ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KINH TẾ
BÀI TẬP NHÓM MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN CHUYÊN SÂU
ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG ĐÁNH BẮT – NUÔI TRỒNG
THỦY HẢI SẢN TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 – 2015
Hà Nội, 2017
Mục lục
THỰC TRẠNG NGHÀNH ĐÁNH BẮT - NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
TẠI VIỆT NAM 2010 – 2015
1. THỰC TRẠNG ĐÁNH BẮT – NUÔI TRÔNG THỦY SẢN TẠI VIỆT NAM
1.1.
Tình hình chung
Việt Nam nằm bên bờ Tây của Biển Đông, là một biển lớn của Thái Bình Dương,
có diện tích khoảng 3.448.000 km2, có bờ biển dài 3260 km. Vùng nội thuỷ và lãnh hải
rộng 226.000km2, vùng biển đặc quyền kinh tế rộng hơn 1 triệu km2 với hơn 4.000 hòn
đảo, tạo nên 12 vịnh, đầm phá với tổng diện tích 1.160km2 được che chắn tốt dễ trú đậu
tàu thuyền. Biển Việt Nam có tính đa dạng sinh học (ĐDSH) khá cao, cũng là nơi phát
sinh và phát tán của nhiều nhóm sinh vật biển vùng nhiệt đới ấn Độ - Thái Bình Dương
với chừng 11.000 loài sinh vật đã được phát hiện.
Nước ta với hệ thống sông ngòi dày đặc và có đường biển dài rất thuận lợi phát
triển hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản. Sản lượng thủy sản Việt Nam đã duy trì
tăng trưởng liên tục trong 17 năm qua với mức tăng bình quân là 9,07%/năm. Với chủ
trương thúc đẩy phát triển của chính phủ, hoạt động nuôi trồng thủy sản đã có những
bước phát triển mạnh, sản lượng liên tục tăng cao trong các năm qua, bình quân đạt
12,77%/năm, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng tổng sản lượng thủy sản của cả nước.
Trong khi đó, trước sự cạn kiệt dần của nguồn thủy sản tự nhiên và trình độ của
hoạt động khai thác đánh bắt chưa được cải thiện, sản lượng thủy sản từ hoạt động khai
thác tăng khá thấp trong các năm qua, với mức tăng bình quân 6,42%/năm.
1.2.
Hoạt động nuôi trồng thủy sản
Nước ta với hệ thống sông ngòi dày đặc và có đường biển dài hơn 3.260 km, nên
rất thuận lợi phát triển hoạt động nuôi trồng thủy sản. Đối với cá tra – basa: là loài cá
nước ngọt sống khắp lưu vực sông Mekong, ở những nơi mà nước sông không bị nhiểm
mặn từ biển. Với đặc tính này nên những tỉnh nằm dọc sông Tiền và sông Hậu thường rất
thuận lợi cho việc nuôi cá tra, basa. Hiện các tỉnh có sản lượng cá tra, basa lớn nhất là
Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Bến Tre. Sản lượng cá tra nguyên liệu năm
2014 đạt 1.190 nghìn tấn, trong đó có 5 tỉnh vừa nêu cũng là những tỉnh có sản lượng cá
tra lớn nhất (đều trên 100.000 tấn/năm), cung cấp trên 87% sản lượng cá tra chế biến của
cả nước.
Trong các năm qua, trước sức ép tăng giá của con giống, thức ăn, trong khi tín
dụng từ ngân hàng bị hạn chế, đầu ra cá nguyên liệu bấp bênh, giá cá tra giảm mạnh, các
hộ nuôi độc lập đã thua lỗ nặng và gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp tục đầu tư thả nuôi
mới. Trong khi đó, doanh nghiệp lại có nhu cầu cao nguồn cá có chất lượng, đảm bảo vệ
sinh an toàn thực phẩm và đạt các tiêu chuẩn chất lượng để được chấp nhận của các nhà
nhập khẩu. Điều này dẫn tới xu hướng nhiều doanh nghiệp thực hiện nuôi liên kết với hộ
nuôi hoặc tự đầu tư vùng
nuôi cho riêng mình nhằm
đảm bảo sự ổn định và chất
lượng nguồn cá nguyên
liệu. Theo ước tính có
khoảng 65% là từ đầu tư
của các doanh nghiệp.
Đối với tôm: là loài
sống phù hợp ở các vùng
nước lợ gần biển. Với đặc trưng này, Miền
Trung, Nam Trung Bộ (Khánh Hòa, Phú Yên,
Ninh Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu…), Đồng Bằng
Sông Cửu Long (Long An, Tiền Giang, Bến Tre,
Trà
Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau, Kiên Giang) là nơi tập
trung sản lượng tôm nuôi nhiều nhất cả nước.Do
là
loài chân khớp có thể trạng nhỏ, thân mềm, nên
công
tác nuôi tôm phức tạp và khó khăn hơn so với cá
tra,
basa. Tôm sú với đặc tính phức tạp hơn, thường
mất
khoảng 5 tháng từ lúc thả đến lúc thu hoạch, trong khi tôm chân trắng dễ thích nghi hơn
chỉ mất khoảng 3 tháng.
Từ năm 2011 đến nay, tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, chất lượng tôm không
đảm bảo, dịch bệnh trên tôm nuôi bắt đầu lan rộng, gây thiệt hại nặng, đặc biệt là tôm sú.
1.3.
Khai thác thủy sản
Năm 2012, số lượng tàu thuyền cả nước là 123.125 chiếc, tổng công suất đạt
khoảng 10 triệu CV, trong đó, tàu lắp máy có công suất dưới 20 CV là 60.252 chiếc,
chiếm 49%; tàu cá lắp máy có công suất từ 20 CV đến < 50 CV là 28.223 chiếc, chiếm
22,9%; tàu cá lắp máy có công suất từ 50 CV đến dưới 90 CV là 9.162 chiếc, tương ứng
7,4 %; tàu cá lắp máy có công suất từ 90 CV trở lên là 25.488 chiếc, chiếm 20,7 %. Tổng
sản lượng khai thác các mặt hàng hải sản hiện nay mỗi năm từ 2,5-2,7 triệu tấn.
Các nghề khai thác chủ yếu gồm: nghề lưới kéo, vây, rê, câu, nghề cố định và
nghề khác; nghề lưới kéo chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu nghề khai thác của cả nước
trên 18%; nghề lưới rê trên 37,9%; nghề câu 17,5%, trong đó nghề câu vàng cá ngừ đại
dương chiếm khoảng 4% trong họ nghề câu; nghề lưới vây chỉ trên 4,9%; nghề cố định
trên 0,3%; các nghề khác chiếm trên 13,1% (trong đó có tàu làm nghề thu mua hải sản).
1.4.
Các vùng hoạt động thủy sản mạnh trong nước
Hoạt động sản xuất, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam nằm rải rác dọc đất nước với sự đa
dạng về chủng loại thủy sản, nhưng có thể phân ra thành 5 vùng xuất khẩu lớn:
•
Vùng Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung: nuôi trồng thủy sản nước mặn
lợ, đặc biệt phát huy thế mạnh nuôi biển, tập trung vào một số đối tượng
chủ yếu như: tôm các loại, sò huyết, bào ngư, cá song, cá giò, cá hồng...
•
Vùng ven biển Nam Trung Bộ: nuôi trồng thủy sản trên các loại mặt nước
mặn lợ, với một số đối tượng chủ yếu như: cá rô phi, tôm các loại...
•
Vùng Đông Nam Bộ: Bao gồm 4 tỉnh là Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa
•
Vũng Tàu và TP.HCM, chủ yếu nuôi các loài thủy sản nước ngọt hồ chứa
và thủy sản nước lợ như cá song, cá giò, cá rô phi, tôm các loại....
•
Vùng ven biển ĐBSCL: gồm các tỉnh nằm ven biển của Đồng Bằng Sông
Cửu Long như Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà
Mau, Kiên Giang…Đây là khu vực hoạt động thủy sản sôi động, hoạt động
nuôi trồng thủy sản trên tất cả các loại mặt nước, đặc biệt là nuôi tôm, cá tra
- ba sa, sò huyết, nghêu và một số loài cá biển.
Khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long, với điều kiện lý tưởng có hệ thống
kênh rạch chằng chịt và nhiều vùng giáp biển, đã trở thành khu vực nuôi
trồng và xuất khẩu thủy sản chính của Việt Nam. Theo thống kê, năm 2011
cả nước có 37 tỉnh có doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, trong đó các tỉnh
có kim ngạch xuất khẩu thủy sản lớn nhất lần lượt là Cà Mau (chủ yếu nhờ
kim ngạch xuất khẩu lớn của Minh Phú, Quốc Việt), TP.HCM, Cần Thơ,
Đồng Tháp, Khánh Hòa, Sóc Trăng…
2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI PHÁT TRIỂN ĐÁNH BẮT NUÔI
TRÔNG THỦY SẢN TẠI VIỆT NAM
2.1.
Thuận lợi
2.1.1. Vị trí và điều kiện tự nhiên thích hợp cho hoạt động thủy sản
Với đặc điểm bờ biển dài hơn 3.260 km, cùng hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng
chịt, Việt Nam hầu như đáp ứng khá tốt điều kiện đánh bắt, nuôi trồng cho nhiều loài
thủy hải sản trên toàn quốc. Trong đó, tiềm năng gia tăng diện tích nuôi trồng nhiều loài
thủy sản trong dài hạn vẫn còn rất lớn. Với xu hướng áp dụng khoa học công nghệ ngày
càng mạnh mẽ vào họat động nuôi trồng, đánh bắt, chế biến để đáp ứng yêu cầu chất
lượng ngày càng cao của các nước nhập khẩu, ngành thủy sản Việt Nam có nhiều cơ hội
để nâng cao chất lượng, hạ giá thành, tiết kiệm chi phí, cải thiện hiệu quả sản xuất.
2.1.2. Nhu cầu tiêu thụ thủy sản toàn cầu được dự báo tiếp tục tăng:
Với vai trò là nguồn thực phẩm quan trọng trong bữa ăn của bất kỳ gia đình nào
trên thế giới, nhu cầu tiêu thụ thủy sản toàn cầu được dự báo sẽ tiếp tục tăng cao trong
dài hạn. Theo FAO, đến năm 2015, nhu cầu tiêu thụ thủy sản sẽ đạt 165 triệu MT (tăng
bình quân 2,1%/năm), tiêu thụ thủy sản trên đầu người sẽ đạt 14,3 kg (mức hiện tại
khoảng 14 kg, tăng khoảng 0,8%/năm), tạo ra nhiều cơ hội gia tăng giá trị xuất khẩu cho
thủy sản Việt Nam.
2.1.3. Tiếp tục nhận được sự quan tâm của chính phủ:
Với Quyết định số 332/QĐ-TTg về mục tiêu phát triển dài hạn cho ngành thủy sản,
có thể thấy các cấp ban ngành luôn xác định thủy sản là ngành kinh tế chiến lược quan
trọng của đất nước. Do đó, các hoạt động hỗ trợ, ưu đãi về tài chính, công nghệ… sẽ luôn
được chính phủ ưu tiên thực hiện trong nhiều năm tới nhằm giảm bớt thiệt hai khi khó
khăn hoặc nhằm tăng cường khả năng phát triển của ngành để đạt được kế hoạch chiến
lược đã đề ra.
Nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của nhà nước: Ngành thủy sản Việt Nam luôn nhận
được sự quan tâm lớn của chính phủ. Dù chưa hoàn toàn hoàn chỉnh về chính sách,
nhưng chính phủ và các cơ quan chức năng luôn dành các ưu tiên về vốn, hỗ trợ cho
ngành thủy sản, thường xuyên ngồi lại cùng doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn. Hiện
Chính phủ đã có quyết định cụ thể cho mục tiêu phát triển dài hạn của ngành thông qua
Quyết định số 332/QĐ-TTg. Hiệp hội chế biến và xuất khẩu Thủy sản Việt Nam
(VASEP) là tổ chức luôn theo sát, hỗ trợ cho hoạt động của ngành. VASEP được đánh
giá là một trong các Hiệp hội năng động, tích cực nhất cả nước. Với sự quan tâm, hỗ trợ
sát sao của các cơ quan ban ngành và hiệp hội (VASEP), ngành thủy sản sẽ có nhiều
thuận lợi để vượt qua khó khăn và phát triển trong tương lai.
2.1.4. Uy tín đã được thừa nhận ở nhiều nước:
Thương hiệu của ngành thủy sản Việt Nam đã dần được định hình ở nhiều thị
trường. Con cá tra Việt Nam hiện đã được ưu thích và tiêu thụ rộng rãi ở nhiều nước và
luôn nằm trong top dẫn đầu ở các thị trường nhập khẩu. Con tôm thì đang cạnh tranh
“sòng phẳng” với nhiều đối thủ lớn như Thái Lan, Indonesia, Ecuador, Ấn Độ, Mehico…
Nhiều loài thủy sản khác như mực, bạch tuột, nhuyễn thể hai mảnh vỏ, cá ngừ… đang len
lỏi ở các thị trường khắp nơi trên thế giới.
2.1.5. Với đặc trưng ngành về xuất khẩu, hoạt động trong môi trường cạnh tranh
Khốc liệt với những nhà xuất khẩu thủy sản trên toàn cầu, và phải đối mặt với nhiều
trở ngại, qui định khắt khe ở từng thị trường xuất khẩu, nên hầu hết các doanh nghiệp
thủy sản Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn, đều rất năng động, thích nghi tốt để
có thể tồn tại và phát triển. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp thủy sản hầu như chỉ tập trung
vào phát triển lĩnh vực kinh doanh chính, rất ít đầu tư tràn lan ra các lĩnh vực khác không
phù hợp. Đây là nền tảng để ngành thủy sản Việt Nam có chỗ đứng trên thế giới và tiến
xa hơn trong tương lai.
2.2.
Khó khăn
2.2.1. Dịch bệnh thường xuyên đe dọa
Dịch bệnh trên các loài thủy sản nuôi đang ngày càng diễn biến phức tạp, đặc biệt là
tôm. Là loài động vật chân khớp sống ở vùng nước lợ gần biển, tôm rất dễ nhiễm các loài
bệnh dịch khi môi trường xung quanh không đảm bảo. Loài tôm sú có đặc tính khó nuôi
hơn tôm chân trắng nên nguy cơ mắc bệnh dịch cũng cao hơn. Hơn nữa, hầu hết các hộ
nông dân và cả một số doanh nghiệp nuôi tôm (hoặc một số loài thủy sản khác) hầu như
không được đào tạo một cách hệ thống các kiến thức, công nghệ trong nuôi trồng từ các
cơ quan chức năng, nên không có khả năng phòng ngừa và xử lý bệnh dịch. Điều này
khiến các đợt bệnh dịch trên tôm thường xuyên xảy ra (như dịch bệnh EMS trên diện
rộng thời gian qua) gây rất nhiều thiệt hại cho các doanh nghiệp và các hộ nuôi, thậm chí
một số đi đến phá sản, không còn khả năng thanh toán tiền vay cho ngân hàng. Ngoài ra,
nó cũng tạo ra sự thiếu hụt nguyên liệu cho chế biến, gây khó khăn trong hoạt động kinh
doanh cho các doanh nghiệp. Đây không chỉ là khó khăn riêng của ngành tôm mà của bất
kỳ loài thủy sản nuôi trồng nào khác, khi trình độ công nghệ và kiến thức nuôi trồng của
Việt Nam vẫn còn một số hạn chế.
2.2.2. Khả năng tiếp cận vốn khó khăn:
Đặc trưng của ngành thủy sản là cần nguồn vốn đầu tư ban đầu và nguồn vốn lưu
động lớn để duy trì hoạt động liên tục. Tuy nhiên, khi điều kiện kinh doanh khó khăn như
thời gian qua, hầu hết các ngân hàng đều “e dè” hỗ trợ vốn cho người nuôi và doanh
nghiệp để hạn chế rủi ro tín dụng, một số đối tượng còn tồn động dư nợ cũ cao càng
khiến các ngân hàng trở nên thận trọng hơn. Điều này đã gây rất nhiều khó khăn cho cả
người nuôi và doanh nghiệp, khiến họ không kịp xoay sở vốn cho hoạt động kinh doanh,
một số thậm chí phải treo ao, tạm dừng hoạt động. Thời gian gần đây, dù chính phủ đã ra
chỉ đạo cho vay hỗ trợ nông dân và doanh nghiệp thủy sản nhưng nhìn chung khả năng
tiếp cận vốn vay ngân hàng vẫn chưa được cải thiện đáng kể.
2.2.3. Sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp xuất khẩu:
Do không được quản lý và qui định chặt chẽ, hàng loạt doanh nghiệp xuất khẩu
thủy sản đã “mọc” lên trong các năm qua mà không có sự kiểm soát về chất lượng, hoạt
động. Các doanh nghiệp nhỏ với tư duy ngắn hạn, manh mún, thường không đảm bảo về
chất lượng sản phẩm, lại thường bán phá giá sản phẩm, đặc biệt là trong tình cảnh khó
khăn, tồn kho cao như trong năm 2012, dẫn đến tình trạng các khách hàng lợi dụng ép giá
các doanh nghiệp khác vừa gây thiệt chung cho các doanh nghiệp vừa làm ảnh hưởng đến
hình ảnh sản phẩm thủy sản của Việt Nam.
Tóm lại: Trên đây là những yếu tố thuận lợi và khó khăn cơ bản có thế nhìn thấy rất rõ ở
ngành thủy hải sản Việt Nam, theo tôi các yếu tố trên đều rất quan trọng, nhân dân và
chính quyền cần học hỏi, giải quyết tốt vướng mắc để ngành thủy hải sản nuowcs ta nâng
lên 1 tầm cao mới!
3. LẤY VÍ DỤ KINH NGHIỆM THỰC TẾ TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI
3.1.
Thực trạng nuôi trồng và thủy hải sản tại Indonesia
Năm 2016, Indonesia sản xuất 16,67 triệu tấn thủy sản nuôi; trong đó, 65% là nuôi
trên biển, bao gồm tảo biển, 19% từ nuôi nước ngọt và 16% từ nuôi nước lợ. Theo ông
Sarifin, giám đốc cơ quan thức ăn thủy sản và thú y, thuộc Bộ Thủy sản và Các vấn đề
nghề cá (MFMA), sản xuất thủy sản nuôi của Indonesia sẽ tiếp tục tăng trong năm 2017
nhờ tái sản xuất trên các hồ tôm bỏ trống trước đây và các lưới nổi, thiết lập 3 cơ sở lưới
nổi ngoài khơi, thành lập 2 nhà máy thức ăn thủy sản, và các gói chính sách con giống và
thức ăn cho các nhóm nông dân. Tuy nhiên, ông Sarafin cho biết, về chất lượng, Bộ này
sẽ xã hội hóa tiêu chuẩn mới được gọi là IndoGAP, đặt mục tiêu nâng cấp an toàn thực
phẩm và khả năng truy xuất nguồn gốc của các sản phẩm thủy sản Indonesia. “Tiêu
chuẩn hóa này là rất quan trọng để cạnh tranh toàn cầu”, ông nói thêm.
Nuôi trồng thủy sản đã và đang đóng vai trò như là một nguồn thu nhập thay thế cho
các cộng đồng ngư dân vùng ven biển, cũng như góp phần làm giảm áp lực lên tài nguyên
thiên nhiên biển. Trong năm gần đây, ngành nuôi trồng thủy sản của Indonesia đã phát
triển rất nhanh và hiện nay được coi là một ngành kinh tế quan trong trong hỗ trợ phát
triển kinh tế nông thôn. Indonesia là một quốc gia quần đảo với trên 17.508 hòn đảo và
đường bờ biển dài khoảng 81.000 km, và có một tiềm năng lớn cho nuôi trồng thủy sản.
Diện tích nuôi trồng thủy sản tiềm năng của Indonesia vào khoảng 15.590.000 ha, bao
gồm nuôi nước ngọt 2.230.000 ha, nuôi nước lợ 1.220.000 ha và 12.140.000 ha mặt nước
biển. Tuy nhiên, Nuôi trồng thủy sản của Indonesia mới chỉ sử dụng khoảng 50% tổng
diện tích tiềm năng có thể nuôi trồng thủy sản. Cụ thể có 10.1% diện tích nước ngọt, 40%
nuôi nước lợ và 0.01% diện tích vùng biển có khả năng nuôi trồng thủy sản (Lei
Wageninggen UR, 2012).
Tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản 3.1 triệu tấn. Nuôi trồng thủy sản đóng góp
34.5% tổng sản lượng thủy sản của cả nước. Sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng khoảng
33.1% mỗi năm từ 2.304.800tấn (2010) lên 3.095.585 tấn (2014)- FAO, 2015.Tổng giá trị
xuất khẩu 3.2 tỷ USD (tôm chiếm 70% và thủy sản khác chiếm 30%). Thị trường xuất
khẩu chủ yếu là Nhật Bản (80%), 10% USA và 10% các thị trường khác (DG
Aquaculture, 2014).
Nghề nuôi trồng thủy sản của Indonesia cũng giống như của Việt Nam đã phải đối
mặt với một số trở ngại, thách thức trên con đường phát triển hướng đến bền vững, cụ thể
như:
Việc phát triển quá nóng, tự phát dẫn đến rất khó kiểm soát các yếu tố đầu vào của
sản xuất: chất lượng tôm giống, thức ăn, vật tư thủy sản, nguồn nước, môi trường và dịch
bệnh,…Chính vì vậy, một diện tích lớn nuôi tôm bị thiệt hại do dịch bệnh đã ảnh hưởng
không nhỏ đến đời sống, thu nhập của các hộ dân; (ii) Môi trường sinh thái tại các vùng
nuôi còn bị ô nhiễm; (iii) Cộng đồng nuôi trồng thủy sản quy mô nhỏ thiếu sự liên kết
chuỗi trong sản xuất; (iv) Người nuôi thiếu vốn và thiếu khoa học kỹ thuật,..năng suất và
chất lượng thủy sản thấp, thiếu tính cạnh tranh,…
Trước các khó khăn, thách thức cho sự phát triển của nghề nuôi trồng thủy sản,
Chính phủ Indonesia đã xây dựng Kế hoạch phát triển nghề tôm theo hướng bền vững,
giai đoạn 2010-2014, tập trung vào các mục tiêu cụ thể như sau: (i)Tăng sản lượng nuôi
trồng thủy sản để xuất khẩu,đặc biệt tập trung vào việc tăng cường lợi thế cạnh tranh
thông qua việc phát triển và ứng dụng công nghệ hiệu quả và thân thiện với môi trường;
(ii) Phát triển các sản phẩm thủy sản phục vụ cho tiêu dùng trong nước, đặc biệt là tập
trung vào tăng cường và củng cố cơ sở hạ tầng các vùng nuôi; (iii) Thiết lập cơ chế để
kiểm soát việc sản xuất, mua bán: thức ăn, hóa chất, chế phẩm sinh học và trang thiết bị
phục vụ nuôi trồng thủy sản,…(iv) Từng bước phát triển và cải thiện các vùng nuôi theo
hướng bền vững (đất liền và trên biển); (v) Phát triển nghề nuôi trồng thủy sản theo
hướng hàng hóa (ứng dụng khoa học kỹ thuật, mở rộng thị trường, thu hút đầu đặc biệt
đầu tư nước ngoài và tăng cường nguồn nhân lực,…); (vii) phục hồi và cải thiện hệ thống
phục vụ cho nuôi trồng thủy sản: điện, thủy lợi, hệ thống sản xuất giống, các phòng thí
nghiệm,…Tổng mức đầu tư cho Kế hoạch phát triển này khoảng 13.41 nghìn tỷ RPM
(10.84 triệu USD).
Một số kết quả đạt được khả quan: Tốc độ tăng trưởng của ngành nuôi trồng thủy
sản của Indonesia luôn ở mức tăng khoảng 9.34%/năm. Diện tích và sản lượng nuôi trồng
thủy tăng nhanh, giá trị xuất khẩu thủy sản liên tục tăng từ 1.584,5 triệu USD (2000) lên
đến 3.181,9 triệu USD (2014), chiếm 3% GDP của Indonesia; Cơ sở hạ tầng-kỹ thuật
(điện, thủy lợi, giao thông) và các hệ thống dịch vụ (hệ thống sản xuất giống, hệ thống
phòng thí nghiệm, các nhà máy sản xuất thức ăn, chế phẩm sinh học) được cải thiện đáp
ứng tốt nhu cầu nuôi trồng thủy sản; Hầu hết các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung của
Indonesia được Chính phủ hỗ trợ nuôi theo tiêu chuẩn Indonesia Gap (Indonesian Good
Aquaculture Practises) và một số vùng nuôi đạt tiêu chuẩn quốc tế ASC, Naturland và
GlobalGAP.
Chính những thành công này đã đưa Indonesia trở thành quốc gia xuất khẩu thủy
sản hàng đầu khu vực Châu Á chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ.
3.2.
Những bài học kinh nghiệm:
Nghiên cứu, áp dụng phương pháp quy hoạch không gian phát triển bền vững
ngành thủy sản, trong đó chú trọng quy hoạch theo phát triển hàng hóa, tâp trung và quan
tâm tới các ngành sản xuất và dịch vụ phụ trợ (Sản xuất giống, thức ăn, chế phẩm sinh
học) và công nghệ chế biến, xuất khẩu thủy sản.
Nhà nước cần có các chính sách khuyến khích, thu hút lực lượng khoa học kỹ
thuật, nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là các nguồn vốn từ các doanh nghiệp và các nhà đầu tư
quốc tế, tăng khả năng cạnh tranh của ngành thủy sản.
Về kỹ thuật nuôi tôm theo kinh nghiệm của các chuyên gia Indonesia đối với các
vùng nuôi tôm thẻ (Pacific White Shrimp) trong các mô hình bán thâm canh (Semiintensive shrimp farming), hạn chế thả mật độ dày. Mật độ thả tốt nhất cho các mô hình:
truyền thống (extensive):7.500-12.000 giống/ha/vụ; Bán thâm canh (Semi-intensive):
30.000-60.000 giống/ha/vụ; Thâm canh (Intensive): 100.000-150.000 giống/ha/vụ và
nuôi kết hợp: 1.500-9.000 giống/ha/vụ.
Hoàn chỉnh, tái cấu trúc lại các tổ hợp tác theo hướng doanh nghiệp xã hội như của
Indonesia để có thể tranh thủ sự đầu tư của các doanh nghiệp, chủ động trong kinh doanh
và hoạch toán thu chi.
Cải thiện lại tiêu chuẩn VietGap theo hướng đơn giản và từng bước cập nhật để
người nuôi tôm dễ thực hiện.
3.3.
Ví dụ về vụ kiện chống bán phá giá hàng thủy hải sản và rút ra kinh
nghiệm
Vụ kiện chống bán phá giá tôm xuất khẩu Việt Nam tại Mỹ lần đầu:
Ngày 31/12/2003, Liên minh Tôm miền nam nước Mỹ (SSA) đã chính thức nộp đơn khởi
kiện “chống bán phá giá tôm” lên Bộ Thương mại Mỹ (DOC) và Ủy ban Thương mại
Quốc tế Mỹ (ITC) đối với các doanh nghiệp xuất khẩu tôm vào thị trường Mỹ của 6 nước
(Braxin, Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Ecuador, Ấn Độ).
20/01/2004, DOC bắt đầu tiến hành điều tra vụ kiện bán phá giá tôm của Việt Nam tại
Mỹ. Toàn bộ các dạng tôm xuất khẩu đánh bắt hoặc nuôi trồng từ Việt Nam đều nằm
trong phạm vi điều tra, ngoại trừ tôm khô, tôm bột.
Ngay sau đó, ITC đã song song tiến hành điều tra về vụ kiện bán phá giá tôm vào thị
trường Mỹ đối với các doanh nghiệp Việt Nam.Kết luận sơ bộ của ITC đó là việc nhập
khẩu tôm từ Việt Nam vào thị trường Mỹ gây tổn hại nghiêm trọng cho ngành công
nghiệp nội địa của Mỹ.Quyết định cuối cùng của ITC vào tháng 1/2005 cũng không thay
đổi so với quyết định sơ bộ này.
Việc điều tra của DOC được tiến hành đối với 4 doanh nghiệp bị đơn có lượng xuất khẩu
tôm lớn nhất vào Mỹ (gồm Minh Phú, Minh Hải và Camimex và Kim Anh – gọi là bị đơn
bắt buộc). Ngoài ra, có 29 công ty khác của Việt Nam tham gia làm bị đơn tự nguyện.
Các doanh nghiệp bị đơn bắt buộc phải trả lời các câu hỏi điều tra liên quan đến vụ kiện
bán phá giá tôm và các vấn đề liên quan đến tài chính, chi phí cho hoạt động xuất khẩu
tôm sang Mỹ. Mức thuế sơ bộ ban đầu DOC quyết định với các bị đơn bắt buộc là từ
12,1-18,7%, với các bị đơn tự nguyện là 16,01%, mức thuế suất toàn quốc là 93,13%.
Trong khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 11/2004, DOC đã tiến hành thẩm tra các cáo
buộc chống bán phá giá thông qua văn bản và khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp.
Tháng 2/2005, DOC chính thức áp thuế chống bán phá giá với các thuế suất từ 4,3% đến
5,24% đối với từng bị đơn bắt buộc, 4,57% đối với các bị đơn tự nguyện không được lựa
chọn điều tra và mức thuế suất toàn quốc 25,76% cho tất cả các doanh nghiệp còn lại.
Thuế chống bán phá giá sẽ được áp dụng cho các lô hàng tôm nhập khẩu chưa thanh toán
vào hoặc ra khỏi nhà kho để tiêu thụ vào hoặc sau ngày 16/7/2004.
Theo yêu cầu của Hải quan Mỹ, ngoài số tiền thuế, các doanh nghiệp nhập khẩu phải nộp
một khoản đặt cọc tương ứng với thuế suất áp dụng chung cho toàn quốc, tức biên phá
giá cao nhất. Khoản tiền đặt cọc phải nộp 1 lần trước khu hàng nhập khẩu cập cảng Mỹ.
Ngoài ra, các doanh nghiệp nhập khẩu tôm từ Việt Nam phải ký quỹ một khoản tiền
tương đương với giá trị nhập khẩu tôm trong vòng 1 năm nhân với mức thuế chống bán
phá giá.
Quy trình giải quyết vụ kiện chống bán phá giá tôm
Theo pháp luật về chống bán phá giá của Hoa Kỳ, sau tròn mỗi năm kể từ ngày lệnh áp
thuế chống bán phá giá của DOC được ban hành, DOC sẽ tiến hành rà soát hành chính để
xét lại mức thuế chính thức mà DOC đã áp đối với khoảng thời gian 1 năm liền trước đó.
Theo đó, tính tới nay, DOC đã tiến hành 6 cuộc rà soát hành chính (POR) chống bán phá
giá đối với tôm Việt Nam vào thị trường Mỹ.
Trong đợt xem xét hành chính lần 1 (POR), các doanh nghiệp Việt Nam đã chủ động thoả
thuận không yêu cầu rà soát lại thuế mà vẫn áp dụng mức thuế của kết quả chống bán phá
giá lần đầu, thay vào đó sẽ trả phía Mỹ một khoản tiền để có thời gian chuẩn bị cho xem
xét giai đoạn hai.
Trong hai đợt rà soát POR2 (04/2007) và POR3 (04/2008), có khoảng 30 doanh nghiệp
xuất khẩu tôm của Việt Nam đã đăng ký tham gia rà soát. Tuy nhiên, DOC chỉ chọn 2
doanh nghiệp (Công ty Minh Phú và Camimex) trong POR2 và 3 doanh nghiệp (Minh
Phú, Camimex và Phương Nam) trong POR3 là bị đơn bắt buộc dựa trên tiêu chí là doanh
nghiệp có lượng xuất khẩu lớn nhất.
Theo Quyết định cuối cùng của DOC về kết quả của hai đợt rà soát, mức thuế suất của
các bị đơn bắt buộc đạt mức thuế suất không đáng kể (0-0,21%). Tuy nhiên, mức thuế
suất này không được áp dụng cho các bị đơn tự nguyện (gồm các doanh nghiệp xuất khẩu
tôm Việt Nam có tham gia vào đợt rà soát nhưng không được DOC lựa chọn làm bị đơn
bắt buộc) mà bị áp thuế theo mức thuế suất từ điều tra ban đầu là 4,57%, mức thuế suất
toàn quốc cũng áp dụng theo điều tra ban đầu là 25,76%.
Nguồn: VCCI, Gafin
Trong các lần xem xét hành chính lần 4-6, tức từ 2009 đến nay, mức thuế đã nhiều lần
thay đổi theo hướng có lợi hơn cho các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Việt Nam. Tuy
nhiên, điều đáng nói là phía Mỹ vẫn tiếp tục áp dụng phương pháp Zeroing2 (quy về
không) trong tính toán thuế chống bán phá giá đối với tôm Việt Nam.
Cũng trong giai đoạn này, với đề xuất Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản
(VASEP) và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), tháng 2/2010, chính
phủ Việt Nam đã bắt đầu vụ kiện Mỹ lên WTO bằng tham vấn gửi Chính phủ Mỹ.
Ngày 11/7/2012, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ra phán quyết Mỹ xâm phạm luật
thương mại toàn cầu khi tính toán thuế chống bán phá giá với mặt hàng tôm đông lạnh
nhập khẩu từ Việt Nam.
WTO cho rằng Mỹ "đã hành động thiếu nhất quán với những điều khoản của Thỏa thuận
chống bán phá giá và Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT)" và cam kết sẽ
xem xét vấn đề dựa trên hai bản thỏa thuận này. Vì vậy, trong phán quyết của mình,
WTO đã ủng hộ hai trong ba nội dung khiếu kiện cơ bản của Việt Nam. Trong đó, Ban
hội thẩm của WTO cho rằng Mỹ áp dụng phương pháp quy về 0 để tính thuế chống bán
phá giá là vi phạm quy định của WTO.
3.4.
Bài học kinh nghiệm quý giá:
1. Ý nghĩa của vụ việc
Đây là vụ kiện đầu tiên mà Việt Nam khởi xướng trong khuôn khổ WTO, có ý nghĩa
quan trọng trong việc:
•
Đảm bảo rằng Mỹ sẽ không áp dụng các biện pháp bất lợi liên quan đối với hàng
hóa Việt Nam; vấn đề kiện chống bán phá giá ở Mỹ đối với hàng hóa Việt Nam vì
vậy có thể sẽ bớt khắc nghiệt hơn; mức độ thiệt hại từ các vụ kiện được hy vọng sẽ
giảm đáng kể. Cũng thông qua vụ việc này, Việt Nam đã gửi thông điệp ra thế giới
rằng Việt Nam sẽ đấu tranh tích cực để bảo vệ các quyền lợi của nhà xuất khẩu
trong các vụ kiện chống bán phá giá tại bất kỳ nước nào
•
Là một kinh nghiệm thực tế nhiều khích lệ cho Việt Nam trong việc tựtin, chủ
động sử dụng công cụ giải quyết tranh chấp trong khuôn khổWTO để bảo vệ các
quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trong thương mại quốc tế theo các quy
định của WTO mà không làm ảnh hưởng đến quan hệ ngoại giao giữa các bên
tranh chấp.
2. Về vai trò của các Hiệp hội doanh nghiệp
Trong vụ việc đầu tiên, mọi công việc từ ý tưởng khởi kiện đến quyết định tham
vấn, từ lựa chọn luật sư đến chuẩn bị chứng cứ, từ tham gia các thủ tụctố tụng đến theo
dõi thực thi… đối với Việt Nam đều là “lần đầu tiên”. Những cái được và chưa được
trong vụ việc của những “lần đầu tiên” này là những kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam
nói chung và các doanh nghiệp, hiệp hội nói riêng trong việc sử dụng công cụ giải quyết
tranh chấp trong WTO để bảo vệ lợi ích của mình.
Đặc biệt, điểm đáng ghi nhận nhất trong vụ việc này là vai trò chủ động, tích cực
của các Hiệp hội doanh nghiệp trong việc phát hiện vấn đề cũng như tham gia vào quá
trình chuẩn bị cho vụ việc. Cụ thể, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam
(VASEP) và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã tiến hành:
•
Chủ động nghiên cứu nghiêm túc vấn đề từ góc độ của Việt Nam và kinh nghiệm
quốc tế, đưa đề xuất với Chính phủ về việc Việt Nam cần khởi kiện Hoa Kỳ ra
WTO
•
Trong khi các Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền còn đang lúng túng bởi chưa có
tiêu chí hay cơ chế nội bộ nào cho việc quyết định có khởi kiện hay không, đã có
những lập luận thuyết phục và chặt chẽ với các cơ quan liên quan cũng như những
hình thức tuyên truyền thích hợp nhằm tạo sự ủng hộ của công chúng, góp phần
vào quá trình ra quyết định khởi kiện của Chính phủ;
•
Tham gia tích cực và hiệu quả vào việc lựa chọn luật sư tư vấn cho vụviệc và với
việc giới thiệu luật sư giỏi, nhiều kinh nghiệm và có kết nối từ vụ việc gốc ở Hoa
Kỳ và tranh chấp trong WTO, có thể nói hai Hiệp hội đã cùng góp phần vào thành
công trong kết quả của vụ việc.
Mặc dù các Hiệp hội liên quan đã có đóng góp rất tích cực và phối hợp tốt với các
Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong giai đoạn đầu, vẫn còn nhữngvấn đề tồn tại trong
quá trình tham gia giải quyết tranh chấp này, chủ yếu trong giai đoạn sau đó. Cụ thể:
•
Sau khi vụ việc được bắt đầu, các Hiệp hội không được thông tin vềdiễn tiến cũng
như những nội dung liên quan của vụ việc cũng như không có cơ hội phối hợp, sát
cánh cùng các cơ quan Nhà nước liênquan trong quá trình giải quyết vụ việc;
•
Các Hiệp hội cũng không được tham gia hay tiếp cận các báo cáo vềvụ việc của
phía Việt Nam và những kinh nghiệm từ vụ việc tranh chấp đầu tiên trong WTO
này.
Vụ tranh chấp đầu tiên giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong khuôn khổ WTO chỉ là một trong
số hơn 400 vụ tranh chấp giữa các nước thành viên mà WTO đã chứng kiến từ ngày
thành lập năm 1995 đến nay, vì thế nó có thể không đặc biệt lắm với thế giới. Nhưng rõ
ràng với Việt Nam đây lại là bước ngoặt có ý nghĩa, với nhiều bài học lớn cho Chính phủ
cũng như các doanh nghiệp, Hiệp hội doanh nghiệp ở Việt Nam nói riêng.
4. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHÀNH THỦY SẢN TRONG TƯƠNG LAI
8 Nhóm giải pháp chính:
Thứ nhất, tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị từ sản xuất nguyên liệu đến chế
biến tiêu thụ ở tất cả các lĩnh vực và đối tượng sản phẩm; trọng tâm là khai thác biển,
nuôi tôm nước lợ, cá tra, ba sa, nhuyễn thể hai mảnh vỏ; tạo sự gắn kết, chia sẻ lợi nhuận,
rủi ro giữa người sản xuất nguyên liệu và doanh nghiệp chế biến thủy sản.
Đối với nuôi trồng thủy sản: thu hút mạnh đầu tư từ các doanh nghiệp, phát triển các mô
hình tổ chức kinh tế hợp tác, liên doanh, liên kết giữa doanh nghiệp chế biến tiêu thụ và
người nuôi. Xây dựng các vùng nuôi công nghiệp sản xuất hàng hóa lớn. Xây dựng và
đẩy mạnh việc kiện toàn hệ thống thú y thủy sản từ trung ương đến địa phương.
Đối với khai thác thủy sản và bảo vệ nguồn lợi thủy sản: thành lập các đoàn tàu công ích
hoạt động trên 4 ngư trường trọng điểm: Vịnh Bắc Bộ, Biển Đông, Đông Nam bộ và Tây
Nam bộ để hỗ trợ các tổ hợp tác, hợp tác xã khai thác thủy sản sản xuất hiệu quả. Tổ chức
các mô hình dịch vụ khai thác trên biển theo hướng khuyến khích các thành phần kinh tế
thành lập các đội tàu cung ứng dịch vụ hậu cần, mua gom sản phẩm cho các tàu khai thác
xa bờ...
Đối với chế biến và tiêu thụ sản phẩm: xây dựng cơ chế liên doanh, liên kết giữa nông
ngư dân sản xuất nguyên liệu với các nhà doanh nghiệp (trong và ngoài nước) trong chế
biến thủy sản, đặc biệt trong sản xuất thức ăn, chế phẩm sinh học, thuốc thú y thủy sản
theo hình thức đa sở hữu để cùng chia sẻ rủi ro, lợi ích giữa các bên. Quy hoạch phát
triển hệ thống nhà máy chế biến và kho lạnh thương mại để tăng hiệu suất sử dụng, điều
tiết được nguồn nguyên liệu ổn định, góp phần điều tiết bình ổn giá thủy sản trên thị
trường và giảm các tổn thất sau thu hoạch.
Tổ chức lại, củng cố, xây dựng mới phát triển lĩnh vực cơ khí đóng sửa tàu thuyền, sản
xuất ngư lưới cụ trên các vùng ngư trường trọng điểm.
Thứ hai, tiếp tục thực hiện hiệu quả công tác xúc tiến thương mại để củng cố và
phát triển các thị trường truyền thống, các thị trường lớn (EU, Nhật, Mỹ) và phát triển mở
rộng các thị trường Đông Âu, Trung Đông, Trung Quốc, Hàn Quốc… Ngoài ra, phát
triển, mở rộng thị trường nội địa phục vụ du lịch, các đô thị, khu dân cư lớn...
Thứ ba, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực thủy sản phù hợp với nhu cầu phát triển
sản xuất. Xây dựng trường đại học thủy sản và các cơ sở dạy nghề thủy sản tại vùng
Đồng bằng sông Cửu Long. Ban hành chính sách khuyến khích các cơ sở nghiên cứu, đào
tạo gắn kết với các doanh nghiệp, trang trại và cơ sở sản xuất để đưa nhanh tiến bộ kỹ
thuật và công nghệ mới vào sản xuất.
Tập trung đào tạo cán bộ có chuyên môn cao, cán bộ khoa học và cán bộ quản lý; xã hội
hóa trong việc đào tạo lao động nghề cá, hướng tới đào tạo có địa chỉ, theo nhu cầu thị
trường.
Có chính sách ưu tiên đối với đào tạo nguồn nhân lực hoạt động nghề cá trên biển; đặc
biệt các cán bộ khoa học về nguồn lợi, khai thác, cơ khí, đăng kiểm tàu cá. Gắn kết giữa
phát triển nguồn nhân lực với bố trí dân cư và xây dựng làng cá ven biển.
Thứ tư, tập trung cho nghiên cứu biển, nghiên cứu ngư trường, nguồn lợi thủy sản.
Có dự báo thường xuyên cập nhật về ngư trường để hướng dẫn ngư dân hoạt động sản
xuất trên biển.
Thành lập Viện Thủy sản Việt Nam trên cơ sở hợp nhất các Viện nghiên cứu Nuôi trồng
thủy sản 1, 2, 3 và Viện Nghiên cứu hải sản; thành lập mới Viện Thú y thủy sản và Viện
nghiên cứu thủy sản Đồng bằng sông Cửu Long thuộc Viện.
Có biện pháp thiết thực và phù hợp để thực hiện hợp tác với các nước trong khu vực và
trên thế giới về khoa học công nghệ, kỹ thuật trong khai thác hải sản, cơ khí đóng tàu,
máy tàu, trong thiết lập hệ thống thông tin quản lý nghề cá biển....
Xã hội hóa công tác khuyến ngư, phát triển mạng lưới cộng tác viên cơ sở để thực hiện
tốt nhiệm vụ tuyên truyền, hướng dẫn và trao đổi thông tin về khoa học công nghệ, kỹ
thuật và thị trường đến người sản xuất.
Thứ năm, bảo vệ môi trường, bảo vệ tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản. Đẩy
mạnh áp dụng các công nghệ mới, tiên tiến, thân thiện với môi trường để giảm thiểu và
xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất của ngành thủy sản.
Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát và tổ chức quản lý, giám sát cộng đồng để quản
lý môi trường và áp dụng các hình thức xử phạt nghiêm đối với các cơ sở sản xuất không
tuân thủ quy định của Luật Bảo vệ môi trường để giảm thiểu tình trạng xả thải tùy tiện
của các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường. Đầu tư hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng
phục vụ sản xuất, đặc biệt là xử lý chất thải và nước thải trong quá trình sản xuất để bảo
đảm các quy định của Luật Bảo vệ môi trường...
Thứ 6, có cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư phát triển mô hình vùng nuôi
trồng thủy sản tập trung, chính sách về tăng cường quản lý chất lượng và bình ổn giá một
số mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực, chính sách khuyến khích áp dụng tiến bộ kỹ
thuật và các tiêu chuẩn nâng cao chất lượng sản phẩm thủy sản....
Thứ bảy, tăng cường công tác quản lý nhà nước, hoàn thiện hệ thống tổ chức quản
lý nhà nước ngành thủy sản từ trung ương đến địa phương.
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính trong ngành thủy sản. Hoàn thiện hệ thống các
tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy trình, điều kiện trong các lĩnh vực sản xuất, kinh
doanh thủy sản làm cơ sở quản lý và xã hội hóa một số khâu trong công tác quản lý nhà
nước về thủy sản. Nhân rộng các mô hình quản lý nhà nước có sự tham gia của cộng
đồng, khuyến khích các mô hình hợp tác, liên kết trong sản xuất chế biến và tiêu thụ;
giữa doanh nghiệp chế biến tiêu thụ và người sản xuất nguyên liệu; sự phối hợp hiệu quả
giữa nhà nước và các tổ chức xã hội nghề nghiệp....
Thứ tám, tiếp tục phát triển các hình thức hợp tác, liên doanh trong các lĩnh vực
khai thác, nuôi trồng, cơ khí, hậu cần dịch vụ, chế biến, thương mại thủy sản với các
nước trong khu vực và quốc tế. Tiếp tục đàm phán, hợp tác với các nước trong khu vực
về khai thác thủy sản tại các vùng biển chồng lấn, hợp tác khai thác trên vùng biển các
nước ASEAN; bảo đảm cho ngư dân tránh trú bão trong vùng biển nước ngoài khi thiên
tai, phối hợp tuần tra kiểm soát chung trên biển, bảo đảm an toàn cho ngư dân hoạt động
sản xuất trên biển.
5. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. />2.
/>d/434764
3.
/>4. />