MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...................................................................................................................2
1. Tính cấp thiết của đề tài................................................................................2
2. Mục đích nghiên cứu......................................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu.....................................................................................2
4. Phạm vi nghiên cứu........................................................................................2
5. Kết cấu của đề tài:..........................................................................................3
PHẦN 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BỘI CHI NSNN VÀ CÁC BIỆN
PHÁP CÂN ĐỐI NSNN............................................................................................3
1.1 Khái niệm và phân loại bội chi ngân sách nhà nước...................................3
1.1.1. Khái niệm bội chi NSNN.........................................................................3
1.1.2. Phân loại bội chi ngân sách nhà nước...................................................3
1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến bội chi NSNN.............................................5
1.2.1: Bản chất, chức năng, nhiệm vụ và vai trò của Nhà nước....................5
1.2.2: Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội...................6
1.2.3: Mục tiêu, quan điểm chiến lược tài chính tiền tệ.................................7
1.2.4: Xu hướng diễn biến tình hình kinh tế...................................................8
1.2.5: Những nhân tố kĩ thuật, chuyên môn ảnh hưởng đến cách xác định
mức bội chi ngân sách Nhà nước.....................................................................9
1.3 Ảnh hưởng của bội chi ngân sách nhà nước..............................................10
1.4 Các biện pháp cân đối ngân sách nhà nước...............................................11
PHẦN II: THỰC TRẠNG BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ MỘT SỐ
GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ NHẰM CÂN ĐỐI NSNN..........................................12
2.1. Thực trạng bội chi NSNN giai đoạn 2010 – 2015......................................12
2.1.1. Tình hình bội chi NSNN giai đoạn 2010 – 2015..................................12
2.1.2: Nguyên nhân dẫn đến bội chi ngân sách.............................................16
2.2 Ưu điểm, nhược điểm trong quản lý NSNN...............................................17
Nhóm 2
1
2.2.1. Ưu điểm trong quản lý nhà nước về bội chi ngân sách......................17
2.2.2 Nhược điểm của việc quản lí bội chi ngân sách...................................18
2.3: Một số kiến nghị và giải pháp khắc phục tình trạng bội chi NSNN.......20
2.3.1: Phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách.......................................20
2.3.2: Vay để bù đắp thâm hụt ngân sách Nhà nước: .................................21
2.3.3 Bù đắp sự thiếu hụt ngân sách bằng biện pháp tăng thuế.................22
2.3.4 Cắt giảm chi tiêu nhằm giảm thâm hụt NSNN....................................23
KẾT LUẬN.............................................................................................................24
Nhóm 2
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một nhà nước để hoàn thành tốt các nhiệm vụ thì nhà nước đó cần có các
công cụ riêng của mình. Một trong những công cụ đắc lực nhất đó chính là ngân
sách nhà nước (NSNN). Trong những năm qua thì vai trò của NSNN ở nước ta đã
thể hiện rõ trong việc giúp nhà nước hình thành các quan hệ thị trường góp phần
kiểm soát lạm phát, tỷ lệ lãi suất thích hợp để từ đó làm lành mạnh nền tài chính
quốc gia, đảm bảo sự ổn định và phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên bên cạnh đó
thì NSNN vẫn còn các mặt còn tồn tại như việc sử dụng ngân sách chưa đúng lúc
đúng cách, sự yếu kém trong việc quản lý thu chi đã đặt ra cho ta thấy cần có cái
nhìn sâu hơn về tình trạng bội chi NSNN và ảnh hưởng của nó tới các hoạt động
kinh tế là hết sức rộng lớn.
Vậy thế nào là bội chi ngân sách nhà nước? Những nhân tố nào ảnh hưởng tới
bội chi? Thực trạng và cách xử lý bội chi của nhà nước ta như thế nào? Để tìm hiểu
rõ hơn về những vấn đề trên nhóm chúng em đã nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tình
trạng bội chi NSNN ở Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015. Kiến nghị và các biện
pháp cân đối NSNN.”
2. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm tìm hiểu và làm rõ về thực trạng bội chi
NSNN của Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2015, đồng thời lý giải nguyên nhân
nào dẫn đến tình trạng bội chi NSNN và đưa ra một số giải pháp nhằm cân đối
NSNN.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về tình
trạng bội chi NSNN ở Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015.
4. Phạm vi nghiên cứu
Nhóm 2
3
Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam cụ thể là
nghiên cứu tình trang bội chi NSNN ở Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2015.
5. Kết cấu của đề tài: Gồm 2 phần :
Phần 1: Những vấn đề cơ bản về bội chi NSNN và các biện pháp cân đối
NSNN.
Phần 2: Thực trạng bội chi NSNN và một số giả pháp kiến nghị nhằm cân đối
NSNN Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015.
PHẦN 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BỘI CHI NSNN VÀ CÁC
BIỆN PHÁP CÂN ĐỐI NSNN.
1.1 Khái niệm và phân loại bội chi ngân sách nhà nước
1.1.1. Khái niệm bội chi NSNN
“Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự
toán đã được cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước quyết định và được thực hiện
trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước (Điều
1 Luật ngân sách nhà nước năm 2002).
Bội chi ngân sách nhà nước (hay còn còn gọi là Thâm hụt ngân sách)
trong kinh tế học vĩ mô và kinh tế học công cộng được hiểu là tình trạng các
khoản chi của ngân sách Nhà nước (ngân sách chính phủ) lớn hơn các khoản thu,
phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách.
Tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định 60/2003/NĐ – CP quy định : “Bội chi ngân
sách nhà nước là bội chi ngân sách trung ương được xác định bằng chênh lệch
thiếu giữa tổng số chi ngân sách trung ương và tổng số thu ngân sách trung ương
của năm ngân sách”.
1.1.2. Phân loại bội chi ngân sách nhà nước
a. Bội chi cơ cấu
Bội chi cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách
tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô
Nhóm 2
4
chi tiêu cho giáo dục,quốc phòng,... Ví dụ: Tổng chi NSNN năm 2013 ước tính đạt
986,2 nghìn tỷ đồng, bằng 100,8% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển
201,6 nghìn tỷ đồng, bằng 115,1% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 196,3 nghìn
tỷ đồng, bằng 115,4%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an
ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể (bao gồm cả chi thực hiện cải cách tiền
lương) ước tính đạt 679,6 nghìn tỷ đồng, bằng 100,8%; chi trả nợ và viện trợ 105
nghìn tỷ đồng, bằng 100%.
Nguyên nhân dẫn đến bội chi cơ cấu chủ yếu là nguyên nhân chủ quan là do
quản lý, điều hành ngân sách nhà nước bất hợp lý. Biểu hiện qua những vấn đề như
việc khai thác và đánh giá nguồn thu chưa tốt, phân bổ và sử dụng ngân sách nhà
nước còn nhiều bất cập, dẫn đến thất thoát và lãng phí nguồn lực tài chính của nhà
nước, hay vấn đề phân cấp quản lý ngân sách ngân sách nhà nước chưa khuyến
khích địa phương nổ lực trong khai thác nguồn thu và phân bổ chi tiêu hiệu quả.
Những điều đó đã làm nguồn thu vào ngân sách nhà nước bị thất thoát, hoạt động
thu không hiệu quả và không đủ cho hoạt động chi của nhà nước. Ngoài ra do nhà
nước chủ động sử dụng bội chi ngân sách nhà nước như là một công cụ để thực
hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng tạo sự tăng trưởng cho nền
kinh tế, khắc phục tình trạng suy thoái của nền kinh tế.
b. Bội chi chu kỳ
Bội chi chu kì là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế,
nghĩa là mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân. Ví dụ: Tỷ lệ bội
chi ngân sách Nhà nước năm nay ở mức 5,3% GDP, vượt mức 4,8% đã dự
toán. Nguyên nhân chủ yếu do doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn về vốn, sản phẩm
tồn kho tiêu thụ chậm dẫn đến thua lỗ.
Nguyên nhân dẫn đến bội chi chu kì thường là nguyên nhân khách quan: Do
nền kinh tế suy thoái và khủng hoảng, của cải vật chất tạo ra ít, năng suất lao động
của xã hội thấp, thất nghiệp gia tăng, làm cho nguồn thu vào ngân sách nhà nước bị
Nhóm 2
5
giảm sút, nhưng nhu cầu chi tiêu lại gia tăng để giải quyết những vấn đề khó khăn
mới về kinh tế- xã hội như: trợ cấp xã hội, các khoản chi để phục hồi nền kinh tế,
… đồng thời nhà nước còn chi tiền để phục hồi nền kinh tế. Điều đó dễ dẫn đến
tình trạng thu không đủ chi và NSNN bị thâm hụt. Ngược lại, khi kinh tế ở giai
đoạn phồn thịnh, thu vào ngân sách nhà nước liên tục tăng lên mà không phải chi
các khoản chi bất thường thì ngân sách nhà nước tăng lên và đảm bảo thực hiện tốt
những dự toán đã được đề ra. Qua đó, ta thấy suy thoái và khủng hoảng kinh tế là
một trong những nguyên nhân gây ra bội chi NSNN. Bên cạnh đó, thiên tai và tình
trạng bất ổn về an ninh chính trị của quốc gia, thế giới cũng ảnh hưởng rất lớn đến
ngân sách nhà nước, do nhu cầu chi tiêu cho quốc phòng và an ninh trật tự xã hội
tăng lên và phải chi nhiều để khắc phục hậu quả thiên tai.
Ngoài ra, căn cứ vào yếu tố thời gian, có sự phân chia bội chi ngân sách thành
bội chi ngắn hạn và bội chi dài hạn .
1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến bội chi NSNN
1.2.1: Bản chất, chức năng, nhiệm vụ và vai trò của Nhà nước
Ngay từ khi ra đời thì Nhà nước đã mang trong mình những trọng trách nhất
định.Mỗi một Nhà nước có thể chế, đường lối, chính sách khác nhau nhằm phục vụ
cho những đối tượng khác nhau. Nhưng mục tiêu quan trọng của Nhà nước là làm
cho kinh tế của đất nước ngày càng phát triển, nâng cao vị thế của đất nước mình
trên trường quốc tế. Để thực hiện được điều đó thì Nhà nước đã đề ra hàng loạt
những biện pháp, chính sách quan trọng. Nhưng quá trình đó không phải hoàn
thành trong thời gian ngắn mà nó đòi hỏi chúng ta cần có lượng vốn rất lớn, đây là
một trong những điêu kiện tiên quyết và rất quan trọng mà chúng ta cần phải có để
hoàn thành những mục tiêu đã đề ra.Trong quá trình tiến hành việc thu hút nguồn
vốn trong và ngoài nước chúng ta đã đạt được một số thành tựu quan trọng. Ngân
sách Nhà nước không ngừng được mở rộng cả về chất lượng và số lượng góp phần
quan trọng để chúng ta tiến hành xây dựng và phát triển đất nước.Tuy nhiên bên
Nhóm 2
6
cạnh những mặt đã đạt được thì chúng ta cũng mắc phải không ít sai lầm trong
quản lí thu chi ngân sách gây ra tình trạng thâm hụt ngân sách khá nghiêm trọng
trong những năm qua.Việc bao cấp tràn lan, đầu tư dàn trải không có hiệu quả,
thêm vào đó là năng lực quản lí ngân sách còn nhiều bất cập, chưa thực sự minh
bạch và khoa học là những nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng thu không đủ
chi, rất nhiều công trình xậy dựng xong không thể sử dụng được gây lãng phí rất
nhiều tiền của Nhà nước và nhân dân.Chính vì vậy mà đòi hỏi Nhà nước ta cần
phải có những biện pháp thực sự hiệu quả trong quản lí thu chi ngân sách để từ đó
hạn chế rồi dần dần tiến tới xoá bỏ tình trạng bội chi ngân sách Nhà nước.
1.2.2: Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội
Mục tiêu chủ yếu trong đường lối phát triển kinh tế ở nước ta là làm cho dân
giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.Và để đạt được mục tiêu tốt
đẹp ấy thì Nhà nước ta đã thực thi rất nhiều biện pháp quan trọng.Một trong những
chính sách ấy là tiến hành xây dựng rất nhiều công trình công cộng phục vụ nhu
cầu đời sống của nhân dân như: điện, đường, trường, trạm… đây là những công
trình hết sức thiết thực và cần thiết nhưng để xây dựng được thì chúng ta cần phải
có một lượng vốn lớn.Trong những năm đầu của quá trình cải cách mở cửa thì việc
huy động vốn của nước ta gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại, chính vì lẽ đó mà ta
luôn lâm vào tình trạng thu không đủ chi, điều này về lâu về dài sẽ gây ra những
ảnh hưởng tiêu cực đến nên kinh tế đất nước.Nếu như chúng ta có những biện pháp
thu hút thêm nhiều nguồn vốn hơn nữa cả ở trong và ngoài nước, tiến hành việc
xây dựng một cách có trọng điểm, chật lượng, tiết kiệm, hiệu quả đồng thời quản lí
nguồn ngân quỹ một cách chặt chẽ, khoa học.điều đó sẽ tăng nguồn thu cho
NSNN, mở rộng khả năng thu, chi cho ngân sách, giảm thiểu một cách tối đa tình
trạng thâm hụt ngân sách.
1.2.3: Mục tiêu, quan điểm chiến lược tài chính tiền tệ
Nhóm 2
7
Có thể nói chính sách tài chính quốc gia là một trong những chính sách quan
trọng nhất có ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định, phát triển của nền kinh tế đất
nước nói chung và bội chi NSNN nói riêng. Bằng việc cải tổ cơ bản chính sách tài
chính, cơ cấu thu chi ngân sách, chính sách thuế để tiến tới kiểm soát lạm phát, ổn
định giá cả, sức mua của đồng tiền, ổn định tình hình kinh tế xã hội.Ngoài ra chính
sách tài chính còn góp phần tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động,
nâng cao đời sống vật chất của nhân dân.
Trên cơ sở những mục tiêu đó thì chúng ta cần phải xây dựng chính sách tài
chính dựa trên những quan điểm sau:
- Tập trung chuyển hướng tư nền tài chính”động viên, tập trung”sang nền tài
chính tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính của các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế.
- Thực hiện cơ chế tài chính lành mạnh, không đơn thuần coi cân bằng ngân
sách là mục tiêu của chính sách tài chính.
- Để phân phối và sử dụng các nguồn tài chính có hiệu quả thì chính sách tài
chính cần xác định rõ các mục tiêu ưu tiên phát triển, đảm bảo khả năng trả nợ, thu
hút thêm vốn mới hơn nữa.
- Việc xây dựng và thực hiện chính sách tài chính cần đứng trên quan điểm hệ
thống, đặt trong mối quan hệ và đổi mới các chính sách, công cụ khác nh ư: chính
sách ngoại hối, chính sách lãi suất…nhằm tạo sức mạnh tổng hợp, tránh tình trạng
chồng chéo, triệt tiêu lẫn nhau.
- Quá trình xây dựng và phát triển chính sách tài chính ở nước ta còn đang
trong tình trạng thiếu kiến thức đầy đủ và kinh nghiệm quản lí tài chính còn yếu.
1.2.4: Xu hướng diễn biến tình hình kinh tế
Tình hình kinh tế cũng có những ảnh hưởng to lớn và sâu sắc đến quá trinh
thu chi NSNN. Nền kinh tế nước ta trong nhưng năm qua đã và đang có nhưng
chuyển biến hết sức to lớn và tích cực.
Nhóm 2
8
Hiện nay trên thế giới đang diễn ra quá trình hội nhập kinh tế hết sức nhanh
chóng, quá trình toàn cầu hoá đang phát triển mạnh mẽ, khoa học công nghệ, các
kỹ thuật hiện đại không ngừng được phát minh sáng chế, sự hợp tác cũng như sự
cạnh tranh đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, điều đó đòi hỏi chúng ta cần phải có
những chính sách tranh thủ được sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, thu hút thêm nữa
những nguồn vốn đầu tư, viện trợ từ nước ngoài để phục vụ cho sự nghiệp phát
triển đất nước, đồng thời bên cạnh đó thì chúng ta cũng cần phải phát huy nội lực
của bản thân mình, không để đối tác họ có cơ hội chèn ép, gây khó khăn cho ta.Có
như vậy thì chúng ta mới có thể làm chủ được nguồn tài chính cuả mình, phát huy
hiệu quả tối đa của hệ thống tài chính nước nhà.
1.2.5: Những nhân tố kĩ thuật, chuyên môn ảnh hưởng đến cách xác định
mức bội chi ngân sách Nhà nước
Những tác động của bội chi ngân sách đến nền kinh tế là rất to lớn, nhưng để
xác định được một mức bội chi chính xác không phải là một điều dễ dàng.
- Ta thấy là khi lãi suất càng cao và tăng trưởng càng thấp thì làm cho mức
chênh lệch giữa lãi suất và tăng trưởng càng cao, hoặc khi tổng dư nợ càng nhiều
thì giá trị của thâm hụt ngân sách bậc một càng nhỏ dần lại thậm chí phải có thặng
dư và số thặng dư này phải cao dần mới đảm bảo duy trì được sự ổn định của tỷ
suất nợ trên GDP.
- Trong điều kiện có lạm phát thì nhìn chung lạm phát càng cao thì gánh nặng
nợ càng nhẹ.Tuy nhiên cái giá của việc sử dụng lạm phát không phải là nhỏ. Bởi vì
khi mà nền kinh tế có một mức lạm phát cao trong nhiều năm thì sẽ dẫn đến tăng
lãi suất từ đó sẽ gây ra tình trạng suy thoái kinh tế và thất nghiệp gia tăng.Theo
thời gian thì lạm phát sẽ làm tăng những khoản nợ nước ngoài, suy giảm sức cạnh
tranh quốc tế của những hàng hoá sản xuất trong nước, gây ra sự dịch chuyển thu
nhập từ người cho vay sang người đi vay một cách không bình thường và sẽ làm
giảm lòng tin của người dân vào chính phủ.
Nhóm 2
9
Như vậy dù muốn hay không muốn thì những nhân tố ảnh hưởng đến cách
xác định bội chi ngân sách vẫn luôn tồn tại và gây ra những tác hại không nhỏ,
chúng ta cần phải có những biện pháp làm hạn chế một cách tối đa những tác hại
mà chúng gây ra.
1.3 Ảnh hưởng của bội chi ngân sách nhà nước
Ảnh hưởng lạm phát: Tình trạng bội chi NSNN có những ảnh hưởng hết sức
rộng lớn trên tất cả các lĩnh vực, các hoạt động kinh tế xã hội. Việc thâm hụt
NSNN ở mức độ cao và kéo dài sẽ làm cho Nhà nước phải tìm cách tăng các
khoản thu, như vậy sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế-xã hội của
người dân. Về cơ bản, hầu hết Chính phủ các nước đều dùng các biện pháp để khắc
phục bội chi NSNN như: Vay trong nước, vay nước ngoài hoặc phát hành tiền. Tùy
vào từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể mà các nguồn bù đắp bội chi được sử dụng
riêng rẽ hay kết hợp nhưng tất cả các biện pháp trên đều tác động lên nên kinh tế
của đất nước.
Khi chính phủ khắc phục bội chi NSNN bằng cách phát hành trái phiếu thì
chính phủ cũng phải trả tiền nợ gốc và lãi trái phiếu trong tương lai, như vậy sẽ
phải gây áp lực lên xã hội bằng việc tăng thuế. Bằng cách này bội chi NSNN
không gây lạm phát và đặc biệt trong trường hợp bội chi được tài trợ từ các dự án
đầu tư sinh lợi thì nó lại có động lực cho sự phát triển của nền kinh tế trong dài
hạn.
Khi chính phủ sử dụng giải pháp phát hành tiền thì ngay lập tức làm cho
lượng tiền cung ứng trong lưu thông tăng. Cung tiền tăng là một yếu tố quan trọng
làm tăng tổng cầu. Trong bối cảnh suy thoái kinh tế, tăng cung tiền có tác dụng
kích thích nền kinh tế, thúc đẩy tiến tới mức tiềm năng, ảnh hưởng lạm phát là tối
thiểu. Tuy nhiên bội chi kéo dài trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng phát hành tiền sẽ
gây ra lạm phát cao, rất nguy hại cho nền kinh tế.
Nhóm 2
10
Nợ quốc gia và những bất ổn trong nền kinh tế: Quy mô nợ công của Chính
phủ tùy thuộc vào số nợ vay là để tài trợ cho tiêu dùng hay đầu tư đó. Nếu chính
phủ chấp nhận bội chi để tài trợ cho các dự án có hiệu quả, có khả năng sinh lời
trong dài hạn thì chính lợi tức từ dự án lại tạo ra và làm tăng nguồn thu trong dài
hạn cho NSNN và từ đó giúp Nhà nước chi trả được nợ gốc và lãi cho các khoản
vay tài trợ bội chi trong quá khứ. Trường hợp bội chi NSNN được sử dụng cho
mục đích tiêu dùng tức thời thì phần lớn ảnh hưởng của nó chỉ tác động đến tổng
cầu trong ngắn hạn và trong dài hạn nó không tạo ra một nguồn thu tiềm năng cho
ngân sách mà chính nó làm nặng nề hơn khoản nợ công trong tương lai.
Thâm hụt cán cân thương mại: Bù đắp bội chi NSNN bằng cách tăng vay nợ
góp phần làm tăng lãi suất, sẽ ảnh hưởng bất lợi đến cán cân thanh toán thương
mại quốc tế. Lãi suất thị trường trong nước sẽ tăng lên cao so với các đồng tiền của
các nước khác trên thế giới thì người nước ngoài sẽ tìm cách kiếm đồng nội tệ của
nước có bội chi để mua các chứng khoán chính phủ và các tài sản tài chính khác
dẫn đến tình trạng nhập siêu ở nước có ngân sách bội chi lớn.
1.4 Các biện pháp cân đối ngân sách nhà nước
- Trước hết là nhóm giải pháp chống thất thu ngân sách. Cụ thể, cần tăng
cường thanh tra, kiểm tra, kiểm toán để chống thất thu ngân sách Nhà nước; Xử lý
nghiêm việc trốn thuế, nợ đọng thuế, kiểm tra chống các hành vi chuyển giá, buôn
lậu, tăng cường chế tài thực thi nghiêm pháp luật về thuế.
- Thứ hai là tiết kiệm chi. Phải mạnh dạn và kiên quyết cắt bỏ các khoản chi
không thực sự cần thiết, thực hành tiết kiệm chống lãng phí, tham nhũng trong chi
tiêu ngân sách. Đương nhiên vẫn nỗ lực để đảm bảo các khoản chi trong dự toán
được duyệt.
- Thứ ba là giải pháp để kích thích tiêu dùng, kích thích sản xuất kinh doanh,
tiến tới tạo đà tăng trưởng kinh tế. Việc rà soát tình hình thực hiện các chính sách
giãn, hoãn, miễn giảm thuế là rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Từ đó có thể
Nhóm 2
11
xem xét tỷ lệ động viên phù hợp để nuôi dưỡng nguồn thu, kích thích sản xuất kinh
doanh phát triển, đảm bảo cân đối ngân sách.
PHẦN II: THỰC TRẠNG BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ NHẰM CÂN ĐỐI NSNN.
2.1. Thực trạng bội chi NSNN giai đoạn 2010 – 2015
2.1.1. Tình hình bội chi NSNN giai đoạn 2010 – 2015
Trong những năm 2010 – 2015, tỷ lệ thâm hụt ngân sách ở Việt Nam luôn
nằm ở ngưỡng trên dưới 5,5% GDP và có xu hướng không ổn định. Đây là một tỷ
lệ rất cao. Theo kinh nghiệm quốc tế thì trong điều kiện bình thường, thâm hụt
ngân sách ở mức 3% GDP được coi là đáng lo ngại, còn ở mức 5,5% GDP thì bị
xem là đáng báo động.
Tình hình thu chi NSNN giai đoạn 2010 – 2015
Đơn vị: tỷ đồng
Năm
2010
2011
2012
2013
2014
2015
Tổng thu
Tổng chi
cân đối NSNN
461.500
962.982
1.038.451
1.084.064
782.7
996.870
cân đối NSNN
582.200
1.034.244
1.170.924
1.277.710
1.006.700
1.262.870
Thâm
hụt NSNN
120.700
112.034
173.815
236.769
224.000
266.000
Tỷ lệ bội chi
NSNN so với GDP
6.2%
4,4%
5,36%
6,6%
5,3%
5,71%
Năm 2011 được xem là năm nhà nước thay đổi công tác điều hành, ngay từ
đầu năm Chính phủ đã ban hành và triển khai quyết liệt Nghị quyết 11 nên kết quả
thu ngân sách năm 2011 vượt kế hoạch 21,3%. Về chi, theo báo cáo của Chính phủ,
tổng số chi 1.034.244 tỷ đồng. Nhờ tăng thu NSNN nên đã giảm bội chi từ 6,2%
GDP theo Nghị quyết của Quốc hội xuống còn 4,4%, đây là một động thái tích cực.
Tuy nhiên, mặc dù giảm bội chi song các khoản chi ứng trước, nợ tạm ứng, thiếu
Nhóm 2
12
hụt nguồn hoàn thuế đã làm cho kết quả giảm bội chi không có nhiều ý nghĩa về tài
khoá.
Bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2012 theo báo cáo quyết toán là
173.815 tỷ đồng (5,36% GDP). Theo đó, tổng thu NSNN năm 2012 là 1.038.451 tỷ
đồng, tăng 1,9% so với dự toán, Tổng chi NSNN năm 2012 là 1.170.924 tỷ đồng,
tăng 8,3% so với dự toán. Chi thường xuyên vẫn còn lãng phí, chi sai chế độ quy
định, không đúng mục đích đang có dấu hiệu gia tăng tại các địa phương. Nguyên
nhân là do thâm hụt ngân sách và nợ công tăng ở nhiều nước EU, Mỹ, Nhật Bản,
đe dọa đến sự ổn định của nền kinh tế thế giới.
Ở trong nước, bên cạnh các giải pháp, chính sách về kiềm chế lạm phát, ổn
định kinh tế vĩ mô đã bước đầu phát huy hiệu quả. Bội chi NSNN giảm dần, xuất
khẩu tăng nhanh cũng góp phần làm giảm nhập siêu, cân bằng cán cân thanh toán
quốc tế và tăng dự trữ ngoại hối, tuy nhiên, kinh tế vĩ mô ở nước ta chưa thực sự
ổn định; lạm phát và lãi suất đang còn ở mức cao, ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất
và đời sống nhân dân; Hoạt động đầu tư kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và
vừa đang gặp nhiều khó khăn; Thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản
hoạt động trì trệ. Thiên tai, bão lũ, dịch bệnh vẫn là những yếu tố phức tạp, khó
lường.
Mức bội chi ngân sách năm 2013 là 236.769 tỷ đồng, bằng 6,6% tổng sản
phẩm trong nước (GDP). Tổng số thu cân đối ngân sách nhà nước là 1.084.064 tỷ
đồng, bao gồm cả số thu chuyển nguồn từ năm 2012 sang năm 2013, thu kết dư
ngân sách địa phương năm 2012, thu huy động đầu tư của ngân sách địa phương và
thu từ quỹ dự trữ tài chính theo quy định của Luật ngân sách nhà nước. Tổng số chi
cân đối ngân sách nhà nước là 1.277.710 tỷ đồng, bao gồm cả số chi chuyển nguồn
từ năm 2013 sang năm 2014. Đây được gọi là sự vỡ kế hoạch. Nguyên nhân là do
thế giới có sự suy giảm nguồn vốn FDI; suy thoái kinh tế toàn cầu vẫn diễn ra; thị
trường tài chính vẫn tiềm ẩn những tác động tiêu cực đối với các nền kinh tế đang
Nhóm 2
13
phát triển do việc các nền kinh tế phát triển sẽ rút bỏ dần các biện pháp nới lỏng
định lượng. Ở trong nước, bên cạnh việc cơ bản đã kiềm chế được lạm phát; các
chính sách hỗ trợ sản xuất – kinh doanh đã bắt đầu phát huy tác dụng; lãi suất hạ
nhiệt thúc đẩy hoạt động tín dụng cho doanh nghiệp và dân cư; sản xuất công
nghiệp đã dần phục hồi thì chính sự thiếu ổn định về cán cân vĩ mô, sức cầu nền
kinh tế còn yếu đã gây ra tình trạng bội chi NSNN. Thêm vào đó là tình trạng tồn
kho, đặc biệt là tồn kho bất động sản và vật liệu xây dựng lớn.Sức cạnh trang hàng
hóa ngày càng khắc nghiệt và chịu sự tác động của các yêu tố mang tính toàn cầu
như suy giảm luồn vốn FDI, suy thoái kinh tế toàn cầu và khủng hoảng tài chính.
Mặt khác do dự toán xây dựng cao so với khả năng thực thiện đã gây ra tình
trạng bội chi vỡ kế hoạch vào năm 2013; Ngoài ra, năm 2013 chính phủ thực hiện
các chính sách miễn giảm thuế để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp nên
cũng góp phần làm giảm số thu NSNN. Thêm vào đó, mức tăng trưởng kinh tế tuy
cao hơn hẳn năm 2012 nhưng vẫn chưa đạt kế hoạch; việc hoàn thiện thể chế chính
sách về thâm hụt NSNN còn có chỗ chưa chặt chẽ.Việc quản lý điều hành cũng có
lúc chưa hiệu quả nên một số đối tượng lợi dụng, gian lận và trốn lậu thuế.
Năm 2014 dự toán bội chi ngân sách do Bộ Tài chính đưa ra là 224.000 tỷ
đồng, bằng 5,3% GDP. Tổng thu cân đối ngân sách năm 2014 là 782.700 tỷ đồng.
Trong đó, thu nội địa chiếm 539.000 tỷ, từ dầu thô 85.200 tỷ, thu cân đối từ hoạt
động xuất nhập khẩu 154.000 tỷ và thu viện trợ là 4.500 tỷ. Bên cạnh đó, mức chi
dự toán được đưa ra là 1,0067 triệu tỷ đồng, bao gồm: chi đầu tư phát triển là
163.000 tỷ, chi trả nợ và viên trợ là 120.000 tỷ, chi phát triển sự nghiệp là 704.400
tỷ. Dự toán bội chi ước đạt 5,3%GDP.
Nguyên nhân một phần do kinh tế toàn cầu đã bước vào giai đoạn ổn định hơn
dù tốc độ tăng trưởng vẫn còn thấp. Thị trường tài chính bớt rủi ro hơn mặc dù vẫn
tiềm ẩn những tác động tiêu cực đối với các nền kinh tế đang phát triển do việc các
nền kinh tế phát triển sẽ rút bỏ dần các biện pháp nới lỏng định lượng; Tình hình
Nhóm 2
14
lạm phát nhìn chung vẫn được kiểm soát do giá cả hàng hóa quốc tế đang có xu
hướng giảm. Đối với trong nước: Bên cạnh sự phục hồi của nền kinh tế; các chính
sẽ tháo gỡ khó khăn cho sản xuất – kinh doanh thúc đẩy tổng cầu trong năm 2013
đã phát huy tác dụng và tiếp tục có ảnh hưởng tích cực trong năm 2014; dòng vốn
được khơi thông sẽ đẩy nhanh hơn tốc độ phục hồi sản xuất; Quá trình hội nhập
quốc tế sâu rộng hơn với việc tham gia đàm phán các hiệp định thương mại tự do:
EPA, TPP, EU thì sự tăng trưởng kinh tế có nhiều khả năng sẽ phục hồi nhưng
chưa vững chắc; sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp trong bố cảnh hội nhập
quốc tế ngày càng sâu rộng và cạnh tranh ngày càng gay gắt; Năm 2014, cũng là
năm tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao do tác động độ trễ của những chính sách tháo gỡ
khó khăn sản xuất kinh doanh năm 2013, dòng vốn được lưu thông trở lại.
Năm 2015, thu ngân sách Nhà nước (NSNN) 1.006.870 tỷ đồng, chi NSNN
1.262.870 tỷ đồng và theo đó bội chi NSNN 266.000 tỷ đồng, tương đương 5,71%
GDP.
Có thể nói, theo giới hạn mà Quốc hội đề ra, bội chi NSNN tối đa được phép
là 5% GDP/năm. Nhưng trên thực tế rất khó để thực hiện đúng được quy định
đó.Vấn đề thực sự là với nền tài khóa quốc gia như hiện nay, nếu bội chi ngân sách
cứ luôn vượt quá 5% GDP trong một thời gian dài sẽ nguy hiểm. Điều này có khiến
cho thị trường hiểu rằng đang không có sự thống nhất giữa chủ trương và thực thi
chính sách của Chính phủ, làm giảm niềm tin của thị trường, gây sức ép rất lớn lên
việc điều hành kinh tế vĩ mô.
2.1.2: Nguyên nhân dẫn đến bội chi ngân sách
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra bội chi ngân sách nhà nước(NSNN) nhưng ta
có thể phân ra hai nhóm nguyên nhân cơ bản như sau:
- Nhóm nguyên nhân thứ nhất là do tác động của chu kỳ kinh tế. Mức bội chi
Ngân sách Nhà nước do nhóm nguyên nhân này gây ra được gọi là bội chi chu kỳ
bởi vì nó phụ thuộc vào giai đoạn của nền kinh tế đó. Nếu nền kinh tế đang trong
Nhóm 2
15
giai đoạn phồn thịnh thì thu Ngân sách Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi Ngân
sách Nhà nước không phải tăng tương ứng. Điều đó làm giảm mức bội chi NSNN.
Và ngược lại, nếu nền kinh tế đang trong giai đoạn khủng hoảng thì sẽ làm cho thu
nhập của Nhà nước giảm đi, nhưng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước lại tăng lên do
giải quyết những khó khăn mới của nền kinh tế và xã hội.
- Nhóm nguyên nhân thứ hai là tác động của chính sách cơ cấu thu chi ngân
sách của Nhà nước. Ở nhóm nguyên nhân này mức bội chi được gọi là bội chi cơ
cấu. Khi Nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ
làm tăng mức bội chi NSNN. Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu
dùng của Nhà nước thì mức bội chi NSNN sẽ giảm bớt.
Ngoài ra còn 1 số nguyên nhân khác như:
-Do quản lý và điều hành NSNN bất hợp lý. Quản lý và điều hành NSNN bất
hợp lý được thể hiện qua việc đánh giá và khai thác nguồn thu chưa tốt; phân bổ và
sự dụng NSNN còn nhiều bất cập, gây thất thoát, lãng phí nguồn lực tài chính nhà
nước; phân cấp quản lý NSNN chưa khuyến khích địa phương nỗ lực trong khai
thác nguồn thu và phân bổ chi tiêu hiệu quả. Kết quả là thu NSNN không đủ để
trang trải nhu cầu chi tiêu.
-Thiên tai, tình hình bất ổn của an ninh thế giới. Tình hình bất ổn của an ninh
thế giới và diễn biến phức tạp của thiên tai sẽ làm gia tăng nhu cầu chi cho quốc
phòng an ninh trật tư xã hội, gia tăng nhu cầu chi NSNN để khắc phục hậu quả của
thiên tai.
-Do kinh tế suy thoái mang tính chu kỳ. Kinh tế suy thoái sẽ làm cho nguồn
thu NSNN sút giảm, nhu cầu chi tiêu gia tăng ( trợ cấp xã hội, những khoản chi để
phục hồi nền kinh tế), kết quả NSNN có thể bị bội chi.
2.2 Ưu điểm, nhược điểm trong quản lý NSNN
2.2.1. Ưu điểm trong quản lý nhà nước về bội chi ngân sách
Nhóm 2
16
Quản lý bội chi ngân sách trong thời gian qua đã đáp ứng được nhu cầu điều
hành vĩ mô, góp phần ổn định và lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia. Mức độ
bội chi ngân sách luôn được kiềm chế ở mức độ hợp lí trên tổng GDP đã góp phần
quan trọng trong việc giúp Nhà nước kiểm soát tốt hơn công việc thu chi của mình.
Nhà nước ta đã có những chính sách khá hiệu quả trong việc quản lí ngân
sách của mình, giảm thiểu một cách đáng kể tình trạng bội chi NSNN. NSNN được
cân đối dựa trên các nguyên tắc như:
-Tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp
phần tích lũy ngày càng cao vào chi đầu tư phát triển, trường hợp còn bội chi, thì
số bội chi phải nhỏ hơn chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách.
Nguyên tắc này đã phân định ranh giới giữa chi đầu tư phát triển và chi thường
xuyên, thể hiện sự thận trọng trong chính sách tài khóa của Việt Nam. Các khoản
thu thường xuyên được sử dụng để trang trải chi thường xuyên đã được điều chỉnh
một cách thích hợp, tiết kiệm một cách tối đa nhưng vẫn đảm bảo được hiệu quả
tốt nhất để rồi từ đó tạo tích luỹ nội bộ NSNN cho đầu tư phát triển. Trong đó, chi
đầu tư phát triển đảm bảo được sự cân đối giữa chi đầu tư phát triển và chi thường
xuyên, vì giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau trong chi tiêu công của
nhà nước. Tuy nhiên, tiến hành đầu tư có trọng điểm, tránh tình trạng dàn trải
không có mục đích rõ ràng.
-Bội chi NSNN nước được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và nước ngoài.
Vay bù đắp bội chi ngân sách nhà nước phải đảm bảo nguyên tắc không sử dụng
cho tiêu dùng, được sử dụng cho mục đích phát triển và đảm bảo bố trí ngân sách
để chủ động tra hết nợ khi đến hạn. Chi cho tiêu dùng là hoạt động chi không mang
tính chất thu hồi vốn và không tạo thặng dư, do đó nguồn vay bù đắp bội chi chỉ để
dành cho mục đích phát triển.
Ngân sách địa phương được cân đối với tổng số chi không vượt quá tổng số
thu; trường hợp tỉnh thành phố trực thuộc trung ương có nhu cầu đầu tư xây dựng
Nhóm 2
17
công trình kết cấu hạ tầng thuộc pham vi ngân sách cấp tỉnh bảo đảm, thuộc danh
mục đầu tư trong kế hạch 5 năm đã được hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định,
nhưng không vượt quá khả năng cân đối của ngân sách cấp tỉnh năm dự toán, thì
được phép huy động vốn không quá 30% vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong nước
hàng năm của ngân sách cấp tỉnh. Nguyên tắc này đã tạo cho chính quyền địa
phương có được nhiều ưu thế hơn trong quá trình quyết định ngân sách cấp mình.
Vấn đề cho phép cấp tỉnh vay nợ là cần thiết, giúp cho chính quyền địa phương có
thể chủ động hơn trong việc tạo ra những điều kiện về cơ sở vật chất hạ tầng để
phát triển kinh tế và đảm bảo vấn đề xã hội của địa phương mình.
Ngân sách Nhà nước đã từng bước cơ cấu lại theo hướng giảm thiểu tối đa
tình trạng bao cấp tràn lan, Nhà nước chỉ quản lí nền kinh tế ở tầm vĩ mô chứ
không can thiệp, trợ cấp cho các doanh nghiệp như trước đây nữa, để cho họ tự chủ
hơn trong công việc làm ăn kinh doanh của mình, đồng thời có chính sách ưu tiên
phát triển một số lĩnh vực mà Nhà nước cần can thiệp như giáo dục đào tạo, y tế
toàn dân, phát triển khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường.
2.2.2 Nhược điểm của việc quản lí bội chi ngân sách
Đất nước ta vẫn còn nghèo, nền kinh tế vẫn đang trong quá trình bước đầu
phát triển, quy mô nền kinh tế vẫn còn nhỏ, trong khi đó nhu cầu chi tiêu cho việc
xây dựng cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật, tiến hành công nghiệp hoá hiện đại
hoá…rất lớn. Thêm vào đó các doanh nghiệp của nước ta hoạt động còn manh
mún, nhỏ lẻ chưa tạo thành một khối liên kết vững chắc do đó mà chưa tạo được
sức mạnh to lớn để có thể chiếm lĩnh thị trường nước ngoài.Mặt khác do trình độ
của chúng ta hiện nay có hạn nên hiệu quả trong sản xuất kinh doanh không cao,
hàng hoá của nước ta còn kém chất lượng, chủng loại, mẫu mã còn chưa được
phong phú, điều đó khiến cho hàng hoá của nước ta nhiều khi không thế cạnh tranh
nổi với hàng hoá nước ngoài, thậm chí là ở ngay trong nước mình, chính vì vậy mà
Nhóm 2
18
nhiều doanh nghiệp đã không thể trụ vững trên thị trường dẫn đến phá sản, sản
xuất gặp nhiều khó khăn,
Nguồn thu ngân sách của chúng ta không thưc sự vững chắc, bị động, một số
nguồn thu lớn lại phụ thuộc vào giá cả thị trường thế giới (thu từ dầu thô, thuế xuất
nhập khẩu …) điều đó đã gây khó khăn không nhỏ, tác động mạnh mẽ đến tình
hình bội chi ngân sách ở nước ta trong thơi gian tới.
Việc tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN, nhất là gần đây đất nước
ta đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, điều đó sẽ dẫn đến việc chúng ta
sẽ phải tiến hành cắt giảm thuế của rất nhiều mặt hàng mà ta đã cam kết khi tham
gia vào những tổ chức, diễn đàn này.Trong đó có những mặt hàng mà đã từ nhiều
năm nay đem lại một nguồn thu không nhỏ cho ngân sách Nhà nước.Trong tình
hình này sẽ khiến cho nguồn thu ngân sách Nhà nước bị giảm đáng kể, gây khó
khăn cho việc chi tiêu của Nhà nước trong tương lai.
Tình trạng thất thu, trốn thuế, kiểm soát nguồn thu thiếu chặt chẽ, buông lỏng
trong công tác giám sát kiểm tra, giám sát việc thu chi ngân sách cũng là nguyên
nhân tác động xấu đến bội chi ngân sách Nhà nước.
Lãi xuất vay trong thời gian qua còn cao, thời gian vay còn ngắn, ít có những
khoản vay dài hạn, trong khi đó nhiều khoản vay được dùng để xây dựng đầu tư cơ
bản với thời gian thu hồi vốn lâu đã gây khó khăn cho công tác thu ngân sách.
Mặt khác thì còn có nhiều dự án đầu tư không mang lại hiệu qu ả, nhiều chủ
dự án không có khả năng trả nợ, tình trạng tham ô, tham nhũng ở nhiều cấp, nhiều
lĩnh vực còn diễn ra phổ biến cũng là những nguyên nhân gây thất thoát lãng phí
trong việc sử dụng nguồn ngân sách Nhà nước.
Đối với những khoản vay nước ngoài, mặc dù được ưu đãivới lãi suất thấp,
thời gian vay dài hạn với khối lượng tương đối lớn, tuy nhiên đây là những khoản
vay theo chương trình, theo những điều khoản đã được định sẵn trong các hợp
đồng vay nợ mà bên đối tác đưa ra, vì vậy mà nếu như ta không có sự chuẩn bị kỹ
Nhóm 2
19
càng, xem xét kĩ tính khả thi của từng dự án, thẩm định, duyệt dự án một cách rõ
ràng thì có thể gây ra hiệu quả không được như mong đợi.gây thất thoát cho nguồn
ngân sách.
Vấn đề phương thức cân đối ngân sách Nhà nước hiện nay, thì tình trạng ngân
sách trung ương còn cân đối hộ ngân sách địa phương bằng những chỉ tiêu, những
định mức quy định cho từng địa phương.Chính điều này đã làm mất đi tính sáng
tạo chủ động trong hoạt động thu, chi của các địa phương.Khiến họ phải luôn rập
khuân máy móc, khó có thể tìm ra lối đi nào là thích hợp với địa phương mình
trong việc thu chi ngân sách.
Mặt khác hiện vẫn còn để mục chi trả nợ gốc trong cân đối thu, chi ngân sách
Nhà nước, phản ánh sai bản chất các nghiệp vụ tài chính ngân sách, khiến cho các
công đoạn thủ tục còn rườm rà gây chậm trễ trong việc thu, chi ngân sách.
2.3: Một số kiến nghị và giải pháp khắc phục tình trạng bội chi NSNN
2.3.1: Phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách
Phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách có nhược điểm là chứa đựng nguy
cơ lạm phát, có tác động tiêu cực đến mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội. Thực tế đã cho chúng ta đã có những bài học quý giá về việc phát hành
tiền quá dễ dãi để bù đắp bội chi NSNN đã gây ra lạm phát cao trong thập niên 80.
Từ 1/4/1990 chúng ta đã thành lập hệ thống kho bạc nhà nước trực thuộc bộ tài
chính ( người chịu trách nhiệm về bội chi NSNN) độc lập với ngân hàng Nhà nước
( người chịu trách nhiệm về phát hành tiền vào trong lưu thông) được xem là một
cuộc cách mạng cơ cấu nhằm tách chức năng quản lí quỹ NSNN ra khỏi trức năng
phát hành tiền, tránh được tình trạng “mang tiền túi nọ bỏ túi kia”. Cơ chế đó đã
góp phần tích cực trong việc kiềm chế bội chi và lạm phát trong những năm qua.
Thực tế thì trong những năm qua Nhà nước ta đã không phát hành tiền để trang trải
thâm hụt ngân sách nữa mà thay vào đó là phát hành tín phiếu, trái phiếu kho bạc
Nhóm 2
20
Nhà nước và vay nợ nước ngoài để bù đắp bội chi, những việc làm này cũng góp
phần tích cực trong việc kiềm chế lạm phát.
Tuy nhiên trong điều kiện nền kinh tế ở vào trạng thái suy thoái, mức độ lạm
phát không cao, vật giá không leo thang thì khi đó phát hành tiền cần phải được
chủ động tiến hành nhằm mục tiêu trước mắt đó là có tiền để trang trải các chương
trình đầu tư phát triền, có tiền để tăng lương theo đúng kế hoạch, bù đắp bội chi
ngân sách nhà nước. Sau nữa việc phát hành tiền ở mức độ và hợp thời điểm sẽ tạo
ra mức lạm phát nhẹ, từ đó kích tiêu dùng, giảm gánh nặng về nghĩa vụ trả nợ của
Nhà nước, thúc đẩy kinh tế phát triển. Nhất là nếu chủ động một phần (15-20%)
nguồn vốn phát hành cho đầu tư cơ sở hạ tầng sẽ có tác dụng rất tốt đối cới nền
kinh tế, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế đang bị suy thoái.
2.3.2: Vay để bù đắp thâm hụt ngân sách Nhà nước:
Bao gồm có vay trong nước và vay nước ngoài
a. Vay nợ trong nước
Được Chính phủ thực hiện dưới hình thức phát hành công trái, trái phiếu.
Công trái, trái phiếu là những chứng chỉ ghi nhận nơ của nhà nước, là một loại
chứng khoán hay trái khoán do nhà nước phát hành để vay các cá nhân, tổ chức xã
hội hay các ngân hàng. Ở Việt Nam, chính phủ thường ủy nhiệm cho kho bạc nhà
nước phát hành trái phiếu dưới các hình thức tín phiếu kho bạc và trái phiếu kho
bạc, trái phiếu công trình.
Ưu điểm: Đây là biện pháp cho phép chính phủ có thể giảm bội chi ngân sách
mà không cần phải tăng cơ sở tiền tệ hoặc giảm dự trữ quốc tế. Vì vậy, biện pháp
này được coi là biện pháp hiệu quả để kiềm chế lạm phát.
Nhược điểm: Việc khắc phục bôi chi NSNN bằng nợ tuy không gây ra lạm
phát trước mắt nhưng nó lại có thêt làm tăng áp lực lạm phát trong tương lai nếu
như tỉ lệ nợ trong GDP liên tục tăng. Thứ nữa, việc vay từ dân trực tiếp sẽ làm
Nhóm 2
21
giảm khả năng khu vực tư nhân trong việc tiếp cận tín dụng và sức ép làm tăng lãi
suất trong nước.
b. Vay nước ngoài
Chính phủ có thể giảm bội chi ngân sách bằng các nguồn vốn nước ngoài
thông qua việc nhận viện trợ nước ngoài hoặc vay nợ nước ngoài từ các chính phủ
nước ngoài, các định chế tài chính thế giới như Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền
tệ quốc tế (IMF) Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), các tổ chức liên chính phut,
tổ chức quốc tế…
Viện trợ nước ngoài là nguồn phát triển của các chính phủ, các tổ chức nhằm
thực hiện các chương trình hợp tác phát triền kinh tế xã hội và hiện nay chủ yếu là
nguồn vốn phát triển ODA.
Ưu điểm: đây là một biện pháp giảm bội chi ngân sách hữu hiệu, có thể bù
đắp được các khoản bội chi mà không gây sức ép lạm phát cho nền kinh tế. Nguồn
vốn quan trọng bổ sung cho nguồn vốn thiếu hụt trong nước, góp phần thúc đẩy
kinh tế xã hội.
Nhược điểm: gánh nặng nợ nần, nghĩa vụ trả nợ tăng lên, giảm khả năng chi
tiêu cho chính phủ. Đồng thời nó dễ khiến cho nền kinh tế bị phụ thuộc vào nước
ngoài. Thậm chí, nhiều khoản vay, khoản viện trợ còn đòi hỏi kèm theo đó là các
điều kiện về chính trị, quân sự, kinh tế cho các nước đi vay bị phụ thuộc.
2.3.3 Bù đắp sự thiếu hụt ngân sách bằng biện pháp tăng thuế
Tăng thuế bằng biện pháp trực tiếp tăng thuế suất là giải pháp khó triển khai
và tốn kém. Mặc dù nhà nước hoàn toàn có quyền tăng hoặc ban hành thêm thuế
mới để tạo nguồn bù đắp bội chi ngân sách. Tuy nhiên cần tính tác động nhiều
chiều của giải pháp này. Trên thực tế tăng thuế là biện pháp không mấy dễ áp dụng
và tốn kém. Tăng thuế có khả thi hay không còn phụ thuộc vào sức chịu đựng của
nền kinh tế sự hiệu quả của hệ thống thu, phụ thuộc và hiệu suất của từng sắc thuế.
Trong thời kì nền kinh tế suy thoái, hoạt động kinh tế mờ nhạt thì việc tăng thuế
Nhóm 2
22
không những không khả thi mà còn làm cản trở của hoạt động sản xuất kinh doanh,
tăng số lượng nợ đọng thuế của các doanh nghiệp, đẩy các doanh nghiệp lâm vào
tình trạng tài chính không lành mạnh và làm giảm nguồn thu ngân sách.
Nếu tăng thuế chỉ nhằm vào các giải pháp tăng thuế suất và ban hành thêm
các sắc thuế mới, nhất là tăng thuế trực thu thì về mặt lí thuyết là có thể tăng thu
ngay nhưng trên thực tế rất khó được áp dụng đúng đắn và khó có thêt đạt được
ngay kết quả. Hơn nữa nếu thuế suất quá cao còn dẫn đến tình trạng trốn lậu thuế,
tác động xấu đến môi trường kinh tế.
Tình hình thực tiễn ở nước ta cho thấy muốn tăng thu từ thuế cho NSNN, cần
triển khai mạnh mẽ các giải pháp nhằm hợp lí hóa và nâng cao hiệu quả của hệ
thống thuế, mở rộng diện thu thuế sẽ phù hợp với thực tế và có tính khả thi cao hơn
các giải pháp nhằm vào tăng thuế hoặc ban hành thêm các sắc thuế mới. Những
giải pháp nâng cao hiệu quả của hệ thống thuế bao gồm cải cách hình chính thuế
(bộ máy, quy trình, phương thức tổ chức thu thuế và hoàn thiện các sắc thuế)
2.3.4 Cắt giảm chi tiêu nhằm giảm thâm hụt NSNN
Cắt giảm chi tiêu với hi vọng làm giảm bội chi ngân sách là biện pháp “ tiêu
cực” xét dưới góc độ kinh tế học bởi vì Chính phủ sẽ cắt giảm chi tiêu thường
xuyên (chi lương, chi mua sắm trang thiết bị) thậm chí sẽ trì hoãn hoặc cắt giảm
chi đầu tư phát triển, như vậy sẽ thu hẹp khả năng tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ của
khu vực sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp sẽ không tiêu thụ thì sản phẩm sẽ tồn
đọng, kinh tế sẽ gặp khó khăn, sản xuất đình đốn.
Mặc dù việc cắt giảm chi tiêu là đúng song hiệu lực của những biện pháp cụ
thể đến đâu còn chưa chắc chắn do:
Thứ nhất: việc cắt giảm, thậm chí giãn tiến độ đầu tư công không hề dễ dàng,
nhất là khi những dự án này đã được các cơ quan lập các cấp quyết định, đã được
đưa vào quy định của các bộ ngành địa phương đã được triển khai và khi chúng
gắn với lợi ích thiết thân của những cơ quan liên quan đến dự án.
Nhóm 2
23
Thứ hai: Nhà nước hầu như không thể kiểm soát khoản đầu tư của DNNN
một mặt là do chính sách phân cấp trong quản lí đầu tư, và mặt khác là do một số
tập đoàn lớn đã tự thành lập ngân hàng riêng.
Thứ ba: Với tốc độ lạm phát nhanh như hiện nay thì chỉ cần giữ được tổng
đầu tư công theo đúng dự đoán cũng được coi là một thành tích đáng kể.
Thứ tư: Kinh nghiệm quốc tế cho thấy rằng việc giảm chi thường xuyên rất
khó khăn nên đây là hạng cuối cùng nằm trong danh sách cắt giảm.
KẾT LUẬN
Tóm lại thông qua nghiên cứu một cách khái quát nhất đề tài “Đánh giá tình
trạng bội chi NSNN ở Việt nam giai đoạn 2010 – 2015. Kiến nghị và các biện pháp
cân đối NSNN” Chúng ta có thể hiểu được thế nào là bội chi NSNN? Nguyên nhân
dẫn đến bội chi NSNN? Thực trạng bội chi NSNN ở nước ta hiện nay như thế nào.
Đề tài cho chúng ta thấy thực tế nền tài chính ở nước ta chư thực sự vững mạnh là
do nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân chủ yếu là do bộ máy quản lý chư thự sự
hiệu quả, ý thức tự giác tự nguyện của các đối tượng liên quan chưa cao do đó cần
phải khắc phục và tiến tới xóa bỏ tình trạng bội chi NSNN. Đề tài không đi sau vào
một lính vực nào mà chỉ xét trên góc đọ vĩ mô, tổng quan nhất để mọi người tự có
thể đánh giá theo những quan điểm riêng của mình về vấn đề bội chi NSNN.
Nhóm 2
24