù phú. Đây
cũng là nơi xuất hiện những ghi chép cổ xưa nhất về hoạt động buôn bán. Thành phố Babylon và Ninevah
trở thành các trung tâm thương mại của vùng. Có hơn một ngân hàng ở Mesopotamia sử dụng thước đo tiêu
chuẩn là vàng và bạc và cho phép một số giao dịch bằng tiền gửi ngân hàng.
Trong suốt kỷ nguyên này, tồn tại các quy tắc pháp lý quy định về việc ghi chép tài sản và các giao dịch
liên quan đến tài sản. Vì thế, gần như toàn bộ các giao dịch được ghi lại và được mô tả bởi các bên liên
quan trong suốt thời kỳ này. Do đó, trong thời kỳ này tồn tại một nghề tương đương với nghề kế toán hiện
nay là nghề ghi chép bản thảo. Nhiệm vụ của người thực hiện việc ghi chép kế toán khá đơn giản, nhưng lại
bao quát. Ngoài việc ghi lại trọn vẹn một giao dịch, người ghi chep phải đảm bảo rằng các giao dịch thoả
thuận đó phù hợp với các yêu cầu pháp lý áp dụng cho các giao dịch thương mại. Đã có hàng trăm người
được thuê làm công việc này, và đây được coi là một nghề có uy thế
Ở Mesopotamia, các giao dịch được ghi chép lại trên mảnh gốm sứ. Mảnh gốm được nung theo hình
dạng và kích thước tuỳ theo nội dung của các giao dịch. Khi một giao dịch được thực hiện, các bên tham
gia giao dịch đi thuê người chép bản thảo, mô tả thoả thuận giữa họ và sau đó nhận lấy các bản ghi trên đất
sét. Mỗi giao dịch được ghi chép lại theo những nội dung sau: tên của các bên tham gia buôn bán, loại hàng
hoá buôn bán và giá cả cùng những điều cam kết quan trọng khác. Sau đó, mỗi bên sẽ chứng nhận sự hiện
diện của họ cùngg như thoả thuận giữa họ lên mảnh gốm bằng cách ấn mạnh lên mảnh gốm “dấu” riêng


7
của họ. Người ghi chép tài sản sau đó sẽ hong khô mảnh gốm để đảm bảo những điều ghi chép trên mảnh
gốm không thể bị thay đổi.
Kế toán ở Ai Cập, Trung Hoa, Hy Lạp và Roma cổ đại

+ Kế toán ở Ai Cập cổ đại cùng phát triển theo cách tương tự như ở Mesopotamia. Tuy nhiên, người Ai
Cập sử dụng giấy làm từ cói thay vì gốm, do đó việc ghi chép chi tiết trở nên dễ dàng hơn. Ở Ai Cập, người
ghi sổ kế toán phải lưu trữ cẩn thận các tài liệu ghi chép của mình trong một nơi gọi là kho lưu trữ sau khi
những tài liệu đó được kiểm tra bởi một hệ thống soát xét nội bộ chặt chẽ. Chính do hệ thống kiểm tra này
mà những người ghi sổ kế toán phải luôn trung thực và cẩn thận, tính chính xác của các hồ sơ được đảm
bảo bằng những hình phạt nghiêm khắc vì họ sẽ bị phạt tiền, cắt xén hoặc tử vong nếu vi phạm các điều
luật liên quan. Các bản ghi thời kỳ này là cơ sở hình thành hệ đếm, dẫn tới phương pháp kế toán phức tạp
ngày nay. Mặc dù những ghi chép như vậy rất quan trọng nhưng kế toán Ai Cập cổ xưa chưa bao giờ tiến
bộ xa hơn công việc liệt kê đơn giản, các bản ghi chỉ là các ghi chép đơn giản, chưa định hình kế toán. Có
lẽ nguyên nhân cốt yếu là do chưa có chữ viết và đồng tiền thích hợp đó cản trở sự phát triển của nó. Trên
thực tế, người Ai Cập sử dụng vàng và bạc với tư cách là vật trao đổi ngang giá chung. Tuy nhiên, phương
pháp đo lường giá trị đơn không thể mô tả tất cả hàng hoá, do đó làm cho việc tích luỹ và tổng kết tài sản
trở nên khó khăn, ảnh hưởng đến sự phát triển của cả hệ thống kế toán.
Vào thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên, người Hy Lạp đã áp dụng “kế toán công khai” để tạo điều kiện
cho toàn thể công dân theo dõi tình hình tài chính chính phủ. Thành viên của Hiệp Hội Nhân dân Athens
lập ra những quy tắc pháp lý cho vấn đề tài chính và quản lý thu chi của hệ thống công thông qua sự giám
sát của 10 nhân viên kế toán Nhà nước. Có lẽ sự đóng góp quan trọng nhất của Hy Lạp là việc sáng tạo ra
tiền đúc vào khoảng năm 600 trước Công Nguyên, việc ghi chép kế toán và chuẩn bị hồ sơ của các giao
dịch trở lên dễ dàng hơn. Hoạt động tài chính và ngân hàng ở Hy Lạp cổ đại đạt được sự phát triển nhiều
hơn các xã hội trước. Các ngân hàng giữ sổ ghi chép, tiền cho vay, và thậm chí thực hiện các giao dịch
chuyển tiền cho các cư dân ở các thành phố cách xa nhau thông qua các ngân hàng trong cùng hệ thống.
Kế toán ở Roma phát triển từ việc ghi chép truyền thống của các gia đình được thực hiện bởi người chủ
gia đình. Các gia đình phải ghi chép và trình trước chính quyền về chi tiêu, tài sản, công nợ, đây chính là
các báo cáo kế toán ban đầu. Việc ghi chép này vốn nhằm mục đích phục vụ cho việc tính thuế và xác định
vị thế cùng như quyền lực của mỗi gia đình. Quân đội ghi chép và giữ hồ sơ chi tiết của tất cả chi phí của
họ hàng ngày. Ở Roma duy trì một hệ thống chứng từ và cân đối chính xác đối với các hoạt động thu chi
của chính phủ được dưới sự thực hiện người quản lý ngân sách quốc gia. Hệ thống kế toán công được kiểm
tra thường xuyên bởi các nhân viên kiểm tra sổ sách và những người quản lý ngân sách quốc gia phải bàn



8
giao lại toàn bộ công việc cho người kế nhiệm của mình và cho Thượng viện La Mã trước khi thôi việc.
Một trong những cách tân của kế toán La Mã là việc sử dụng ngân sách thường niên nhằm phối hợp các
hoạt động tài chính khác nhau của nhà nước, hạn chế chi tiêu để đạt được mức thu mong muốn và số thuế
thu được trong một đơn vị quản lý sau khi xem xét khả năng chi trả của dân cư.
Các bản ghi kế toán đã xuất hiện từ năm 800 trước công nguyên ở Trung Á, viết bằng đất sét thể hiện
các hàng hoá như: bánh mỳ, dê, quần áo,… Bản ghi này được gọi là Bullae, một dạng hoá đơn ngày nay.
Bullae được gửi cùng với hàng hoá giúp người nhận kiểm tra lại chất lượng và giá cả của số hàng mình
nhận được.
Thời kỳ này đã diễn ra một cuộc cách mạng về sự phát triển của kế toán.
Liên hệ kế toán cổ đại với khái niệm kế toán hiện đại:
Kế toán hiện đại ngày nay có khá nhiều khái niệm. Khái niệm được chấp nhận khá rộng của hiệp hội kế
toán Hoa Kỳ: “Kế toán là một tiến trình ghi nhận, đo lường, và cung cấp các thông tin kinh tế nhằm hỗ trợ
cho các đánh giá và các quyết định của người sử dụng thông tin”.
Trong những khái niệm trên, kế toán hiện đại là một tiền trình ghi chép, đo lường. Kế toán cổ đại đã
hình thành và được sử dụng như là một công cụ để ghi nhận, đo lường và kiểm tra, lưu trữ hồ sơ và cung
cấp thông tin cho những người chủ để quản lý, sử dụng tài sản của họ. Trong thời kỳ cổ đại, nhiều kỹ thuật
kế toán đã được sử dụng để theo dõi, ghi chép quá trình sản xuất, theo dõi các sản phẩm nông nghiệp và sử
dụng đất, các giao dịch thương mại, động vật và lao động, quản lý thuế, các dự án công trình công cộng,
các sáng kiến quân sự đòi hỏi phải lưu giữ hồ sơ chính xác, kịp thời để hỗ trợ đưa ra các quyết định quan
trọng, cai trị, duy trì trật tự xã hội, bảo vệ biên giới.
Các ghi chép, văn bản ghi chép việc mua bán trong thời kỳ cổ đại yêu cầu phải có dấu, cũng là một tiền
đề cho việc kế toán hiện đại sau này các hóa đơn chứng từ sử dụng phải có dấu.
Trong kế toán cổ đại, yêu cầu sự ghi chép chinh xác, kịp thời và hồ sơ được lưu trữ cẩn thận, hỗ trợ cho
việc ra quyết định quan trọng. Kế toán hiện đại ngày nay vẫn đòi hỏi sự chính xác và kịp thời của thông tin
kế toán. Hệ thống kế toán hiện đại bao gồm hồ sơ chứng từ được phân loại rõ ràng, chi tiết không phải các
loại chứng từ sổ sách thô sơ và còn nhiều mục ghi chung như trong thời cổ đại.
Các báo cáo kế toán định kỳ ban đầu được tạo ra trong thời kỳ cổ đại thể hiện khía cạnh trình bày, cung
cấp thông tin hỗ trợ ra quyết định cho người sử dụng thông tin trong khái niệm kế toán hiện đại. Kế toán cổ
đại chủ yếu để dáp ứng nhu cầu tính thuế và quản lý tài sản, kinh doanh của nhà nước và những người chủ

giàu có; trong khái niệm kế toán hiện đại, kế toán đáp ứng nhu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin


9
khác nhau nhưng vẫn có đáp ứng cho nhu cầu tính thuế, theo dõi và ra quyết định quản lý của những người
chủ. Kế toán cổ đại việc ghi chép chủ yếu để cho người có thẩm quyền có thể quản lý việc mua bán và tồn
kho, kế toán hiện đại ngoài việc ghi chép lưu trữ để đối chiếu và giúp người có thẩm quyền kiểm tra còn
dùng để đánh giá sự phát triển của một doanh nghiệp hay tổ chức nào đó.
Nếu trong thời ký cố đại, Nhà nước ban hành các đạo luật, quy định, quy tắc kế toán cụ thể và bắt buộc
mọi người phải tuân theo những quy định đó thì trong thời kỳ hiện đại, các hiệp hội tổ chức nghề nghiệp
được thành lập, đưa ra các chuẩn mực, nguyên tắc mang tính chất gợi ý, các doanh nghiệp và người lập
BCTC dựa vào những nguyên tắc đó để lập BCTC.

Thời kỳ kéo dài hàng nghìn năm kể từ khi đế quốc La Mã sụp đổ cho đến trước thời
điểm ra đời của cuốn sách đầu tiên của Luca Pacioli mang tên “Summa” được coi là thời kỳ
đình trệ của kế toán. Các hoạt động kế toán diễn ra ngoài lãnh thổ của Italy thường không
được đề cập đến trong các phần tổng kết lịch sử. Tuy nhiên, như nhà lịch sử Michael
Chatfield đã quan sát thấy, thông tin kế toán thời trung cổ đã trở thành một trong những nền
tảng của việc quản lý và các kỹ thuật hạch toán cũng đã có cơ hội phát triển nhanh chóng.
Nhiệm vụ trung tâm của kế toán thời kỳ này là nhằm giúp cho Chính phủ và chủ sở hữu tài
sản quản lý tài sản theo trình độ từ thấp lên cao.
* Sự ra đời của phương pháp ghi sổ kép
Qua các giai đoạn phát triển của kế toán ở các quốc gia khác nhau, có thể thấy kế toán
sử dụng phương pháp ghi đơn, đơn giản và mang tính liệt kê mô tả nhiều hơn. Nguyên nhân
cốt yếu là thiếu chữ viết và tiền giao dịch thích hợp.
Phương pháp ghi sổ kép ra đời vào thế kỷ 14 ở Italy gắn liền với đóng góp của Luca
Pacioli dựa trên cơ sở thống nhất 7 nhân tố tiền đề:
Tài sản riêng: quyền thay đổi sở hữu tài sản bởi vì ghi sổ được xem là việc ghi chép về tài
sản và quyền tài sản thực.
- Vốn: thể hiện năng lực của cải, bởi vì nếu không có nó hoạt động thương mại sẽ

không thể thực hiện được.


10
- Thương mại: sự trao đổi hàng hoá ở mức phổ biến, bởi vì hệ thống thương mại với
quy mô nhỏ không thể tạo ra áp lực kinh doanh dẫn tới sự ra đời của một hệ thống có tổ
chức thay thế cho việc ghi chép đơn thuần.
- Tín dụng: giá trị hiện tại của hàng hoá trong tương lai.
- Chữ viết: một hệ thống ghi chép thường xuyên bằng một ngôn ngữ thông dụng.
- Tiền tệ: mẫu số thông dụng cho trao đổi.
- Số học: làm phương tiện để tính toán lượng giá trị giao dịch.
Trong số những nhân tố trên, có một số nhân tố trên thực tế đã tồn tại ở thời cổ đại.
Tuy nhiên, chỉ tới thời trung cổ chúng mới xuất hiện đầy đủ và đủ mạnh để thúc đẩy con
người tới sự sáng tạo ra phương pháp ghi sổ kép. Nhờ đó, thương mại và trao đổi buôn bán
đã được đẩy lên tầm phát triển mới và loài người đã tìm được phương pháp xác định lợi
nhuận chuẩn xác hơn.
Kể từ Pacioli, phương pháp ghi sổ đã được thay đổi. Chuỗi những sự kiện trong chu kỳ
kế toán và các trình tự đặc biệt được Pacioli miêu tả trong cuốn “De Computis” khá quen
thuộc với kế toán viên hiện đại. Trên thực tế, sự khác nhau giữa trình tự kế toán hiện đại với
phương pháp kế toán của Pacioli là sự bổ sung và trình độ tinh vi hơn xuất phát từ nhu cầu
của quy mô hoạt động kinh doanh lớn hơn. Theo Luca Pacioli, một thương nhân thành công
phải hội tụ được 3 thứ: đủ vốn, người ghi sổ có năng lực và hệ thống kế toán cho phép anh
ta có được những thông tin về tình hình tài chính của mình một cách nhanh nhất. Pacioli
đưa ra hệ thống gồm các thành phần sau:
- Bản ghi: nhằm ghi chép lại các nghiệp vụ phát sinh theo thứ tự phát sinh. Các nghiệp
vụ này có thể được ghi sổ theo nhiều đơn vị tiền tệ khác nhau được chấp nhận ở thời kỳ đó
và sau đó được quy đổi ra đồng tiền hạch toán chung.
- Nhật ký: bao gồm ghi nợ, có và phần giải thích nội dung nghiệp vụ được ghi sổ.
Không tính tổng quy mô nghiệp vụ phát sinh và không ghi đối ứng.



11
- Sổ cái: đây là bộ phận gần giống nhất với kế toán hiện đại. Cột số tiền và cột ngày
tháng giống y hệt như trong sổ kế toán hiện nay, với các mục bao gồm các đoạn ngắn, ghi
nợ ở bên trái và ghi có ở bên phải của trang sổ được đôi. Sau khi sổ kế toán được thiết lập,
hai được chéo sẽ được kẻ xuyên suốt mỗi lần ghi sổ, một từ trái sang phải khi ghi nợ và một
từ phải sang trái khi ghi có.
Kết thúc chu trình kế toán là việc lên bảng cân đối thử. Các số dư bên nợ trên sổ cái
được ghi vào bên trái của bảng cân đối còn các số dư bên có trên sổ cái được ghi vào bên
phải của bảng cân đối. Nếu việc ghi sổ đã được thực hiện chuẩn xác thì bảng cân đối sẽ cân
giữa hai bên.

Câu 7: Phân tích mối liên hệ giữa các cuộc khủng hoảng kinh tế và bê bối tài chính tới sự phát
triển của xu hướng lập quy của kế toán hiện đại.
Một trong những đặc điểm của kế toán là tính tương đối, việc xử lý một số nghiệp vụ phát sinh
trong kế toán dựa trên một số giả định kế toán nhất định nên có thể tuỳ theo từng cách hiểu về giả
định kế toán khác nhau có thể tạo ra những con số kết quả khác nhau hoàn toàn. Trong những năm
đầu TK XX, kế toán tài chính của các quốc gia trên thế giới chưa có hệ thống, chưa có chuẩn mực,
quy tắc nào chung cho các công ty trên cùng 1 lãnh thổ quốc gia. Khi nền kinh tế chưa phát triển,
cơ chế vận hành của công ty đơn giản nên vẫn ổn định. Khi nền kinh tế phát triển mạnh, thị trường
chứng khoán hay thị trường tài chính phát triển theo như một tất yếu. Thực tế kinh doanh diễn biến
ngày càng phức tạp, trong khi đó hệ thống sổ sách kế toán không đáp ứng nhu cầu cung cấp thông
tin hữu ích cho các nhà đầu tư, những người sử dụng báo cáo tài chính. Cũng như việc các công ty
niêm yết sử dụng quá nhiều chính sách kế toán khác nhau cho việc lập báo cáo tài chính, làm cho
nhà đầu tư có cái nhìn không chính xác khi so sánh thông tin giữa các công ty với nhau. Và các
cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới hay các vụ bê bối chính trị diễn ra trên khắp thế giới như hậu
quả của việc thiếu thống nhất, không có hệ thống chuẩn mực, quy tắc kế toán.
Một cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất trong thế kỷ 20 chính là đại suy thoái năm 1929-1933, đây
là cuộc khủng hoảng có quy mô lớn nhất và trầm trọng nhất của giới tư bản một cuộc khủng hoảng
cơ cấu mà đến ngày nay mọi người nhắc tới nó như là một nỗi kinh hoàng. Sự tăng trưởng nóng

của các doanh nghiệp trong khi nhu cầu không tăng, hàng hoá dư thừa nhưng tất cả những điều đó
không thể hiện trong các thông tin của kế toán khiến cho nhiều nhà đầu tư có những quyết định sai
lầm. Sự kiện “ngày thứ sáu đen tối”-29/10/1929 thị trường chứng khoán Mỹ bắt đầu rơi vào khủng


12
hoảng các cổ phiếu trở thành đống giấy lộn. Từ lĩnh vực chứng khoán cuộc khủng hoảng lan rộng
ra tất cả các lĩnh vực khác trở thành một cuộc khủng hoảng toàn diện trên tất cả các mặt kinh tế xã
hội. Có thể nói những hậu quả từ cuộc khủng hoảng này chính là động lực để phát triển xu hướng
lập quy bắt đầu từ những năm 1950. Lý thuyết lập quy lúc này tập trung vào việc “kế toán phải làm
như thế nào” thay vì “kế toán đang làm thế nào”.
Các chuẩn mực kế toán và chuẩn mực báo cáo tài chính được phát triển tại nhiều quốc gia
và từ các tổ chức kế toán quốc tế để đảm bảo thông tin kế toán hữu ích hơn cho người sử dụng. Ở
Mỹ, giai đoạn 1959 – 1970, cách tiếp cận trong giai đoạn này là tiến hành những nghiên cứu cơ
bản làm nền tảng cho việc ban hành các nguyên tắc kế toán. APB thuộc AICPA đại diện cho các
công ty kiểm toán, các học giả và các doanh nghiệp đã đưa ra 31 Ý kiến của APB, 15 Nghiên cứu
kế toán, và 4 Công bố, đặt nền tảng cho sự phát triển các lý thuyết kế toán sau này. Đến năm 1973,
Hội đồng chuẩn mực kế toán FASB được thành lập thay cho APB, FASB ban hành các Công bố về
chuẩn mực báo cáo tài chính, tiến hành xây dựng khuôn mẫu lý thuyết kế toán và ban hành dưới
dạng Công bố về khái niệm Kế toán tài chính. Ở Australia, năm 1965, Tổ chức nghiên cứu kế toán
Australia AARF nghiên cứu và ban hành các chuẩn mực kế toán. Ở Pháp, quy định kế toán được
ban hành dưới dạng một hệ thống kế toán thống nhất bao gồm các tài khoản kế toán thống nhất.
Việc hình thành và phát triển xu hướng lập quy dưới dạng một khuôn mẫu lý thuyết hay một
nền tảng nguyên tắc chung về kế toán là một điều cần thiết từ thực tế, dưới sức ép các cuộc khủng
hoảng kinh tế hay các vụ bê bối chính trị. Mỗi quốc gia có cách tiếp cận khác nhau trong quá trình
lập quy. Điều này xuất phát từ môi trường đa dạng về kinh tế, pháp lý và văn hóa của các quốc gia.

ĐỀ 8: PHÂN TÍCH KHÁI QUÁT CÁC LUẬN ĐIỂM VỀ LÝ THUYẾT KẾ TOÁN?
THEO ANH, CHỊ LÝ THUYẾT KẾ TOÁN LÀ GÌ VÀ CÓ VAI TRÒ GÌ TRONG SỰ
PHÁT TRIỂN CỦA KẾ TOÁN.

*Kế toán là công cụ phản ánh quá khứ:
Mục tiêu của kế toán là cung cấp các ghi chép tin cậy về các giao dịch của một đơn vị. Cung cấp các
thông tin hữu ích cho việc đề ra các quyết định về kinh tế và để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp.Nắm rõ về pháp luật kinh doanh, pháp luật kế toán, chính sách thuế, đáp ứng được nhu cầu nhân lực
thực tiễn về kế toán của các doanh nghiệp.
Qúa trình phản ánh của kế toán dụa trên các quy định mang tính hành vi về tính trọng yếu, khách
quan, nhất quán và sự giám sát hành động của kế toán. Các yêu cầu về chất lượng của thông tin kế toán:
+ Dễ hiểu: Thông tin kế toán phải dễ hiểu đối với người sử dụng. Người sử dụng ở đây được
hiểu là người có kiến thức về kinh doanh và hoạt động kinh tế, hiểu biết kế toán ở mức vừa phải, sẵn lòng
nghiên cứu các thông tin được cung cấp với mức độ tập trung suy nghĩ vừa phải.


13
+ Phù hợp: Để có ích, các thông tin kế toán phải phù hợp để đáp ứng các yêu cầu đưa ra các quyết
định kế toán của người sử dụng. Những thông tin có chất lượng phù hợp là nhữngthông tin có tác động đến
quyết định kế toán của người sử dụng bằng cách giúp họ đánhgiá các sự kiện quá khứ, hiện tại hoặc tương
lai hoặc xác nhận, chỉnh lý các đánh giá quá khứ của họ. Vai trò xác nhận và dự toán của các thông tin có
quan hệ tương hỗ lẫn nhau. Chẳng hạn, các thông tin về mức độ tài sản và cơ cấu tài sản hiện có rất có giá
trị đối với người sử dụng khi họ muốn dự đoán về khả năng của doanh nghiệp trong tương lai.
+ Có độ tin cậy: Để hữu ích, các thông tin kế toán phải đáng tin cậy (phải đảm bảo yêu cầu trung thực
và hợp lý).
+ Trung thực: Để có độ tin cậy, các thông tin kế toán phải được trình bày một cách trung thực về tình
hình thực tế và các nghiệp vụ, các sự kiện đã xảy ra.
+ Khách quan: Để có độ tin cậy cao, thông tin trong báo cáo tài chính phải khách quan, không bị
xuyên tạc, bóp méo một cách cố ý.
+ Đầy đủ: Các nghiệp vụ và sự kiện đã xảy ra phải được phản ánh và ghi chép trong các sổ sách kế
toán và báo cáo tài chính.
+ Có thể so sánh được: Các thông tin trong báo cáo tài chính phải có tính so sánh được giữa các thời
kỳ và giữa các doanh nghiệp khác nhau.
+ Kịp thời: Thông tin kế toán phải được cung cấp kịp thời cho yêu cầu quản lý và ra quyết định.

+Cân đối giữa lợi ích và chi phí: Lợi ích từ các thông tin phải cao hơn các chi phí bỏ ra để có được
các thông tin đó.
Kế toán được thực hiện dựa trên các chuẩn mực được ban hành bởi các tổ chức nghề nghiệp. Có tuân
thủ các chuẩn mực kế toán thì người lập và người sử dụng Báo cáo tài chính mới hiểu được các thông tin
phản ánh trên báo cáo. Chuẩn mức kế toán là nền tảng để thực hiện chức năng của kế toán tài chính
(financial accounting) là báo cáo tình hình tài chính (financial reporting). Và là phương tiện quan trọng
dùng để báo cáo tình hình tài chính chính là các Báo cáo tài chính (Financial statements).
Như vậy, không có chuẩn mực kế toán thì các mục tiêu của Báo cáo tài chính dưới đây sẽ không đạt
được:
+ Cung cấp thông tin hữu ích để làm quyết định về đầu tư và tín dụng
+ Cung cấp thông tin hữu ích để đánh giá luồng tiền tương lai
+ Cung cấp thông tin về tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp, gọi chung là tình hình tài chính
(financial position) của doanh nghiệp
Nói cách khác, nhờ có chuẩn mực kế toán các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính trở nên thiết
thực, tin cậy được và có thể so sánh được.
+ Thông tin có thiết thực thì người sử dụng mới có thể đưa ra quyết định
+ Thông tin có tin cậy thì người đọc mới thấy an tâm
+ Thông tin có so sánh được thì người sử dụng mới có thể lựa chọn


14
*Kế toán là ngôn ngữ kinh doanh:
Đó là một phương tiện truyền đạt thông tin về một doanh nghiệp. Nhận thức kế toán là một ngôn ngữ
kinh doanh, vì kế toán có rất nhiều thứ phù hợp với ngôn ngữ. Các hoạt động kinh doanh khác nhau của
một doanh nghiệp được báo cáo trên các baó cáo kế toán bằng ngôn ngữ kế toán, cũng giống như tin tức
được đọc báo cáo trên các tờ báo chí và các phương tiện truyền tin khác. Tính có thể so sánh được của báo
cáo cần thiết, cho việc thực thi hữu hiệu loại ngôn ngữ đó dù nó bằng thứ tiếng việt hay kế toán. Đồng thời,
ngôn ngữ phải linh hoạt để thích ứng với môi trường đang biến động. Nhận thức kế toán là một ngôn ngữ
đã được hội nghế nghiệp về kế toán của nhiều nước thừa nhận. Bởi vì giữa ngôn ngữ và kế toán có nhiều
điểm tương đồng tiềm ẩn. Ngôn ngữ của kế toán được chuyển thể từ ngôn ngữ chung, thành những ký hiệu

của kế toán, sắp xếp theo một hệ thống có căn cứ và mô phỏng theo một nguyên tắc nhất định. Sự sắp xếp
này của các ký hiệu được gọi là ngôn ngữ, và các nguyên tắc tác động đến kiểu mẫu và công dụng các ký
hiệu đó hình thành văn phạm của ngôn ngữ đó. Cấu trúc văn phạm của ngôn ngữ kế toán gồm 2 yếu tố:
- Các ký hiệu hay đặc điểm từ vựng của một ngôn ngữ là các đơn vị “có ý nghĩa” hay các từ có thể
nhận diện ở mọi ngôn ngữ, được dùng nhận diện các khái niệm cá biệt và trình bày bằng ký hiệu mà kế
toán sử dụng.
- Các nguyên tắc văn phạm của một ngôn ngữ, ở đây ám chỉ, những cách sắp xếp về cú pháp của mọi
ngôn ngữ. Trong kế toán, các nguyên tắc văn phạm, nhằm chỉ các, thủ tục, phải tuân thủ khi xây dựng xây
tất cả các số liệu về tài chính của doanh nghiệp.
- Với sự hiện diện của các yếu tố cấu thành này các ký hiệu và các nguyên tắc kế toán, kế toán có thể
được định nghĩa là một ngôn ngữ.
*Kế toán là thông tin thể hiện quyết định:
Đối với các nhà quản lý ở doanh nghiệp: do doanh nghiệp có tính tự chủ trong việc sử dụng các
nguồn lực của mình nên người quản lý doanh nghiệp cần có thông tin để hoạch định, tổ chức và kiểm soát
toàn bộ tài sản và hoạt động kinh doanh của mình. Những vấn đề như: tình hình các loại tài sản của đơn vị
như thế nào? Thực trạng và khả năng vay nợ của đơn vị ra sao? Lợi nhuận đạt được đối với đơn vị trong kỳ
vừa qua là bao nhiêu? Sản phẩm nào cần sản xuất? Giá bán là bao nhiêu? Ảnh hưởng của việc tăng giá hay
giảm giá các yếu tố đầu vào đối với hoạt động của đơn vị ra sao? Nhu cầu thông tin kế toán của nhà quản lý
các cấp ở doanh nghiệp rất phong phú, đa dạng, và thay đổi liên tục. Hệ thống kế toán trong điều kiện đó
phải cung cấp thông tin toàn diện về mọi hoạt động của đơn vị để người quản lý có cơ sở ra quyết định
đúng đắn. Vai trò của thông tin kế toán đối với nhóm đối tượng này thể hiện trên các mặt:
 Giúp nhà quản lý ở doanh nghiệp kiểm tra, kiểm soát toàn bộ số tài sản hiện có, tình hình biến động
và sử dụng các tài sản trong hoạt động kinh doanh theo đúng các mục tiêu đã định, tránh tình trạng thất
thoát hay sử dụng lãng phí tài sản.
 Giúp nhà quản lý kiểm tra, kiểm soát tình hình sử dụng các khoản vay nợ, tình hình huy động và sử
dụng vốn chủ sở hữu, qua đó đánh giá tình hình thực hiện nghĩa vụ của đơn vị đối với người cho vay, nhà
nước, người lao động và các tổ chức khác.
 Thông qua thông tin do kế toán cung cấp, nhà quản lý có thể xây dựng các kế hoạch ngắn hạn và dài
hạn trong hoạt động đầu tư và huy động vốn, xây dựng các chiến lược và chính sách kinh doanh phù hợp.
 Là cơ sở để các nhà quản lý ra các quyết định liên quan đến tài sản và nguồn vốn của mình.



15
Có thể thấy: thông tin kế toán phục vụ cho nhóm đối tượng này phục vụ đắc lực cho hoạt động quản
trị doanh nghiệp: từ công tác hoạch định đến việc tổ chức, đánh giá, kiểm soát và ra quyết định. Hệ thống
kế toán cung cấp thông tin cho nhóm đối tượng này được gọi là kế toán quản trị.
Đối với các đối tượng ngoài doanh nghiệp. Nhu cầu thông tin kế toán của các đối tượng này thường
khác nhau do sự khác biệt về lợi ích kinh tế, nhưng chung qui lại có hai nhóm. Một là nhu cầu thông tin
phục vụ cho công tác quản lý nền kinh tế. Hai là nhu cầu thông tin phục vụ cho lợi ích riêng lẽ của các tổ
chức kinh tế hay cá nhân có liên quan đến doanh nghiệp. Cụ thể:
Đối với Nhà nước: Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước quản lý các tổ chức kinh tế trên cơ sở hệ
thống luật pháp nên rất cần thông tin kế toán để kiểm tra, kiểm soát tình hình tuân thủ pháp luật của các tổ
chức. Thông tin kế toán về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp còn là cơ sở để các cơ quan quản lý
nhà nước đánh giá tổng hợp thực trạng hoạt động của mỗi ngành, mỗi địa phương, mỗi khu vực kinh tế và
toàn nền kinh tế; qua đó xây dựng các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp, đặc biệt là các chính sách về thuế.
Đối với các đối tượng khác: Lợi ích của những đối tượng này thường liên quan trực tiếp đến các
nghiệp vụ kinh tế với doanh nghiệp nên thông tin kế toán có những vai trò riêng. Chẳng hạn: ngân hàng và
các tổ chức tài chính khác thường sư dụng thông tin kế toán để đánh giá thực trạng tài chính, hiệu quả hoạt
động cũng như khả năng thanh toán các khoản nợ vay của các tổ chức kinh tế. Qua đó, có thể đưa ra những
quyết định tài trợ thích hợp đối với từng tổ chức kinh tế.
Đối với người chủ sở hữu: người chủ sở hữu chỉ được xem là người ngoài doanh nghiệp khi có sự
tách rời đáng kể giữa người quản lý và người sở hữu doanh nghiệp như trường hợp của các công ty cổ phần
niêm yết giá hay các doanh nghiệp nhà nước. Ở khía cạnh này, thông tin kế toán không chỉ giúp người chủ
sở hữu đánh giá tình hình sử dụng và khả năng sinh lời của vốn, mà trong một chừng mực còn kiểm soát
các hoạt động của người quản lý nhằm bảo vệ tài sản, qua đó có những quyết định phù hợp nhằm tối đa hóa
lợi ích của mình.
Đối với các nhà đầu tư tiềm tàng, nhà cung cấp, khách hàng và các cá nhân, tổ chức khác, thông tin
kế toán là cơ sở để các đối tượng trên có những quyết định nhằm bảo vệ quyền lợi kinh tế của mình hay
phát triển các giao dịch kinh tế trong tương lai.
Mặc dù vai trò của thông tin kế toán đối với mỗi đối tượng bên ngoài là khác nhau, nhưng thực chất

thông tin kế toán thường liên quan đến các vấn đề về tình hình tài chính của doanh nghiệp. Vì thế, báo cáo
kế toán cung cấp cho các đối tượng này thường gọi là báo cáo tài chính theo những mục đích chung vì nó
cung cấp những thông tin tổng quát cho việc sử dụng của nhiều đối tượng bên ngoài doanh nghiệp. Trong
thực tế, những báo cáo này thường là những báo cáo tổng hợp về tình hình tài sản, nguồn vốn và kết quả
kinh doanh. Hệ thống kế toán xử lý và cung cấp những thông tin này được gọi là kế toán tài chính. Cần chú
ý là thông tin của kế toán tài chính cũng rất cần thiết cho các nhà quản lý ở doanh nghiệp.
*Kế toán là hoạt động chính trị trong phạm vi doanh nghiệp:


16
Hệ thống kế toán phản ánh, phục vụ các giá trị và nhu cầu của các nhóm lợi ích khác nhau. Các nhà
quản trị, người sở hữu và người trong nội bộ doanh nghiệp, những người ngoài doanh nghiệp là những
người có thể dùng thông tin kế toán. Hệ thống kế toán phải cung cấp thông tin cho các nhà quản trị doanh
nghiệp cũng như cho những người ngoài doanh nghiệp quan tâm đến các hoạt động tài chính của doanh
nghiệp. Mỗi người sử dụng yêu cầu loại thông tin nào tuỳ thuộc vào các loại quyết định mà người đó cần
đưa ra. Mục tiêu cuối cùng của kế toán là sử dụng những thông tin kế toán, phân tích và giải thích chúng.
Để sử dụng có kết quả các thông tin kế toán, người sử dụng phải hiểu được các số liệu kế toán và biết phối
kết hợp các số liệu đó và ý nghĩa của chúng. Một người ra quyết định nào đó thiếu hiểu biết về kế toán có
thể không thấy được rằng sử dụng các thông tin kế toán là căn cứ ước tính nhiều hơn là vào các số liệu đo
lường cẩn thận, chính xác.
Thông tin kế toán được tạo lập và sử dụng và định hình chính sách của doanh nghiệp, đặc biệt trong
việc ra quyết định và các mục tiêu của quản lý.
*Kế toán là lợi ích kinh tế:
Kế toán là một phần quan trọng trong hệ thống các thông tin. Kế toán phục vụ việc giám sát hoạt
động của nhà quản lý và hỗ trợ nhà quản lý thể hiện đóng góp của mình cho lợi ích của các nhà đầu tư, cổ
đông.
Các thay đổi trong các thủ tục kế toán sẽ có tác động đến nhà quản lý, vận động các nhà ban hành
chính sách để ngăn chặn các thay đổi không mong muốn.
*Kế toán là hàng hóa xã hội:
Kế toán cũng được xem là hàng hóa sinh ra từ một hoạt động kinh tế. Bởi vì, kế toán cung cấp những

thông tin hữu ích cho các đối tượng cần sử dụng thông tin khác nhau. Người nhận thông tin có thể ra quyết
định sáng suốt và hiệu quả hơn, Thay vì nếu không có thông tin, muốn có được các thông tin cần có chi phí
bỏ ra, nguời sử dụng thông tin này phải nhận diện được kết quả của thông tin làm thay đổi các quyết định
so với chi phí để có được thông tin.
Sự lựa chọn thông tin kế toán và các kỹ thuật kế toán có thể ảnh hưởng đến lợi ích của các nhóm người
khác nhau trong xã hội. Kết quả là có một thị trường thông tin kế toán với cung và cầu xác định có thể
không giống nhau. Quan điểm kế toán là một hàng hóa đang và sẽ tiếp tục có ảnh hưởng sâu sắc đến cách
nghĩ về kế toán và nghiên cứu kế toán.
*Kế toán là nghệ thuật:
Có khái niệm cho rằng “Kế toán là nghệ thuật”, có khái niệm cho rằng “Kế toán là khoa học”, có khái
niệm cho rằng kế toán là một hoạt động “dịch vụ” và ngụ ý kế toán bao hàm những kỹ thuật nhằm để dùng
cho một số lĩnh vực nhất định, dịch vụ ở đây cũng hàm ý là “Kế toán là nghệ thuật” Đã có nhiều cuộc tranh
luận với những quan điểm khác nhau: “Kế toán là một nghệ thuật hay một khoa học?” Những người cho
rằng kế toán là một nghệ thuật, đề nghị các nghiệp vụ của kế toán cần thiết cung cấp để tạo ra nhà buôn bán
giỏi, phải được giảng dạy và cách tiếp cận hợp pháp với kế toán phải được đảm bảo. Những người ủng hộ
kế toán là một khoa học đề nghị thay vì giảng dạy các mô hình đo lường của kế toán cho các sinh viên,
chuyên môn kế toán, thì cung cấp cho họ những cái nhìn thấu đáo hơn về quan điểm đối với kế toán qui
ước, thừa nhận con số nảy sinh đang cố gắng như thế nào để thoả mãn mục tiêu phục vụ các như cầu của


17
người dùng; và gợi ý những suy nghĩ về lĩnh vực đó và những động lực thay đổi của kế toán. Cho bởi có
những quan điểm khác nhau, nhưng phần đông các quan điểm cho rằng kế toán là một khoa học lý luận phù
hợp hoàn hảo với quan điểm hiện nay được Mantz phát biểu: “Kế toán có quan hệ với các cty mà chắc chắn
là những nhóm người trong xã hội, nó quan tâm đến các giao dịch và những sự kiện kinh tế khác mà có hậu
quả về mặt xã hội và ảnh hưởng đến các mối quan hệ xã hội và có ý nghĩa cho người phụ trách việc trong
các hoạt động có liên quan với xã hội, tóm lại kế toán là một khoa học xã hội.”

ĐỀ 8: PHÂN TÍCH KHÁI QUÁT CÁC LUẬN ĐIỂM VỀ LÝ THUYẾT KẾ TOÁN?
THEO ANH, CHỊ LÝ THUYẾT KẾ TOÁN LÀ GÌ VÀ CÓ VAI TRÒ GÌ TRONG SỰ

PHÁT TRIỂN CỦA KẾ TOÁN.
Lý thuyết kế toán được định nghĩa là các lập luận logic dưới dạng các nguyên tắc
chung, các nguyên tắc này: Cung cấp một khuôn mẫu tham chiếu tổng quát có thể đánh giá
thong lệ kế toán đồng thời hướng dẫn việc phát triển các thong lệ hoặc thủ tục kế toán mới.
Các phương pháp tiếp cận được sử dụng trong lý thuyết kế toán hình thành các trường
phái khác nhau. Dưới góc độ cấu trúc lý thuyết, có thể phân loại các lý thuyết kế toán theo
các nhóm sau:


18
I. Lý luận chủ sở hữu
Lý luận kế toán này xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ XVIII. Những học giả ủng hộ lý
luận kế toán này cho rằng, tài sản của chủ sở hữu và tài sản của đơn vị kế toán không có sự
phân biệt. Đơn vị kế toán là công cụ của chủ sở hữu, được chủ sở hữu sử dụng để thực hiện
mục tiêu của chính họ-tăng giá trị tài sản ròng.
Mục đích của kế toán là nhằm xác định giá trị thuần của chủ sở hữu đơn vị kế toán.
Phương trình kế toán theo lý luận kế toán này được viết dưới dạng : Tài sản ròng = Tổng
tài sản – Nợ phải trả. Vì lý do này nên Bảng cân đối kế toán được coi là báo cáo tài chính
quan trọng nhất trong hệ thống báo cáo tài chính của đơn vị, loại giá thích hợp nhất để tính
giá các đối tượng kế toán chính là giá trị hợp lý.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phải phản ánh được mức giá trị tài sản ròng tăng
lên trong kỳ của đơn vị (sau khi đã loại trừ các nghiệp vụ kinh tế tài chính ảnh hưởng đến sự
thay đổi vốn chủ sở hữu nhưng có liên quan trực tiếp đến chủ sở hữu như góp vốn, rút
vốn...). Xuất phát từ mục đích của loại báo cáo này nên kết quả hoạt động được gộp cả phần
giá trị tài sản ròng tăng lên, bao gồm cả những trường hợp tăng giá trị nhưng nghiệp vụ
ngoại sinh không hiện hữu.
Lý luận chủ sở hữu có những ảnh hưởng chủ yếu trong thực tế kế toán :
 Cổ tức được xem là một phần phân phối từ kết quả hoạt động, không phải là chi
phí.
 Lãi trái phiếu và thuế thu nhập được coi là chi phí.

 Tiền lương thanh toán cho chủ sở hữu làm việc không được coi là một khoản chi
phí.
 Kế toán đối với các khoản đầu tư vào công ty con được thực hiện theo phương
pháp vốn chủ sở hữu.
Tuy nhiên, lý luận chủ sở hữu cũng tồn tại những nhược điểm sau :


19
 Không đủ căn cứ để giải thích vấn đề kế toán đối với công ty cổ phần : chủ sở hữu
không phải chịu trách nhiệm đến cùng các khoản nợ phải trả của công ty.
 Tính thuế trùng 2 lần đối với công ty cổ phần : thuế đối với chủ sở hữu và thuế thu
nhập công ty cổ phần.
II. Lý luận thực thể
Lý luận kế toán này ra đời nhằm khắc phục nhược điểm của lý luận chủ sở hữu, xuất phát
từ thực tế là công ty cổ phần là một thực thể độc lập với chủ sở hữu của nó. Thực tế là đối
với một công ty cổ phần, một khi cổ phiếu đã phát hành, quãng đời hoạt động của nó không
phụ thuộc vào chủ sở hữu của nó.
Tồn tại hai lý luận thực thể, lý luận thực thể theo quan điểm truyền thống và lý luận thực
thể hiện đại. Quan điểm truyền thống cho rằng đơn vị kế toán tách biệt vì mục đích lợi ích
của chủ sở hữu, người cung cấp vốn cho thực thể. Thực thể phải có trách nhiệm cung cấp
các báo cáo tài chính, phản ánh tình hình về các khoản đầu tư của họ. Quan điểm mới nhìn
nhận thực thể là đơn vị kế toán như là bản thân của nó và mục đích tồn tại của nó. Do liên
quan đến sự tồn tại của nó nên đơn vị kế toán sử dụng kế toán báo cáo chủ sở hữu của nó
cho các chủ sở hữu để đáp ứng yêu cầu pháp lý và cũng nhằm để duy trì mối quan hệ tốt
giữa nó với các đối tượng nêu trên trong trường hợp có nhiều quỹ cần thiết cho tương lai.
Mặc dù cả hai quan điểm đều tập trung vào thực thể như là đơn vị độc lập nhưng quan
điểm truyền thống xem xét vốn chủ sở hữu như là người bên trong đơn vị kế toán, trong khi
đó quan điểm mới xem xét họ như những người bên ngoài đơn vị.
Giá trị tài sản ròng của đơn vị kế toán không còn là trung tâm của kế toán. Cả chủ nợ và
chủ sở hữu đều là các bên cung cấp tài sản (vốn) cho đơn vị kế toán nên phương trình kế

toán có thể được viết dưới dạng sau :
Tài sản = Nguồn vốn
Bảng cân đối kế toán chỉ ra tài sản là tài sản của đơn vị kế toán, nợ phải trả thuộc về trách
nhiệm của đơn vị kế toán, không thuộc về trách nhiệm của chủ sở hữu. Số vốn do các bên


20
cung cấp phải được kế toán ghi chép do đó phải sử dụng giá vốn thực tế để tính giá những
tài sản phi tiền. Tuy nhiên, trách nhiệm của kế toán không chỉ là ghi chép, duy trì số vốn ban
đầu do các bên cung cấp mà họ còn quan tâm đến sự thay đổi về giá trị của các khoản đầu
tư ; do đó ngoài giá vốn thực tế thì giá trị hợp lý cũng được sử dụng để tính giá đối tượng kế
toán.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính quan trọng nhất trong hệ báo
cáo tài chính trong lý luận thực thể. Lý do là các bên cung cấp vốn cần nắm tin thông tin về
khả năng sinh lời của khoản đầu tư của họ trong một thời kỳ như thế nào. Hơn nữa, sự tồn
tại của thực thể kế toán gắn liền với khả năng sinh lời của nó. Kết quả hoạt động được xác
định là phẩn chênh lệch giữa thu nhập và chi phí, trong đó thu nhập được xác định là dòng
tài sản vào đơn vị kế toán do những nghiệp vụ kinh tế tài chính nó thực hiện đối với sản
phẩm, chi phí liên quan đến giá vốn thực tế của tài sản và dịch vụ khác được đơn vị kế toán
sử dụng để tạo ra thu nhập.
Quan điểm truyền thống của lý luận thực thể và quan điểm hiện đại của lý luận thực thể
đối với khoản tiền lãi vay không giống nhau. Theo quan điểm truyền thống, lãi tiền vay
được xem là một khoản phân phối từ lợi nhuận hơn là chi phí. Đây là khoản thanh toán đối
với các chủ nợ do việc sử dụng số tiền của họ, cũng giống như cổ tức phân chia cho các cổ
đông vì vị trí của chủ nợ và chủ sở hữu đều có vị trí như nhau trong lý luận này. Theo quan
điểm hiện đại, lãi tiền vay và cổ tức đều phải được coi là khoản chi phí vì cả hai đối tượng
này đều được coi là những đối tượng bên ngoài đơn vị kế toán.
Số thuế thu nhập đơn vị được coi là một khoản phân phối từ lợi nhuận, không phải là một
khoản chi phi vì nó không đưa ra khoản chi phí cụ thể nào liên quan đến dịch vụ cụ thể ;
hơn nữ, sự bảo vệ của Chính phủ không phù hợp với quy luật của thị trường.

Trong thực tế, lý luận thực thể có thể được sử dụng để giải thích các vấn đề kế toán sau:
 Không có trường hợp đánh trùng thuế thu nhập 2 lần vì đơn vị kế toán là một thực
thể kinh tế độc lập, tách biệt hẳn với chủ sở hữu.


21
 Tiền lương của công nhân viên được coi là một khoản chi phí.
 Trong báo cáo tài chính hợp nhất, việc trình bày lợi ích của cổ đông thiểu số vào
phần vốn chủ sở hữu cũng xuất phát từ lý luận thực thể.
 ...
III. Lý luận quỹ
Lý luận chủ sở hữu và lý luận thực thể xuất phát từ quan điểm cá nhân hơn là quan điểm
về “quỹ”. Do đó, việc tính giá trong kế toán sẽ chịu sự phán đoán của cá nhân, làm giảm
tính khách quan của thông tin kế toán.
Quỹ là một đơn vị hoạt động với mục đích cụ thể hoặc cho một loạt các hoạt động, bao
gồm cả tài sản và nguồn vốn. Phương trình kế toán cho lý luận quỹ được viết dưới dạng sau:
Tài sản = Giới hạn nguồn hình thành tài sản (quỹ hình thành tài sản)
Tất cả các quỹ đều có hướng tới giải quyết một số mục đích nhất định, khối lượng dịch vụ
tiềm ẩn trong tài sản là phương tiện ban đầu để đạt được mục tiêu đã đề ra.
Bảng cân đối kế toán được xem xét như là một “báo cáo hàng tồn kho” về tài sản và
những giới hạn nguồn hình thành nên nó. Sự xắp xếp các và phương pháp tính giá rất khác
nhau, phụ thuộc vào mục đích của Bảng cân đối kế toán được sử dụng. Ví dụ, Bảng cân đối
kế toán cho mục đích tín dụng sẽ khác biệt Bảng cân đối kế toán cung cấp cho các cổ đông.
Doanh thu trình bày mức tăng tài sản vào quỹ
VI. Lý luận điều hành
Một số học giả kế toán cho rằng cả lý luận chủ sở hữu và lý luận thực thể đều dựa trên cơ
sở ý niệm về quyền sở hữu, một khái niệm khó khăn để xác định và phân tích. Thay vì
quyền sở hữu, những học giả này cho rằng nên tập trung vào khả năng kiểm soát kinh tế
hiệu quả đối với nguồn tài nguyên. Họ có ý định cá nhân hóa thực thể nhưng họ không quên
rằng chính con người thực hiện hành vi đại diện cho đơn vị kế toán. Chính xác hơn, con

người thực hiện hành vi đại diện một số con người khác. Quyết định được các cá nhân hoặc


22
nhóm người đưa ra. Liên quan đến lý luận quỹ, học giả ghi ngờ tại sao đơn vị kế toán lại
tách biệt với hoạt động của con người. Họ cho rằng quá trình và thủ tục kế toán được con
người tiến hành.
Theo lý luận điều hành, chúng ta hướng sự chú ý của chúng ta đến chức năng kiểm soát,
một chức năng chỉ có thể thực hiện được bằng con người. Đơn vị thực hiện và quan điểm
được một hoặc một nhóm người thực hiện. Những người có khả năng thực hiện điều này
chính là những người điều hành nguồn lực. Lý luận này cho phép chúng ta đi đến một điều
giải thích mục đích và chức năng của kế toán mà không cần phải sử dụng những ý niệm trừu
tượng giả định như là lý luận thực thể hoặc lý luận quỹ.
Chủ sở hữu của một đơn vị tư nhân là một nhà điều hành, lý luận này nhân mạnh quyền
sở hữu nhưng xem xét chủ sở hữu là người kiểm soát nguồn lực của đơn vị kế toán. Khả
năng của chủ sở hữu trong việc kiểm soát nguồn lực này là nhằm tạo ra lợi nhuận. Quyền sở
hữu phải được thực hiện với mối quan hệ pháp luật, nhưng kiểm soát là một chức năng kinh
tế. Việc nhấn mạnh quá mức vào chủ sở hữu, không phải là nhà quản lý (nhà điều hành)
theo lý luận điều hành.
Trong những đơn vị kế toán lớn, một cổ đông là một chủ sở hữu của đơn vị kế toán,
nhưng họ lại không điều hành nguồn lực kinh tế của đơn vị kế toán. Tuy nhiên, điều hành
tồn tại đối với nguồn lực kinh tế của riêng họ và do vậy họ cũng chính là nhà điều hành.
Điều hành đối với nguồn lực kinh tế của một đơn vị kế toán nằm trong tay của một loạt các
nhà điều hành. Mỗi một nhà quản lý có nhiều hoặc ít hơn khả năng kiểm soát đối với một số
nguồn lực, một hoặc một vài nhân vật trong số họ có khả năng điều hành toàn bộ nguồn lực
kinh tế.
Theo quan điểm các học giả ủng họ lý luận này, chức năng của kế toán được tiến hành vì
mục đích và đại diện của nhà điều hành. Báo cáo tài chính là những báo cáo giữa nhà điều
hành này với nhà điều hành khác. Ghi chép kế toán được thực hiện, báo cáo tài chính được
một nhóm người lập và phân tích, đại diện và vì lợi ích của một nhóm người. Các thủ tục,



23
chính sách kế toán được thực hiện theo quan điểm nhà điều hành cao nhất của đơn vị kế
toán, không phải là chủ sở hữu hoặc đơn vị kế toán hoặc quỹ.
Nếu Bảng cân đối kế toán được lập vì mục đích và đại diện của nhà điều hành của đơn vị
kế toán thì nó là một báo cáo chỉ ra nguồn lực nhà điều hành nhận và việc sử dụng những
nguồn lực này. Bảng cân đối kế toán được xem xét như là một báo cáo về cương vị quản lý
hơn là một báo cáo về quyền sở hữu, nó là một bản báo cáo về trách nhiệm kế toán. Báo
cáo này chỉ ra những nguồn lực giao trách nhiệm cho nhà điều hành để họ kiểm soát, nhưng
không nhất thiết phải sở hữu nó. Những nguồn lực này do nhà điều hành nắm giữ, nhưng
được các đối tượng khác cung cấp; nhà tín dụng và các cổ đông.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo giải thích những kết quả hoạt động
trong một thời kỳ nhất định do những người điều hành thực hiện.
Lý luận điều hành không có ảnh hưởng trực tiếp đến thực tế kế toán gần đây. Tuy nhiên,
do việc áp dụng cả lý luận chủ sở hữu và lý luận thực thể tồn tại song song trong thực tế với
nhiều điểm trái ngược nhau nên ý niệm kiểm soát kinh tế được lý luận điều hành nhấn
mạnh, có thể là cơ sở cho việc tổng hợp và hợp lý hóa sự tồn tại đồng thời hoặc sử dụng các
thủ tục liên quan đến lý luận điều hành.
Lý thuyết kế toán là các luận điểm logic trong khuôn khổ hệ thống các nguyên tắc tổng quát,
từ đó:
- Cung cấp cơ sở để đánh giá thực tiễn kế toán.
- Định hướng cho sự phát triển của các quá trình và vấn đề thực tiễn mới.
Lý thuyết kế toán gồm hệ thống các luận điểm và giả thuyết làm cơ sở cho việc khẳng định
niềm tin về một vấn đề nhất định.
Việc chấp nhận một lý thuyết phụ thuộc vào việc khả năng giải thích và dự đoán các vấn đề thực
tiễn, cách thức xây dựng lý thuyết và tính phù hợp của các khái niệm trong lý thuyết đó.
Lý thuyết kế toán không tách rời thực tiễn, mục tiêu chủ yếu của lý thuyết kế toán là giải
thích các thực tiễn về kế toán trong hiện tại và xây dựng cơ sở để phát triển các thực tiễn đó.
Kế toán thường được hiểu là một tập hợp các vấn đề được phát triển dựa trên nhu cầu thực

tiễn hơn là dựa trên các phán đoán hoặc suy luận mang tính hệ thống.


24
Việc xuất phát từ thực tiễn có những ảnh hưởng nhất định tới sự phát triển của lý thuyết kế toán.
Nhiều quy định kế toán được xây dựng dựa trên cơ sở vấn đề nảy sinh trong thực tiễn dẫn đến
tính đa dạng hay phân mảng và không thống nhất trong thực tiễn kế toán.
Vai trò của lý thuyết kế toán trong sự phát triển của kế toán:
- Các lý thuyết kế toán được hình thành nhằm mục đích giải thích bản chất của kế toán, tạo
lập các ngyên tắc hướng dẫn và giải thích thực tiễn.
- Các lý thuyết kế toán chọn lựa các cách tiếp cận khác nhau, các góc nhìn khác nhau mang
lại những hiểu biết đầy đủ hơn cho người học và hành nghề kế toán, tránh được cái nhìn
phiến diện hay định kiến.
- Các lý thuyết kế toán cũng giúp cho các nhà lập quy tạo lập nền tảng đánh giá thực tiễn phát
sinh và thiết lập cơ sở tham chiếu cho các quy định về kế toán được ban hành.
Như vậy, lý thuyết kế toán giúp cho mọi người có cái nhìn tổng quát, toàn diện hơn về kế toán, từ
đó, có các hành động chuẩn xác hơn theo nhiệm vụ của mình, giúp cho kế toán ngày càng phát
triển và hoàn thiện.

Câu 9: phân tích các đặc trưng cơ bản và thành tựu chủ yếu của thời kỳ tiền lý thuyết?
Theo anh chị các thành tựu nào có ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung của lý thuyết kế toán
hiện đại.

Thời kỳ tiền lý thuyết là giai đoạn từ khi có những hình thức sơ khai của kế toán cho đến hết
thế kỷ 18. Thời kỳ này có các đặc trưng cơ bản sau đây:
 Trước năm 1494, không có lý thuyết kế toán nào được phát triển. thời kỳ này được coi là
thời kỳ đình trệ kế toán. các hoạt động diễn ra ngoài lãnh thổ của Italy thường không được đề cập
đến trong các phần tổng kết lịch sử. trong thời kỳ này, kế toán chỉ mới phát triển sơ khai, hình



25
thành hệ thống ngôn ngữ và đồng tiền, phát triển các quy định về thuế và các quy ước kế toán. Việc
ghi chép đơn giản và dần định hình kế toán một cách đơn giản. Một số chính quyền đã bắt đầu xây
dựng dự toán ngân sách hằng năm.
 Sau năm 1494 đến đầu thế kỷ 18, lý thuyết kế toán phát triển mang tính cá biệt, chỉ tập trung
vào việc đưa ra các quy định để giải quyết các vấn đề phát sinh từ thực tiễn.
 Năm 1494, Luca Pacioli đã giới thiệu hệ thống kế toán kép trong tác phẩm “Summa de
Arithmatia, Geometria, Proportioni et Proportionalita” đóng góp quan trọng cho việc phát triển của
kế toán hiện đại.
 Trong vòng 300 tiếp theo, các nhà nghiên cứu chỉ tập trung vào việc phát triển các thông lệ
kế toán hơn là đưa ra một lý thuyết đầy đủ.
 Thế kỷ 18, kế toán đã bước sang một bước phát triển mới dựa trên những định hình kế toán
cơ bản, chính thức hóa các thực tiễn kế toán bằng việc xuất bản sách, tài liệu và phương pháp giảng
dạy kế toán.
Nhìn chung, đặc trưng của giai đoạn này là không có lý thuyết kế toán nào được đưa ra.
Mặc dù vẫn có một số đề xuất về lý thuyết nhưng chúng không đủ phạm vi cần thiết để đặt kế toán
trên một nền tảng có tính hệ thống.
Những thành tựu đạt được:
 Hình thành các nhật ký chuyên dùng cho việc ghi nhận các nghiệp vụ khác nhau.
 Tạo lập các báo cáo kế toán định kỳ.
 Mở rộng áp dụng hệ thống kế toán kép cho các tổ chức khác như tu viện, nhà nước.
 Sử dụng các tài khoản riêng biệt để theo dõi các loại hàng tồn kho khác nhau.
 Hình thành các khái niệm về hoạt động liên tục, niên độ và dồn tích.
 Một số pp kế toán tài sản cố định.
Thời kỳ kế toán hiện đại là thời kỳ mà lý thuyết thực chứng và nghiên cứu hành vi giữ vai
trò chủ đạo trong các nghiên cứu kế toán. Thời kỳ kế toán hiện đại phát triển nội hàm sâu sắc hơn
là nghiên cứu những quy trình kế toán đơn thuần hay các quy định pháp lý. Chính vì thế, thành tựu
mà kế toán thời kỳ tiền lý thuyết ảnh hưởng trực tiếp tới thời kỳ hiện đại chính sự hình thành về hệ
thống báo cáo định kỳ và việc phổ biến hệ thống ghi sổ kép.
Việc tạo lập hệ thống báo cáo định kỳ sẽ cung cấp thông tin hữu ích cho các cá nhân, tổ

chức quan tâm tới hoạt động của doanh nghiệp. Giúp cho việc theo dõi, kiểm soát, định hướng điều
hành doanh nghiệp được diễn ra dễ dàng và thuận lợi hơn. Cùng với đó, hệ thống ghi sổ kép ra đời
và phát triển đã có vai trò to lớn đối với hệ thống kế toán xưa cho đến nay. Phương pháp ghi kép đã
trợ giúp việc theo dõi, giám sát các quan hệ thương mại ngày càng tăng, quan hệ tín dụng giữa
người mua ng bán, ng cho vay và đi vay. Ngoài ra, phương pháp ghi kép còn cho phép các nhà tư
bản hoạch định và đo lường ảnh hưởng của các giao dịch kinh tế, đồng thời tách biệt quan hệ giữa
người chủ sở hữu với doanh nghiệp để thấy rõ sự phát triển của các tổ chức kinh doanh


×